Hiện trạng và giải pháp phát triển nuôi trồng thủy sản tỉnh Nam Định theo hướng bền vững

HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN  
NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TỈNH NAM ĐỊNH  
THEO HƯỚNG BỀN VỮNG  
BÙI THỊ VÂN ANH  
Tóm tắt: Nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Nam Định trong những năm gần đây được khẳng định là nghề  
sản xuất thế mạnh mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập  
cho người dân; sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng mạnh hằng năm góp phần làm cho nền kinh tế  
toàn tỉnh ngày càng phát triển. Tuy nhiên, hiện nay nuôi trồng thuỷ sản tỉnh Nam Định đang phải đối  
mặt với một số vấn đề thách thức và khó khăn như: vấn đề quản lý quy hoạch đất sản xuất nông  
nghiệp và nuôi trồng thủy sản; nguồn giống thủy sản (giống tôm) còn thiếu và chưa được kiểm soát  
chất lượng, vấn đề ô nhiễm môi trường trong nuôi trồng thủy sản… Những tồn tại này ảnh hưởng đến  
năng suất, chất lượng, hiệu quả và sự phát triển bền vững của nghề. Trong thời gian tới để nghề nuôi  
trồng thủy sản của tỉnh Nam Định phát triển ổn định cần phải có những giải pháp giải quyết triệt để  
những tồn tại nêu trên.  
Từ khóa: Nuôi trồng thủy sản, Nam Định, phát triển bền vững  
CURRENT STATUS AND DEVELOPMENT SOLUTIONS FISHERIES FISHING IN NAM  
DINH PROVINCE WITH TENDENCY OF SUSTAINABILITY  
Abstract: In recent years, aquaculture in Nam Dinh province has been confirmed as a highly  
productive profession with high socio-economic efficiency, contributing to job creation and increased  
income for the people. The output of aquaculture increases every year, contributing to the  
development of the whole province's economy. However, at present, aquaculture in Nam Dinh  
province is facing a number of challenges and difficulties such as: management and planning of  
agricultural production land and aquaculture; The source of aquatic breeds (shrimp breeds) is  
insufficient and has not been of high enough quality and there are environmental pollution problems  
related to aquaculture ... These shortcomings affect productivity, quality, efficiency and sustainable  
development. In future, for the stable development of the aquaculture industry of Nam Dinh province,  
it is necessary to have systems to thoroughly deal with the above shortcomings.  
Keywords: Aquaculture, Nam Dinh, Sustainable Development  
1. Đặt vấn đề  
nước lợ và nước mặn với các hình thức chủ yếu  
là: nuôi theo phương pháp thâm canh, bán thâm  
canh, quảng canh và quảng canh cải tiến; nuôi  
trong lồng bè trên mặt nước biển, sông, đầm, ven  
biển; nuôi thủy sản ao hồ, đìa, đầm; nuôi thủy  
sản trên ruộng trũng, ruộng lúa.  
Nuôi trồng thủy sản là hoạt động sản xuất dựa  
trên cơ sở kết hợp giữa tài nguyên thiên nhiên  
sẵn có (mặt nước biển, nước sông ngòi, ao hồ,  
ruộng trũng, sông cụt, đầm phá, khí hậu...) với  
hệ sinh vật sống dưới nước (chủ yếu là cá, tôm  
và các thủy sản khác...) có sự tham gia trực tiếp  
của con người. Hoạt động này ở Việt Nam bao  
gồm nuôi, trồng các loại thủy sản nước ngọt,  
Nam Định là một tỉnh đồng bằng ven biển,  
thuộc phía Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng,  
có ba cửa sông lớn là Ba Lạt, Ninh Cơ và Đáy;  
20  
Bùi Thị Vâ n Anh – Hiện trạng và giải phá p phá t triển nuô i trồng thủy sản…  
hằng năm, tiếp nhận một lượng lớn phù sa, vật  
chất hữu cơ và muối khoáng từ các dòng sông  
và bồi tụ ở ven biển. Với bờ biển dài 72 km, có  
trên 90 nghìn ha đất canh tác phù sa màu mỡ và  
trên 17 nghìn ha đất có mặt nước; Nam Định rất  
thuận lợi trong phát triển khai thác và nuôi trồng  
thủy sản. Những năm qua, Nam Định phát triển  
mạnh về nuôi trồng thủy sản cả trong vùng nuôi  
nước ngọt và nuôi mặn, lợ với sản lượng nuôi  
trồng thủy sản tăng mạnh hằng năm, góp phần  
giải quyết việc làm, tăng thu nhập; thu hút được  
sự quan tâm đầu tư của nhiều thành phần kinh tế  
trong và ngoài nước, đóng góp vào phát triển  
kinh tế của địa phương. Tuy nhiên, hiện nay  
nuôi trồng thuỷ sản tỉnh Nam Định đang phải  
đối mặt với nhiều thách thức, như: vấn đề  
chuyển đổi diện tích đất trồng lúa hoặc làm muối  
kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản; nguồn  
giống thủy sản, các vấn đề về môi trường trong  
nuôi trồng thủy sản, vấn đề tiêu thụ sản phẩm,  
nhất là trong bối cảnh dịch bệnh Covid - 19...  
gây ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất, chất  
lượng, hiệu quả và sự phát triển bền vững của  
nghề nuôi trồng thủy sản. Do đó, để phát triển  
bền vững nghề nuôi trồng thủy sản đòi hỏi phải  
có những giải pháp mang tính chiến lược dài hạn  
dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học với cách  
tiếp cận mang tính tổng quan, bền vững.  
