Giáo trình mô đun Trồng một số loài cây cây công nghiệp - Ngành/nghề: Khyến nông lâm

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI  
GIÁO TRÌNH TRUNG CẤP  
MÔ ĐUN: TRỒNG MỘT SỐ LOÀI CÂY CÂY CÔNG NGHIỆP  
NGÀNH/NGHỀ: KHYẾN NÔNG LÂM  
TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP  
Lào Cai, năm 2019  
1
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN  
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép  
dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.  
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu  
lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.  
2
LỜI GIỚI THIỆU  
Giáo trình “Trồng một số loài cây công nghiệp” là giáo trình dùng cho chương  
trình đào tạo hệ trung cấp. Nội dung cuốn giáo trình cung cấp cho học sinh một số kiến  
thức cơ bản về đặc điểm thực vật học, kỹ thuật trồng và chăm sóc, thu hoạch và bảo quản  
của một số cây công nghiệp phổ biến.  
Giáo trình “Trồng một số loài cây công nghiệp” giúp cho người học có khả năng tự  
tổ chức sản xuất trồng trọt phát triển kinh tế hộ gia đình và góp phần tăng thu nhập phát  
triển kinh tế.  
Bố cục của giáo trình gồm có:  
Bài 1: Trồng cây chè:  
Bài 2: Trồng cây lạc:  
Bài 3: Trồng cây đậu tương:  
Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã tham khảo nhiều giáo trình, tài liệu tham  
khảo của các tác giả có chuyên môn sâu về những lĩnh vực có liên quan. Tuy có nhiều cố  
gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu xót, rất mong muốn nhận được những ý kiến  
tham gia, đóng góp để hoàn thiện giáo trình.  
Xin chân thành cảm ơn!  
Lào Cai, ngày tháng 10 năm 2019  
Tham gia biên soạn  
1. Chủ biên: Dương Thị Thảo Chinh  
3
MỤC LỤC  
4
5
GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN 1  
Tên mô đun: Trồng một số loài cây công nghiệp  
Mã mô đun: MĐ21  
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của mô đun  
- Vị trí: Mô đun này có liên quan chặt chẽ với các môn học và các mô đun khác:  
An toàn lao động, Nhân giống cây trồng, Quản lý kinh tế hộ trang trại. Được bố trí học  
sau các môn học/mô đun trên.  
- Tính chất: là mô đun chuyên môn bắt buộc của nghề Trồng trọt trình độ trung cấp.  
- Ý nghĩa và vai trò mô đun: Cung cấp kiến thức và kỹ năng về kỹ thuật trồng và  
chăm sóc một số loài cây công nghiệp để người học có thể tự sản xuất ở quy mô hộ gia  
đình, HTX.  
Mục tiêu của mô đun  
- Về kiến thức:  
+ Trình bày được đặc điểm thực vật học của cây chè, cây lạc, đậu tương.  
+ Phân tích được các yếu tố: Nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, đất tác động trực tiếp  
đến từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của chè, lạc, đậu tương.  
- Về kỹ năng: Chọn giống, xác định thời vụ, làm đất, xử lí giống, gieo trồng, chăm  
sóc chè và lạc, đậu tương đúng yêu cầu kỹ thuật.  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:  
+ Làm việc độc lập hoặc làm việc theo nhóm, giải quyết công việc, vấn đề phức  
tạp trong điều kiện làm việc thay đổi.  
+ Hướng dẫn, giám sát những người khác thực hiện nhiệm vụ xác định; chịu trách  
nhiệm cá nhân và trách nhiệm đối với nhóm.  
+ Đánh giá chất lượng công việc sau khi hoàn thành và kết quả thực hiện của các  
thành viên trong nhóm.  
6
   
BÀI 1: TRỒNG CÂY CHÈ  
Phần 1: KIẾN THỨC LÝ THUYẾT  
1. GIÁ TRỊ KINH TẾ, TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CHÈ HIỆN NAY.  
1.1. Giá trị kinh tế  
Chè là một loại thức uống có nhiều giá trị về dinh dưỡng và dược liệu nhờ có các  
hợp chất trong lá chè như sau:  
- Cafein và một số hợp chất ancanoit ở trong lá chè có khả năng kích thích hệ thần  
kinh trung ương, vỏ đại não làm cho tinh thần minh mẫn, tăng cường hoạt động của các  
cơ bắp trong cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, giảm bớt mệt mỏi sau khi làm việc căng  
thẳng. Mặt khác các loại cafein có trong lá chè không gây kích thích quá mạnh làm suy  
nhược thần kinh như cafein ở trong cafe và các loại thức uống khác.  
- Hỗn hợp tanin chè có khả năng giải khát và chữa nhiều loại bệnh như tả, lỵ,  
thương hàn, sỏi thận, sỏi bàng quang và chảy máu dạ dày. Đặc biệt nước chè có khả năng  
chống phóng xạ, do vậy có thể coi chè là nước uống của thời đại nguyên tử khi trên trái  
đất sự nhiễm xạ ngày càng tăng lên.  
- Trong chè có chứa rất nhiều loại vitamin như: Vitamin A, B1, B2, B6, K, PP...  
Đặc biệt có nhiều vitamin C trong lá chè tươi, đây là nguồn dinh dưỡng vô cùng quý báu  
với cơ thể con người.  
- Ngoài giá trị dinh dưỡng và dược liệu, nước chè còn dùng làm chất nhuộm màu  
thực phẩm, vừa thay thế cho các chất nhuộm nhân tạo, vừa có giá trị dinh dưỡng đối với  
cơ thể con người. Các sản phẩm phụ trên cây chè như dầu hạt chè có thể sử dụng trong  
công nghiệp hay làm dầu ăn, lá chè có thể làm thức ăn cho chăn nuôi. Ngoài ra chè còn  
có ý nghĩa lớn về việc phân bố sản xuất và lao động. Với nước ta việc phát triển trồng chè  
ở vùng trung du và miền núi vừa làm thay đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp vừa tận dụng  
đựơc đất đai vừa là biện pháp có hiệu quả để phân bổ lại lực lượng lao động giữa các  
vùng cho nền kinh tế nước ta phát triển toàn diện, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa  
cho nhân dân.  
1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè hiện nay  
1.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới trong những năm gần đây:  
Năm 2018, giá chè thế giới diễn biến thất thường ở các nước sản xuất và xuất khẩu  
chủ chốt. Nếu so giá trung bình của năm 2018 so với trung bình năm 2017, giá chè thế  
giới năm vừa qua tại các thị trường nhìn chung vững đến giảm.  
Tại Ấn Độ, giá chè giảm trong 6 tháng đầu năm 2018, từ mức 97,15 rupee tháng  
1/2018 xuống 77,82 rupee vào tháng 6/2018 (thấp nhất trong năm 2018). Tuy nhiên, bắt  
đầu từ tháng 7/2018, giá đảo chiều tăng, bước vào đầu năm 2019 ở mức trung bình 100  
rupee/kg, cao hơn 28 rupee so với cùng kỳ năm trước (gần 40%), và cũng là mức cao  
nhất kể từ 21/4/2017. Nguyên nhân bởi nhu cầu tăng trong khi sản lượng trì trệ. Ngoài ra,  
đồng rupee mạnh lên so với USD và chi phí sản xuất tăng cũng đẩy giá chè tăng lên.  
