Tuyển chọn, nuôi lưu giữ, bảo tồn nguồn gen giống gà H’re Quảng Ngãi

KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
TUYỂN CHỌN, NUÔI LƯU GIỮ, BẢO TỒN  
NGUỒN GEN GIỐNG GÀ H’RE QUẢNG NGÃI  
Chủ nhiệm nhiệm vụ: KS. Lê Thị Quỳnh Trang  
Cơ quan chủ trì: Trung tâm Thông tin và Ứng dụng KHCN Quảng Ngãi  
Năm nghiệm thu: 2017  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Giống gà H're của đồng bào H're Quảng Ngãi được Viện Chăn nuôi đánh giá là giống  
gà đặc trưng quý hiếm của Quảng Ngãi nói riêng cũng như của Việt Nam nói chung, có nguy  
cơ tuyệt chủng cao cần được bảo tồn. Gà H’re có khối lượng cơ thể nhỏ, gà mái khoảng 0,8 –  
1,0kg, gà trống khối lượng khoảng 1,0 – 1,2kg, màu sắc lông rất đa dạng, trong đó có 03 màu  
lông chính là trắng, đen và màu sặc sỡ, mào đơn, dái tai màu trắng, chân vàng, khả năng sinh  
sản và phát triển tốt, một năm đẻ 3 - 4 lứa, mỗi lứa đẻ 12 – 15 quả, tỷ lệ phôi tương đối cao: 70  
– 90%; số con nở ra / phôi là 80 – 90%.  
Do tập quán nuôi thả rông, gà tự kiếm ăn, tự ấp, sinh sản kiểu tự nhiên nên việc chăn nuôi  
và phát triển giống gà H’re trong đồng bào dân tộc H’re còn hạn chế, bị pha tạp nhiều. Hiện nay  
gà H’re tại cộng đồng người dân tộc H’re còn rất ít và có nguy cơ tuyệt chủng cao. Vì vậy, việc  
lưu giữ, bảo tồn gà H’re là hết sức cần thiết.  
II. MỤC TIÊU  
Nuôi lưu giữ, bảo tồn ổn định đàn gà H’re thuần chủng với qui mô 130 con gà mái và 20  
con gà trống; Cung cấp gà H’re giống có chất lượng phục vụ phát triển chăn nuôi, cung cấp sản  
phẩm thịt cho thị trường.  
III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN  
1. Khảo sát, tuyển chọn đàn gà giống ban đầu  
Trong quá trình khảo sát, tuyển chọn, mua giống gà đã thu thập một số thông tin từ các hộ  
dân như sau:  
- Địa điểm khảo sát: xã Ba Dinh, Ba Cung, Ba Thành – huyện Ba Tơ.  
- Gà H’re hiện nay còn rất ít, gà được người đồng bào H’re nuôi tại các nơi xa xôi, hẻo  
lánh, gà nuôi không tập trung, hộ nuôi phổ biến từ 5 – 10 con.  
- Phương thức nuôi theo phương thức bán thả, việc chăm sóc, nuôi dưỡng chủ yếu thả rông  
trong vườn rừng, tối gà có thể về chuồng ngủ hoặc ngủ trên cành cây.  
- Gà đẻ trứng và ấp theo bản năng, người đồng bào không tác động vào quá trình này.  
- Công tác thú y, vaccin phòng bệnh cho gà chưa được chú trọng.  
Sau quá trình khảo sát, xác định các hộ dân có nuôi gà H’re, Trung tâm phối hợp với Trạm  
khuyến nông huyện, UBND xã và các hộ dân để thỏa thuận việc tuyển chọn, mua các cá thể gà  
H’re theo tiêu chí mà Trung tâm đã xây dựng trong nhiệm vụ.  
