Giáo trình Chẩn đoán lâm sàng thú y - Nghề: Thú y

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI  
GIÁO TRÌNH  
MÔN HỌC: CHẨN ĐOÁN LÂM SÀNG THÚ Y  
NGHỀ: THÚ Y  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG, TRUNG CẤP  
(Ban hành kèm theo Quyết định số:  
/QĐ – CĐLC ngày  
tháng năm  
của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Lào Cai)  
Lào Cai, năm 20  
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN  
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép  
dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.  
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh  
thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.  
2
 
LỜI GIỚI THIỆU  
Các cơ quan thú y từ Trung ương đến địa phương hằng năm đã có nhiều cố gắng  
trong công tác chỉ đạo thực hiện phòng chống dịch bệnh cho vật nuôi, song dịch bệnh  
vẫn còn xảy ra phổ biến gây nhiều thiệt hại kinh tế về phát triển chăn nuôi gia súc, gia  
cầm ở nước ta.  
Một trong những trở ngại lớn nhất trong công tác phòng chống dịch bệnh cho vật  
nuôi là hàng ngũ kỹ thuật viên cơ sở và người trực tiếp chăn nuôi còn có nhiều người  
chưa có những hiểu biết, những kỹ thuật cơ bản về công tác chẩn đoán và công tác điều  
trị bệnh cho vật nuôi.  
Giáo trình Chẩn đoán lâm sàng thú y giới thiệu về các phương pháp chẩn đoán  
lâm sàng, các phương pháp khám bệnh, các xét nghiệm đơn giản, đồng thời giới thiệu  
các kỹ thuật chẩn đoán mới như: Phương pháp X – quang, nội soi, siêu âm, sinh thiết…  
trên cơ thể vật nuôi.  
Giáo trình có 3 bài:  
Bài1: Làm quen với các khái niệm chuyên môn của nghề như: Triệu chứng, hội  
chứng, chẩn đoán, tiên lượng.  
Bài 2: Trình tự khám bệnh và các phương pháp khám lâm sàng, các phương pháp  
khám đặc biệt và cách khám tổng thể một con vật bệnh.  
Bài 3: Trình tự khám các khí quan bộ phận trong cơ thể như: khám hệ tim mạch,  
hệ hô hấp, hệ tiêu hóa.  
Do thời gian có hạn nên cuốn giáo trình không thể tránh khỏi những thiếu sót,  
chúng tôi mong nhận được sự góp ý của đồng nghiệp và bạn đọc để bổ sung cho cuốn  
giáo trình được hoàn thiện và đầy đủ hơn  
Xin chân thành cảm ơn.  
Lào Cai, ngày  
tháng năm 2020  
Tham gia biên soạn  
Chủ biên: Trương Thị Xuân  
3
 
MỤC LỤC  
4
5
6
CHƯƠNG TRÌNH MÔ ĐUN  
Tên mô đun: Chẩn đoán lâm sàng thú y.  
Mã mô đun: MHT 16  
Thời gian mô đun: 60 giờ; (Lý thuyết: 12 giờ; Thực hành: 44 giờ;  
Kiểm tra: 4 giờ)  
I. Vị trí, tính chất của mô đun  
- Vị trí: Chẩn đoán lâm sàng thú y là môn học chuyên ngành nằm trong chương  
trình đào tạo Cao đẳng thú y. Mô đun được bố trí học sau khi học xong các môn học cơ  
sở và trước các mô đun chuyên ngành về bệnh thú y  
- Tính chất: Là môn học thực hành bắt buộc thuộc khối các mô đun chuyên  
ngành. Mô đun bổ trợ kiến thức cho các mô đun chuyên môn như: phòng trị bệnh nội  
khoa thú y; phòng trị bệnh ngoại khoa thú y; phòng trị bệnh sản khoa thú y;  
II. Mục tiêu mô đun  
Học xong mô đun này người học đạt được  
- Kiến thức: Trình bày được những kiến thức về các nguyên nhân thông thường  
gây ra bệnh, cách khám bệnh, chẩn đoán, xác định bệnh và điều trị bệnh cho vật nuôi  
- Kỹ năng: Thực hiện các biện pháp kiểm tra lâm sàng để chẩn đoán bệnh cho vật  
nuôi theo đúng trình tự  
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: An toàn lao động, vệ sinh thú y, an toàn cho  
người và gia súc  
7
 