- Phương pháp thu thập, xử lý, phân tích tài  
liệu: Các số liệu thu thập được từ các báo cáo  
liên quan đến nuôi trổng thủy sản của Sở Nông  
nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nam Định,  
trang Thông tin Điện tử chính thức của báo Nam  
Định, tỉnh Nam Định; từ đó có được những đánh  
giá chính xác đối với hiện trạng ở vùng nghiên  
cứu.  
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Khách thể  
phỏng vấn sâu là cán bộ phòng Nông nghiệp và  
Phát triển nông thôn huyện Hải Hậu và huyện  
Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định và một số người dân  
nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Nam Định.  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1. Hiện trạng nuôi trồng thủy sản tỉnh  
Nam Định  
Tổng sản lượng thủy sản năm 2020  
Theo báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ sản  
xuất thủy sản năm 2020, triển khai nhiệm vụ sản  
xuất năm 2021 của Sở Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn tỉnh Nam Định, tổng sản lượng thủy  
sản năm 2020 toàn tỉnh ước đạt 170.490 tấn,  
bằng 102,4% kế hoạch năm và tăng 6,32%  
(+10.142 tấn) so với năm 2019; trong đó sản  
lượng nuôi trồng đạt 114.182 tấn, tăng 8,14%  
(+8.594 tấn); sản lượng khai thác đạt 56.308  
tấn, tăng 2,8%. Tổng giá trị sản xuất thủy sản  
năm 2020 ước đạt 9.900 tỷ đồng (giá hiện  
hành), chiếm khoảng 33% cơ cấu ngành nông,  
lâm nghiệp và thủy sản [1].  
Bài viết tập trung phân tích thực trạng và một  
số vấn đề đặt ra trong nuôi trồng thủy sản hiện  
nay của tỉnh Nam Định; từ đó, đề xuất một số  
giải pháp để phát triển bền vững nuôi trồng thủy  
sản tỉnh Nam Định trong thời gian tới.  
Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2020  
* Nuôi thuỷ sản nước ngọt: diện tích nuôi  
9.800 ha, không tăng so với năm 2019; sản  
lượng đạt 56,672 tấn, tăng 12,4% so với năm  
2019. Trong đó:  
2. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Dữ liệu nghiên cứu  
Bài báo sử dụng các cơ sở dữ liệu từ các ban  
ngành liên quan của tỉnh Nam Định, các quy  
hoạch, kế hoạch, báo cáo đã được công bố, các  
tài liệu thống kê của tỉnh Nam Định liên quan đến  
nuôi trồng thủy sản.  
- Nuôi cꢀ truyꢁn thꢂng (trắm, trôi, chép):  
Diện tích nuôi đạt 9.400 ha; sản lượng: 38.600  
tấn, tăng 11,8% so với năm 2019.  
- Nuôi cá diêu hồng: Diện tích nuôi 240 ha;  
sản lượng đạt 1.680 tấn, tăng 11,04% so với năm  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
21  
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 1(32) – Thá ng 3/2021  
2019. Một số nơi, người dân nuôi ghép cá diêu  
đa dạng, trong đó: tôm, cá bống bớp và nhuyễn  
thể 2 vỏ (ngao) là những đối tượng nuôi chủ lực,  
được ngành thủy sản Nam Định tập trung đẩy  
mạnh phát triển, nhằm định hướng lại việc tái cơ  
cấu ngành thủy sản; Trong đó, ngao được xác  
định là một trong những đối tượng nuôi chủ lực  
theo Đề án Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp của  
tỉnh theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát  
triển bền vững. Để thực hiện mục tiêu đó, những  
năm gần đây, các vùng nuôi ngao thương phẩm  
của tỉnh được kiểm soát chặt chẽ, đạt tiêu chuẩn  
châu Âu; đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước  
và làm nguyên liệu cho nhà máy chế biến, xuất  
khẩu các sản phẩm từ ngao vào thị trường châu  
Âu. Nghề nuôi ngao đã tạo việc làm, nâng cao  
thu nhập và làm giàu cho rất nhiều người dân  
ven biển.  
hồng với tôm thẻ chân trắng đạt hiệu quả khá.  
- Nuôi cá lóc bông: Là đối tượng có tốc độ  
sinh trưởng nhanh, thị trường tiêu thụ ổn định  
nên tiếp tục được nhiều người nuôi lựa chọn.  
Diện tích nuôi 60 ha; sản lượng đạt 1.290 tấn,  
tăng 9,2% so với năm 2019.  
Một số đối tượng đặc sản có giá trị kinh tế  
cao như baba, ếch, lươn, chạch đồng, ốc nhồi,  
trê lai... được người dân trong tỉnh quan tâm  
nuôi thả cũng đem lại thu nhập cao cho người  
nuôi.  
* Nuôi thủy sản mặn, lợ: Diện tích nuôi 6.500  
ha, tăng 85 ha so với năm 2019; Sản lượng đạt  
57.210 tấn, tăng 4,2% so với năm 2019. Trong  
đó:  
- Nuôi tôm nước lợ: Diện tích nuôi 3.400 ha;  
sản lượng tôm nước lợ đạt 7.280 tấn, tăng 21,5%  
so với năm 2019, đạt 98% so với kế hoạch.  
Trong đó diện tích nuôi tôm sú 2.400 ha, sản  
lượng tôm sú đạt 2.450 tấn, tăng 3,64% so với  
năm 2019. Tôm thẻ chân trắng vẫn được các địa  
phương quan tâm đầu tư với mức độ thâm canh  
ngày càng cao. Năm 2020, diện tích nuôi tôm  
thẻ chân trắng là 1000 ha, tăng 60 ha so với năm  
2019; sản lượng đạt 4.200 tấn, tăng 31,1% so với  
năm 2019.  
