Giáo trình Đất và dinh dưỡng cây trồng

MỤC LỤC  
1
2
3
LỜI NÓI ĐẦU  
Giáo trình Đất và Dinh dưỡng cây trồng được biên soạn trên cơ sở kế hoạch đào  
tạo hệ đại học theo tín chỉ các ngành: Trồng trọt, Hoa viên cây cảnh, Lâm nghiệp, Nông  
lâm kết hợp, Quản lý tài nguyên rừng của Trường Cao đẳng Cộng đồng Lào Cai. Giáo  
trình này cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản nhất về nguồn gốc, thành phần,  
và tính chất của đất và tính chất cơ bản của phân bón và hướng sử dụng đất và phân bón  
(Xem lai KT khớp với ND trình bày của bài giảng).  
Trong khi biên soạn, tập thể tác giả đã bám sát phương châm giáo dục của Nhà  
nước Việt Nam và gắn liền lý luận với thực tiễn. Đồng thời với việc kế thừa các kiến thức  
khoa học hiện đại trên thế giới, các tác giả đã mạnh dạn đưa các kết quả nghiên cứu mới  
nhất của Việt Nam vào trong tài liệu, đặc biệt là các kết quả nghiên cứu ở vùng núi phía  
Bắc Việt Nam.  
Đây là cuốn giáo trình được biên soạn công phu, nhưng chắc chắn không tránh  
khỏi những thiếu sót. Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp  
và các độc giả.  
Xin chân thành cảm ơn.  
Tác giả  
4
 
MỞ ĐẦU  
KHÁI NIỆM VỀ ĐẤT VÀ DINH DƯỠNG CÂY TRỒNG  
1.1. Một số khái niệm cơ bản  
Đất:  
Đất là một phần của vỏ trái đất, nó là lớp phủ của lục địa mà bên dưới nó là đá và  
khoáng sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì và khí quyển.  
Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng sản xuất ra sản phẩm của cây trồng.  
Như vậy khả năng sản xuất ra sản phẩm cây trồng (độ phì của đất) là thuộc tính không thể  
thiếu được của đất (William).  
Theo nguồn gốc phát sinh, Đôkutraiep định nghĩa: Đất là một vật thể tự nhiên được  
hình thành do sự tác động tổng hợp của năm yếu tố là: khí hậu, đá mẹ, địa hình, sinh vật  
và thời gian. Đất được xem như một thể sống, nó luôn luôn vận động, biến đổi và phát  
triển.  
Đất được cấu tạo nên bởi các chất khoáng (chủ yếu từ đá mẹ) và các hợp chất hữu  
cơ do hoạt động sống của sinh vật cung cấp. Vì vậy sự khác nhau cơ bản giữa đất và sản  
phẩm vỡ vụn của đá là: Đất có độ phì nhiêu trong khi đá và khoáng lại không có.  
Đối với sản xuất nông lâm nghiệp, đất là một tư liệu sản xuất vô cùng quý giá, cơ  
bản và không gì thay thế được.  
Đất là một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái. Đất được coi như một “hệ đệm”,  
như một “phễu lọc” luôn luôn làm trong sạch môi trường với tất cả các chất thải do hoạt  
động sống của sinh vật nói chung và con người nói riêng trên trái đất.  
Dinh dưỡng cây trồng:  
Dinh dưỡng cây trồng là những nguyên tố hóa học cần thiết cho sự sinh trưởng và  
phát triển của cây, bao gồm các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng, trung lượng và vi lượng.  
Nguồn dinh dưỡng cây trồng được cung cấp chủ yếu từ đất và tàn tích của thực vật.  
Ngoài ra còn được cung cấp từ phân bón và nước tưới.  
(Mucj)NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG CỦA MÔN ĐẤT VÀ DINH DƯỠNG CÂY  
TRỒNG  
Đất và dinh dưỡng cây trồng là một môn học cơ sở phục vụ các môn học chuyên  
môn khác, nó quan hệ chặt chẽ với môn hoá học, vật lý, sinh vật và khí tượng. Vì vậy  
nhiệm vụ và nội dung cơ bản của môn học là:  
- Nghiên cứu về nguồn gốc của đất và các quy luật phát sinh, phát triển của nó  
cũng như quy luật phân bố đất đai trên lục địa.  
- Nghiên cứu về thành phần, cấu tạo, tính chất và độ phì nhiêu của của đất.  
- Nghiên cứu cơ sở cho hoàn thiện các quy trình sử dụng và cải tạo từng loại đất  
với phương châm nâng cao độ phì đất đảm bảo ổn định và nâng cao năng suất cây trồng.  
- Nghiên cứu về hấp thu dinh dưỡng của cây và các yếu tố ảnh hưởng.  
- Nghiên cứu vai trò, tính chất và cách sử dụng các loại phân bón cho cây.  
5
 
CHƯƠNG 1  
NGUỒN GỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐẤT  
1.1. Nguồn gốc và quá trình hình thành đất  
1.1.1. Khoáng vật  
Khoáng vật là những hợp chất có trong tự nhiên, giống nhau về thành phần  
cấu tạo, được hình thành do các quá trình vật lý, hoá học xẩy ra trong vỏ Trái đất.  
Về bản chất, khoáng vật là các hợp chất vô cơ, chúng có thể ở thể rắn, lỏng  
hay khí, trong đó, khoáng vật ở thể rắn phổ biến hơn cả.  
Các khoáng vật khác nhau tập hợp lại thì tạo nên đá. Chúng cũng là thành  
phần chủ yếu của đất, có thể chiếm 95 - 98% trọng lượng đất khô.  
Một số loại khoáng vật có thể sử dụng làm phân bón trong nông nghiệp như  
apatit, photphorit…  
1.1.1.1. Phân loại khoáng vật  
Căn cứ vào thời gian hình thành khoáng vật được chia ra làm hai loại.  
- Các nguyên tố tham gia vào cấu tạo của khoáng vật rất phong phú, phổ biến  
nhất là oxy (O2), silic (Si), nhôm (Al), sắt (Fe), kali (K), photpho (P), natri (Na),  
canxi (Ca)… tuy nhiên trong thành phần của chúng không có (N) nitơ.  