BÀI 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ CHẨN ĐOÁN BỆNH  
* Mục tiêu  
- Mô tả được các thuật ngữ thường dùng trong công tác chẩn đoán bệnh  
- Phân loại được triệu chứng, hội chứng trong chẩn đoán bệnh cho vật nuôi  
- Xác định đúng tiên lượng bệnh cho vật nuôi trong công tác chẩn đoán bệnh  
- Hiểu đúng kiến thức chuyên môn  
* Nội dung chính  
1. Khái niệm về chẩn đoán và phân loại chẩn đoán  
1.1. Khái niệm chẩn đoán  
Chẩn đoán là phán đoán bệnh thông qua các triệu chứng.  
Một chẩn đoán phải chú ý đến các nội dung như: Vị trí bệnh biến trong cơ thể:  
bệnh ở gan, tim, phổi hay thận ... Tính chất của những thay đổi đó: viêm, áp xe, phù hay  
hoại tử; xung huyết, xuất huyết, tụ huyết, nhồi huyết hay bần huyết, bệnh kế phát, bội  
nhiễm hay tái phát. Hình thức, mức độ những rối loạn chức năng: phổi viêm ở các thời  
kỳ gan hóa hay nhục hóa, ổ viêm thuộc dạng viêm loét hay viêm tăng sinh... Nguyên  
nhân gây bệnh: vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng, độc chất, chấn thương, môi trường.  
Một quá trình bệnh lý thường rất phức tạp. Do vậy, để kết quả chẩn đoán chính  
xác và  
hoàn thiện, khi tiến hành chẩn đoán cần khám kỹ càng, phân tích nhiều mặt, tiến  
hành nhiều khâu. Kết hợp khám cơ bản và xét nghiệm chuyên biệt. Kết luận chẩn đoán  
không phải là bất di bất dịch mà có thể thay đổi theo quá trình bệnh vì chẩn đoán nhiều  
mặt, nhiều giai đoạn mới phản ánh đầy đủ quá trình bệnh.  
3.2. Phân loại chẩn đoán: Dựa vào phương pháp hay thời gian chẩn đoán mà ta  
có các loại chẩn đoán sau:  
3.2.1. Theo phương pháp chẩn đoán  
a) Chẩn đoán trực tiếp  
Là chẩn đoán căn cứ vào các triệu chứng điển hình của bệnh. Nghĩa là cách này  
chỉ có kết quả khi quá trình bệnh lý của một bệnh nào đó xuất hiện triệu chứng điển  
hình. Ví dụ, tiếng thổi tâm thu trong bệnh hẹp lỗ nhĩ thất tim; xuất huyết trên da lợn  
hình vuông tròn trong bệnh đóng dấu.  
b) Chẩn đoán phân biệt  
Với những triệu chứng phát hiện thấy trên con vật bệnh, liên hệ đến các bệnh  
khác có cùng một số triệu chứng, rồi loại dần các điểm không phù hợp. Cuối cùng còn  
lại một bệnh có nhiều khả năng nhất là bệnh mà gia súc đang mắc. Ví dụ: chẩn đoán  
phân biệt các bệnh sau:  
- Bệnh xung huyết phổi và viêm phổi: hai bệnh trên đều có triệu chứng giống  
nhau là khó thở nhưng trong bệnh xung huyết phổi thì con vật không sốt. Ngược lại  
trong bệnh viêm phổi thì con vật sốt.  
8
         
- Bệnh viêm ruột thể ca ta và viêm ruột: viêm ruột thể ca ta thì con vật không sốt.  
Nhưng viêm ruột thì con vật sốt cao.  
- Viêm phổi thùy và viêm phổi - phế quản: viêm phổi phế quản sốt theo kiểu lên  
xuống, còn viêm phổi thùy thì sốt liên miên.  
- Chẩn đoán phân biệt 4 bệnh đỏ của lợn (học trong vi sinh vật học- truyền  
nhiễm).  
c) Chẩn đoán sau một thời gian theo dõi  
Có nhiều bệnh triệu chứng không điển hình, sau khi khám không thể kết luận  
được bệnh và phải tiếp tục theo dõi, phát hiện thêm các triệu chứng mới đủ căn cứ để  
chẩn đoán bệnh.  
d) Chẩn đoán theo kết quả điều trị  
Với những trường hợp mà triệu chứng lâm sàng gần giống nhau, sau khi khám  
rất khó kết luận bệnh này hay bệnh khác. Do đó cần điều trị một trong số bệnh đó và  
theo kết quả mà rút ra chẩn đoán. Ví dụ chẩn đoán bệnh dịch tả lợn và tụ huyết trùng  
lợn sau khi điều trị; chẩn đoán bệnh đóng dấu lợn và tụ huyết trùng lợn sau khi điều trị.  
3.2.2. Theo thời gian chẩn đoán  
a) Chẩn đoán sớm  
Là chẩn đoán mà kết luận bệnh thực hiện được ở ngay thời kỳ đầu của quá trình  
bệnh lý. Chẩn đoán sớm là mục đích của người làm công tác thú y vì nó sẽ giải quyết  
được các vấn đề về phòng và điều trị bệnh hiệu quả, mang lại giá trị kinh tế.  
b) Chẩn đoán muộn  
Là chẩn đoán mà ta chỉ có thể kết luận được bệnh ở giai đoạn cuối của quá trình  
bệnh, thậm chí khi gia súc đã chết, mổ khám mới có kết luận bệnh.  
3.2.3. Chẩn đoán theo mức độ chính xác  
a) Chẩn đoán sơ bộ  
Là kết luận bệnh sau khi khám sơ bộ. Đây là cơ sở cho những phương pháp điều  
trị. Chẩn đoán sơ bộ còn nhiều nghi vấn, phải tiếp tục theo dõi để bổ sung thêm để chẩn  
đoán được chính xác.  
b) Chẩn đoán cuối cùng  
Là kết luận chẩn đoán sau khi áp dụng nhiều phương pháp như khám, xét  
nghiệm; hoặc thông qua kết quả điều trị.  
c) Chẩn đoán nghi vấn  
Là kết luận chẩn đoán tạm thời, đưa ra khả năng có thể khi gặp các trường hợp  
bệnh lý có triệu chứng mập mờ, diễn biến phức tạp. Cần phải theo dõi kỹ diễn biến của  
bệnh và kết quả điều trị để có kết luận chính xác hơn.  
9
   