Sản xuất và cung ứng giống thủy sản  
Tỉnh Nam Định có vùng bãi triều ven biển  
rộng, thuận lợi cho phát triển nuôi ngao và sản  
xuất ngao giống. Nguồn cung cấp giống cho  
người nuôi ngao trên địa bàn tỉnh chủ yếu từ hai  
nguồn thu gom tự nhiên và sản xuất tại chỗ. Với  
chất lượng tốt, đảm bảo tỷ lệ sống cao nên hiện  
ngao giống sản xuất và thu gom trong tỉnh không  
chỉ phục vụ nhu cầu của người nuôi trên địa bàn  
mà còn được tiêu thụ tại các tỉnh, thành phố,  
như: Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh…  
Nghề nuôi ngao và sản xuất ngao giống đã đem  
lại nguồn thu nhập cao cho nhiều hộ dân các  
huyện ven biển. Hiện toàn tỉnh có hơn 100 cơ sở  
sản xuất giống (sản xuất giống mặn và giống  
nước ngọt). Nhiều đối tượng nuôi đã được người  
dân làm chủ hoàn toàn công nghệ sản xuất như  
giống nhuyễn thể, cá bống bớp. Chất lượng con  
giống sản xuất tại địa phương ngày càng được  
đảm bảo, được người dân tin dùng.  
- Nuôi ngao: các vùng nuôi ngao thương  
phẩm phát triển ổn định với diện tích nuôi đạt  
2.165 ha, sản lượng ngao đạt 39.500 tấn, tăng  
4,05% so với năm 2019.  
- Nuôi cá biển: Đây là đối tượng nuôi có giá  
trị kinh tế cao và đang ngày càng được chú trọng  
tại các vùng nuôi mặn lợ. Năm 2020 diện tích  
nuôi cá biển là 615 ha; sản lượng đạt 5.210 tấn,  
bằng 92,5% so với năm 2019, do đầu năm giá cá  
xuống thấp, người nuôi thả nuôi muộn hơn năm  
trước.  
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát  
triển nông thôn tỉnh Nam Định, các cơ sở sản  
xuất, ương dưỡng trong tỉnh đã chú trọng trong  
việc xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm đáp ứng điều  
Có thể thấy, Nam Định phát triển mạnh mẽ  
về nuôi trồng thủy sản cả trong vùng nuôi nước  
ngọt và mặn, lợ. Các đối tượng nuôi ngày càng  
22  
Bùi Thị Vâ n Anh – Hiện trạng và giải phá p phá t triển nuô i trồng thủy sản…  
kiện sản xuất. Đến nay, có 49 cơ sở đã được  
kiểm tra và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện  
sản xuất, ương dưỡng (trong năm 2020 cấp cho  
30 cơ sở). Các hoạt động kiểm tra duy trì điều  
kiện đã được tiến hành theo đúng quy định.  
Kết quả năm 2020, sản lượng giống thủy sản  
các loại sản xuất ước đạt 13.585 triệu con, tăng  
10,23% so với năm 2019. Trong đó, sản xuất  
giống nước ngọt đạt 970 triệu con, chủ yếu là  
các loại cá truyền thống. Một số đối tượng nuôi  
như lươn, cá chạch đồng, ếch Thái Lan, ốc nhồi  
đã được người dân tiếp cận và sản xuất tại Trung  
tâm giống Thủy đặc sản, một số cơ sở của huyện  
Nghĩa Hưng. Sản xuất giống mặn lợ tiếp tục phát  
triển mạnh, tập trung tại các xã ven biển của  
huyện Giao Thủy và Nghĩa Hưng với các đối  
tượng chủ yếu là ngao, hàu, tôm sú, cua biển, cá  
bống bớp... Sản lượng giống mặn lợ năm 2020  
đạt 12.615 triệu con, bằng 111,11 % so với năm  
2019.  
nuôi, đặc biệt có tác dụng giảm thiểu ô nhiễm  
môi trường vùng nuôi một cách đáng kể. Điển  
hình có những hộ nuôi siêu thâm canh đạt được  
30 - 50 tấn/ha (năng suất trung bình đạt 8 - 10  
tấn/ha) đã tạo thành động lực to lớn trong việc  
phát triển mạnh mẽ nghề nuôi tôm nước lợ của  
tỉnh Nam Định1.  
Hiện toàn tỉnh đã hình thành 70 vùng nuôi  
thủy sản tập trung với tổng diện tích 6.651 ha,  
tập trung ở các huyện: Giao Thủy, Hải Hậu,  
Nghĩa Hưng, Xuân Trường, Trực Ninh, Vụ  
Bản… Các vùng nuôi thủy sản tập trung cơ bản  
đã được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, bước đầu  
mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhất là các vùng  
chuyển đổi từ diện tích trồng lúa, trồng cói, làm  
muối kém hiệu quả sang nuôi thủy sản. Việc  
chuyển đổi này đã góp phần tạo việc làm, tăng  
thu nhập và thay đổi chất lượng cuộc sống của  
nông, ngư dân trong vùng… các vùng nuôi tôm  
thẻ chân trắng đang ngày càng được quan tâm  
đầu tư cơ sở hạ tầng, kỹ thuật thâm canh cao.  