- Các khoáng vật khác nhau được cấu tạo từ một số nguyên tố khác nhau và  
có tính chất xác định khác nhau như độ cứng, vết vỡ, hình dạng, mức độ gắn kết  
một số phản ứng hoá học đặc trưng…  
Dựa vào nguồn gốc hình thành khoáng vật được chia ra hai loại:  
* Khoáng vật nguyên sinh: Là những khoáng vật hình thành nên cùng với thời  
gian tạo đá và hầu như chưa biến đổi về thành phần, trạng thái. Khoáng vật nguyên  
sinh thường tạo nên các đá còn tươi (đá chưa bị phong hoá).  
- Khoáng vật nguyên sinh gồm các lớp sau:  
+ Lớp silicat: Bao gồm các khoáng vật nhóm phen phát  
Ví dụ: Phen phát Kali: KAlSi3O8  
+ Lớp ôxit: Đại diện là thạch anh (SiO2); hematít (Fe2O3)  
+ Lớp muối: Đại diện là canxit CaCO3 hay apatit Ca5(PO4)3Fe,Cl  
* Khoáng vật thứ sinh: Là do khoáng vật nguyên sinh biến đổi, phá huỷ tạo  
thành. Đại bộ phận khoáng vật trong đá đang phá huỷ trong mẫu chất và trong đất  
là khoáng vật thứ sinh.  
- Khoáng vật thứ sinh được chia ra các lớp:  
+ Lớp Alumino silicat: Đại diện là khoáng vật sét. Ví dụ: Kaolinit Al2O3  
2SiO2.2H2O  
6
       
+ Lớp ôxit và hydroxit: Đại diện là Opuan SiO2.nH2O;limônít Fe2O3.H2O.  
+ Lớp muối: Đại diện là thạch cao CaSO42H2O.  
Như vậy thành phần khoáng vật trong đất có ảnh hưởng lớn đến các tính chất  
cũng như thành phần các chất dinh dưỡng trong đất.  
1.1.1.2. Các loại đá hình thành đất  
Đá là thành phần cấu tạo nên vỏ Trái đất, chúng được tạo nên từ các khoáng  
vật và là nguyên liệu để hình thành ra đất. Theo nguồn gốc hình thành, người ta  
chia đá làm ba loại sau:  
a. Đá mácma  
Đá mácma là những đá tạo thành do sự đông đặc của khối dung nham nóng  
chảy trong lòng đất. Mácma đông đặc dưới sâu tạo nên đá mácma xâm nhập. Khi  
mácma phun trào lên mặt đất, đông đặc lại tạo ra đá mácma phun trào (mácma  
phún xuất).  
Dựa vào tỷ lệ SiO2 mà chia ra:  
- Đá mácma siêu axit 75% SiO2, Ví dụ: Đá pematit  
- Đá mácma axít 65 - 75% SiO2; đại diện là đá granit, đá lipanit, có nhiều ở  
Sầm Sơn, đèo Hải Vân.  
- Đá mácma trung tính 52 - 65% SiO2; đại diện là đá sianit, anđerit  
- Đá mácma bazơ 40 - 52% SiO2; đại diện đá bazan  
- Đá mácma siêu bazơ < 40% SiO2; đại diện là đá peridotit, piroxenit.  
Nhìn chung đất được hình thành từ đá mácma bazơ có tầng đất dày, ít dốc  
và đất màu mỡ hơn.  
b. Đá trầm tích  
Dưới tác động của các yếu tố tự nhiên như nước chảy, gió, nhiệt độ và sinh  
vật, các đá cấu tạo nên vỏ Trái đất bị phá huỷ. Sản phẩm phá huỷ đá phần lớn bị  
dòng nước cuốn trôi dưới dạng rắn hay hoà tan, những sản phẩm này lắng đọng, kết  
gắn và nén chặt với nhau tạo thành đá trầm tích. Đá trầm tích thường được hình  
thành theo 3 nguồn gốc.  
- Đá trầm tích cơ học: Được hình thành do sự vỡ vụn của các loại đá khác,  
dựa vào kích thước chia ra:  
+ Đá vụn thô: Đường kính hạt > 2mm  
+ Đá cát: Đường kính hạt 0,1- 2mm  
+ Đá bột: Đường kính hạt 0,01- 0,1mm  
+ Đá sét: Đường kính hạt < 0,01mm  
- Đá trầm tích hoá học: Là loại đá được tạo nên do sự lắng đọng của các  
muối hoà tan. Ví dụ: Đá ong, kết von đá ong; đá phot phat; đá cacbonat…  
7
- Đá trầm tích sinh học: Là loại đá được tạo nên nhờ sự lắng đọng của xác  
sinh vật. Ví dụ: Đá vôi, than đá, apatit…  
c. Đá biến chất  
Khi gặp điều kiện nhiệt độ, áp suất cao, một số đá Macma và đá trầm tích bị  
biến đổi mạnh mẽ về kiến trúc, cấu tạo và thành phần hoá học dưới tác động của  
nhiệt độ và áp suất cao thì tạo thành đá biến chất.  
Tuỳ theo tác động gây lên sự biến đổi mà ta có đá biến chất nhiệt, biến chất  
động lực hay biến chất tiếp xúc. Đá biến chất có tính chất gần giống đá tạo nên  
chúng, song cũng có những đặc điểm mới như tính phân lớp, độ kết tinh …  
Một số đại diện đá biến chất là đá hoa được tạo nên từ đá vôi, loại này có ở  
núi Ngũ Hành (Quảng Nam – Đà Nẵng).  
Trong tự nhiên, ba loại đá trên có quan hệ mật thiết với nhau và có thể  
chuyển đổi lẫn cho nhau trong quá trình biến đổi của vỏ trái đất.  
Đá trần tích khi bị lún sâu vào lòng đất bị nóng chảy tạo ra Macma, Macma  
này có thể di chuyển lên trên, đông đặc lại tạo ra đá Macma. Mối quan hệ này được  
biểu diễn ở hình 1.  