- Số lượng đàn giống tuyển chọn ban đầu 250 con, gồm 200 con mái và 50 con trống, trọng  
lượng bình quân 0,8kg/con (Sau 16 tuần nuôi)  
+ Tuyển đợt 1: 88 con, gồm 70 con mái và 18 con trống  
+ Tuyển đợt 2 và 3: 162 con, gồm 130 con mái và 32 con trống  
50  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
+ Gà được tuyển chọn từ người đồng bào H’re xã Ba Dinh, Ba Cung, Ba Thành – huyện  
Ba Tơ.  
- Về chất lượng: Gà tuyển chọn ban đầu mang các đặc điểm đặc trưng của gà H’re như:  
+ Gà mái: Số lượng 200 con  
-Màu sắc: Trắng, đen, sặc sỡ (mang đặc điểm đặc trưng của gà H’re)  
- Khối lượng: Trung bình 0,8kg/con  
- Bộ lông óng mượt, mỏ ngắn, chắc, không vẹo  
- Mào và tích tai phát triển tốt, to mềm  
- Hai chân chắc chắn, cân đối, bụng mềm, lỗ huyệt rộng, cử động  
+ Gà trống: Số lượng 50 con  
- Màu sắc: trắng, đen, sặc sỡ (mang đặc điểm đặc trưng của gà H’re)  
- Khối lượng: Trung bình 0,8kg/con  
- Bộ lông phát triển, hai chân chắc chắn, cân đối, dáng đứng thẳng  
- Không dị tật  
2. Chăm sóc, nuôi dưỡng và nhân giống  
2.1. Xây dựng chuồng trại  
- Xây dựng tường rào lưới B40 tổng chiều dài 400m (Tường rào có tổng chiều dài là 400m,  
được kết cấu bởi: chân tường xây gạch 6 lỗ, cao 40cm (kể cả phần móng), phần trên tường kéo  
lưới B40 cao 1,2m, trụ bê tông cốt thép có kích thước 0,15 x 0,15 x 1,6m (4 sắt d = 8mm, BT  
đá 1x2 mác 200). Móng trụ đổ bê tông đá 1x2 mác 200 kích thước 0,4x0,4x0,5m, khoảng cách  
trụ là 3m).  
- Xây dựng 03 ô chuồng nuôi gà, mỗi ô chuồng có diện tích 20m2 , tổng diện tích là 60m2  
để gà ngủ, làm ổ, đẻ trứng, tránh mưa…, nền chuồng nuôi được làm bằng đệm lót sinh học.  
- Chuồng úm chia ra 4 ô nhỏ để úm gà con của 4 lô đánh số thứ tự từ 1-4 mỗi ô 5m2.  
Chuồng trại xây 3 ô, sử dụng 1 ô để úm gà con sau khi nở, 2 ô còn lại ngăn đôi và chia làm  
4 lô để luân chuyển gà trống nhằm tránh cận huyết giữa các lô. Chuồng đảm bảo giúp gà thích  
nghi nhanh sau khi đưa về và có nơi để gà mái đẻ trứng. Tuy nhiên một số cá thể gà còn ngủ  
trên cây và đẻ trứng rãi rác nên quá trình chăm sóc, thu trứng ấp và ảnh hưởng đến sức khỏe,  
chất lượng trứng.  
2.2. Chăm sóc, nuôi dưỡng và nhân giống  
2.2.1. Phân lô để theo dõi, chăm sóc, nuôi dưỡng  
Bảng 1: Số lượng gà phân bố từng ô để tuyển chọn, nuôi lưu giữ  
(Đơn vị tính: con)  
Số  
Màu lông  
Sặc sỡ  
Địa điểm tuyển  
chọn  
Lô  
nuôi  
lượng Trống  
gà  
Mái  
TT  
Đen  
Trắng  
1 Lô 1  
2 Lô 2  
62  
62  
12  
12  
50  
50  
Ba Dinh, Ba Cung  
Ba Cung, Ba Thành  
25  
28  
20  
31  
17  
4
51  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
3 Lô 3  
4 Lô 4  
63  
63  
13  
13  
50  
50  
50  
Ba Thành, Ba Dinh  
Ba Thành, Ba Dinh,  
Ba Cung  
31  
23  
26  
31  
6
9
Tổng cộng  
250  
200  
2.2.2.Chăm sóc, nuôi dưỡng  
- Phương thức nuôi:  
+ Nuôi theo phương thức bán thả, chú trọng việc tạo cây bóng mát, cỏ dại tại khu vực sân  
nuôi để đảm bảo điều kiện thích nghi cho gà ở giai đoạn đầu khi đưa về Trại.  