2. Khái niệm triệu chứng và phân loại triệu chứng  
2.1. Khái niệm triệu chứng  
Một quá trình bệnh lý có thể gây ra những rối loạn về cơ năng hay làm thay đổi  
về hình thái của các khí quan bộ phận trong cơ thể. Những biểu hiện của sự rối loạn đó  
được gọi là triệu chứng. Vì vậy có thể hiểu:  
Triệu chứng là những biểu hiện của sự rối loạn về cơ năng, thay đổi về hình thái  
của các khí quan bộ phận trong cơ thể.  
Ví dụ: Tăng hoặc giảm tần số hô hấp, tần số tim đập; tăng hoặc giảm nhu động  
của dạ dày, ruột, sốt.  
Nhiệm vụ của chẩn đoán là phát hiện triệu chứng bệnh.  
Trong một quá trình bệnh lý, giá trị chẩn đoán của các triệu chứng không giống  
nhau.  
Ví dụ: Bệnh uốn ván ở trâu bò có thể xuất hiện các triệu chứng ỉa chảy, sốt cao,  
bỏ ăn, cơ bị co cứng… Trong đó triệu chứng cơ co cứng là có giá trị nhất vì nó điển  
hình cho bệnh.  
Một triệu chứng ở các giai đoạn bệnh lý khác nhau thì ý nghĩa chẩn đoán cũng  
khác nhau.  
2.2. Phân loại triệu chứng  
1.2.1. Phân loại theo phạm vi biểu hiện  
a) Triệu chứng cục bộ  
Là triệu chứng chỉ biểu hiện ở một khí quan, bộ phận nào đó của cơ thể. Ví dụ,  
âm bùng hơi vùng hõm hông trái của trâu bò trong bệnh chướng hơi dạ cỏ; âm đục ở  
vùng ngực trong bệnh viêm phổi.  
b) Triệu chứng toàn thân  
Là triệu chứng xuất hiện do phản ứng của toàn bộ cơ thể đối với nguyên nhân  
gây bệnh.  
Ví dụ: sốt, bỏ ăn, tim đập nhanh, ủ rũ.  
1.2.2. Phân loại theo giá trị chẩn đoán  
a) Triệu chứng đặc thù  
Là triệu chứng chỉ có ở một bệnh, khi gặp triệu chứng ấy thì chẩn đoán đúng  
ngay.  
Ví dụ: tĩnh mạch cổ đập dương tính trong bệnh hở van ba lá.  
* Chú ý: không phải bệnh nào cũng có triệu chứng đặc thù.  
b) Triệu chứng chủ yếu - thứ yếu  
Triệu chứng chủ yếu bao gồm tất cả những triệu chứng có giá trị chẩn đoán. Nó  
bao gồm cả triệu chứng đặc thù, triệu chứng điển hình.... Ví dụ: âm "vỗ nước", tiếng  
"cọ" vùng tim trong bệnh viêm bao tim do ngoại vật.  
Ngược lại triệu chứng thứ yếu thường ít có giá trị chẩn đoán. Ví dụ: rối loạn tiêu  
hóa, đi lại khó khăn, phù thũng trong bệnh viêm bao tim do ngoại vật.  
10  
         
c) Triệu chứng điển hình- không điển hình  
Triệu chứng điển hình là triệu chứng sinh ra do những bệnh biến điển hình của tổ  
chức hay khí quan trong cơ thể. Ví dụ: hoàng đản trong rối loạn chức năng gan.  
Lưu ý: Triệu chứng điển hình không phải là triệu chứng đặc thù. Ở ví dụ trên,  
hoàng đản do rối loạn chức năng gan gặp trong nhiều bệnh như Leptospirosis, Kí sinh  
trùng đường máu. Triệu chứng không điển hình là sự thể hiện mập mờ, không rõ.  
d) Triệu chứng cố định- ngẫu nhiên  
Triệu chứng cố định là triệu chứng thường phát ra trong một quá trình bệnh lý.  
Ví dụ: Tiếng ran nhất định nghe thấy trong bệnh viêm phổi thùy, bệnh viêm phổi  
phế quản. Ngược lại, triệu chứng ngẫu nhiên là triệu chứng lúc có lúc không trong một  
bệnh. (Vídụ: hoàng đản trong viêm ruột cata).  
e) Triệu chứng trường diễn- nhất thời  
Là triệu chứng xảy ra suốt quá trình bệnh. Ví dụ: ho trong trong bệnh viêm phế  
quản; con vật toát mồ hôi lạnh, thân nhiệt giảm trong bệnh giun chui ống mật. Ngược  
lại, triệu chứng nhất thời là triệu chứng chỉ xảy ra trong một giai đoạn nào đó của quá  
trình bệnh. Ví dụ: tiếng ran trong bệnh viêm phổi, con vật la hét từng cơn trong bệnh  
giun chui ống mật (khi giun không chui lên ống mật thì con vật ngừng la hét).  
3. Khái niệm hội chứng và phân loại hội chứng  
3.1. Khái niệm hội chứng  
Có một số trường hợp bệnh lý khi điển hình bình thường biểu hiện bằng một số  
triệu chứng nhất định, những triệu chứng nhất định đó tập hợp lại gọi là hội chứng.  
Thông thường khi gặp các triệu chứng đó ta không thể kết luận được bệnh gì vì nhiều  
bệnh cùng thể hiện triệu chứng đó.  
3.2. Phân loại hội chứng  
- Hội chứng hoàng đản (vàng da): ở một số bệnh như: viêm ruột cata, xoắn  
khuẩn, ký sinh trùng đường máu, viêm gan do virus.  
- Hội chứng ỉa chảy: triệu chứng ỉa chảy xuất hiện trong một số bệnh như: viêm  
ruột cata, bệnh phó thương hàn, bệnh dịch tả...  
4. Khái niệm tiên lượng và phân loại tiên lượng  
4.1. Khái niệm tiên lượng  
Tiên lượng là sự phán đoán về tương lai của bệnh như: bệnh còn kéo dài bao lâu,  
những bệnh nào có thể kế phát, con vật sống hay chết, có khỏi hoàn toàn không, khả  
năng khai thác, sản xuất của con vật sau khi khỏi như thế nào (giá trị kinh tế). Một tiên  
lượng chính xác đòi hỏi phải suy xét nhiều yếu tố, kết hợp chẩn đoán lâm sàng và chẩn  
đoán phòng thí nghiệm. Chẩn đoán là kết luận hiện tại, tiên lượng là kết luận cho tương  
lai.  
4.2. Phân loại tiên lượng  
Có thể có 3 kết luận về tiên lượng:  
11  
           