Khác với thị trường Ấn Độ, giá chè Bangladesh tăng ngay đầu năm 2018, từ mức  
238,25 taka/kg lên 280 taka/kg vào tháng 8/2018 và duy trì ở mức cao cho đến cuối năm.  
Tại Sri Lanka, giá chè trung bình giảm trong năm 2018 từ mức cao kỷ lục của năm  
trước do đồng rupee Sri Lanka giảm mạnh so với USD, nhất là trong 4 tháng cuối năm.  
7
       
Trung bình trong năm 2018, giá chè Sri Lanka ở mức 581,91 rupee/kg, giảm 36,23 rupee  
so với 618,14 rupee của năm 2017 (khi giá cao kỷ lục lịch sử). Nếu tính theo USD, giá  
chè trung bình năm 2018 là 3,59 USD/kg, giảm 52 US cent so với 4,11 USD trung bình  
của năm 2017.  
Giá chè Kenya liên tiếp giảm trong năm 2018 và kéo dài tới đầu năm 2019. Cuối  
năm 2018, giá xuống mức thấp nhất kể từ 2014, là 219 shilling/kg, so với mức 278  
shilling một năm trước đó, nguyên nhân bởi nguồn cung tăng mạnh.  
Pakistan tiếp tục là thị trường nhập khẩu nhiều chè Việt Nam nhất trong năm qua,  
với 38.213 tấn, tương đương 81,63 triệu USD, chiếm 30% trong tổng khối lượng chè xuất  
khẩu của Việt Nam và chiếm 37,5% trong tổng kim ngạch, tăng 19,4% về lượng và tăng  
18,8% về kim ngạch so với năm 2017. Giá chè xuất khẩu sang Pakistan giảm nhẹ 0,5%,  
đạt 2.136,3 USD/tấn.  
Đài Loan là thị trường lớn thứ 2 tiêu thụ chè của Việt Nam chiếm gần 14,6% trong  
tổng khối lượng và chiếm 13,2% trong tổng kim ngạch, đạt 18.573 tấn, tương đương  
28,75 triệu USD, tăng 6% về lượng và tăng 5,4% về kim ngạch; giá xuất khẩu sang thị  
trường này sụt giảm 0,6%, chỉ đạt 1.548 USD/tấn.  
Xuất khẩu sang thị trường Nga – thị trường lớn thứ 3 sụt giảm mạnh 20% về lượng  
và giảm 114,6% về kim ngạch, đạt 13.897 tấn, tương đương trên 21,21 triệu USD, chiếm  
10,9% trong tổng khối lượng và chiếm 9,7% trong tổng kim ngạch. Giá xuất khẩu tăng  
6,7%, đạt 1.526,2 USD/tấn.  
Riêng chè xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc lại tăng giá rất mạnh so với năm  
2017, tăng 47,3%, đạt trung bình 1.943,3 USD/tấn, vì vậy lượng chè xuất khẩu tuy giảm  
8,8%, đạt 10.121 tấn nhưng kim ngạch lại tăng 34,2%, đạt 19,67 triệu USD.  
1.2.2. Tình hình sản xuất và xuất khẩu chè của Việt Nam trong những năm gần đây  
Tại Việt Nam, bước sang năm 2018, giá chè cành chất lượng cao tại Thái Nguyên  
ở mức 195.000 đồng/kg, chè xanh búp khô tại Thái Nguyên 105.000 đồng/kg, chè búp  
tươi loại 1 (nguyên liệu chè) tại Bảo Lộc (Lâm Đồng) 9.000 đồng/kg, trong khi chè búp  
tươi loại làm nguyên liệu sản xuất chè đen ở Bảo Lộc 6.000 đồng/kg.  
Giá chè cành chất lượng cao nhích nhẹ trong tháng 2/2018 khi nhu cầu tăng trong  
dịp Tết cổ truyền, lên 200.000 đồng/kg. Các loại chè khác giữ ổn định. Kể từ đó, giá chè  
ổn định cho tới cuối năm, trong bối cảnh thời tiết diễn biến thuận lợi nên cây chè phát  
triển tốt.  
Việt Nam có diện tích trồng chè dao động khoảng 126.000 – 133.000 héc ta và thu  
hút khoảng 2 triệu lao động. Trong năm 2011 cả nước có diện tích trồng chè là 133.000  
ha; sản lượng (thô) đạt 888.600 tấn; sản lượng (đã chế biến) đạt 165.000 tấn; xuất khẩu là  
132.600 tấn.  
Tại Việt Nam, theo Tổng cục Thống kê, sản lượng chè búp năm 2018 đạt 987,3  
nghìn tấn, tăng 1,6% so với năm 2017. Về xuất khẩu, theo số liệu của Tổng cục Hải quan,  
năm 2018 cả nước xuất khẩu 127.338 tấn chè, thu về 217,83 triệu USD, giảm 8,9% về  
lượng và giảm 4,4% về kim ngạch so với năm 2017. Giá chè xuất khẩu bình quân trong  
năm 2018 đạt 1.710,7 USD/tấn, tăng 4,9% so với năm 2017.  
1.2.3. Các vùng sản xuất chè chủ yếu ở Việt Nam  
Ở Việt Nam cây chè được trồng tập trung chủ yếu ở một số vùng chính sau đây:  
- Vùng chè Tây Bắc: Vùng Tây Bắc chè được trồng nhiều ở các tỉnh Sơn La (  
1900 ha) và Lai Châu (590 ha). Giống chè chủ yếu là giống chè Shan ( Chiếm trên 80%  
diện tích) còn lại là chè Trung du ( khoảng 10 % diện tích) và các giống chè khác.  
8
- Vùng chè Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn: Vùng này gồm tỉnh Hà Giang, Tuyên  
Quang, Tây Yên Bái, Hòa Bình và Lào Cai.  
Chè được trồng tập trung dưới các hình thức công ty quốc doanh, hộ gia đình.  
Giống chè Trung Du (chiếm 91,6% diện tích chè Tuyên Quang, 65% diện tích ở công ty  
chè Trần Phú) và giống chè ….  
- Vùng chè Trung Du – Bắc Bộ: Gồm các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Cạn,  
Phú Thọ, Nam Yên Bái, Hà Tây và Bắc Hà Nội.  
Trong đó tỉnh Thái Nguyên có diện tích trồng chè gần 18.000 ha, đứng thứ 2 trong  
cả nước, năng suất chè búp tươi bình quân đạt gần 100 tạ/ha, sản lượng gần 200.000 tấn  
- Vùng chè miền Trung: Gồm các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng  
Nam với tổng diện tích trên 5 nghìn ha.  
- Vùng chè Tây Nguyên: Chè được trồng chủ yếu ở Lâm Đồng, Gia Lai và Đắc  
Lắc. Riêng Lâm Đồng là tỉnh có diện tích trồng chè khá lớn của nước ta, với khoảng 23,9  
ngàn ha, chiếm gần 19% diện tích chè cả nước; sản lượng chè búp tươi đạt gần 172 ngàn  
tấn, sản lượng xuất khẩu gần 10.000 tấn. Thu nhập từ một ha chè của Lâm Đồng cao nhất  
nước, trên 280 triệu đồng/ha, đứng đầu về giá xuất khẩu.  
2. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC CỦA CÂY CHÈ  
2.1. Rễ chè  
Hệ rễ chè gồm rễ trụ (rễ cọc), rễ bên và rễ hấp thu. Rễ trụ có thể dài tới 2m nhưng  
thường chỉ dài 1m. Rễ trụ dài hay ngắn phụ thuộc vào tính chất đất, chế độ làm đất, bón  
phân, tuổi chè và giống. Đất tốt, thoát nước thì bộ rễ ăn sâu rộng hơn. Giống chè thuộc  
dạng thân gỗ có rễ trụ ăn sâu hơn dạng thân bụi.  
Rễ bên và rễ hấp thu phân bố ở tầng canh tác, ở lớp đất từ 5-50cm phân bố theo  
chiều ngang thường gấp từ 1,2 - 2 lần tán chè. Trong điều kiện sản xuất rễ hấp thu tập  
trung chủ yếu ở khoảng cách giữa hai hàng chè.  
Hình 2.1. Rễ chè  
9
   
2.2. Thân chè  
Cây chè sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên là cây đơn trục, thân thẳng, phân  
nhánh liên tục tạo hệ thống cành chồi trên cây và hình thành nên tán cây. Tùy theo chiều  
cao phân cành, kích thước thân chính và các cành chè mà người ta chia làm 3 loại: thân  
bụi, thân gỗ nhỏ và thân gỗ.  
- Thân bụi: cây chè không có thân chính rõ rệt, vị trí phân cành thấp, sát với cổ rễ.  
Cành nhỏ, tán chè có dạng bụi, điển hình là các thứ chè Trung Quốc lá nhỏ, chè Nhật  
Bản, chè Gruzia.  
- Thân gỗ nhỏ (thân bán gỗ): là loại hình trung gian có thân chính tương đối rõ, vị  
trí phân cành thường cách mặt đất từ 20-30cm. Điển hình là chè Trung Quốc lá to, ở Việt  
Nam là chè Trung du.  
- Thân gỗ: là loại hình cây cao, to, có thân chính rõ rệt, vị trí phân cành cao. Điển  
hình là các thứ chè Ấn Độ, chè Shan.  
Cây chè trong tự nhiên không đốn có dạng tán lá đều, căn cứ vào góc độ giữa thân  
chính và các cành cấp 1 mà người ta chia làm các dạng tán chè sau.  
+ Dạng hình suốt chỉ, cây cao nhưng hẹp tán  
+ Dạng hình cầu, nửa cầu: là loại hình trung gian thấp hơn dạng suốt chỉ, tán to hơn.  
+ Dạng hình mâm xôi: to ngang, mặt tán to, rộng.  
Tiêu chuẩn chọn giống chè là chọn cây có tán cây càng to càng tốt.  
Hình 2.2. Các dạng tán chè  
2.3. Cành chè  
Cành chè do mầm dinh dưỡng phát triển thành. Trên cành chia ra nhiều đốt, chiều  
dài đốt cành biến đổi từ 1-10cm tùy theo giống, điều kiện sinh trưởng. Đốt cành chè dài  
là một trong những biểu hiện của giống chè có khả năng cho năng suất cao. Tùy theo tuổi  
của cành chè mà mầu sắc cành chè biến đổi từ mầu xanh thẫm, xanh nhạt, màu đỏ, màu  
nâu khi cành già có màu xám.  
Tùy theo vị trí tương đối của cành chè với thân chính mà người ta chia các cấp  
cành: cành cấp I, cấp II, cấp III. Cũng như đối với các cây lâu năm khác, cành cấp I được  
mọc ra từ thân chính, cành cấp II được mọc ra từ cành cấp I, tương tự cành cấp III mọc ra  
từ cành cấp II...  
Hoạt động sinh trưởng của các cấp cành trên tán rất khác nhau. Theo lý luận phát  
10  
   
triển giai đoạn thì những mầm chè nằm càng sát phía gốc của cây càng có tuổi phát dục  
giai đoạn non, sức sinh trưởng mạnh. Những cành chè càng ở phía trên ngọn thì càng có  
tuổi phát dục giai đoạn già, sức sinh trưởng yếu, khả năng ra hoa kết quả mạnh hơn.  
Những cành chè ở giữa tán thì có sức sinh trưởng mạnh hơn những cành ở rìa tán.  
Thân và cành chè tạo nên bộ khung tán của cây chè. Với lượng cành chè thích hợp  
và cân đối trên tán chè, cây chè sẽ cho sản lượng cao, vượt qua giới hạn đó sản lượng chè  
không tăng mà phẩm chất búp giảm do có nhiều búp mù xòe.  
Trong sản xuất cần nắm vững đặc điểm sinh trưởng của cành chè để áp dụng các  
biện pháp kỹ thuật đốn, hái chè hợp lý, tạo cho cây chè có bọ khung tán to, khỏe, nhiều  
búp, có khả năng cho năng suất búp cao.  
2.4. Các loại mầm chè  
2.4.1. Mầm dinh dưỡng  
Mầm dinh dưỡng là mầm từ đó phát triển thành cành và lá chè. Căn cứ vào vị trí  
của mầm dinh dưỡng trên cành chè người ta chia mầm dinh dưỡng thành mầm đỉnh, mầm  
nách, mầm ngủ và mầm bất định.  
* Mầm đỉnh  
Mầm đỉnh là mầm dinh dưỡng nằm ở vị trí tận cùng của cành chè. Mầm đỉnh  
thường sinh trưởng mạnh (gọi là ưu thế sinh trưởng đỉnh) thường lấn át sinh trưởng của  
các mầm khác phía dưới. Mầm đỉnh không phát sinh liên tục quanh năm, do đặc tính di  
truyền hay khi gặp điều kiện không thuận lợi như rét, hạn, dinh dưỡng kém thì mầm đỉnh  
cũng ngừng sinh trưởng chuyển sang trạng thái ngủ nghỉ gọi là búp mù xòe.  
* Mầm nách  
Là mầm dinh dưỡng nằm ở các nách lá. Trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên đa số  
các mầm nách ở trạng thái ngủ nghỉ do sự kìm hãm của mầm đỉnh. Mầm nách chỉ thực sự  
được phát triển khi mầm nách được hái đi. Tùy theo các vị trí của mầm nách trên cành  
chè mà chúng có ưu thế sinh trưởng khác nhau. Những mầm nách ở phía trên chiếm ưu  
thế sinh trưởng mạnh hơn những mầm nách ở phía dưới.  
* Mầm ngủ  
Mầm ngủ là những mầm dinh dưỡng nằm ở các bộ phận đã hóa gỗ của các cành  
một năm hoặc già hơn. Mầm ngủ thường ở trạng thái ngủ nghỉ, chúng chỉ thực hoạt động  
trở lại khi có tác nhân hóa học (chất kích thích sinh trưởng) hay tác nhân cơ giới (đốn, uốn  
cành). Những mầm ngủ ở phía dưới có tuổi phát dục giai đoạn non, khi được phát động trở  
lại thường sức sinh trưởng mạnh. Đây là cơ sở tiến hành biện pháp đốn lửng đốn đau.  