+ Thức ăn: Chủ yếu là bắp, lúa, rau xanh và cỏ ủ chua với men vi sinh hoạt tính, cho ăn  
theo định mức phù hợp với nhu cầu của gà H’re.  
+ Công tác vệ sinh thú y, môi trường chuồng nuôi: Định kỳ hàng tuần thực hiện công tác  
vệ sinh, môi trường chuồng nuôi. Đối với nền chuồng nuôi gà, định kỳ 1 tháng/lần bổ sung thêm  
chế phẩm men vi sinh BalasaN01 để cải thiện chất lượng nền đệm lót sinh học.  
- Thực hiện Vaccin phòng bệnh:  
+ Vaccin Newcastle M 1 lần (1 tuần sau khi đưa gà về), Gumboro 2 lần (sau Newcastle 5  
ngày, 15 ngày), Chủng đậu và Lactose (sau Gumbroro lần 15 ngày), cúm gia cầm (sau vaccine  
đậu 10 ngày), tụ huyết trùng sau vaccine cúm gia cầm 10 ngày và tẩy giun sán (30 ngày sau khi  
đưa gà về).  
+ Trong quá trình nuôi lưu giữ, bảo tồn định kỳ 3 tháng/1lần thực hiện nhắc lại vaccin  
phòng bệnh.  
Đánh giá kết quả tình hình thích nghi, phát triển của gà H’re giai đoạn đầu (sau 1 tháng)  
khi đưa về nuôi tuyển chọn, bảo tồn tại Trại:  
Giai đoạn đầu sau khi đưa về Trại, gà H’re chưa thích nghi với điều kiện tại Trại, có dấu  
hiệu bị stress, do đó Trung tâm đã tăng cường chăm sóc, nuôi dưỡng tích cực: Trong khẩu phần  
cho ăn, tích cực bổ sung khoáng, vitamin… sau một tháng nuôi, gà mới phục hồi sức khỏe ổn  
định và phát triển bình thường.  
* Kết quả theo dõi tình hình phát triển, tăng trọng của gà giai đoạn gà đưa về Trại đến  
khi gà đẻ trứng (giai đoạn sau 2 tháng nuôi)  
Bảng 2: Tăng trọng của gà giai đoạn gà đưa về Trại đến khi gà đẻ trứng (giai đoạn sau 2  
tháng nuôi)  
(Đơn vị tính: gam)  
Trọng lượng gà mái  
Trọng lượng gà trống  
Trung  
bình trong  
tháng  
Lô  
Nuôi  
Sau 2 tháng Trung bình  
Sau 2  
tháng nuôi  
TT  
Ban đầu  
Ban đầu  
nuôi  
trong tháng  
1 Lô 1  
2 Lô 2  
3 Lô 3  
4 Lô 4  
400-1.000  
400-1.000  
400-1.000  
400-1.000  
700-1.100  
700-1.100  
700-1.100  
700-1.100  
150±32  
150±33  
150±31  
150±33  
400-1.000 800-1.200  
400-1.000 800-1.200  
400-1.000 800-1.200  
400-1.000 800-1.200  
200±41  
200±41  
200±42  
200±41  
- Sau khi đưa về Trại nuôi bảo tồn gà bắt đầu thích nghi với khí hậu ở Trại thì một số mái  
52  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
đưa về trại có khối lượng 800-1.000 gam bắt đầu đẻ trứng rải rác, giai đoạn này gà mái đạt trọng  
lượng 700-1.100g/con, gà trống đạt trọng lượng 800-1.200/con.  