- Tiên lượng tốt: là con vật khỏi bệnh, có khả năng phục hồi hoàn toàn về chức  
năng, vẫn còn giá trị về kinh tế.  
- Tiên lượng xấu: là gia súc sẽ chết, hoặc có thể sống nhưng không lành hoàn  
toàn, mất khả năng sản xuất và sinh sản; nếu điều trị khỏi cũng tốn kém, mất nhiều thời  
gian.  
- Tiên lượng nghi ngờ: là trường hợp bệnh biến phức tạp, triệu chứng rất mập mờ  
không thể kết luận được bệnh và xác định tiên lượng.  
5. Các phương pháp khám bệnh  
5.1. Các phương pháp khám cơ bản  
5.1.1. Phương pháp nhìn (inspectio)  
Nhìn ngoài là phương pháp khá đơn  
giản nhưng chính xác. Nó được sử dụng  
rộng rãi trong thú y. Để đảm bảo an toàn cho  
người khám, sau khi con vật đã được cố định  
hoặc được chủ của nó cầm giữ mới được  
quan sát. Nhìn từ xa lại gần để làm quen với  
gia súc, tránh tác động đột ngột làm cho con  
vật có phản xạ tự vệ bất lợi cho người khám.  
Nhìn bằng mắt thường hoặc có thể  
dùng đèn chiếu tùy từng trường hợp. Tùy  
theo mục đích và vị trí nhìn mà đứng xa hay g
pháp nhìn  
Hình 1.1: Cách khám bệnh bằng phương  
trong trạng thái sinh lý mới dễ dàng phát hiện ra triệu chứng khi chúng mắc bệnh. Nên  
rèn luyện cách nhìn từ tổng quát đến cục bộ. Thường thì bắt đầu bằng nhìn tinh thần gia  
súc, thể cốt, tình hình dinh dưỡng; sau đó đến các bộ phận như: đầu, cổ, lồng ngực,  
vùng bụng và 4 chân.  
Nhìn vùng đầu: chú y tới sự biến đổi của niêm mạc mắt, mũi, miệng, quan sát  
sừng, ngà, vòi chú ý sự gãy, dập.  
Quan sát lưng: chú ý độ cong của xương sống (lưng cong cứng trong bệnh uốn  
ván)  
Quan sát hai bên sườn, đối chiếu so sánh giữa hai bên (loài nhai lại khi bị  
chướng hơi dạ cỏ, bụng bên trái thường rất to; ngược lại khi con vật có thai thì bụng  
phải to hơn bên trái)  
Quan sát vùng bụng xem vú có sưng không (con cái); quan sát vùng đuôi và âm  
hộ (con cái) có dịch chảy ra không, dịch hoàn (con đực) có sưng không...  
5.1.2. Phương pháp sờ, nắn (Palpatio)  
Phương pháp này cũng được áp dụng khi con vật đã được cố định, đảm bảo an  
toàn cho người khám.  
- Sờ nắn để xác định ôn độ, độ ẩm, đàn tính của da, cảm giác đau. Sờ nắn còn  
biết được tính chất của tổ chức (ung thư, áp xe, hecni hay khí thũng...)  
- Sờ nắn để bắt mạch, đo huyết áp, khám trực tràng, khám thai.  
12  
       