* Mầm bất định  
Là mầm dinh dưỡng nằm ở phía gốc, cổ rễ của chè. Nó chỉ được phát triển thành  
các cành mới khi cây chè được đốn trẻ lại. Trong trường hợp đốn trẻ lại cành chè như  
mọc từ dưới đất lên, có sức sinh trưởng mạnh (do tuổi phát dục giai đoạn non).  
2.4.2. Mầm sinh thực  
Mầm sinh thực là mầm từ đó phát triển thành hoa, quả chè. Mầm sinh thực nằm ở  
nách lá chè. Bình thường mỗi nách lá có hai mầm sinh thực nhưng cũng có trường hợp  
nhiều hơn, tạo thành chùm nụ hoa ở nách lá.  
Mầm sinh thực và mầm dinh dưỡng cùng nằm ở nách lá chè. Mầm sinh thực ở hai  
bên, mầm dinh dưỡng ở giữa vì thế quá trình sinh trưởng của hai loại lá mầm này thường  
mâu thuẫn nhau. Khi mầm dinh dưỡng phát triển mạnh thì mầm sinh thực phát triển yếu  
đi và ngược lại. Đối với chè thu hoạch búp người ta thường áp dụng các biện pháp kỹ  
11  
 
thuật nhằm hạn chế sự phát triển của các mầm sinh thực. Trong khi tiến hành giâm cành  
chè, người ta tiến hành loại bỏ hai nụ chè ở nách lá chè của hom chè giâm tạo điều kiện  
cho mầm dinh dưỡng phát triển thành cầy chè mới.  
2.5. Búp chè  
Búp chè là một đoạn non của cành chè được hình thành từ các mầm dinh dưỡng.  
Búp chè trong quá trình sinh trưởng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố ngoại cảnh và nội  
tại. Kích thước búp chè thay đổi theo giống, chế độ bón phân, các biện pháp canh tác và  
điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu).  
Búp chè là nguyên liệu chế biến ra các loại chè do vậy búp chè có quan hệ chặt  
chẽ đến năng suất và chất lượng chè.  
Búp chè được chia làm hai loại: búp mù xòe và búp bình thường.  
- Búp bình thường là búp gồm 1 tôm hai hay 3 lá thật non. Búp bình thường có  
khối lượng biến động từ 0,8-1,2g đối với chè Shan và từ 0,5-0,6g đối với chè Trung du.  
Búp chè càng non phẩm chất chè càng tốt.  
- Búp mù xòe là búp phát triển không bình thường, không có tôm mà chỉ có 2-3 lá  
non. Khối lượng búp mù xòe chỉ bàng 1/2 búp bình thường, tỷ lệ búp mù xòe càng cao  
chất lượng chè càng kém. Có nhiều nguyên nhân làm cho búp mù xòe: do đặc tính sinh  
vật học cây chè, do thời tiết không thích hợp (nắng, hạn, rét), do đất đai (đất xấu), do  
canh tác không hợp lý...  
2.6. Lá chè  
Lá chè mọc cách trên cành chè, mỗi đốt có một lá, lá chè thường thay đổi về hình  
dạng, màu sắc, kích thước tùy theo giống, điều kiện tự nhiên và điều kiện canh tác.  
Lá chè là loại lá đơn, nguyên, có hệ gân lá rất rõ. Những gân chính của lá chè  
không mọc ra tận mép lá, mà nối với nhau thành mạng. Rìa lá có răng cưa, hình dạng  
răng cưa, đầu lá, mầu sắc lá số đối gân chính, hình dạng lá là các chỉ tiêu phân loại giống.  
Những giống chè có mặt lá gồ ghề, mỏng, màu xanh sáng thường có khả năng cho năng  
suất cao.  
Trên cành chè có các loại lá sau:  
* Lá vảy ốc: Lá vẩy ốc là những lá hình vẩy rất nhỏ, có mầu nâu cứng. Lá vẩy ốc là  
bộ phận bảo vệ điểm sinh trưởng của mầm chè khi nó ở trạng thái ngủ nghỉ. Số lượng lá  
vẩy ốc thường 3-4 lá trên một điểm sinh trưởng ở vụ đông và 1-2 lá ở vụ hè.  
* Lá cá: Lá cá là lá thứ nhất nhưng phát triển không hoàn toàn, thường dị hình hay  
12  
   
có dạng hơi tròn, không có hoặc có rất ít răng cưa ở mép lá.  
Về cấu tạo giải phẫu, lá cá có lớp mô dậu và mô khuyết ít hơn lá thật, số diệp lục ít  
hơn, hàm lượng tanin ít hơn từ 1-2%.  
* Lá thật: Lá thật là lá phát triển bình thường gồm cả đầu lá, gân lá và răng cưa  
thường là lá thứ 2, thứ 3 trở đi.  
Hình 2.5. Cấu tạo giải phẫu lá chè  
Cấu tạo giải phẫu lá thật gồm có:  
- Lớp biểu bì: gồm những tế bào nhỏ, dày, cứng xếp thành một lớp có tác dụng  
bảo vệ lá.  
- Lớp mô dậu: gồm từ 1-3 lớp tế bào sắp xếp đều nhau chứa nhiều diệp lục.  
- Lớp tế bào mô khuyết: gồm các tế bào sắp xếp không đều nhau, ở trong đó có  
nhiều tế bào đá các tinh thể oxalat canxi.  
Lá chè có tỷ lệ giữa mô khuyết và mô dậu càng lớn thì cây chè có khả năng chống  
chịu càng tốt với điều kiện ngoại cảnh.  
Lá chè mọc trên cành chè theo các thế lá khác nhau: thế lá rủ, thế lá ngang, thế lá  
xiên và thế lá úp. Thế lá ngang và thế lá rủ là đặc trưng của giống chè năng suất cao. Lá  
chè có tuổi thọ trung bình là một năm.  
2.7. Hoa, quả chè  
Cây chè 2, 3 tuổi đã có thể ra hoa, kết quả lần đầu, hoa chè mọc ra từng mầm sinh  
thực ở nách lá chè.  
Hoa chè là hoa lưỡng tính, trong hoa có 5-9 cánh màu trắng, có khi phớt hồng. Bộ  
nhị đực gồm 100-400 cái, thường thì 200-300 cái. Chỉ nhị ở phía gốc dính với nhau từ 3-  
5 cái. Bao phấn có hai nửa gồm 4 túi phấn. Hạt phấn hình tam giác, khi chín có màu vàng  
hoặc vàng kim. Bầu nhụy có 3-4 ô trong đó chứa 3-4 noãn, phía ngoài có lông tơ, núm  
nhụy chẽ ba. Ở gốc bầu nhụy có tuyến mật làm thành một vòng tròn gọi là đĩa. Khi hoa  
nở tiết ra mật ngọt và mùi thơm dễ dẫn dụ côn trùng.  
Quả chè thuộc loại quả nang có từ 1-4 hạt. Quả chè có dạng hình tròn, tam giác,  
vuông tùy theo số hạt. Khi còn non quả chè có màu xanh, khi chín chuyển sang mầu xanh  
thẫm hoặc nâu. Khi vỏ chín vỏ quả nứt ra.  
