Tối ưu hóa điều kiện trích ly flavonoids từ lá diếp cá

Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
51  
Optimization of extraction conditions of flavonoids from Houttuynia cordata Thumb  
leaves  
Phung M. Phan, Phuc T. D. Nguyen, Phuc H. Nguyen, Vo T. T. Vo, & Anh T. Vu∗  
Faculty of Chemical Engineering and Food Technology, Nong Lam University, Ho Chi Minh City, Vietnam  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
Research Paper  
This study was conducted to investigate the application of cellulase  
enzyme in the extraction of flavonoids from Houttuynia cordata  
Received: February 26, 2021  
Revised: April 01, 2021  
Accepted: April 08, 2021  
Thumb leaves and optimize the extraction conditions. Independent  
variables, including enzyme concentration (25 - 100 g/mL), temper-  
ature (30 - 50oC), time (30 - 120 min) and ratio of raw materials to  
enzyme (1:15 - 1:30 g/mL), were investigated. Extraction conditions  
of flavonoids were designed according to Central Composite Design  
- Uniform Precision (CCD), a response surface methodology using a  
software JMP Pro version 13. The results indicated that the optimal  
extraction conditions were found to be enzyme concentration (78.0  
g/mL), temperature (41oC), time (90 min), and the ratio of  
material to the enzyme (1:26 g/mL). Under such conditions, the  
Keywords  
Cellulase  
Flavonoids  
Houttuynia cordata Thumb  
Response surface methodology  
highest content of flavonoids (24.04  
0.05 mg/g, dry matter) was  
obtained and validated. It can be concluded that the flavonoids can  
be optimally extracted under the optimal extraction conditions with  
assistance of cellulase.  
∗Corresponding author  
Vu Thuy Anh  
Email: vuthuyanh@hcmuaf.edu.vn  
Cited as: Phan, P. M., Nguyen, P. T. D., Nguyen, P. H., Vo, V. T. T., & Vu, A. T. (2021).  
Optimization of extraction conditions of flavonoids from Houttuynia cordata Thumb leaves. The  
Journal of Agriculture and Development 20(2), 51-61.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
 
52  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Tối ưu hoá điều kiện trích ly flavonoids từ lá diếp cá  
Phan Minh Phụng, Nguyễn Thị Diễm Phúc, Nguyễn Hữu Phúc,  
Võ Thị Tường Vi & Vũ Thùy Anh∗  
Khoa Công Nghệ Hóa Học và Thực Phẩm, Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh  
TÓM TẮT  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm sử dụng enzyme cellulase trong  
quá trình trích ly flavonoids từ lá diếp cá (Houttuynia cordata  
Thumb) và tối ưu hóa các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất trích ly.  
Các thông số được khảo sát bao gồm: nồng độ enzyme (25 - 100  
g/mL), nhiệt độ (30 - 50oC), thời gian (30 - 120 phút) và tỉ lệ giữa  
nguyên liệu: enzyme (1:15 - 1:30 g/mL). Điều kiện trích ly flavonoids  
được tối ưu điều với thiết kế kiểu CCD (Central Composite Design)  
bằng phương pháp bề mặt đáp ứng, sử dụng phần mềm JMP Pro  
13. Kết quả nghiên cứu đã xác định được điều kiện tối ưu trích ly  
flavonoids từ lá diếp cá, bao gồm nồng độ enzyme (78,0 g/mL),  
nhiệt độ (41oC), thời gian (90 phút) và tỉ lệ nguyên liệu: enzyme  
(1:26 g/mL). Với điều kiện trích ly tối ưu này, hàm lượng flavonoid  
đạt được là 24,04 0,05 mg/g, vật chất khô.  
Bài báo khoa học  
Ngày nhận: 26/02/2021  
Ngày chỉnh sửa: 01/04/2021  
Ngày chấp nhận: 08/04/2021  
Từ khóa  
Diếp cá  
Enzyme cellulase  
Flavonoid  
Phương pháp bề mặt đáp ứng  
∗Tác giả liên hệ  
Vũ Thùy Anh  
Email: vuthuyanh@hcmuaf.edu.vn  
1. Đặt Vấn Đề  
được sử dụng trong khẩu phần ăn hằng ngày và  
rất rẻ tiền. Đã có nhiều nghiên cứu về trích ly  
Diếp cá (Houttuynia cordata Thumb) là một các hợp chất sinh học từ các loại thực vật như  
loại cây thảo mộc, có mùi tanh của cá được trồng flavonoids (Meng & ctv., 2006), polyphenols (Li  
rất phổ biến ở Việt Nam và một số nước Châu & ctv., 2014), alkaloids (Wang & ctv., 2008), và  
essential oil (Djihane & ctv., 2017). Vì thế, trích  
ly các hợp chất sinh học từ cây diếp cá là rất cần  
thiết và hữu ích cho việc sử dụng vào nhiều sản  
phẩm thực phẩm chức năng và dược phẩm.  