§¸ m¸c ma  
Phá huỷ  
Cuố n trôi  
§¸ biÕn chÊt  
§¸ trÇm tÝch  
Đông  
ngu
ộ
i  
§¸ m¸c ma  
8
1.1.2.Quá trình phong hoá đá hình thành đất  
1.1.2.1. Khái niệm  
Dưới tác động của các điều kiện ngoại cảnh, các loại đá bao phủ trên bề mặt  
Trái đất dần dần bị biến đổi và phá huỷ. Kết quả của sự phá huỷ này là đá bị thay  
đổi sâu sắc về các tính chất vật lý cũng như hoá học, tạo ra một lớp vỏ ngoài tơi  
xốp, có những tính chất khác với đá ban đầu như khả năng thấm nước, khả năng  
giữ nước, khả năng giải phóng các chất hoà tan… Lớp vỏ này chính là cơ sở để tạo  
thành đất.  
Quá trình phá huỷ đá dưới tác động của các điều kiện ngoại cảnh như trên  
gọi là quá trình phong hoá đá. Sản phẩm của quá trình phong hoá đá được gọi là  
mẫu chất.  
Các điều kiện ngoại cảnh tham gia vào quá trình phong hoá đá có nhiều loại.  
Đó là các yếu tố vật lý như sự thay đổi của nhiệt độ, gió, dòng nước…, các tác  
nhân hoá học như oxy, cacbonic… và các tác nhân sinh học.  
1.1.2.2. Quá trình phong hoá đá  
Tuỳ theo các tác nhân tham gia phá huỷ đá, đá biến đổi theo nhiều hướng  
khác nhau, tạo ra các quá trình phong hoá khác nhau.  
a . Phong hoá vật lý  
Phong hoá vật lý là sự vỡ vụn các loại đá thành những mảng khác nhau  
nhưng không làm thay đổi thành phần hoá học của đá gốc.  
Yếu tố tác động chính của phong hoá lý học là sự thay đổi nhiệt độ. Đá được  
cấu tạo bởi các khoáng vật, các khoáng vật khi nóng lên thì nở ra, khi lạnh thì co  
lại, mỗi khoáng vật có một hệ số nở thể tích khác nhau, làm cho nội bộ trong đá co  
giãn không đều mà đá bị nứt nẻ. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm, giữa  
mùa nóng và mùa lạnh làm cho đá liên tục bị co giãn, phá huỷ không ngừng. Tốc  
độ phong hoá lý học còn phụ thuộc vào tính chất của từng loại đá.  
Ví dụ: Đá bazơ dễ phong hoá hơn đá axít.  
Ngoài yếu tố nhiệt độ, đá còn bị phá huỷ bởi yếu tố nước, gió, nước chảy  
cuốn trôi đá, gió thổi làm các mảnh đá va chạm vào nhau vỡ vụn ra. ở nước ta sự  
thay đổi nhiệt độ giữa ngày và đêm, mùa đông và mùa hè không lớn lắm vì thế  
phong hoá vật lý do yếu tố nhiệt độ gây nên không mạnh như các nước miền ôn  
đới. (Co lên)  
b. Phong hoá hoá học  
Là sự phá huỷ đá bằng các phản ứng hoá học, làm thay đổi thành phần hoá  
học. Có 4 dạng phong hoá hoá học là:  
* Ôxy hoá: Là khoáng vật bị phá huỷ dưới tác động của ôxy trong không khí.  
9
 
Ví dụ: 2FeS2 + 2H2O + 7O2 → 2FeSO4 + 2H2SO4  
Pyrít Sunpua  
Ở nước ta có loại đá chứa sắt khi bị lộ ra ngoài mặt đất thường hình thành  
một lớp vỏ chứa limônít có màu nâu đỏ rỉ sắt rất cứng, lớp này dễ bị bong ra bởi  
phong hoá vật lý, đá lại tiếp tục bị oxy hoá để hình thành lớp vỏ bảo vệ mới.  
* Hoà tan: Khoáng vật bị hoà tan trong nước nhất là khi có mặt của khí CO2  
trong nước.  
Ví dụ: CaCO3 + H2O + CO2 → Ca(HCO3)2  
Canxicacbonat  
Canxi bi cacbonat  
* Hyđrat hoá: Là quá trình nước kết hợp với khoáng vật, các phân tử nước  
tham gia vào mạng lưới kết tinh của khoáng vật. Do đó càng làm tăng sự phá huỷ  
cơ giới của chúng.  
Ví dụ: CaSO4 + 2H2O → CaSO4.2H2O  
An hyđrit  
Thạch cao  
* Quá trình thuỷ phân: Bản chất của quá trình là sự trao đổi ion H+ của nước  
với các ion kiềm và kiềm thổ trong khoáng vật.  
Ví dụ: K2O.Al2O3.6SiO2 + 3H2O → Al2O3.2SiO2.2H2O + 2KOH + 4SiO2  
Phenspat Kali  
Kaolinit  
Kết quả của phong hoá hoá học là đá bị biến đổi sâu sắc về thành phần và  
tính chất làm cho đá chuyển từ cứng sang mềm, đồng thời giải phóng ra một số  
chất dễ hoà tan là chất dinh dưỡng đầu tiên cung cấp cho cây.  
c. Phong hoá sinh học  
Phong hoá sinh học là sự phá huỷ đá dưới tác động của các yếu tố sinh học  
(thực vật, vi khuẩn, tảo,...), phong hoá sinh học dễ xảy ra theo hai hướng:  
- Lý học: Rễ cây ăn sâu vào đá làm đá bị nứt nẻ.  
- Hoá học: Trong quá trình sống, rễ cây tiết ra một số chất có khả năng hoà  
tan một số chất làm đá bị phá huỷ.  
Kết quả của quá trình này không những làm cho đá bị thay đổi về tính chất  
hoá học mà còn có sự phân bố các loại chất dinh dưỡng làm cho lớp đất mặt ngày  
càng màu mỡ hơn.  
Ba quá trình phong hoá vật lý, hoá học và sinh học có liên quan chặt chẽ với  
nhau, thúc đẩy nhau và cùng tác động vào đá. Tuỳ từng lúc, từng nơi mà phong hoá  
này có trước, phong hoá kia có sau, phong hoá này chiếm ưu thế hơn phong hoá  
kia. ở nước ta phong hoá hoá học xảy ra mạnh hơn cả.  