Thực tế cho thấy, mặc dù hoạt động sản xuất  
nuôi trồng thủy sản phát triển rất mạnh nhưng  
sản xuất nuôi trồng thủy sản tỉnh Nam Định chủ  
yếu sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, quy mô sản xuất  
chưa tương xứng với tiềm năng phát triển; cơ sở  
hạ tầng vùng nuôi chưa đồng bộ, chưa đáp ứng  
kịp nhu cầu sản xuất; tính liên kết trong sản xuất  
chưa cao, chưa có sự gắn kết giữa người nuôi  
thủy sản và cơ sở thu mua, sơ chế và doanh  
nghiệp chế biến nên hiệu quả do nuôi trồng thủy  
sản còn nhiều hạn chế, các sản phẩm thủy sản  
chủ yếu tiêu thụ nội địa, tươi sống, chưa tạo  
được những vùng sản xuất nguyên liệu tập trung  
để cung cấp cho các nhà máy chế biến thủy sản.  
Những vấn đề này ảnh hưởng đến khả năng cạnh  
tranh và sự phát triển bền vững của nghề.  
Phương thức và quy mô nuôi trồng thủy sản  
Phương thức nuôi trồng thủy sản được  
chuyển đổi dần từ nuôi quảng canh, quảng canh  
cải tiến sang nuôi thâm canh và siêu thâm canh.  
Nhiều mô hình nuôi công nghệ cao trong nuôi  
tôm thẻ chân trắng đã mang lại hiệu quả kinh tế  
cao. Các công nghệ nuôi như: công nghệ nuôi  
sinh học Biofloc, nuôi tôm công nghiệp qua hai,  
ba giai đoạn trong nuôi tôm thẻ chân trắng (mật  
độ ương từ 1000 đến 3000 con/m2 ), công nghệ  
nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh kết hợp với  
công nghệ nuôi bằng chế phẩm sinh học đã và  
đang được áp dụng sâu rộng trong các vùng nuôi  
tập trung, như: mô hình nuôi trong ao nổi được  
bê tông hóa lót bạt, nuôi tôm trên bể, nuôi tôm  
trên ao nổi tròn với ưu điểm vượt trội giúp kiểm  
soát tốt quá trình sinh trưởng phát triển của đối  
tượng nuôi, nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế  
và phòng chống được một số loại bệnh trên tôm  
3.2. Một số vấn đề đặt ra trong nuôi trồng  
thủy sản ở tỉnh Nam Định hiện nay  
1 (https://nongnghiep.vn/thuy-san-nam-dinh-phat-huy-loi-the-d273086.html)  
23  
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 1(32) – Thá ng 3/2021  
3.2.1. Vấn đꢁ quản lý, quy hoạch diện tích  
khác, hệ thống điện phục vụ các vùng nuôi chưa  
hoàn chỉnh. Hệ thống thủy lợi cho nuôi tôm phải  
sử dụng chung với hệ thống thủy lợi phục vụ làm  
muối, trồng rau nên chưa có hệ thống tưới, tiêu  
riêng biệt. Nhiều hộ nuôi thiếu am hiểu về khoa  
học kỹ thuật và kinh nghiệm nên dịch bệnh trên  
tôm thẻ chân trắng phát sinh phức tạp, gây ảnh  
hưởng không nhỏ đến kinh tế, ảnh hưởng đến  
môi trường nuôi.  
nuôi trồng thủy sản  
Từ năm 2017 - 2020 tỉnh Nam Định đã  
chuyển đổi được trên 2.871 ha đất trồng lúa ở  
chân ruộng trũng hoặc ruộng bị nhiễm mặn,  
phèn sang nuôi trồng thủy sản tập trung hoặc  
chuyển sang trồng lúa kết hợp nuôi thủy sản  
mang lại hiệu quả kinh tế cao. Cụ thể, chuyển  
sang trồng lúa kết hợp với nuôi cá nước ngọt  
được gần 2.709 ha, trong đó: năm 2017, chuyển  
đổi gần 266 ha; năm 2018, gần 566 ha; năm  
2019, hơn 1.095 ha; năm 2020 hơn 781 ha2.  
Theo thống kê của ngành chức năng, toàn  
tỉnh Nam Định có khoảng 16.150 ha diện tích  
mặt nước đã được người dân chuyển đổi sang  
hướng nuôi thủy sản đem lại hiệu quả. Đối với  
các vùng trước đây có diện tích trồng lúa, trồng  
cói, làm muối kém hiệu quả, người dân chuyển  
đổi sang nuôi thủy sản đã nhận được sự hỗ trợ  
của tỉnh trong việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ  
tầng, kỹ thuật phục vụ sản xuất. Toàn tỉnh có 44  
dự án chuyển đổi, trong đó 32 dự án đã đạt hiệu  
quả kinh tế cao gấp nhiều lần so với trước khi  
chuyển đổi. Phương thức nuôi tại các vùng dự  
án được chuyển dịch theo hướng hình thành các  
vùng nuôi tập trung thâm canh và bán thâm  
canh. Tuy nhiên, nhận thấy lợi nhuận đạt được  
từ nuôi tôm thẻ chân trắng, nhiều hộ dân đã tự ý  
chuyển đổi diện tích nằm ngoài quy hoạch sang  
nuôi tôm thẻ chân trắng. Thực trạng này đã phá  
vỡ quy hoạch nuôi tôm đã được phê duyệt và  
gây nên tình trạng khó kiểm soát. Do phát triển  
tự phát, không theo quy hoạch, nhiều cơ sở nuôi  
không đáp ứng được các điều kiện về cơ sở hạ  
tầng kỹ thuật, như: ao chứa, ao lắng, hệ thống  
cấp, thoát nước… Ao nuôi tôm nằm xen kẽ với  
ruộng muối, ruộng rau nên rất khó ứng dụng các  
biện pháp kỹ thuật, nhất là việc xử lý các sự cố  
phát sinh từ chất lượng nước, dịch bệnh. Mặt  
Đối với nghề nuôi ngao, tuy phát triển nhưng  
vẫn mang tính tự phát. Một số vùng nuôi diện  
tích bãi bồi được khai thác tối đa để nuôi ngao  
với hệ thống vây dầy đặc, mật độ thả cao, làm  
ngao thiếu dinh dưỡng, dễ phát sinh dịch bệnh,  
rủi ro trong quá trình nuôi.  