Có hai cách sờ nắn:  
+ Sờ bề mặt: là sờ những bộ phận  
nông để biết ôn độ, độ ẩm của da, lực  
căng của cơ; sờ để biết tần số hô hấp, tần  
số mạch đập và hoạt động của thành ngực  
khi con vật hô hấp.  
+ Sờ sâu: để khám các khí quan  
sâu như sờ dạ cỏ, kiểm tra ngoại vật,  
khám thai qua trực tràng.  
- Sờ nắn tổ chức hay khí quan, tùy  
theo cảm giác ở tay có thể có những trạng  
thái sau:  
Hình 1.2: Cách khám bệnh bằng phương  
pháp sờ, nắn  
+ Dạng ba động: sờ có cảm giác lùng nhùng, di chuyển, ấn tay có vết lõm. Trạng  
thái này gặp khi tổ chức bị thủy thũng, ổ mủ.  
+ Dạng nhão bột: cảm giác như ấn tay vào túi bột, chỗ ấn để lại vết tay ấn. Trạng  
thái này gặp trong bệnh bội thực dạ cỏ.  
+ Dạng cứng: như lúc sờ vào gan  
+ Dạng rất cứng: như lúc sờ vào xương  
5.1.3. Phương pháp gõ (Percussis)  
Các cơ quan, tổ chức của cơ thể có vị trí giải phẫu khác nhau, cấu tạo khác nhau  
và tính chất khác nhau nên khi bị chấn động cũng phát ra các âm khác nhau. Khi gõ vào  
cơ quan tổ chức là tạo ra chấn động và làm phát ra âm thanh.  
Khi bị bệnh, tính chất của tổ chức thay đổi nên âm thanh phát ra khác với khi tổ  
chức bình thường. Sự khác nhau về âm thanh phát ra lúc tổ chức lành và khi tổ chức bị  
bệnh cho phép ta chẩn đoán được bệnh. Do vậy, phương pháp gõ được dụng rộng dãi  
trong thú y cũng như y tế. Để có thể chẩn đoán được bệnh thông qua gõ, người khám  
cần có kinh nghiệm và có thành thạo về kỹ thuật gõ.  
* Kỹ thuật gõ  
+) Gõ trực tiếp:  
Là dùng ngón tay gõ trực tiếp lên thân con  
vật; với con vật nhỏ thì  
dùng các ngón tay phải co lại và gõ theo  
chiều lòng bàn tay úp xuống dưới; với con vật lớn  
thì gõ theo chiều lòng bàn tay ngửa lên trên.  
Cách gõ này lực gõ yếu, âm thanh phát ra  
nhỏ, trong thú y ít dùng.  
+) Gõ gián tiếp: Là gõ qua một vật trung  
Hình 1.3: Búa gõ và bản gõ  
gian, có hai cách gõ gián tiếp.  
13  
 
- Gõ qua ngón tay: Dùng ngón trỏ và ngón giữa trái áp lên thân gia súc, ngón  
giữa phải cong lại và gõ lên đó. Nên tập gõ từ cổ tay, không dùng lực của cánh tay.  
- Gõ có búa và bản gõ: Là thay tay gõ bằng búa gõ, tay đệm bằng bản gõ. Búa  
gõ làm bằng kim loại hoặc bằng gỗ, sừng, nhựa; bản gõ cũng có thể được làm từ những  
chất liệu trên. Búa gõ và bản có có nhiều loại với kích cỡ khác nhau với mục đích là sao  
cho dễ cầm khi khám và gọn nhẹ.  
* Các âm phát ra khi gõ  
+) Âm trong - âm đục  
- Âm trong vang, âm hưởng dài gặp khi gõ vào vùng khí quản, vùng phổi  
- Âm đục yếu, ngắn gặp khi gõ vào vùng gan, cơ.  
Âm trong hay âm đục là do tính chất của tổ chức đặc hay xốp, tính đàn hồi của tổ  
chức cao hay thấp, lượng khí tích trong đó nhiều hay ít. Lúc có bệnh, tổ chức vốn xốp  
chuyển thành đặc lại, lượng khí chứa trong đó ít hoặc bị đẩy ra hết, đàn tính của tổ chức  
bị mất... làm cho âm gõ chuyển từ trong sang đục. Ví dụ: âm đục ở vùng phổi trong  
bệnh viêm phổi ở thời kỳ gan hóa, nhục hóa. Ngược lại, tổ chức vốn đặc nay chứa khí,  
khi gõ sẽ thấy âm bùng hơi. Ví dụ gõ vào ổ ung khí thán.  
+) Âm cao hay âm thấp  
Phụ thuộc vào mức độ chấn động của tổ chức được gõ. Chấn động càng nhiều thì  
âm gõ càng cao và ngược lại.  
+) Âm dài - âm ngắn  
Do chấn động kéo dài hay tắt ngay, âm này khó phân biệt nên ít có ý nghĩa trong  
chẩn đoán.  
+) Âm trống  
Là âm nghe được khi gõ vào túi khí trong tổ chức của cơ thể, âm này to nhưng  
không vang. (Ví dụ gõ vào phần trên dạ cỏ (trâu, bò), phần dưới manh tràng (ngựa)).  
Cấu trúc của tổ chức khác nhau nên âm phát ra khi gõ khác nhau, mặt khác trong  
thú y  
có nhiều con vật to, nhỏ khác nhau nên việc phân biệt các âm gõ càng trở nên  
phức tạp.  
Người khám cần phải tập gõ nhiều và nghe quen các âm gõ. Gõ chỉ áp dụng ở  
vùng tim, phổi, dạ dày, ruột, gan, lách và xoang trán.  
5.1.4. Phương pháp nghe (thính chẩn = Auscultatio )  
Nguyên lý của phương pháp nghe là dựa vào âm thanh phát ra từ các cơ quan bộ  
phận trong cơ thể khi chúng hoạt động. Do tính chất hoạt động, cấu tạo của các cơ quan  
khác nhau nên âm hưởng nghe được cũng khác nhau (giống khi gõ). Chúng ta có thể  
dựa vào các âm thanh nghe được để chẩn đoán bệnh cho con vật.  
* Nghe trực tiếp  
14  
 