10  
1.1.2.3 . Qúa trình hình thành đất  
Quá trình hình thành đất chịu sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố: sinh  
vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình, thời gian, khi con người xuất hiện và tiến hành trồng  
trọt thì họ cũng gây nên những biến đổi sâu sắc cho đất.  
a. Sinh vật  
Vai trò của sinh vật trong quá trình hình thành đất: Sinh vật là yếu tố chủ  
đạo trong quá trình hình thành đất vì nó quyết định đến chiều hướng phát sinh, quá  
trình phát triển, tích luỹ độ phì nhiêu cho sản phẩm phong hoá, chuyển sản phẩm  
phong hoá thành đất. Tham gia vào quá trình hình thành đất có nhiều loại sinh vật  
như: Vi sinh vật, thực vật và động vật.  
- Vai trò của vi sinh vật được thể hiện:  
+ Phân giải và tổng hợp chất hữu cơ trong đất từ dạng phức tạp đến dạng đơn  
giản, từ khó tan đến dễ tan và cuối cùng cho chất khoáng để cây trồng sử dụng  
được. Trong qúa trình sống, vi sinh vật hút thức ăn để tổng hợp nên chất hữu cơ  
trong cơ thể và còn có khả năng tổng hợp nên chất mùn (là thành phần cơ bản của  
độ phì nhiêu).  
+ Cố định đạm khí trời: Vai trò này được thể hiện nhờ loại vi sinh vật đặc  
biệt có khả năng hút đạm khí trời, tích luỹ đạm cho sản phẩm phong hoá biến đổi  
thành đất.  
- Vai trò của thực vật:  
Thực vật có thể tạo ra một lượng lớn chất hữu cơ trong đất. Đặc tính của  
thực vật là hút thức ăn có chọn lọc, do đó mà chất lượng chất hữu cơ khác nhau và  
ảnh hưởng của chúng đến đất cũng khác nhau.  
- Vai trò của động vật:  
+ Thông qua quá trình tiêu hoá thức ăn biến thành chất hữu cơ đơn giản cung  
cấp dinh dưỡng cho cây.  
+ Một số động vật sống dưới đất làm cho đất thêm nhiều hang hốc, tăng độ  
tơi xốp, thoáng khí, làm xáo trộn các lớp đất với nhau.  
Tóm lại: Sinh vật là yếu tố chủ đạo trong quá trình hình thành đất, chúng  
cung cấp cho đất chất hữu cơ và đạm là những chất không có trong đá mẹ và mẫu  
chất; làm thay đổi sâu sắc tính chất lý học và hoá học của đất, nhờ vậy mà đất có độ  
phì nhiêu khác hẳn với đá mẹ ban đầu.  
b. Đá mẹ  
* Vai trò của đá mẹ trong quá trình hình thành đất  
Đá mẹ là nguyên liệu để hình thành đất và cung cấp chất dinh dưỡng cho  
cây. Vì thế đất chịu ảnh hưởng rất lớn của đá mẹ, nhất là đất được hình thành tại  
11  
chỗ. Thành phần khoáng vật của đá mẹ ảnh hưởng đến thành phần cơ giới, độ dày,  
tính dính, tính dẻo của đất đồng thời ảnh hưởng đến số lượng chất dinh dưỡng và  
tính chất hoá học đất như tính chua, tính kiềm, thành phần và số lượng keo đất.  
Đá mẹ là nguyên liệu cơ bản để tạo ra đất, song không phải“đá nào thì đất  
ấy”. Một loại đất có thể hình thành nên từ nhiều loại đá khác nhau.  
Ví dụ: Cùng một loại đá mẹ nhưng khí hậu, sinh vật khác nhau lại hình thành  
nên các loại đất khác nhau. Do đó đá mẹ không phải là yếu tố chủ đạo trong quá  
trình hình thành đất.  
* Ảnh hưởng của đá mẹ đến đất  
Vùng đồi núi nước ta có lịch sử địa chất lâu đời, các loại đá xen kẽ nhau rất  
phức tạp có ảnh hưởng không ít tới quá trình hình thành đất, các loại đá khác nhau  
hình thành nên loại đất có tính chất khác nhau.  
(Căn giữa) Bảng 1. Quan hệ giữa đá mẹ và đất  
Đá mẹ  
Tính chất đất đặc trưng  
Đất đỏ vàng, tầng đất mỏng, thành phần cơ giới  
đất trung bình hoặc nhẹ, lẫn nhiều hạt thạch anh  
1. Đá mácma axít và siêu axít  
2. Đá mácma trung tính và bazơ Đất đỏ, dày, thành phần cơ giới nặng  
3. Đá mácma siêu bazơ  
4. Đá silic  
Đất xám, đen, ít chua hoặc trung tính, giàu Fe, Mg  
Tầng đất mỏng, nhiều cát, chua  
5. Đá sét  
Đá đỏ vàng, thành phần cơ giới nặng  
Đất đỏ, dày, nhiều sét, có Kali tổng số cao  
6. Đá phiến mica  
(Nguồn: Giáo trình Nông hoá thổ nhưỡng,TrườngĐHNN, năm 1996)  
c. Khí hậu  
Ảnh hưởng của khí hậu đến quá trình hình thành đất  
Khí hậu là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ trên nhiều mặt đến quá trình hình  
thành đất. Trong yếu tố khí hậu thì nhiệt độ và lượng mưa ảnh hưởng mạnh mẽ  
nhất, chúng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình hình thành đất thông  
qua quá trình phong hoá đá, tới sự hoà tan rửa trôi hoặc tích luỹ nhiều chất trong  
đất, tới sự phân giải và tổng hợp chất hữu cơ trong đất.  
Khí hậu ảnh hưởng gián tiếp đến đất thông qua sinh vật, vùng khí hậu khác nhau  
thì sinh vật khác nhau dẫn đến quá trình hình thành đất cũng khác nhau.  
Ví dụ:  
12  
- Vùng ôn đới lạnh hình thành đất đen. Vùng nhiệt đới hình thành đất Feralit.  
- Các vùng khí hậu nóng, mưa nhiều, quá trình bào mòn rửa trôi mạnh nên  
đất thường chua và nghèo dinh dưỡng.  
Ảnh hưởng của khí hậu Việt Nam đến đất  
Khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới có hai mùa: Mùa mưa và mùa khô rõ  
ràng.  