Hạt chè có vỏ sàng bên ngoài màu nâu cứng. Kích thước hạt chè to, nhỏ phụ thuộc  
vào giống và kỹ thuật chăm sóc. Hạt chè có khối lượng từ 0,6-2g, thường là từ 1-1,6g. Vỏ  
hạt chè gồm 6-7 lớp tế bào đá tạo thành lớp vỏ cứng, phía trong là lớp vỏ lụa mỏng, có màu  
13  
 
nâu, có nhiều gân, có tác dụng vận chuyển nước và dinh dưỡng. Nhân chè có 2 lá mầm và  
phôi (mầm) chè. Lá mầm chiếm 3/4 khối lượng hạt chè, là nơi dự trữ dinh dưỡng gồm 10%  
protein, 32% lipit, 31% gluxit. Dưới tác dụng của ánh sáng lá mầm hình thành diệp lục.  
Hạt chè có hiện tượng đa phôi.  
Hình 2.6. Hoa và quả chè  
2.8. Tổng chu kỳ phát dục của cây chè  
Cây chè thuộc loại cây lâu năm, kể từ khi thụ phấn thụ tinh trên cây mẹ cho đến khi  
cây già cỗi và tự chết có thể kéo dài tới hàng trăm năm. Cả quá trình đó bao gồm 5 giai đoạn:  
* Giai đoạn phôi thai: Kể từ lúc thụ phấn đến khi hạt chín trên cây mẹ hoặc từ khi  
mầm được phân hóa đến lúc tạo thành một cành giâm. Đây là giai đoạn đầu tiên của cây  
chè chủ yếu nằm ở vườn chè giống lấy hạt hoặc lấy cành.  
* Giai đoạn chè con: Kể từ khi gieo hạt, giâm cành đến khi cây ra hoa đầu tiên.  
Đối với chè hạt khoảng từ 1-2 năm, chè giâm khoảng 3-6 tháng. Giai đoạn này cần chăm  
sóc tốt.  
* Giai đoạn chè non: Kể từ năm thứ 2 đến năm thứ 4 sau trồng, từ lúc cây có hoa  
lần đầu đến khi cây thành thục các chức năng sinh lý có bộ khung tán ổn định. Cây có sự  
sinh trưởng dinh dưỡng chiếm ưu thế đạt cân bằng giữa bộ phận trên mặt đất và dưới mặt  
đất. Giai đoạn này yêu cầu chăm sóc tốt, đặc biệt khâu đốn hái, tạo hình nhằm cho cây  
sau này có bộ tán rộng.  
* Giai đoạn trưởng thành: Từ khi cây có bộ khung tán ổn định đến lúc chè già, trong  
cả một thời kỳ kinh doanh dài từ 20-30 năm. Cây chè có khả năng sinh trưởng và phát dục  
mạnh, khả năng cho năng suất cao, phẩm chất tốt nhất. Do vậy cần lưu ý các khâu kỹ thuật  
quan trọng như: chăm sóc, bón phân, đốn hái, phòng trừ sâu bệnh...  
* Giai đoạn già cỗi: Kể từ lúc cây bắt đầu thay tán chè đến khi cây tự chết. Trong  
giai đoạn này hoạt động sinh trưởng của cây yếu dần, cành nhỏ, búp ít, ra hoa quả nhiều,  
cây có biểu hiện tàn lụi tự nhiên rồi chết dần. Gai đoạn này có thể dùng biện pháp đốn trẻ  
lại để cải tạo cây chè già cũng có hiệu quả tốt.  
3. YÊU CẦU NGOẠI CẢNH CỦA CÂY CHÈ  
Những cây chè hoang dại đầu tiên được tìm thấy ở các vùng thuộc Ấn Độ, Trung  
Quốc, miền Bắc Việt Nam, nói chung là những vùng cận nhiệt đới có khí hậu đặc trưng  
là nóng và ẩm. Cây chè rất thích hợp ở các vùng này. Những điều kiện ngoại cảnh chủ  
yếu bao gồm:  
14  
   
3.1. Đất đai và địa hình  
Về đất đai cây chè không yêu cầu nghiêm ngặt lắm. Song đất trồng chè thích hợp  
nhất phải là đất tốt nhiều mùn, chua, tơi xốp có tầng canh tác dày, mực nước ngầm sâu...  
Nói chung chè sinh trưởng phát triển tốt cho năng suất cao thường các loại đất tốt có hàm  
lượng mùn trên 2%, N tổng số trên 0,2%, kali dễ tiêu 10-15mm/100g đất và có đủ các  
nguyên tố vi lượng...  
Ở Việt Nam chè được trồng trên nhiều loại đất, nhất là ở vùng Tây Nguyên có đất  
đỏ bazan. Theo tài liệu của Trung Quốc cho biết cây chè ưa đất chua có độ pH 4,5-5,5 và  
kỵ Ca++, nếu nồng độ Ca++ trong đất lớn hơn 0,2% thì cây chè có thể bị ngộ độc và chết.  
Tóm lại tính chất đất ảnh hưởng rất nhiều đến sinh trưởng, năng suất và phẩm chất của chè.  
Về địa hình cũng ảnh hưởng rất lớn đến cây chè. Cây chè thường thích hợp với  
những sườn đất dốc có độ dốc từ 8-10o, tối đa không quá 25o. Theo Donadze (Liên Xô)  
những cây chè ở sườn dốc phía Nam được tích lũy hàm lượng tanin và chất hòa tan nhiều  
hơn ở hướng Bắc, Đông, Tây. Về độ cao của mặt đất trồng chè so với mặt biển cũng ảnh  
hưởng lớn đến phẩm chất chè. Độ cao đất trồng chè càng tăng thì phẩm chất chè càng tốt.  
Ở nước ta vùng trồng chè Mộc Châu, Lâm Đồng có độ cao trên 800m đều cho sản phẩm  
chè có chất lượng tốt, hàm lượng tanin và dầu thơm cao. Ngoài ra còn ảnh hưởng của vĩ  
độ địa lý đến chất lượng và sản lượng chè, chẳng hạn ở những vùng có vĩ độ cao thì  
lượng mưa, nhiệt độ, ánh sáng thiếu làm cho hàm lượng tanin thấp, thời gian thu hoạch  
chè ngắn, năng suất thấp...  
3.2. Nhiệt độ  
Do cây chè có nguồn gốc ở những vùng cận nhiệt đới, nên giới hạn nhiệt độ thích  
hợp là từ 15-280C với tổng tích ôn hàng năm đạt trên 40000C. Theo kết quả nghiên cứu ở  
Liên Xô, Trung Quốc cho biết: nhiệt độ giới hạn cho sinh trưởng của cây chè là 100C,  
dưới 100C cây chè tạm ngừng sinh trưởng, nhiệt độ 15-180C búp chè sinh trưởng chậm,  
trên 200C búp chè sinh trưởng mạnh, trên 300C búp sinh trưởng chậm lại và nếu cao quá  
có thể bị hại.  
Nhiệt độ còn là yếu tố chính quyết định thời gian thu hoạch búp trong năm. Ở  
những vùng từ 16 vĩ độ Nam đến 19 vĩ độ Bắc không có nhiệt độ thấp, nên thu hoạch chè  
quanh năm, nhưng ở miền Bắc Việt Nam thu hoạch chè vào tháng 10.  