Đối với nuôi trồng thủy sản lồng bè: người  
dân gặp nhiều khó khăn trong việc được cấp  
giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước khi  
được giao/cho thuê hoặc quyết định giao/hợp  
đồng cho thuê khu vực mặt nước để nuôi trồng  
thủy sản lồng bè. Nguyên nhân do việc triển khai  
giao/cho thuê mặt nước để nuôi trồng thủy sản  
lồng bè chưa được địa phương triển khai. Về  
phương thức, thời gian và hạn mức cho thuê và  
mức thu tiền sử dụng đất mặt nước hiện nay còn  
nhiều bất cập.  
3.2.2. Vấn đꢁ nguồn giꢂng và chất lượng  
giꢂng thủy sản  
Đối với sản xuất ngao giống: Thách thức đối  
với ngành sản xuất ngao giống tại địa phương  
hiện nay là hầu hết các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, sản  
xuất theo kinh nghiệm nên sản lượng không ổn  
định, chất lượng không đồng đều. Cơ sở hạ tầng  
sản xuất giống thủy sản do hộ dân tự bỏ vốn đầu  
tư xây dựng, chưa được sự quan tâm hỗ trợ của  
Nhà nước nên chưa đảm bảo tiêu chuẩn; dễ bị  
thiệt hại do ảnh hưởng bởi thời tiết và thiên tai.  
Ngoài ra, một số giống thủy sản chưa sản  
xuất được trong nước, phải nhập từ Trung Quốc  
2 http://baonamdinh.com.vn/channel/5085/202010/tich-cuc-chuyen-doi-co-cau-cay-trong-tren-dat-trong-lua-kem-hieu-qua-2540435/  
24  
Bùi Thị Vâ n Anh – Hiện trạng và giải phá p phá t triển nuô i trồng thủy sản…  
như: giống cá song, cá vược, diêu hồng... thời  
gian qua do ảnh hưởng của đại dịch Covid - 19  
đã bị gián đoạn, không nhập khẩu được, khiến  
cho mùa vụ nuôi thả của người dân bị chậm lại;  
việc sản xuất giống nhuyễn thể trong những  
tháng đầu năm gặp nhiều khó khăn trong việc  
nhập và lựa chọn đàn ngao, hàu bố mẹ đảm bảo  
chất lượng khiến cho chất lượng con giống sản  
xuất ra không đảm bảo để cung cấp cho người  
nuôi.  
thoát nước riêng biệt, đây cũng là một trong  
những yếu tố gây áp lực đối với môi trường.  
Theo nghiên cứu của Lê Thị Thanh Thủy và  
cộng sự (2017) “Hiện trạng chất lượng môi  
trường nước nuôi tôm vùng ven biển Nam Định  
và Quảng Ninh” cho thấy môi trường nước nuôi  
tôm tại hai tỉnh Quảng Ninh và Nam Định chủ  
yếu bị ô nhiễm hữu cơ, như: P, K, DO, NH4, TSS  
và Coliform. Đặc biệt trong nước thải sau nuôi,  
hàm lượng các chỉ tiêu trên đều cao. Theo kết  
quả nghiên cứu, hầu hết các vùng nuôi tôm  
không có quy hoạch hệ thống cấp, thoát nước  
riêng; nước cấp cho vùng nuôi trồng thủy sản  
đều dùng chung với hệ thống thủy lợi phục vụ  
cho sản xuất nông nghiệp. Mặt khác nước thải  
sau nuôi không được xử lý, thải chung vào hệ  
thống kênh mương trong vùng, làm cho chất  
lượng nước vùng nuôi tôm bị ô nhiễm, chủ yếu  
là ô nhiễm hữu cơ. Bên cạnh đó, sự liên kết giữa  
các hộ nuôi trong khu vực chưa chặt chẽ, đặc  
biệt là ý thức trách nhiệm trong xử lý dịch bệnh  
còn hạn chế dẫn đến tình trạng lây lan dịch bệnh  
đối với tôm nuôi [2].  
Đối với đối tượng nuôi chủ lực có giá trị kinh  
tế cao, nhu cầu lớn thứ hai là tôm thẻ chân trắng,  
tỉnh Nam Định chưa chủ động sản xuất giống tại  
chỗ... Nguồn giống tôm hiện nay chủ yếu lấy từ  
các tỉnh phía Nam, chất lượng con giống khó  
kiểm soát, chi phí và tỷ lệ hao hụt trong quá trình  
vận chuyển cao. Để khắc phục những khó khăn,  
hạn chế trong khâu sản xuất giống thủy sản, Sở  
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nam  
Định và các ngành hữu quan đang tiếp tục triển  
khai các chương trình hỗ trợ tạo điều kiện cho  
các cơ sở giống nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, tiếp  
nhận công nghệ mới để sản xuất đáp ứng nhu  
cầu nuôi thả, đặc biệt là các giống nuôi chủ lực.  