- Mùa mưa: Mưa nhiều, tập trung gây nên quá trình xói mòn rửa trôi ở miền  
núi, lũ lụt ở vùng đồng bằng. Quá trình bào mòn rửa trôi làm tầng đất mặt ngày càng  
mỏng, chất dinh dưỡng bị rửa trôi làm đất chua và nghèo dinh dưỡng, xuất hiện đất  
xói mòn trơ sỏi đá và đất bạc màu, vùng trũng ngập nước quá trình glây diễn ra làm  
xấu tính chất đất, ảnh hưởng đến cây trồng.  
- Mùa hanh khô: Nước bốc hơi mạnh gây hạn hán cho nhiều vùng tạo điều  
kiện tích luỹ sắt, nhôm hình thành nên đất đỏ vàng.  
d. Địa hình  
Ảnh hưởng của địa hình đến quá trình hình thành đất  
Địa hình có quan hệ chặt chẽ đến chế độ nước và nhiệt độ. Độ cao, độ dốc  
và hướng dốc khác nhau thì nhiệt lượng và độ ẩm khác nhau, quá trình hình thành  
đất cũng khác nhau, nơi cao có quá trình rửa trôi, xói mòn mạnh, nơi thấp trũng thì  
quá trình bồi tụ glây chiếm ưu thế, nơi gần biển có quá trình hoá mặn.  
Ảnh hưởng của địa hình Việt Nam đến đất  
- Vùng đồng bằng bao gồm 3 vùng đồng bằng lớn là:  
+ Vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng  
+ Vùng đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh  
+ Vùng đồng bằng sông Cửu Long  
Nhìn chung địa hình tương đối phẳng. Do quy luật lắng đọng phù sa, thường  
hai bên sông là những dãy rất cao, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, ít chua,  
thích hợp với nhiều loại cây trồng. Vùng xa sông địa hình thấp trũng, đất chua, glây  
mạnh có nơi ngập nước thường xuyên, quá trình phân giải diễn ra không triệt để hình  
thành nên đất phù sa úng nước, đất lầy và than bùn.  
Đồng bằng Trung bộ: Do ảnh hưởng của dãy Trường Sơn bị chia cắt thành  
nhiều mảnh, càng đi sâu về phía nam càng hẹp dần và phức tạp. Đất có thành phần  
cơ giới nhẹ, tầng đất mỏng và nghèo dinh dưỡng.  
- Vùng Trung du: Là vùng đất tiếp giáp giữa đồng bằng và đồi núi, địa hình  
ở dạng bậc thềm nên quá trình rửa trôi sét và dinh dưỡng diễn ra mạnh đất thường  
bị bạc màu.  
- Vùng đồi núi: Đặc điểm chung của địa hình đồi núi nước ta là cao, dốc,  
chia cắt nhiều và chiếm một diện tích lớn. Đất dốc, mưa nhiều và tập trung nên đất  
bị xói mòn mạnh, tầng đất mỏng, chua, nghèo dinh dưỡng, có nơi mất cả tầng mặt (  
13  
(Chỉnh lại lề) đất, có khi còn trơ cả tầng đá mẹ. Quá trình tích luỹ sắt, nhôm xảy ra  
mạnh làm ảnh hưởng xấu đến tính chất đất. Xen kẽ với đồi núi là thung lũng, do  
chứa các sản phẩm từ cao đưa xuống nhìn chung đất tốt hơn, tuy vậy có những  
vùng không thoát nước, đất sinh lầy khó canh tác.  
Tóm lại: Địa hình khác nhau làm cho đất hình thành khác nhau và địa hình  
có liên quan đến quá trình bào mòn rửa trôi chất dinh dưỡng. Vì vậy cần có những  
biện pháp chống xói mòn, rửa trôi để hạn chế quá trình thoái hoá đất ở vùng đồi núi  
nước ta.  
e. Thời gian (tuổi của đất)  
Tuổi của đất là thời gian quá trình hình thành đất đã trải qua.Wiliam chia  
tuổi đất ra làm hai loại:  
- Tuổi tuyệt đối: Là thời gian từ khi bắt đầu hình thành đất tới hiện nay. Tuổi  
tuyệt đối đánh dấu lịch sử tuần hoàn sinh học dài hay ngắn.  
- Tuổi tương đối: Chỉ mức độ phát triển của đất chênh lệch về giai đoạn phát  
triển của các loại đất do các yếu tố hình thành khác nhau. Hai loại đất có tuổi tuyệt  
đối như nhau, nhưng điều kiện địa hình khí hậu, đá mẹ,… khác nhau thì mức độ  
phát triển khác nhau, tức là tuổi tương đối khác nhau.  
Ví dụ: Đá mácma ở Phủ Quỳ mặc dầu trẻ nhất trong các loại đá mácma ở  
nước ta. Nhưng đất đỏ bazan đã phát triển đến giai đoạn gần cao nhất, nhiều nơi  
cũng đã có đá ong, kết von.  
f. Con người  
Đất trồng là sản phẩm lao động của con người. Nó được hình thành do kết quả  
của quá trình canh tác, độ phì của đất không phải chỉ do tác động của 5 yếu tố tự  
nhiên mà còn phụ thuộc vào phương thức canh tác, trình độ khoa học của xã hội loài  
người. Sự tác động của con người vào đất thể hiện trên hai mặt  
- Tích cực: Thông qua biện pháp làm đất, bón phân, tưới tiêu hợp lý và luân  
canh cây trồng thích hợp, thì độ phì nhiêu của đất ngày càng tăng.  
- Tiêu cực: Con người chỉ biết sử dụng, bóc lột đất thì làm cho đất ngày càng  
xấu đi.  
1.2. Đặc điểm chung về hình thái đất  
1.2.1. Khái niệm về hình thái học của đất (nên để đậm nghiêng để phân  
chia các đầu mục lớn, nhỏ hơn và thống nhất tab ra đầu dòng hoặc tab vào 1  
tab cho toàn VB)  
Hình thái học của đất là những đặc điểm của đất thể hiện ra bên ngoài mà  
chúng ta quan sát được bằng các giác quan như màu sắc, đặc điểm phân bố tầng  
đất, chất mới sinh, chất lẫn vào…  
14  
   
Những chỉ tiêu hình thái đó tuy biểu hiện bên ngoài nhưng cũng có thể nói lên  
bản chất bên trong của các quá trình, các hiện tượng diễn ra trong đất, từ đó có thể  
phân biệt được đất với đá mẹ, làm cơ sở cho việc phân loại đất, có thể biết được  
chiều hướng, cường độ của quá trình hình thành đất.  