- Về sức khỏe của gà: Giai đoạn này nhìn chung sức khỏe gà tương đối ổn định, thực hiện  
việc nuôi dưỡng, chăm sóc tích cực nên tình hình bệnh, dịch bệnh ở gà không xảy ra.  
2.2.3. Loại thải, tuyển chọn đàn gà ban đầu khi bắt đầu sinh sản  
- Các cá thể gà loại thải: gà phát triển kém so với tổng đàn, thể trọng gầy ốm và hay mắc  
bệnh.  
- Cơ cấu đàn sau khi loại thải để đưa vào theo dõi sinh sản, nhân giống: 200 con (gồm 160  
gà mái, 40 gà trống) được nuôi ở 4 lô (mỗi lô 40 gà mái + 10 gà trống).  
2.2.4. Kết quả theo dõi sinh sản, nhân giống từ giai đoạn gà bắt đầu đẻ trứng đến giai  
đoạn loại thải lần 2 (6 tháng)  
- Giai đoạn này gà ở giai đoạn sinh sản ổn định, trong các lô nuôi thì lô 3 và lô 4 số trứng  
thu được nhiều hơn so với lô 2 và lô 1. Điều này cho thấy chất lượng gà mái sinh sản ở các lô  
không đồng đều nhau. Qua theo dõi, đánh giá, lô 2 và lô 1 số lượng gà mái sinh sản kém xuất  
hiện nhiều hơn so với lô 3 và lô 4.  
- Giai đoạn này số trứng gà thu được Trung tâm chủ yếu tiêu thụ thương phẩm, chỉ đưa  
vào một số ít để ấp trứng bằng máy ấp (Giai đoạn này gà mới vào giai đoạn sinh sản ổn định),  
kết quả đợt ấp thử nghiệm đầu tiên với số lượng 50 trứng với kết quả như sau: Tỷ lệ trứng có  
phôi: 65%; số con nở ra/phôi: 70% ; số con dị tật, yếu, chết sau khi nở 1 tuần: 20%. Mục đích  
của việc ấp thử nghiệm đợt đầu để kiểm tra vận hành máy ấp trứng, đánh giá chất lượng trứng,  
tỉ lệ trứng có phôi để thực hiện việc chuẩn bị ấp trứng, nhân đàn với qui mô lớn hơn.  
2.2.5. Loại thải gà lần 2 sau giai đoạn gà đẻ trứng ổn định  
- Trung tâm tiến hành loại thải các cá thể gà có đặc điểm:  
+ Đối với gà mái: Gà mái đẻ trứng ít so với các cá thể trong lô, gầy và hay mắc bệnh. Gà  
mang các đặc điểm ngoại hình thể hiện sự đẻ kém như có mào và tích tai kém phát triển, màu  
nhợt nhạt, lỗ huyệt nhỏ, khô, ít cử động, kể cả những cá thể vào giai đoạn cuối khai thác trứng  
mà bộ lông vẫn bóng mượt, lông lưng và lông cổ vẫn còn nguyên vẹn thì chứng tỏ rằng những  
cá thể đó đẻ kém cần phải loại thải.  
+ Đối với gà trống: Gà trống tính hăng không cao và thường xuyên mắc bệnh. Hai chân  
không chắc chắn, thiếu cân đối.  
- Cơ cấu đàn gà giống đã tuyển chọn đưa vào nuôi lưu giữ, bảo tồn, nhân giống: 150 con  
(gồm 130 gà mái, 20 gà trống) được nuôi ở 4 lô (Lô 1 và lô 2: Mỗi lô 32 gà mái + 5 gà trống; lô  
3 và lô 4: Mỗi lô 33 gà mái + 5 gà trống).  