3.2.3. Vấn đꢁ xả thải trong nuôi trồng thủy  
sản và nguy cơ gây ô nhiễm môi trường  
Mặc dù, nghề nuôi tôm thâm canh mang lại  
nhiều lợi nhuận, góp phần giải quyết công ăn  
việc làm của các địa phương ven biển; song trên  
thực tế, việc thiếu quy hoạch và người dân  
không tuân thủ các quy định về mùa vụ, mật độ  
nuôi, phòng trị bệnh, xử lý nước thải hoặc vì  
mục tiêu lợi nhuận đều có xu hướng tận dụng tối  
đa diện tích để nuôi mà không dành diện tích  
làm ao lắng xử lý nước thải trước khi xả thải ra  
môi trường. Tăng sản lượng, mà không quan  
tâm đến xử lý chất thải... đã làm môi trường nuôi  
trồng thủy sản bị ô nhiễm nghiêm trọng. Việc  
người dân lạm dụng các loại thuốc hóa học làm  
sạch nước, chất kháng sinh để xử lý bệnh cho  
tôm không chỉ gây tác động xấu đến môi trường  
sản xuất mà còn làm ảnh hưởng đến môi trường  
sống xung quanh. Ngoài ra, tình trạng các hộ  
nuôi và cơ sở nuôi trồng thủy sản chưa có ý thức  
Hiện nay, các khu nuôi tôm công nghiệp, nuôi  
tôm thâm canh, bán thâm canh ở tỉnh Nam Định  
phát triển mạnh, đi liền với năng suất tăng, giá  
trị kinh tế lớn, nhưng luôn tiềm ẩn nguy cơ gây  
ô nhiễm môi trường nếu các doanh nghiệp và cơ  
sở nuôi không thực hiện đúng quy trình kiểm  
soát, xử lý chất thải. Rất nhiều cơ sở nuôi tôm  
trong tỉnh vì mục tiêu lợi nhuận đều có xu hướng  
tận dụng tối đa diện tích để nuôi, không dành đủ  
diện tích làm ao lắng để xử lý nước nuôi tôm  
trước khi xả ra môi trường.  
Thực tế cho thấy, dù nuôi tôm công nghiệp  
rất phát triển ở Nam Định nhưng hiện nay các  
khu nuôi tôm tập trung chưa có hệ thống cấp  
25  
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 1(32) – Thá ng 3/2021  
trong việc cải tạo ao nuôi, quy trình xử lý nước  
giảm. Bên cạnh đó, chính sách biên mậu của  
Trung Quốc không nhập mặt hàng thủy sản theo  
đường tiểu ngạch, chỉ nhập chính ngạch cùng  
với việc EC đặt thẻ vàng khiến các doanh nghiệp  
xuất khẩu thủy sản sang châu Âu tốn thêm nhiều  
lệ phí, thời gian do hàng hóa bị giữ lại kiểm tra.  
Để hỗ trợ các doanh nghiệp thủy sản vượt  
khó, các ngành, các địa phương trong tỉnh đã tập  
trung tạo điều kiện để các doanh nghiệp đẩy  
mạnh tiêu dùng nội địa. Đáng kể nhất là việc các  
ngành chức năng đã phối hợp hỗ trợ các doanh  
nghiệp thủy sản thông qua Hiệp hội nông sản  
sạch tỉnh thành lập Trung tâm Giới thiệu sản  
phẩm thủy hải sản tươi sống tại thành phố Nam  
Định để tăng cường quảng bá và tiêu thụ sản  
phẩm ở thị trường nội địa. Tiếp tục hỗ trợ các  
doanh nghiệp thủy sản duy trì xuất khẩu sản  
phẩm sang thị trường Trung Quốc. Trong đó,  
khuyến khích doanh nghiệp thủy sản nâng cao  
chất lượng sản phẩm, cấp mã số vùng trồng,  
kiểm dịch và dần chuyển đổi hình thức xuất  
khẩu từ tiểu ngạch sang xuất khẩu chính ngạch,  
tránh các rủi ro về kinh tế.  
thải, bùn thải trong nuôi tôm công nghiệp. Thực  
tế, bùn thải trong quá trình nuôi trồng thủy sản  
(nuôi tôm công nghiệp, nuôi tôm thâm canh,  
nuôi cá tra công nghiệp...) chứa các nguồn thức  
ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các loại hóa chất  
và thuốc kháng sinh, các loại khoáng chất  
Diatomit, Dolomit, lưu huỳnh đọng, các chất  
độc hại có trong đất phèn vừa gây nguy cơ lây  
lan dịch bệnh cho các hộ khác lấy phải nguồn  
nước ô nhiễm vào ao nuôi, vừa có thể gây ô  
nhiễm trực tiếp cho nguồn nước ngầm, nước mặt  
và gián tiếp ảnh hưởng đến môi trường sống cho  
người dân khu vực xung quanh.  
3.2.4. Vấn đꢁ đầu ra cho nuôi trồng thủy sản  
Thực tế hiện nay cho thấy, hệ thống hậu cần  
dịch vụ của Nam Định còn nhỏ lẻ và chưa thực  
sự đáp ứng được nhu cầu thu mua, bảo quản, chế  
biến nên làm giảm giá trị sản phẩm thủy sản.  
Chế biến, xuất khẩu thủy sản còn hạn chế, chủ  
yếu là tiêu thụ nội địa, chưa tạo ra chuỗi sản  
phẩm có giá trị xuất khẩu.  