Học thuyết về hình thái học đất được V.V.Docutraev nêu ra và được S.A.  
Zakharop phát triển cụ thể hơn. Sau đây chúng ta xét các đặc điểm hình thái học  
đất.  
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hình thái học của đất  
1.2.2.1. Khái niệm về phẫu diện đất  
Tất cả những quá trình diễn ra trong đất đều để lại những dấu vết trong nó. Nghiên  
cứu những dấu vết đó, ta biết được tính chất, đặc điểm của đất. Thậm chí, ta còn biết được  
lịch sử của sự hình thành đất và chiều hướng phát triển của nó. Đặc điểm phân lớp là đặc  
điểm quan trọng của đất, mà nhiều tính chất lý hoá học và độ phì của đất phụ thuộc vào  
nó.  
Mặt cắt thẳng đứng từ mặt đất xuống đến tầng đá mẹ, nó thể hiện các tầng đất  
được gọi là phẫu diện đất. (định dạng bình thường)  
Phẫu diện đó được mô tả thông qua những đặc điểm bề ngoài có thể cảm nhận  
được bằng các giác quan thì gọi là hình thái phẫu diện đất. Từ hình thái, ta có thể suy ra  
những tính chất bên trong của nó.  
1.2.2.2. Các tầng đất và đặc điểm của chúng  
Một phẫu diện đất địa thành điển hình thường gồm các tầng đất sau: Tầng thảm  
mục, tầng mùn (tầng rửa trôi), tầng tích tụ, tầng mẫu chất, tầng đá mẹ (Hình 1.1).  
- Tầng thảm mục nằm trên mặt đất. Tầng này được kí hiệu là Ao (có sách kí hiệu là  
O), ở đây nó chứa những cành lá, xác thực vật rơi rụng. Tầng này cũng được chia nhỏ hơn  
1
2
3
1
2
A0 , A0 và A0 . Tầng A0 chứa những chất hữu cơ chưa phân giải. Tầng A0 chứa những  
3
chất hữu cơ đã bị phân giải một phần, A0 chứa những chất hữu cơ đã phân giải mạnh,  
một phần đã thành mùn.  
Tầng thảm mục chỉ xuất hiện ở đất dưới rừng, dưới đồng cỏ, nơi mà chất hữu cơ  
được trả lại cho đất khá nhiều. Mặt khác sự có mặt của tầng này còn liên quan tới điều  
kiện phân giải các hợp chất hữu cơ, bản chất của các chất hữu cơ. Những nơi điều kiện  
phân giải các hợp chất hữu cơ thuận lợi, tầng này hoặc không xuất hiện, hoặc mỏng,  
không điển hình.  
Ở nước ta, càng lên cao theo độ cao tuyệt đối, càng dễ tìm thấy tầng A0. Dưới rừng  
cây họ dầu, cây lá kim cũng dễ xuất hiện tầng A0 hơn.  
- Tầng mùn (tầng rửa trôi): ký hiệu là A.  
Tại đây, các hợp chất mùn được hình thành. Đất thường màu đen, nâu đen. Đất  
thường có kết cấu viên, tơi xốp, giầu dinh dưỡng.Tuy nhiên dưới tác dụng của nước nó  
cũng là tầng bị rửa trôi.Phần lớn các loại vi sinh vật đất đều tập trung ở tầng này. Trong  
tầng A lại có thể xuất hiện những tầng khác nhau: A1, A2, A3.  
15  
 
+ A1 là tầng tích luỹ mùn nhiều nhất, màu đen nhất. Tại đây các hợp chất hữu cơ  
được phân giải, tổng hợp để tạo nên các hợp chất mùn trong đất. Đất thường có kết cấu  
viên, tơi xốp, giàu dinh dưỡng.  
Tầng A0  
( Thảm mục)  
1
2
A0  
A0  
Xác hữu cơ chưa bị phân giải  
Xác hữu cơ đã bị phân giải 1 phần  
Xác hữu cơ đã bị phân giải  
Tầng mùn màu đen  
Ao3  
Tầng A  
A1  
(Tầng rửa trôi)  
A2  
Tầng rửa trôi có màu sáng hơn  
Tầng chuyển tiếp sang B  
A3  
Tầng B  
(Tầng tích tụ)  
Tầng chuyển tiếp từ A  
B1  
B2  
B3  
Tầng tích tụ điển hình  
Tầng chuyển tiếp sang C  
Tầng C  
(Tầng mẫu chất)  
Tầng D  
(Tầng đá mẹ)  
Hình 1.1: Sơ đồ một phẫu diện đất điển hình  
+ A2 là tầng rửa trôi mạnh nhất. Tại đây các chất dinh dưỡng và hợp chất mùn bị  
phá huỷ và rửa trôi xuống các tầng sâu. Bởi vậy, hàm lượng chất dinh dưỡng và mùn ở  
đây thấp. Tuy nhiên theo Fritland thì đất Việt nam thường có tầng A2 không điển hình.  
+ Tầng A3 là tầng chuyển tiếp đến tầng B.  
- Tầng tích tụ: ký hiệu là B  
Những chất bị rửa trôi từ tầng trên xuống, phần lớn được tích luỹ tại đây, đặc biệt  
là sét. Bởi vậy hàm lượng sét ở tầng này cao hơn hẳn so với các tầng khác do đó nó  
thường bị chặt, khó thấm nước. Tầng B càng phát triển, chứng tỏ đất có tuổi càng cao.  
Tầng B lại có thể chia nhỏ hơn thành B1, B2, B3:  
+ Tầng B1 là một phần của tầng A chuyển tiếp đến tầng B.  
+ Tầng B2 là tầng tích tụ điển hình.  
+ Tầng B3 là phần chuyển tiếp của tầng B đến tầng C.  
16  
Tầng A và B là phần điển hình của đất, nó tạo nên độ dầy của đất. Độ dày tầng đất  
được tính từ trên mặt đất xuống đến hết tầng B.  
- Tầng C được gọi là tầng mẫu chất, nó được hình thành từ sự phong hoá đá và  
khoáng ban đầu. Đất được hình thành từ những loại đá khó bị phong hoá, thì tầng C rất  
mỏng.  
- Cuối cùng là tầng đá mẹ ký hiệu là D.  