2.2.6. Theo dõi sinh sản, nhân giống (giai đoạn 48 tuần tuổi đến 96 tuần tuổi) để bảo tồn  
a. Tổng hợp số trứng gà đẻ ở các lô  
Sau khi tiến hành loại thải các cá thể gà đợt 2, với quy mô nuôi bảo tồn 150 con (130 mái  
và 20 trống), qua quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng tích cực, gà đẻ trứng ổn định với tổng số trứng  
là 6.500 trứng, trung bình 50 trứng/năm/gà mái.  
b. Kết quả nhân giống gà H’re trong quá trình thực hiện nhiệm vụ  
Mỗi lô thực hiện 6 đợt ấp trứng để nhân giống gà Hre, tổng số lượng trứng đưa vào ấp là  
53  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
1.615 trứng (số trứng còn lại 5.180 tiêu thụ thương phẩm phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng).  
c. Theo dõi tăng trọng đàn gà hậu bị để tuyển chọn lại, thay thế đàn gà giống ban đầu  
Sau 06 tháng nuôi tại Trại, Lô 1 và lô 2 gà mái đạt trọng lượng trung bình 1.100 g/con và  
gà trống đạt trọng lượng 1.200 g/con, tăng trọng bình quân của 2 lô này đối với gà trống bình  
quân mỗi tháng tăng 200g/con, còn đối với gà mái 2 lô 1 và 2 thì tăng trọng bình quân mỗi tháng  
tăng 180g/con. Đối với lô 3 và 4 thì tốt hơn so với lô 1 và 2 gà mái đạt trọng lượng trung bình  
1.150 g/con và gà trống đạt trọng lượng 1.250 g/con, tăng trọng bình quân của 2 lô này đối với  
gà trống bình quân mỗi tháng tăng 208g/con, còn đối với gà mái 2 lô 3 và 4 thì tăng trọng bình  
quân mỗi tháng tăng 191g/con.  
Như vậy, với sự chăm sóc chu đáo cũng như quy trình nuôi phù hợp trọng lượng của đàn  
gà H’re khi nuôi tại Trại thực nghiệm đã được cải thiện, cao hơn so với trọng lượng của gà H’re  
khi nuôi thả rông trên rừng.  
d. Theo dõi tình hình sức khỏe, màu sắc, ngoại hình của gà hậu bị  
- Về sức khỏe của gà: Thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng tích cực, văc xin phòng bệnh  
sức khỏe gà bình thường, tình hình dịch bệnh không xảy ra. Tuy nhiên tập tính gà H’re ban đêm  
một số lượng gà thường ngủ trên cây nên những ngày mưa, gió, thời tiết thay đổi đột ngột sức  
khỏe gà bị ảnh hưởng.  
- Màu sắc, ngoại hình: Gà hậu bị mang màu sắc, ngoại hình đặc trưng của gà H’re với tỉ lệ  
đạt 80% (529 con/626con để bổ sung, thay thế đàn gà giống ban đầu: trong đó gà trống đủ tiêu  
chuẩn 250con; gà mái 279con).  
* Kết quả thực hiện tuyển chọn, thay thế đàn gà giống ban đầu  
Theo qui mô lưu giữ, bảo tồn của nhiệm vụ: 130 gà mái và 20 gà trống, khi gà ở giai đoạn  
18 tháng tuổi (hoặc tùy tình hình sinh sản, sức khỏe của gà) thực hiện loại thải, thay thế dần  
những cá thể không đạt yêu cầu: gà sinh sản kém (gà mái), tính hăng không cao (gà trống); sức  
khỏe kém tiến hành loại thải và thay thế các cá thể này từ đàn gà hậu bị.  
Để đảm bảo quá trình sinh sản ổn định của đàn gà bảo tồn, việc loại thải, thay thế đàn gà  
giống ban đầu thực hiện dần từng bước, trong 1 tháng thay thế không quá 20% số lượng gà. Đến  
12/11/2017 nhiệm vụ đã tiến hành tuyển chọn, thay thế hoàn toàn đàn gà giống ban đầu: gà mái  
120con/120con; gà trống 20con/20con từ đàn gà nuôi hậu bị tại Trại.  