Do ảnh hưởng của đại dịch Covid -19, giá các  
loại thủy sản tươi tiêu thụ ở thị trường trong  
nước bị sụt giảm mạnh, gây nhiều khó khăn cho  
người dân. Đối với xuất khẩu thủy sản, theo số  
liệu thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn tỉnh Nam Định, năm 2019, các doanh  
nghiệp xuất khẩu thủy sản đã xuất khẩu tiểu  
ngạch sang Trung Quốc khoảng 3.000 tấn cá  
bống bớp, 40 nghìn tấn thủy sản khai thác, 200  
tấn tép moi; xuất khẩu sang châu Âu, Nhật Bản,  
Hàn Quốc khoảng 6.000 tấn ngao. Tuy nhiên, từ  
đầu năm 2020 đến nay, hầu hết sản phẩm thủy  
sản của các doanh nghiệp xuất khẩu phải lưu  
kho. Tại thị trường trong nước, chính sách giãn  
cách xã hội khiến các doanh nghiệp chế biến  
thủy sản vừa gặp khó về nguồn nguyên liệu dẫn  
đến bị đội giá sản xuất, vừa bị giảm sản lượng  
hàng hóa tiêu thụ do nhu cầu tiêu dùng nội địa  
3.3. Một số giải pháp để phát triển nuôi  
trồng thủy sản ở Nam Định theo hướng bền  
vững  
Trên cơ sở các kết quả phân tích về thực trạng  
nuôi trồng thủy sản của tỉnh Nam Định, bài viết  
đề xuất một số giải pháp phát triển nuôi trổng  
thủy sản theo hướng bền vững, đảm bảo sự hài  
hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội và môi trường.  
- Thứ nhất, hoàn thiện chính sách pháp luật  
về quản lý nhà nước trong lĩnh vực nuôi trồng  
thủy sản, từng bước đưa các cơ sở nuôi trồng  
thủy sản tuân thủ các quy định pháp luật về điều  
kiện sản xuất, bảo đảm chất lượng và vệ sinh an  
toàn thực phẩm, phù hợp với tiêu chuẩn của thị  
trường quốc tế. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống  
kiểm soát chất lượng các vật tư trong nuôi trồng  
thủy sản (giống, thức ăn…); đồng thời, đẩy  
26  
Bùi Thị Vâ n Anh – Hiện trạng và giải phá p phá t triển nuô i trồng thủy sản…  
nhanh quá trình xã hội hóa việc kiểm tra chất  
lượng và khảo nghiệm các vật tư dùng trong  
nuôi trồng thủy sản.  
Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám  
sát các hoạt động bảo vệ môi trường của các  
doanh nghiệp, cần kiên quyết xử lý triệt để  
những hành vi vi phạm các quy định của Luật  
bảo vệ môi trường.  
- Thứ hai, tăng cường công tác tuyên truyền  
nâng cao nhận thức cho người dân về bảo vệ môi  
trường và các phương thức bảo vệ môi trường,  
bởi chính họ là những người đã, đang và sẽ tác  
động trực tiếp đến môi trường, gây ảnh hưởng  
đến chính hoạt động nuôi trồng của họ. Cần gắn  
trách nhiệm của hộ nuôi trồng thuỷ sản, người  
dân, chủ trang trại, doanh nghiệp vào quản lý  
môi trường.  
- Thứ tư, chú trọng nâng cao trình độ kỹ thuật  
cho người nuôi trồng thuỷ sản, đồng thời thường  
xuyên mở các lớp đào tạo ngắn hạn, phục vụ cho  
nhu cầu học tập của dân cư, giúp họ tiếp thu  
những tiến bộ khoa học và công nghệ đang thay  
đổi từng ngày để có thể ứng dụng vào hoạt động  
nuôi trồng thuỷ sản của mình.  
- Thứ ba, tăng cường quản lý Nhà nước về  
bảo vệ môi trường của chính quyền các cấp; các  
cơ quan có liên quan trong việc thực thi Luật bảo  
vệ môi trường, đối với các cơ sở nuôi trồng và  
chế biến thủy hải sản. Đặc biệt, nâng cao năng  
lực thẩm định, báo cáo đánh giá tác động môi  
trường của các dự án đầu tư, cũng như tuân thủ  
nghiêm ngặt quy trình lập và thẩm định đánh giá  
tác động môi trường theo quy định của pháp  
luật. Tăng cường sự quản lý Nhà nước về chất  
lượng sản phẩm hàng hoá, vệ sinh an toàn thực  
phẩm, xây dựng và bảo vệ bản quyền, bảo vệ  
thương hiệu hàng hoá.  
- Thứ năm, đầu tư cơ sở hạ tầng, tiến bộ khoa  
học kỹ thuật phục vụ nuôi trồng thủy sản. Tăng  
cường đầu tư cho khoa học kỹ thuật, nghiên cứu  
phát triển sản xuất giống nhuyễn thể đảm bảo  
chất lượng, từng bước chủ động đáp ứng nhu cầu  
về giống nuôi tại địa phương cho người dân, tạo  
thế chủ động trong sản xuất.  
- Thứ sáu, đẩy mạnh xúc tiến thương mại đối  
với các mặt hàng thủy sản ở địa phương đến  
được các thị trường lớn. Hỗ trợ, kết nối để các  
hiệp hội và doanh nghiệp làm chủ thể trực tiếp  
thực hiện các hoạt động chung về xúc tiến  
thương mại, phát triển thị trường tiêu thụ thủy  
sản đối với các sản phẩm thủy sản thế mạnh.  