Để phân biệt các tầng đất, người ta có thể căn cứ vào: màu sắc, độ chặt, thành phần  
cơ giới, chất mới sinh, chất xâm nhập…  
1.2.2.3. Màu sắc đất  
Màu sắc của đất là đặc điểm dễ thấy nhất và đồng thời nó cũng nói lên được nhiều  
tính chất quan trọng của đất.  
Màu sắc của đất rất phức tạp, nhưng cơ bản là do 3 màu chủ đạo là đen, đỏ, trắng  
tạo nên (Hình 1.2).  
Đen (mùn)  
Xám tối  
Hạt dẻ tối  
Màu hạt dẻ  
Nâu tối  
Xám  
Nâu  
Xám sáng  
Xám trắng  
Hạt dẻ sáng  
Hung  
Nâu nhạt  
Trắng  
(SiO2.Al2O3, CaCO3)  
Đỏ  
(Fe2O3.nH2O)  
Vàng  
Vàng nhạt  
Da cam  
Hình 1.2: Sơ đồ tam giác màu của Zakharôp  
- Màu đen: Chủ yếu do mùn tạo nên. Càng nhiều mùn đất càng có màu đen đậm.  
Đôi khi màu đen của đất còn được tạo nên do MnO2 hoặc rễ một số cây khi chết có màu  
đen.  
- Màu đỏ: chủ yếu là Fe2O3.  
- Màu trắng: chủ yếu do sét kaolinit, SiO2 hoặc CaCO3  
Đất tầng A1 thường đen vì nó chứa nhiều mùn; đất màu đỏ thường nhiều Fe, đất  
màu xanh xám trong điều kiện ẩm ướt là đất bị glây,..  
Màu sắc của đất phụ thuộc vào tỷ lệ các chất trong đất, cường độ chiếu sáng, độ  
ẩm đất và trạng thái tồn tại của nó.Vì vậy khi quan sát màu sắc của đất, cần lưu ý:  
- Điều kiện ánh sáng: cùng phẫu diện đất nhưng nếu nó được quan sát vào buổi  
sáng, buổi trưa, chỗ ánh sáng yếu, chỗ ánh sáng mạnh, sẽ cho các màu sắc khác nhau.  
- Độ ẩm: độ ẩm cao màu sẫm hơn độ ẩm thấp.  
Ngày nay các nhà khoa học đất thế giới đã xây dựng một thang màu chuẩn của đất,  
thang màu Munsel. Màu của đất được định lượng theo hệ thống màu cụ thể thuận lợi cho  
việc mô tả màu sắc của đất.  
17  
1.2.2.4. Chất mới sinh, chất xâm nhập  
+ Chất xâm nhập: là những chất không liên quan đến quá trình hình thành đất  
nhưng phản ánh lịch sử sử dụng đất. Ví dụ như mảnh gạch, ngói, xương, sắt vụn v.v...  
+ Chất mới sinh:  
Là những chất được sinh ra trong quá trình hình thành và phát triển của đất, mà sự  
có mặt của nó đã ảnh hưởng rõ rệt tới những tính chất của đất. Căn cứ vào nguồn gốc hình  
thành nó được chia làm 2 loại:  
- Chất mới sinh có nguồn gốc hóa học như kết von, đá ong…  
- Chất mới sinh có nguồn gốc sinh học như phân giun, rễ cây, hang hốc động vật.  
Những chất mới sinh như kết von, phân giun là rất phổ biến trong đất lâm nghiệp,  
có 2 dạng kết von: kết von thật và kết von giả.  
Kết von thật là sản phẩm kết tinh của những oxit Fe, Al, Mn dưới dạng các hạt tròn  
nhẵn có kích thước khác nhau màu đen, nâu đen.  
Kết von giả là những mảnh đá, khoáng vụn bị các loại oxit Fe, Al, Mn bao bọc  
xung quanh. Vì thế loại này có cạnh góc rõ ràng và độ đậm của màu đen hoặc nâu giảm  
dần từ ngoài vào trong.  
Căn cứ vào chất mới sinh, có thể biết được tính chất của đất cũng như một số quá  
trình trong đất. Thí dụ: kết von là sản phẩm của quá trình Feralit; nếu có vệt xám xanh,  
chứng tỏ quá trình glây; vết mùn cho biết mức độ rửa trôi của đất…  
1.2.2.5. Ý nghĩa của phẫu diện đất  
Việc khảo sát và đánh giá phẫu diện đất cho ta những đánh giá đầu tiên mang  
tính chất cảm tính về các tính chất của đất. Thông qua việc đánh giá độ dày tầng  
đất, màu sắc đất, số lượng rễ cây, động vật nhỏ trong đất, thành phần cơ giới,… ta  
có thể biết được đất tốt hay đất xấu.  
Ví dụ: Đất có tầng mùn dày, màu đen thẫm, nhiều rễ cây, nhiều hang giun,  
xốp,… là đất tốt.  
Phẫu diện đất cũng cho ta biết được nguồn gốc hình thành đất. Ví dụ, nó cho  
biết đất này được phát sinh từ loại đá nào hoặc với đất bồi tụ, qua sự phân bố của  
các tầng cát, sỏi, sét,… ta có thể biết được hoạt động xa xưa của các dòng chảy.  
Tóm lại, việc khảo sát hình thái phẫu diện đất giúp chúng ta hiểu biết về tính  
chất đất, giúp cho việc đánh giá và sử dụng đất một cách hợp lý.  
1.2.2.6. Đặc điểm phẫu diện của một số loại đất điển hình  
Đặc điểm phẫu diện của một số loại đất điển hình là chỉ tiêu quan trọng biểu  
hiện các quá trình trong đất. Dựa vào màu sắc của đất ta có thể xếp đất vào loại này  
hoặc loại khác, đặt tên cho đất như: Đất đen, đất đỏ, đất xám…đồng thời có thể  
18  
đánh giá được chất lượng và độ phì nhiêu của đất. Màu sắc của đất có thể phụ  
thuộc vào màu sắc của các hợp chất hoá học có trong đất, trạng thái vật lý và độ ẩm  
của đất. ở trong đất có các nhóm hợp chất sau ảnh hưởng tới màu sắc của đất.  