Lấy một miếng vải, một tờ giấy đặt lên vùng nghe. Sau đó người khám áp tai của  
mình lên đó để nghe. Phương pháp này đôi khi không nghe được ở một số vị trí khó nên  
chỉ dùng khi không có ống nghe.  
* Nghe gián tiếp  
Phương pháp này là dùng ống nghe  
(Stethoscope). ống nghe có nhiều loại, loại có  
một tai nghe, loại có nhiều tai nghe. Nhưng  
phổ biến hay dùng hiện nay là loại có hai tai  
nghe. Để nghe được chính xác thì con vật phải  
được để ở nơi yên tĩnh và con vật cũng phải  
trong trạng thái yên tĩnh; không để cho nó kêu  
Hình 1.4: Khám bệnh bằng phương  
la,dãy đạp, rên rỉ.  
5.2. Các phương pháp khám đặc biệt  
pháp nghe  
Sự tiến bộ của khoa học trong mọi lĩnh  
vực đã góp phần vào việc phát triển các phương  
pháp cận lâm sàng để giúp cho sự chẩn đoán  
của y học thêm chắc chắn. Các phương tiện đó  
ngày càng nhiều, càng chính xác và tinh vi. Các  
thăm dò cận lâm sàng có thể nhằm vào 4 loại  
mục đích:  
5.2.1. Để nhận định hình thái:  
Hình 1.5: Siêu âm chẩn đoán bệnh  
Thường là các phương pháp:  
- X quang; chiếu và chụp, chụp  
thường hoặc có thuốc cản quang.  
- Soi nội tạng.  
- Đồng vị phóng xạ.  
5.2.2. Để nhận định tổn thương, giải phẫu bệnh học:  
Đây là các phương pháp sinh thiết phủ tạng (sinh thiết mù hoặc tốt hơn hết sinh  
thiết dưới sự kiểm tra của mắt) để lấy ra một mẫu tổ chức đem xét nghiệm.  
- Vi mô: tìm các tổn thương giải phẫu  
bệnh học, thường có giá trị chẩn đoán chắc  
chắn nhất.  
- Sinh hoá mô đã áp dụng ở các nước  
có khoa học tiến bộ.  
5.2.3. Để tìm tác nhân gây bệnh:  
Xét nghiệm giải phẫu bệnh học nói trên  
cũng là một phương pháp tìm tác nhân gây  
bệnh (sinh thiết một hạch to để biết tác nhấn  
Hình 1.6: Chụp X - quang  
15  
       
gây bệnh là ung thư hay lao tuỳ theo hình thái giải phẫu bệnh học có tế bào ung thư hay  
tế bào khổng lồ của lao).  
Ngoài ra còn phương pháp khác để tìm một cách trực tiếp hay gián tiếp:  
- Vi khuẩn, virus.  
- Ký sinh trùng.  
- Nấm…  
Ở các thể dịch và các chất thải tiết.  
5.2.4. Để thăm dò chức năng:  
Một phần lớn các phương pháp này là các xét nghiệm sinh hoá học. Ngoài ra còn  
các phương pháp dùng máy móc (do chuyển hoá cơ bản để thăm dò chức năng giáp  
trạng điện tâm đồ để thăm dò chức năng tim…) và gần đây đã dùng thêm các phương  
pháP đồng vị phóng xạ.  
5.2.5. Phân tích ưu nhược điểm của các phương pháp lâm sàng và cận lâm  
sàng.  
a) Các phương pháp lâm sàng  
* Ưu điểm:  
Các phương pháp khám lâm sàng đơn giản, không cần đến những máy móc hiện  
đại, không cần nhiều đến các loại hóa chất đắt tiền, chi phí cho một chẩn đoán thường  
thấp. Chính vì vậy mà nó có thể áp dụng ở mọi nơi, đặc biệt là ở những nơi xa không có  
phòng thí nghiệm.  
Phương pháp này cho kết quả tương đối chính xác hoặc có khi kết luận ngay  
được bệnh nếu quá trình bệnh xuất hiện các triệu chứng đặc thù. Chẩn đoán lâm sàng  
còn là định hướng quan trọng cho các chẩn đoán phòng thí nghiệm.  
* Nhược điểm:  
Sự chính xác của chẩn đoán phụ thuộc rất nhiều vào trình độ chuyên môn, kinh  
nghiệm thực tế của người thầy thuốc cũng như diễn biến của quá trình bệnh lý. Mặt  
khác, rất nhiều trường hợp bệnh biến phức tạp mà căn cứ vào chần đoán lâm sàng khó  
có thể kết luận là bệnh gì, do nguyên nhân gì. Do vậy nó rất cần sự hỗ trợ của các chẩn  
đoán cận lâm sàng.  
b) Các phương pháp cận lâm sàng  
* Ưu điểm:  
Đến nay, chưa có ai dám phủ nhận sự cần thiết của các phương pháp cận lâm  
sàng vì thực tế các phương pháp này đã giúp cho thấy thuộc chẩn đoán:  
- Thật chính xác.  
- Thật đầy đủ.  
- Và nhất là thật sớm, có khi chẩn đoán được bệnh ngay khi còn ở thời kỳ tiền  
lâm sàng.  
* Nhược điểm:  
Sự đúng sai trong các phương pháp cận lâm sàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố:  
16  
   