3.1. Kết quả đạt được  
Thực hiện tuyển chọn, nuôi lưu giữ, bảo tồn ổn định đàn gà giống với quy mô 150 con  
(130 mái + 20 trống), trong qua quá trình nuôi bảo tồn, sức khỏe gà ổn định, tình hình bệnh,  
dịch bệnh được kiểm soát tốt.  
Gà mái sinh sản ổn định và đạt 50 trứng/năm/con. Nhiệm vụ đã thực hiện việc ấp trứng  
bằng máy ấp để nhân giống gà H’re với số lượng 828 con và thực hiện nuôi thương phẩm để  
tuyển chọn, thay thế đàn gà ban đầu cũng như phục vụ việc cung cấp gà H’re cho người tiêu  
dùng.  
Xây dựng được giải pháp kỹ thuật nuôi gà H’re để phục vụ việc phổ biến, hướng dẫn cho  
người dân. Bước đầu đã cung cấp được một số sản phẩm như trứng gà H’re, thịt gà H’re thương  
phẩm cho người tiêu dùng, được người tiêu dùng đánh giá tốt về chất lượng. Đồng thời thực  
hiện việc cung cấp giống gà cho một số người dân tại huyện miền núi để nuôi phát triển.  
54  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
3.2. Những tồn tại, hạn chế  
- Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, do tập tính của gà H’re ngủ trên cành cây, đẻ trứng  
không tập trung nên việc quản lý, chăm sóc gặp khó khăn như sau: Thu trứng để theo dõi sinh  
sản, bắt gà tiêm phòng văcxin, vào mùa mưa bão, một số cá thể gà ngủ trên cây (ngoài trời) nên  
sức khỏe kém, thiếu tính ổn định.  
- Trọng lượng gà H’re nhỏ (bình quân 1,0 – 1,2kg/con), mức độ tăng trọng chậm. Thị  
trường tiêu thụ trứng gà, thịt gà H’re Trung tâm mới tiếp cận nên còn khó khăn trong việc tiêu  
thụ sản phẩm.  
4. Phương án khai thác nguồn gen sau khi kết thúc nhiệm vụ  
Thông qua nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng, Trung tâm thực hiện khai thác nguồn  
gen giống gà H’re như sau:  
- Tiếp tục thực hiện việc nuôi lưu giữ, bảo tồn gà H’re để nhân giống thuần gà H’re cung  
cấp giống cho người dân miền núi; phát triển mô hình nuôi gà H’re thương phẩm cung cấp sản  
phẩm cho người tiêu dùng.  
- Thực hiện phát triển lai tạo giống gà H’re với gà kiến tại Quảng Ngãi để tạo con lai cho  
năng suất, chất lượng cung cấp cho người dân có nhu cầu; phát triển mô hình nuôi gà bản địa  
sạch, an toàn vệ sinh thực phẩm để cung cấp sản phẩm cho người tiêu dùng.  
V. KẾT LUẬN  
Nhiệm vụ “Tuyển chọn, nuôi lưu giữ, bảo tồn nguồn gen giống gà H’re tại Quảng Ngãi”  
đã thực hiện đầy đủ các nội dung, đạt mục tiêu của nhiệm vụ đã xây dựng.  
Tuyển chọn, nuôi lưu giữ, bảo tồn ổn định đàn gà H’re với qui mô 150 con (130 mái + 20  
trống). Đây là nguồn giống để nhân đàn, phát triển giống gà H’re nhằm phục vụ việc lưu giữ,  
bảo tồn nguồn gen; cung cấp giống cho người dân trên địa bàn tỉnh (chủ yếu là các huyện miền  
núi) nuôi phát triển giống gà H’re đã tồn tại lâu đời gắn với tập quán, văn hóa của người đồng  
bào H’re ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi, phục vụ phát triển kinh tế hộ gia đình người  
đồng bào H’re  
55  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
pdf 6 trang yennguyen 18920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tuyển chọn, nuôi lưu giữ, bảo tồn nguồn gen giống gà H’re Quảng Ngãi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftuyen_chon_nuoi_luu_giu_bao_ton_nguon_gen_giong_ga_hre_quang.pdf