Theo kết quả nghiên cứu của Trung Quốc còn cho biết: Giới hạn nhiệt độ từ 20-  
300C sẽ làm tăng hàm lượng tanin, cho sản phẩm chè tốt. Nhưng nếu nhiệt độ cao quá  
350C thì chất lượng chè lại bị xấu, tỷ lệ búp mù cao.  
3.3. Lượng mưa và độ ẩm  
Trong búp chè có chứa một hàm lượng nước rất lớn từ 75-80% trọng lượng búp.  
Búp chè non được thu hoạch liên tục trong năm, do vậy cây chè đã lấy đi một lượng nước  
lớn trong đất. Vì vậy, nhu cầu về nước của cây chè rất cao, cần lượng mưa hàng năm lớn  
1000-4000mm trung bình cũng từ 1.500-2.000mm. Ngoài ra cây chè còn yêu cầu lượng  
mưa hàng năm phải được phân bố đều qua các tháng, trung bình trên dưới 100mm/tháng.  
Vấn đề này có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sản lượng chè.  
Độ ẩm không khí thích hợp với chè từ 75-80%. Độ ẩm của đất cũng từ 80-85%. Vì  
vậy biện pháp tưới nước cho chè có hiệu quả cao. Chè có tưới ở Trung Quốc đã tăng sản  
lượng 56,1%, Việt Nam 41,5%. Do vậy cần có những biện pháp giữ ẩm cho chè nhất là  
trong mùa khô hạn.  
15  
     
3.4. Ánh sáng  
Chè là cây ưa sáng đồng thời cũng có khả năng chịu được bóng râm nhất là thời kỳ  
chè con. Chè thích hợp nhất với ánh sáng tán xạ. Trong điều kiện chè được che bóng thì lá  
chè có màu xanh đậm, lóng dài, ít búp, búp non, đồng thời hàm lượng vật chất như cafein,  
protit tăng, còn các chất như gluxit, tanin giảm nếu đem chế biến chè đen thì có chất lượng  
tốt, chế biến chè xanh thì chất lượng xấu.  
Kết quả nghiên cứu ở Ấn Độ cho thấy rằng, cường độ ánh sáng có ảnh hưởng lớn  
đến sản lượng chè. Với giống chè Ấn Độ khi giảm cường độ chiếu sáng 30% thì sản  
lượng chè tăng 34% so với không che bóng. Nếu tiếp tục giảm cường độ chiếu sáng 50%  
thì sản lượng búp chè vẫn tăng nhưng ít. Vì vậy cần phải xem xét các điều kiện thực tế về  
ánh sáng ở từng nơi để có giải pháp thích hợp.  
4. KỸ THUẬT TRỒNG CHÈ  
4.1. Chọn đất, làm đất và thiết kế đồi chè  
- Chọn đất: Chọn loại đất thích hợp với cây chè có độ dốc 8-100, tối đa 250, có  
tầng canh tác dày, mực nước ngầm sâu, giầu mùn và chất dinh dưỡng, có độ pH 4,5-6.  
Sau đó tiến hành khai hoang dọn sạch, san phẳng, rồi cày sâu 30-40cm, nếu chưa trồng  
kịp có thể gieo trồng phân xanh để cải tạo và phủ đất.  
- Thiết kế đồi chè cần chú ý nguyên tắc bảo vệ chống xói mòn, đồng thời có tỷ lệ  
sử dụng đất trồng trọt cao  
- Nội dung thiết kế bao gồm:  
+ Xây dựng các hệ thống đường sá đi lại vận chuyển phù hợp  
+ Xây dựng các hệ thống thủy lợi ở khu vực trồng chè: Mương rãnh, bể, hố chứa nước.  
+ Xây dựng hàng chè theo đường đồng mức, có mật độ khoảng cách thích hợp, rồi  
đào rãnh sâu 40cm để trồng chè. Trước đó bón phân lót vào rãnh với lượng đủ: 30 tấn  
phân chuồng được ủ với 500kg phân supe lân cho một ha. Có thể giữa các hàng chè gieo  
xen một hàng cây phân xanh, muồng, cốt khí, các loại cây đỗ lạc.  
4.2. Kỹ thuật trồng chè bằng hạt  
Hiện nay có nhiều phương pháp trồng chè song trồng chè bằng hạt là phương pháp  
phổ biến và đơn giản hơn cả. Trồng chè bằng hạt có thể được tiến hành những hình thức  
sau:  
- Gieo hạt trong vườn ươm, sau đó bứng cây con trồng ra ngoài nương.  
+ Ưu điểm: tiết kiệm được giống, tiện cho việc chăm sóc, quản lý cây con, có điều  
kiện để sản xuất được cây con to, khỏe, đồng đều.  
+ Nhược điểm: Yêu cầu kỹ thuật cao (giai đoạn vườn ươm), công vận chuyển cây  
con lớn, giá thành 1ha trồng mới cao.  
Hình thức gieo hạt trong vườn ươm sau đó bứng cây con ra vườn trồng, thường  
chỉ áp dụng ở những nơi thời vụ trồng chè không trùng với thời vụ thu hoạch quả chè  
hoặc đối với việc trồng giặm.  
- Gieo hạt thẳng ra nương  
+ Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, đỡ tốn công, giá thành hạ  
+ Nhược điểm: Không áp dụng được với những nơi có thời vụ trồng chè khác xa  
với thời vụ thu hoạch quả.  
* Chuẩn bị hạt giống và kỹ thật gieo hạt chè  
16  
       
- Chuẩn bị hạt giống  
Hạt chè khó bảo quản và dễ mất sức nảy mầm, do vậy việc chuẩn bị hạt giống cần  
được chú ý:  
+ Chỉ nên thu hoạch quả chè ở những nương chè từ 5 tuổi trở lên, sinh trưởng  
khỏe, năng suất cao, ổn định, phẩm chất tốt, ít sâu bệnh.  
+ Tiêu chuẩn hạt giống tốt là: Hạt có đường kính 12mm, hàm lượng nước 25-38%,  
tỷ lệ nảy mầm trên 75%.  
+ Trong điều kiện đất ẩm có thể xử lý hạt trước khi gieo nhằm rút ngắn thời gian  
từ khi gieo đến khi nảy mầm và làm cho hạt chè nảy mầm đều hơn. Cách xử lý như sau:  
Ngâm hạt chè vào nước từ 12-24 giờ rồi loại bỏ hạt nổi, sau đó xếp hạt chè thành  
lớp dày từ 7-10cm, phủ lên trên đó một lớp cát dày 5cm, tưới ẩm, khi có trên 50% hạt chè  
nứt nanh thì đem gieo.  
Lượng hạt chè gieo trung bình từ 200-300kg hạt/ha (tương đương với 400-600kg quả  
chè). Cách chọn đơn giản nhất là: Quả chè thu về đem bóc vỏ, ngâm nước từ 6-12 giờ rồi  
loại bỏ hạt nổi, lấy hạt chìm đem gieo.  
- Thời vụ gieo hạt chè  
Thời vụ gieo hạt chè phụ thuộc vào thời kỳ thu hoạch quả chè và điều kiện khí  
hậu. Miền Bắc thời vụ thích hợp là tháng 10 và tháng 11. Vùng Tây Nguyên tháng 5,  
tháng 6 để khi chè mọc không bị chết qua vụ đông rét, hạn (do hạt chè chín và thời vụ  
gieo hạt không trùng nhau, cần phải bảo quản hạt chè)  
- Mật độ gieo và kỹ thuật gieo hạt chè  
Mật độ gieo hạt chè phụ thuộc vào độ dốc, tính chất đất và phương thức canh tác.  