Á. Hiện nay, diếp cá được trồng làm rau gia vị  
hoặc dùng làm vị thuốc quý cho nhiều bài thuốc  
dân gian chữa bệnh. Chiết xuất từ diếp cá đã  
được chứng minh có tác dụng chống lại các bệnh  
bao gồm ung thư, tiểu đường, các bệnh ngoài da  
và hội chứng hô hấp cấp tính nặng (Miyata &  
ctv., 2010; Du & ctv., 2012; Kumar & ctv., 2014).  
Ngoài ra, các chiết xuất từ diếp cá cũng có khả  
năng kháng khuẩn và kháng vi rút như sốt xuất  
huyết (Sekita & ctv., 2016; Li & ctv., 2017; Verma  
& ctv., 2017). Theo các kết quả nghiên cứu sơ bộ  
được công bố gần đây, trong 100 g rau diếp cá có  
chứa nước (91,5%), protid (2,9%), glucid (2,7%),  
lipid (0,5%), cellulose (1,8%), calci (0,3 mg), kali  
(0,1 mg), tiền vitamin A (1,26 mg), và vitamin C  
(68 mg). Hơn nữa, diếp cá là loại rau rất thường  
Tuy nhiên, để thu nhận và ứng dụng các chất có  
hoạt tính sinh học, đặc biệt là flavonoids từ diếp  
cá, một vấn đề đặt ra đó là làm sao để tăng cao  
hiệu suất trích ly và thiết lập được điều kiện trích  
ly tối ưu. Trong số những phương pháp thì trích ly  
với sự phối hợp của enzyme đã đem lại nhiều hiệu  
quả cũng như thân thiện với môi trường (Vergara-  
Barberán, 2015). Phương pháp bề mặt đáp ứng  
(RSM, Response Surface Methodology) với sự hỗ  
trợ của các phần mềm xử lý số liệu đã trở thành  
một công cụ hữu ích giúp thực hiện nghiên cứu  
các quá trình tối ưu hóa đa nhân tố, nhằm tiết  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
53  
kiệm thời gian và chi phí (Myers & Montgomery, 2.2.2. Thí nghiệm tối ưu hóa điều kiện trích ly  
2002).  
Phương pháp bề mặt đáp ứng được lựa chọn để  
tối ưu hóa điều kiện trích ly flavonoids từ lá diếp  
cá dưới sự hỗ trợ của enzyme cellulase. Ba thông  
số quan trọng của quá trình trích ly được nghiên  
cứu bao gồm: Nồng độ (X1), nhiệt độ (X1) và tỉ lệ  
dung môi/nguyên liệu (X1). Thí nghiệm được bố  
trí theo kiểu CCD-Uniform Precision và ma trận  
thí nghiệm được xây dựng bằng phần mềm JMP  
13 Pro. Trong các nghiên cứu thăm dò, chúng tôi  
đã xác định được giá trị biên của các nhân tố  
trích ly như trình bày trong Bảng 1. Trong số 20  
thí nghiệm được tiến hành có 6 thí nghiệm ở tâm.  
Mô hình toán học mô tả ảnh hưởng của các biến  
độc lập đối với biến phụ thuộc có dạng hàm đa  
thức bậc hai có dạng tổng quát như sau:  
Vì thế, nghiên cứu này được thực hiện nhằm  
tối ưu hoá điều kiện trích ly flavonoids từ là diếp  
cá với sự hỗ trợ của enzyme bằng phương pháp  
bề mặt đáp ứng.  
2. Vật Liệu và Phương Pháp Nghiên Cứu  
2.1. Vật liệu  
2.1.1. Lá diếp cá  
Nguyên liệu lá diếp cá, được mua ở chợ Đầu  
mối Thủ Đức, Thành phố Thủ Đức, TP.HCM.  
Nguyên liệu sau khi thu mua được vận chuyển  
nhanh về phòng thí nghiệm (không quá 1 giờ) để  
tiến hành các xử lý tiếp theo. Lá diếp cá được rửa  
sạch, làm khô ở nhiệt độ phòng. Sau đó, các mẫu  
được sấy khô ở nhiệt độ 40oC đến khi độ ẩm đạt  
được 5 - 6%, nghiền mịn và bảo quản trong bao  
kín được hút chân không.  
Yi = a0 + a1X1 + a2X2 + a3X3 + a11X21 +  
a22X22 + a33X32 + a12X1X2 + a13X1X3 + a23X2X3  
Trong đó: Yi đại diện cho biến phụ thuộc, là  
hàm lượng flavonoids tổng, a0 là hằng số, ai, aii,  
aij lần lượt là các hệ số bậc 1, bậc 2 và sự tương  
tác. Xi, Xj là mức độ của các biến độc lập.  