Xây dựng mạng lưới phân phối, trực tiếp ký kết  
hợp đồng với các tổ chức cung ứng thực phẩm,  
các trung tâm phân phối, siêu thị của các thị  
trường lớn. Thúc đẩy hình thành kênh phân phối  
hàng thủy sản nội địa từ người sản xuất, doanh  
nghiệp đến các chợ, các siêu thị thông qua hệ  
thống các chợ đầu mối, các trung tâm nghề cá  
lớn. Bên cạnh đó, củng cố khung pháp lý cho các  
doanh nghiệp xuất khẩu, chế biến thủy sản, đặc  
biệt là có cơ chế khuyến khích hình thành các cơ  
sở chế biến thủy sản đáp ứng tiêu chuẩn quốc  
gia, khu vực và toàn cầu là một yêu cầu đặt ra,  
trong đó trước tiên là về quỹ đất, về quy hoạch  
các cụm công nghiệp tập trung, về cơ chế vốn  
Bên cạnh đó, công tác quy hoạch phát triển  
nuôi trồng thủy sản cần dựa trên cơ sở phân  
vùng sinh thái, phát triển hạ tầng kỹ thuật cấp  
thoát nước và xử lý chất thải đối với ngành nuôi  
trồng thủy sản công nghiệp, thâm canh... để đáp  
ứng yêu cầu về nguồn lực, cơ sở hạ tầng góp  
phần vệ sinh môi trường, ngăn ngừa bệnh dịch  
và các quy chuẩn môi trường đã quy định. Đồng  
thời, các chủ đầu tư canh tác nuôi trồng và chế  
biến thủy sản phải tập trung đầu tư và vận hành  
các hệ thống thu gom tập trung, phân loại hợp lý  
chất thải rắn công nghiệp và sinh hoạt; quản lý  
lưu giữ và chuyển giao chất thải rắn nguy hại  
theo đúng quy định, cũng như phải có hệ thống  
xử lý nước thải tập trung, hệ thống xử lý khí thải  
đạt tiêu chuẩn về môi trường.  
27  
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 1(32) – Thá ng 3/2021  
vay, tiếp cận thiết bị, công nghệ mới... Cùng với  
Hiện trạng nghề nuôi trồng thủy sản ở tỉnh  
Nam Định còn mang tính tự phát, thiếu tính bền  
vững với giá trị sản lượng nuôi trồng tăng nhanh  
nhưng chưa quản lý tốt quy hoạch diện tích nuôi  
trồng thủy sản, sản xuất con giống thủy sản chưa  
theo kịp yêu cầu phát triển, việc xả thải trong  
nuôi trồng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường,  
vấn đề tiêu thụ sản phẩm cũng gặp khó khăn  
trong bối cảnh dịch bệnh Covid - 19.  
đó, nhu cầu về một trung tâm giao dịch nông,  
lâm, thủy sản đầu mối của tỉnh là rất cần thiết.  
Giải quyết đầu ra cho sản phẩm thủy sản  
mang yếu tố quyết định đến sự thành bại của  
mục tiêu đặt ra. Tuy nhiên, để giải bài toán khó  
này, đòi hỏi cần phải có các giải pháp đồng bộ  
tại tất cả các khâu trong chuỗi từ khai thác, thu  
mua, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm.  
Trong thời gian tới để phát triển nghề nuôi  
trồng thủy sản tại tỉnh Nam Định theo hướng bền  
vững cần thực hiện đồng bộ các giải pháp để tạo  
điều kiện cho nuôi trồng thủy sản trở thành một  
ngành kinh tế mạnh của tỉnh, góp phần nâng cao  
thu nhập, bảo vệ sức khỏe cho người lao động tại  
các doanh nghiệp nuôi trồng và chế biến thủy sản  
và bảo vệ sức khỏe người dân.  
4. Kết luận  
Trong những năm qua, nuôi trồng thủy sản  
tỉnh Nam Định đã đạt được những thành tựu và  
có những bước phát triển nhất định trên nhiều  
lĩnh vực. Nuôi trồng thủy sản của huyện đã đạt  
được nhiều kết quả tốt với sản lượng thủy sản  
tăng mạnh.  
Bài viết là một phần kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Bộ: Thái độ của người dân vùng ven biển  
Bắc Bộ đối với khai thác tài nguyên thiên nhiên ven biển hiện nay; Văn phòng Viện Hàn lâm Khoa  
học Xã hội Việt Nam là đơn vị chủ trì; TS. Bùi Thị Vân Anh làm chủ nhiệm.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Sở Nô ng nghiệp và Phá t triển nô ng thô n tỉnh Nam Định (2020), Bá o cá o kết quả thực hiện nhiệm vụ sản xuất thủy  
sản năm 2020; triển khai nhiệm vụ sản xuất năm 2021.  
2. Lê Thị Thanh Thủy, Nguyễn Hồng Sơn, Đỗ Phương Chi, Trần Quốc Việt, Bùi Thị Lan Hương, Đỗ Thị Thu Hà (2017)  
Hiện trạng chất lượng môi trường nước nuôi tôm vùng ven biển Nam Định và Quảng Ninh, Tạp chí Khoa học Công  
nghệ Nông nghiệp Việt Nam, số 2 (75) 2017.  
3. Bùi Đắc Thuyết, Trần Văn Dũng (2013), Hiện trạng nghề nuô i ngao ở một số tỉnh ven biển miền Bắc và Bắc Trung  
Bộ, Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Phá t triển, tập 11 số 7 năm 2013.  
Thô ng tin tá c giả:  
Nhật ký tò a soạn  
Bùi Thị Vâ n Anh – Viện Địa lí nhân văn  
Địa chỉ: Số 1 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội  
Ngày nhận bài: 4/01/2020  
Biên tập: 3/2021  
Email: [email protected] - Điện thoại: 0983351115  
28  
pdf 9 trang yennguyen 10520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hiện trạng và giải pháp phát triển nuôi trồng thủy sản tỉnh Nam Định theo hướng bền vững", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhien_trang_va_giai_phap_phat_trien_nuoi_trong_thuy_san_tinh.pdf