Đất dốc, xấu, trình độ canh tác thấp thì gieo dày, đất bằng, tốt và trình độ canh tác cao thì  
gieo thưa. Một số khoảng cách thường được áp dụng là:  
+ 1,75m x 0,4 -0,5m đối với đất bằng, trình độ canh tác cao hay đối với nương chè giống.  
+ 1,50 x 0,4 - 0,5m đối với đất có độ dốc ≥ 200  
+ 1,25 x 0,4 - 0,5m  
+ 1,00 x 0,4 - 0,5m  
Hai khoảng cách sau cùng thường được sử dụng trong điều kiện đất dốc và xấu  
trong các hộ gia đình ít có điều kiện thâm canh cao.  
Hạt chè được gieo thành từng cụm, mỗi cụm từ 5-6 hạt gieo sâu 3-5cm lấp đất nhỏ  
lên mặt, giẫm nhẹ làm cho hạt chè tiếp xúc tốt với đất, phủ lên trên một lớp rơm, cỏ tế,  
guột dể giữ ẩm, khi hạt chè bắt đầu mọc thì gỡ lớp rơm cho chè mọc. Gieo dự phòng 10-  
15% hạt chè cùng với thời kỳ gieo hạt để lấy cây con giặm khi mất khoảng.  
Sau khi gieo hạt xong cần làm lý lịch đồi chè, nội dung lý lịch gồm:  
+ Tên đồi chè  
+ Ngày tháng năm trồng  
+ Diện tích trồng  
+ Giống sử dụng  
+ Các biện pháp kỹ thuật đã áp dụng  
4.3. Kỹ thuật trồng chè bằng cành  
4.3.1. Ưu nhược điểm của việc trồng chè bằng hình thức giâm cành  
- Trồng chè bằng hình thức giâm cành có hệ số nhân giống cao đáp ứng được nhu  
cầu về giống trong sản xuất.  
17  
 
- Cây chè con được trồng bằng hình thức giâm cành giữ nguyên được những đặc tính  
tốt của cây mẹ, nương chè đồng đều về hình thái tiện lợi cho canh tác, thu hoạch và chế biến.  
Ở những nương chè trồng bằng hạt, nương chè có sự phân ly rất lớn về hình thái, về  
đặc tính sinh trưởng và khả năng cho thu hoạch búp. Nương chè trồng bằng hạt thường  
không giữ được đặc tính tốt của giống. Nguyên nhân của sự phân ly đó là do hoa chè tự thụ  
phấn thấp, quả chè được hình thành chủ yếu là do kết quả của sự thụ phấn khác hoa.  
Giống chè dùng để giâm cành thường là giống đã qua chọn lọc, có khả năng cho  
năng suất cao, phẩm chất tốt. Do vậy, nương chè trồng bằng cành chè giâm cũng có khả  
năng cho năng suất cao và phẩm chất tốt giống mẹ.  
- Chè trồng bằng phương pháp giâm cành, có khả năng phân cành thấp, nương chè  
mau khép tán, mau cho thu hoạch và năng suất cao hơn chè trồng bằng hạt.  
Tuy nhiên việc trồng chè bằng phương pháp giâm cành cũng có những nhược  
điểm sau:  
Trồng chè bằng phương pháp giâm cành yêu cầu kỹ thuật cao, tốn công vận  
chuyển, chi phí lớn dẫn đến giá thành/1ha trồng mới cao. Đây là nguyên nhân cơ bản  
làm cho tốc độ mở rộng diện tích chè bằng phương pháp giâm cành còn chậm.  
4.3.2. Kỹ thuật sản xuất chè con bằng phương pháp giâm cành  
* Vườn sản xuất hom giống  
Là vườn chè mà từ đó người ta thu hoạch chè đem giâm cành.  
- Địa điểm: Nơi đặt vườn sản xuất hom giống phải thỏa mãn các yêu cầu về đất  
đai, khí hậu đối với cây chè. Nên đặt vườn sản xuất hom giống ở khu trung tâm khu vực  
trồng chè và gần đầu mối giao thông, tránh nơi đầu gió bão.  
- Vườn sản xuất hom giống phải được trồng bằng giống đã chọn lọc, có khả năng  
cho năng suất cao, phẩm chất tốt.  
- Mật độ trồng: 1,75 x 0,6 x 1 cây (có thể trồng 2 cây một hốc)  
- Phân bón: Bón lót 30-40 tấn phân hữu cơ/ha, những năm sau cứ 2 năm bón một  
lần 20-30 tấn phân hữu cơ/ha.  
Phân vô cơ khác: 200kg đạm sunfat + 200kg supe lân + 200kg kali clorua/ha. Chè  
dưới 2 tuổi bón một năm 2 lần vào tháng 2 và tháng 8, chè trên 3 tuổi bón một năm 4 lần  
vào tháng 2, tháng 5, tháng 8, tháng 10.  
Ngoài ra quản lý vườn sản xuất hom giống còn chú ý các biện pháp sau:  
+ Đốn tạo hình: Cuối năm thứ nhất cắt tỉa một số hom không đốn để nuôi cây.  
Cuối năm thứ hai (không kể thời gian ở vườn ươm) đốn cao 25cm. Cuối năm thứ 3 đốn  
cao 30-35cm. Các năm sau mỗi năm đốn cao hơn năm trước 5cm. Đốn sau khi cắt hom  
vụ đông xuân.  
+ Tỉa cành bấm ngọn  
Vụ đông xuân: Sau đợt cắt hom tháng 11 đến tháng 1 tiến hành đốn bằng, khi đợt  
mầm đầu tiên mọc lên, hái tỉa một hai lần những búp to, còn giữa tán chè để lại một hai lá  
chừa, búp rìa tán không hái, tiến hành thu hoạch hom tháng 7-8.  
Vụ hè thu: Sau đợt cắt hom tháng 7 thì đốn bằng vào tháng 8, khi đợt mầm đầu  
tiên mọc lên cũng bấm tỉa từ một đến hai lần búp một tôm hai lá, chừa 2 lá thật. Hom có  
thể thu vào tháng 11 -1.  
Trước khi cắt hom 15-20 ngày tiến hành bấm ngọn một tôm hai lá để tập trung  
dinh dưỡng vào các lá còn lại trên cành.  
18  
+ Phòng trừ sâu bệnh hại khác với chè sản xuất, vườn chè sản xuất hom giống có  
quần thể rậm rạp, có điều kiện cho sâu hại phát triển, hơn nữa đối với chè giâm cành, lá  
là cơ quan quang hợp, nên hom chè không có lá hoặc lá bị sâu hại nặng sẽ không thể phát  
triển thành cây chè con khi giâm cành. Do vậy việc phòng trừ sâu hại có ý nghĩa rất lớn.  