- Phẩm chất của máy móc hay hoá chất dùng trong đó.  
- Cách lấy và bảo đảm bệnh phẩm từ bệnh phòng đến nơi làm xét nghiệm.  
- Tinh thần trách nhiệm và khả năng chuyên môn của người làm xét nghiệm.  
Cho nên đối với các phương pháp cận lâm sàng chúng ta không những cần phải  
dựa trên sự khám lâm sàng để có chỉ định đúng tránh tình trạng làm tràn lan không cần  
thiết vừa lãng phí hoá chất, máy móc và sức lao động của người làm xét nghiệm, vừa  
lãng phí bệnh phẩm nhất là máu và huyết thanh của vật bệnh, có khi lại làm mệt vật  
bệnh mà không cần thiết. Mặt khác cần dựa trên lâm sàng để nhận định các kết quả đó,  
nghĩa là phải đối chiếu các kết quả cận lâm sàng với bệnh cảnh lâm sàng: nếu không  
phù hợp thì cần kiểm tra lại, cả lâm sàng và cận lâm sàng nếu cần thiết thì cho làm lại  
xét nghiệm cận lâm sàng. Có như thế chúng ta mới có được những tài liệu chính xác về  
lâm sàng cũng như cận lâm sàng, những yếu tố cần thiết để chúng ta đi sang phần chẩn  
đoán.  
Phần 2: HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH  
PHIẾU HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH  
1/B1/MĐ1  
CÔNG VIỆC: CHẨN ĐOÁN BỆNH CHO VẬT NUÔI  
B
Các  
Dụng cụ, trang  
thiết bị  
bước  
công  
việc  
Nội dung  
Yêu cầu kỹ thuật  
Ghi chú  
Sử dụng 4 phương pháp để - Sổ tay ghi chép,  
chẩn đoán lâm sàng:  
búa gõ, bản gõ, ống  
nghe, thuốc sát  
trùng, nhiệt kế.  
- Nhìn  
1 Chẩn đoán lâm  
sàng  
1
- Sờ, nắn  
- Bảo hộ lao động,  
găng tay, khẩu trang  
- Gõ  
- Nghe  
Sử dụng các phương pháp:  
đoán  
- Siêu âm  
- Máy siêu âm, nội  
soi,  
máy  
chụp  
Chẩn  
2
Xquang  
bằng phương  
pháp đặc biệt  
- Nội soi  
2
3
- Bảo hộ lao động,  
găng tay, khẩu trang  
- Chụp X - quang  
2 Chẩn đoán qua - Mổ khám gia súc, gia cầm - Bộ dụng cụ phẫu  
mổ khám để tìm các tổn thương trong thuật tương thích với  
các tổ chức, phủ tạng. kích cở con vật  
- Kiểm tra bệnh tích ở các cơ - Sổ ghi chép, bệnh  
quan, phủ tạng án  
- Lấy mẫu bệnh phẩm làm - Bảo hộ lao động  
17  
xét nghiệm  
cho người mổ  
- Cuốc, xẻng để  
chôn.  
- Bếp, nồi để luộc ;  
vôi, thuốc sát trùng  
Kiểm tra thông tin về tình  
đoán hình dịch bệnh tại địa  
phương, trên toàn tỉnh và  
trên toàn quốc  
4 Chẩn  
dịch tễ  
Máy tính có kết nối  
mạng intenet  
4
- Lấy mẫu bệnh phẩm làm  
xét nghiệm  
-Phòng xét nghiệm  
- Điều chế mội trường nuôi được trang bị đấy đủ  
cấy  
các phương tiện để  
nuôi cấy vi sinh vật,  
làm phản ứng huyết  
Chẩn  
5
đoán  
thí  
- Nhuộm vi sinh vật, nhuộm  
mô bảo  
phòng  
5
nghiệm  
thanh  
học,  
hóa  
- Thực hiện và đọc các phản  
ứng huyết thanh học  
nghiệm tế bào, kính  
hiển vi…  
-Thực hiện các phản ứng  
sinh hóa chẩn đoán  
- Thu thập các triệu chứng, - Sổ tay ghi chép,  
hội chứng thông qua các búa gõ, bản gõ, ống  
phương pháp chẩn đoán  
nghe, thuốc sát  
trùng, nhiệt kế  
- Tổng hợp các triệu chứng,  
hội chứng.  
hội  
Tìm các triệu  
chứng,  
chứng  
6
- Bảo hộ lao động,  
găng tay, khẩu trang  
6
7
- Phân tích các triệu chứng,  
hội chứng  
- Sổ bệnh án  
- Đánh giá các triệu chứng,  
hội chứng  
7 Tiên  
bệnh  
lượng - Đưa ra kết luận tạm thời về Sổ bệnh án  
bệnh  
18  
BÀI 2 : TRÌNH TỰ KHÁM BỆNH  
* Mục tiêu  
- Trình bày được trình tự khi khám một vật nuôi mắc bệnh, tác dụng của bệnh án,  
bệnh lích, cách hỏi bệnh đối với chủ vật nuôi  
- Thực hiện khám tổng thể một con vật bệnh, xác định được bệnh toàn thân và  
các bệnh riêng ở các hệ cơ quan trong cơ thể vật nuôi  
- Chính xác, an toàn, đảm bảo cho người và vật nuôi  
* Nội dung chính  
1. Hỏi bệnh  
1.1. Hỏi thông tin về con vật bệnh  
Trước khi khám bệnh cần hỏi tên và địa chỉ của gia chủ để tránh nhầm lẫn giữa  
các ca bệnh. Sau đó là hỏi họ các thong tin sau đây lien quan đến bệnh súc: Loài, giống:  
Các loài, giống khác nhau đôi khi mắc các bệnh khác nhau, hoặc mắc cùng một bệnh  
nhưng thể hiện triệu chứng khác nhau.  
- Tuổi: Một số bệnh lại chỉ xảy ra ở một lứa tuổi nhất định  
- Tính biệt: bệnh ở con đực khác ở con cái  
- Trọng lượng: ở cùng độ tuổi, một số cá thể to khỏe lại dễ mắc một số bệnh. Mặt  
khác biết trọng lượng cho phép tính được liều lượng thuốc sẽ đưa vào cơ thể.  
- Gia chủ đã mua con vật về lâu chưa: con vật mới bắt về có thể chưa bình  
thường trở lại do các tress vận chuyển; một số bệnh lại phát ra ngay sau khi con vật bị  
chuyển vùng.  
- Nuôi con vật để làm gì: mỗi một loại hình khai thác con vật sẽ làm nảy sinh các  
bệnh theo các loại hình khai thác đó.  
1.2. Hỏi biểu hiện của con vật bệnh  
- Thời gian mắc bệnh: biết thời gian mắc bệnh cho phép chẩn đoán nguyên nhân  
bệnh, tính chất của bệnh, tiên lượng.  
- Số lượng gia súc mắc bệnh: cho ta biết tỷ lệ ốm, chết. Sau đó căn cứ vào triệu  
chứng để xem con vật mắc bệnh gì, bệnh truyền nhiễm hay trúng độc.  
- Do nguyên nhân gì: có khi gia chủ biết nguyên nhân gây bệnh, cũng có khi ta  
gợi ý mà gia chủ suy luận ra nguyên nhân.  
1.3. Hỏi thông tin về môi trường xung quanh  
- Tình hình dịch bệnh tại chỗ: nhiều bệnh tồn tại lưu cữu tại địa phương, thỉnh  
thoảng lại phát lại.  
- Tình hình vật nuôi các nhà xung quanh có biểu hiện gì không ?  
19  
         