- Chất mùn: Làm cho đất có màu đen, xám hay xám thẫm. Ngoài hợp chất  
mùn, một số hợp chất khác cũng có thể làm cho đất có màu đen như oxit hoặc  
hidroxit mangan, mầu đen của đá hình thành đất.  
- Các hợp chất sắt: Làm cho đất có màu đỏ, vàng và vàng đỏ, riêng hợp chất  
sắt có hoá trị 2 làm cho đất có màu xanh xám.  
- Oxyt silic, cacbonat canxi, sunfat canxi…làm cho đất có màu trắng. Tuy  
nhiên còn có sự hỗn hợp giữa ba nhóm hợp chất trên làm cho đất có nhiều màu sắc  
phức tạp khác. S.A.Zakharop đã đưa ra sơ đồ phối hợp màu sắc từ ba nhóm hợp  
chất tạo thành màu của đất. Kết quả phối hợp màu đó đã làm cho đất có các màu  
như: Xám, xám thẫm, xám nhạt, hơi trắng, trắng, nâu thẫm, nâu, nâu nhạt, hạt dẻ  
nhạt, màu gạch, đỏ.  
Ngoài các hợp chất trên thì độ ẩm đất và ánh sáng cũng ảnh hưởng tới màu sắc  
của đất. Trong thực tế ở ngoài thực địa việc xác định tên gọi màu sắc của đất rất  
khó thống nhất. Nên muốn xác định màu đất một cách chính xác thì ngoài việc xác  
định màu sắc ở ngoài thực địa ra thì cần phải lấy mẫu về để kiểm tra trong phòng.  
CÂU HỎI ÔN TẬP  
1. Đất là gì?  
2. Khoáng vật và đá là gì?  
3. Khoáng vật nguyên sinh là gì? Có bao nhiêu lớp? Loại nào điển hình?  
4. Khoáng vật thứ sinh là gì? Có bao nhiêu lớp? Loại nào điển hình?  
5. Có mấy nhóm đá trong tự nhiên?  
6. Đá Macma là gì? Hình thành như thế nào? Những loại đá Macma chính?  
7. Đá Trầm tích là gì? Hình thành như thế nào? Những loại thường gặp?  
8. Đá biến chất là gì? Hình thành như thế nào? Nêu một số loại đá biến chất?  
9. Nêu khái niệm quá trình phá hủy đá và khoáng?  
10. Trình bày các dạng phong hóa đá và khoáng?  
11. Khái niệm quá trình hình thành đất?  
12. Trình bày các yếu tố hình thành đất?  
13. Trình bày phẫu diện đất đất điển hình?  
(câu hỏi nên định dang bình thường)  
19  
CHƯƠNG 2  
THÀNH PHẦN CƠ GIỚI VÀ TÍNH CHẤT VẬT LÝ ĐẤT  
2.1. THÀNH PHẦN CƠ GIỚI CỦA ĐẤT  
2.1.1. Khái niệm  
Hạt cơ giới:  
Có nhiều khái niệm khác nhau về hạt cơ giới đất, kể cả cách gọi chúng. Có tác giả  
cho rằng các hạt cơ giới đất là các nguyên tố cơ học. Năm 1926 Gedroi cho rằng những  
nguyên tố cơ học là những hòn cục vi tinh thể riêng biệt và về sau Tiurin cho rằng nguyên  
tố cơ học là những phần tử mà tất cả những nguyên tố của chúng phải nằm trong một mối  
liên hệ hoá học lẫn nhau.  
Dưới tác động của điều kiện ngoại cảnh, đá và khoáng bị phong hoá tạo ra các hạt  
có đường kính to nhỏ khác nhau và trong quá trình hình thành đất xuất hiện thêm các hạt  
hữu cơ, hữu cơ - vô cơ. Những hạt vụn đó là phần tử cơ giới đất hay còn gọi là các hạt cơ  
giới đất.  
Thành phần cơ giới:  
Tỉ lệ các cấp hạt giữa các phần tử cơ giới có kích thước khác nhau trong đất được  
biểu thị theo phần trăm trọng lượng (%), được gọi là thành phần cơ giới đất hoặc còn  
được gọi là thành phần cấp hạt.  
Trong đất các phần tử cơ giới thường liên kết với nhau thành những hạt lớn hơn  
(đó là đối tượng nghiên cứu ở phần sau - Kết cấu đất). Vì vậy khi phân tích thành phần  
cơ giới đất, khâu đầu tiên là phải dùng các biện pháp cơ, lý, hoá học để làm tơi rời các hạt  
kết thành các hạt đơn.  
2.1.2. Phân chia hạt cơ giới đất và tính chất các cấp hạt  
* Phân chia hạt cơ giới:  
Việc phân chia các cấp hạt trong thành phần cơ giới đất được căn cứ vào đường  
kính của từng hạt riêng rẽ.  
Cho đến nay tiêu chuẩn phân chia các cấp hạt của một số nước có khác nhau  
nhưng đều thống nhất với nhau ở một số mốc mà tại những mốc này sự thay đổi về kích  
thước đã dẫn tới sự thay đổi đột ngột về tính chất, xuất hiện một số tính chất mới.  
Ví dụ: Mốc giới hạn khoảng từ 1 đến 2 mm đánh dấu sự xuất hiện tính mao dẫn  
hay mốc 0,01 đến 0,02 mm là mốc mà ở đó các cấp hạt bắt đầu xuất hiện tính dính, dẻo,  
khó thấm nước của hạt sét...  
Việc phân chia cấp hạt theo thành phần cơ giới hiện nay vẫn đang tồn tại 3 bảng  
phân cấp chủ yếu là Liên Xô (cũ), Mỹ và bảng Quốc tế (Bảng 4.1).  
Qua bảng 4.1 cho thấy về tổng thể cả 3 bảng phân loại đều căn cứ vào kích thước  
hạt cơ giới để chia chúng ra thành các nhóm với tên khác nhau. Các hạt cơ giới có kích  
thước từ 0,02 mm trở lên thuộc nhóm hạt cát (cát, sỏi, cuội, đá vụn). Các hạt cơ giới có  
kích thước từ 0,002 mm trở xuống thuộc nhóm hạt sét và còn lại là các cấp hạt thuộc  
20  
         
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 176 trang yennguyen 28948 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Đất và dinh dưỡng cây trồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_dat_va_dinh_duong_cay_trong.pdf