Cũng như đối với chè sản xuất, nương chè sản xuất hom giống có các loại sâu  
như: Bọ xít muỗi, nhện đỏ, rầy xanh, bộ cánh tơ... Cần được phát hiện sớm và sử dụng  
thuốc như đối với chè sản xuất. Về bệnh nương chè sản xuất hom giống thường có bệnh  
thối búp.  
* Vườn giâm cành  
Hom chè có thể giâm trực tiếp xuống đất, phương pháp này tỷ lệ sống và xuất  
vườn cao, tuy vậy chỉ nên dùng với những nơi không có và nương chè cần trồng gần với  
vườn ươm. Hoặc có thể giâm vào túi PE, phương pháp này có ưu điểm là có thể vận  
chuyển cây con đi xa nhưng yêu cầu kỹ thuật cao hơn, giá thành cao hơn.  
Khi xây dựng vườn ươm cần chú ý một số vấn đề sau:  
+ Địa điểm  
- Có những điều kiện khí hậu, đất đai phù hợp với yêu cầu của cây chè  
- Nằm ở trung tâm khu vực trồng chè, gần nguồn nước tưới, gần đường giao  
thông, thuận tiện cho vận chuyển.  
- Tránh nơi đầu gió bão  
+ Thời vụ  
Ở miền Bắc có hai vụ giâm cành chính:  
- Vụ đông xuân (để hom từ tháng 8) tiến hành giâm cành từ 15/11 – 15/12. Vụ này  
ít có những trận mưa to, bão lớn, nhiệt độ thấp, ít nắng to, tỷ lệ sống cao.  
- Vụ hè thu (để hom tháng 2) giâm cành 15/6-30/7, vụ này tỷ lệ sống thấp vì gặp  
mưa to, bão lớn, nắng to...  
+ Làm đất - thiết kế hệ thống tưới tiêu  
Vườn ươm cần chia lô để quản lý chăm sóc, xung quanh thiết kế hệ thống mương  
dẫn nước (tưới, tiêu). Trung bình cứ 2-3 vạn hom nên bố trí một hố dự trữ nước.  
- Nếu cắm trực tiếp thì tiến hành làm đất theo quy trình sau:  
Cày bừa sâu 20-25cm, làm đất nhỏ, sạch rễ cây, đá sỏi, san bằng, lên luống cao  
15-20cm, chiều rộng luống 1,1 - 1,2m, luống dài từ 15-20m, rãnh luống hình thang rộng  
30-45cm. Luống thiết kế theo sườn đông tây để tránh nắng hai sườn luống, phủ lên trên  
mặt luống một lớp đất cái dày 5cm dùng cào san phẳng mặt luống, sau đó dùng con lăn  
hoặc cây để nén (đất cái thường là đất đỏ vàng có pH (KCL) 4,5-5,5 lấy ở tầng đất dưới  
10cm không có cỏ dại, không có tuyến trùng).  
19  
- Nếu sử dụng bầu PE thì làm theo quy trình sau: Dùng túi PE có đường kính 8cm,  
đóng 2/3 phía dưới là đất mặt và 1/3 phí trên là đất cái (có thể đóng bầu hoàn toàn bằng  
đất cái). Sau đó xếp thành luống với chiều rộng từ 1,1 - 1,2m. Xếp hàng ngang xen kẽ,  
thẳng đứng, trước khi xếp cần đóng cọc be định hình luống. Sau khi xếp luống xong vun  
đất cao bằng 2/3 chiều cao bầu chè và có thể bỏ cọc định hình luống. Việc vun đất xung  
quanh luống không những có ý nghĩa giữ cho bầu khỏi đổ mà còn có tác dụng giữ ẩm,  
giữ nhiệt cho bầu chè.  
+ Làm giàn  
Giàn có tác dụng che mưa, nắng và chắn gió, giữ ẩm, giữ nhiệt cho vườn ươm. Giàn  
làm một năm có thể sử dụng được vài năm. Những năm sau chỉ cần sửa chữa và lợp lại.  
Ở nước ta giàn thông dụng là giàn cao 1,6-1,7m khung giàn làm bằng che, vật liệu  
lợp giàn bằng cỏ tế guột, phên nứa là tốt nhất. Ngoài ra có thể lợp giàn bằng các loại cỏ  
gianh, lá cọ... Các loại vật liệu lợp nên cặp thành phên, có 3 loại phên sau:  
- Phên che luống dài 2m, rộng 1,1-1,2m  
- Phên che rãnh dài 2m, rộng 0,3-0,4m  
- Phên che xung quanh 2m x 1,8m.  
+ Chọn cành cắt hom  
- Chọn cành: Chọn cành khỏe, không sâu bệnh, đường kính 0,4-0,6cm, lá màu  
xanh, phía gốc đỏ nâu. Giâm cành ngày nào cắt ngày đó là tốt nhất, dùng dao hoặc kéo  
sắc để cắt cành, không làm giập nát cành, bó thành bó nhỏ chuyển về chỗ giâm mát để cắt  
thành hom, không làm giập lá, không để cành dưới ánh nắng. Trên nương chè chọn cành  
tốt cắt trước.  
- Cắt hom  
Dùng kéo cắt hom, hom dài 3-4cm, có một mầm nách và một lá nguyên, vết cắt  
hình thang, không làm dập thân hom, lá và mầm chè. Hom màu xanh có tỷ lệ sống cao  
hơn hom gốc có màu nâu, xám. Hom gốc thường ra rẽ nảy mầm kém.  
Mầm nách có thể bằng hạt gạo hoặc dài hơn, nếu mầm nách dài 5cm thì dùng kéo  
cắt bỏ phần ngọn. Lá chè yêu cầu không dập nát, nếu lá to quá có thể cắt bỏ 1/3 lá.  
Trong quá trình cắt cần phân loại hom đem cắm riêng từng loại để tiện cho việc  
chăm sóc sau này, có thể chia làm 3 loại hom như sau:  
- Hom loại A: hom bánh tẻ, 1 lá, 1 mầm dài 5cm  
- Hom loại B: hom bánh tẻ 1 lá 1 mầm dài 5cm  
- Hom loại C: hom chớm nâu, 1 lá, 1 mầm  
+ Bảo quản hom, vận chuyển hom  
Hom chè cắt xong đem cắt ngay là tốt nhất, nếu số lượng hom lớn cần bảo quản  
tốt: Đựng hom chè trong túi PE, kích thước 80 x 100cm, mỗi túi chứa 2000-3000 hom để  
nơi râm mát. Thời gian bảo quản không quá 5 ngày, nếu vận chuyển đi xa cần che nắng  
và gió.  
- Xử lý: Nói chung hom chè không xử lý nếu chăm sóc tốt có thể đạt tỷ lệ sống  
90%, xong nếu điều kiện cho phép có thể xử lý các hóa chất sau đây làm tăng tỷ lệ sống  
và tỷ lệ xuất vườn.  
Humat amôn 75ppm xử lý vào đất 10mm dung dịch/bầu, xử lý trước khi cắm.  
Ngoài ra có thể xử lý 2,4 D, NAA, NOA, xử lý làm rút ngắn thời gian ra rễ và thời gian  
nảy mầm.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 74 trang yennguyen 14542 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình mô đun Trồng một số loài cây cây công nghiệp - Ngành/nghề: Khyến nông lâm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_mo_dun_trong_mot_so_loai_cay_cay_cong_nghiep_ngan.pdf