1.4. Tác động của chủ vật nuôi  
- Hỏi các phương pháp điều trị mà bệnh súc đã được áp dụng, tác dụng của các  
phương pháp đó. Chẳng hạn bệnh súc đã dùng thuốc gì, liều lượng, liệu trình là bao  
nhiêu, hiệu quả của các phương pháp đó như thế nào: từ đó có thể suy ra bệnh.  
- Các bệnh đã được tiêm phòng, thời gian tiêm phòng: con vật chưa được tiêm  
phòng bệnh nào thì có nguy cơ mắc bệnh đó nhiều hơn.  
- Tình hình thức ăn, nước uống, chăm sóc - quản lý con vật: chăm sóc quản lý  
con vật không tốt đôi khi làm con vật mắc một số bệnh.  
Sau khi biết các thông tin nói trên, tiến hành hệ thống lại các tài liệu thu thập  
được, phân tích, đối chiếu tìm mối liên hệ giữa chúng và từ đó dự kiến chẩn đoán. Tuy  
nhiên có trường hợp thông tin cung cấp từ gia chủ không đủ, không đúng, thiếu khách  
quan nên trong lúc điều tra phải biết lựa chọn những điểm không phù hợp để hỏi lại cặn  
kẽ.  
Khi chẩn đoán bệnh cho con vật, để khỏi bỏ sót các thông tin cần thiết, nên khám  
theo một trình tự nhất định dưới đây:  
- Khám chung bao gồm: thể cốt; trạng thái dinh dưỡng; tập tính của con vật;  
khám niêm mạc; khám hạch lâm ba, lông, da; kiểm tra thân nhiệt.  
- Sau đó khám các hệ thống: hệ tuần hoàn; hệ hô hấp; hệ tiêu hóa; hệ tiết niệu; hệ  
thần kinh; máu và các cơ quan tạo máu.  
Tuy nhiên, không phải khám tất cả các trường hợp bệnh theo thứ tự như trên, mà  
tùy từng ca bệnh cụ thể, người khám đưa ra trình tự khám cho phù hợp. Nên khám kỹ  
những cơ quan thấy cần thiết cho việc nhanh chóng tìm ra bệnh. Khi đã biết rõ nguyên  
nhân và bệnh biến ở khí quan, bộ phận nào đó của con vật bệnh, người khám cũng  
không được coi nhẹ hay bỏ qua việc khám các cơ quan, bộ phận khác. Có những ca  
bệnh chỉ cần khám một lần là có thể xác định được bệnh, nhưng cũng có những trường  
hợp người khám phải khám đi khám lại nhiều lần mới chẩn đoán được con vật mắc  
bệnh gì. Những lần khám lại tùy theo nghi  
vấn mà áp dụng các phương pháp khám  
sâu hơn đối với các khí quan nghi bệnh.  
2. Khám chung  
Kết thúc việc hỏi bệnh, thầy thuốc  
tiến hành khám trực tiếp trên cở thể bệnh  
súc để tìm các triệu chứng xuất hiện ngay  
lúc đó.  
2.1. Quan sát bên ngoài con vật  
ốm  
2.1.1. Quan sát các biểu hiện khác  
thường của con vật  
Hình 2.1: Quan sát dáng đi, đứng của con vật  
- Đứng co cứng: bốn chân thẳng  
cứng, lưng thẳng, đầu khó quay về phía sau, đi lại khó khăn, khó thở. Kiểu này con vật  
20  
       
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 68 trang yennguyen 422019 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Chẩn đoán lâm sàng thú y - Nghề: Thú y", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_chan_doan_lam_sang_thu_y_nghe_thu_y.pdf