2.1.2. Hóa chất  
Bảng 1. Ma trận bố trí thí nghiệm mã hóa các  
biến độc lập  
Các hoá chất sử dụng trong phân tích bao gồm  
ethanol 96% (Trung Quốc), chất chuẩn Quercetin  
Mã hoá  
Yếu tố  
(Ấn Độ); enzyme cellulase (Ấn Độ); CH3COOK  
(Trung Quốc); và AlCl3 (Trung Quốc).  
-1  
0
+1  
Nồng độ  
(X1, g/mL)  
Nhiệt độ  
50 75 100  
30 40 50  
20 25 30  
2.2. Bố trí thí nghiệm  
o
(X2, C)  
Tỉ lệ dung môi/nguyên liệu  
2.2.1. Ảnh hưởng của enzyme đến hàm lượng  
flavonoids  
(X3, v/w)  
Đối với mẫu ngâm và xử lý enzyme: Cân 3 g bột  
diếp cá cho vào Beaker 250 mL, sau đó cho dung  
dịch enzyme cellulase vào bột diếp cá với nồng độ  
100 g/mL theo tỉ lệ 1/20 (w/v) trong 60 phút  
ở nhiệt độ 40oC. Sau đó, tiến hành lọc qua giấy  
lọc Whatman và tiến hành xác định hàm lượng  
flavonoids tổng (TFC) của mẫu trích ly trong pha  
nước. Tiếp đến, phần bã được trích ly tiếp bằng  
dung môi ethanol 70% với tỉ lệ 1/30 (w/v) trong  
3 giờ ở nhiệt độ 60oC. Tiến hành lọc và xác định  
TFC của mẫu trích ly trong pha cồn. Hàm lượng  
TFC tổng là tổng hàm lượng của dịch trích ly  
trong nước và trong ethanol.  
2.3. Phương pháp phân tích  
2.3.1. Xây dựng đường chuẩn Quercetin  
Pha dung dịch quercetin 100 g/mL trong cồn  
80%. Từ dung dịch chuẩn quercetin 100 g/mL  
tiếp tục pha ra các dung dịch có nồng độ lần lượt  
là 75, 50, 35, 25, 12,5 g/mL. Ứng với mỗi nồng  
độ dung dịch pha loãng hút 0,5 mL cho vào ống  
nghiệm sau đó thêm vào 1,5 mL ethanol 95%, 0,1  
mL AlCl3 10%, 0,1 mL CH3COOK 1 M và 2,8  
mL nước cất. Lắc đều để yên ở nhiệt độ phòng  
30 phút. Đo màu ở bước sóng 415 nm, mẫu trắng  
thực hiện tương tự nhưng thay AlCl3 bằng nước  
cất.  
Đối với mẫu không xử lý enzyme: cân 3 g bột  
diếp cá cho vào Beaker 250 mL, sau đó cho dung  
môi ethanol 70% vào để trích ly trong thời gian  
3 giờ ở nhiệt độ 60oC. Tiến hành lọc và xác định  
TFC.  
Từ kết quả ở Hình 1 cho thấy trong khoảng  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
 
54  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
nồng độ khảo sát, độ hấp thu tăng tuyến tính Virginia, USA). Phân tích phương sai (ANOVA)  
theo giá trị của hàm lượng flavonoids ở bước sóng và chênh lệch ít có ý nghĩa nhất (LSD) được thực  
cực đại 415 nm. Từ đó phương trình đường chuẩn hiện so sánh giá trị trung bình ở mức 0,05. Số  
flavonoids được xây dựng là y = 0,0597x - 0,0146, liệu tối ưu được thiết kế và phân tích bằng phần  
với hệ số tương quan R2 = 0,9994.  
mềm JMP Pro version 13.  
3. Kết Quả và Thảo Luận  
3.1. Ảnh hưởng của enzyme đến hàm lượng  
flavonoids  
Kết quả thí nghiệm ảnh hưởng của enzyme cel-  
lulase đến hàm lượng TFC được thể hiện ở Hình  
2. Kết quả xử lý thống kê cho thấy mẫu bột diếp  
cá khi trích ly flavonoid có sử dụng enzyme cel-  
lulase tăng đáng kể so với mẫu không có sự hỗ  
trợ của enzyme (P < 0,05). Cụ thể, hàm lượng  
TFC đạt được khoảng 10,68 (mg/g, vck) đối với  
mẫu có sự hỗ trợ của enzyme cellulase, trong  
khi hàm lượng này của mẫu không có sự hỗ trợ  
của enzyme (mẫu đối chứng) chỉ đạt khoảng 65%  
(6,98 mg/g, vck). Hay nói cách khác, hàm lượng  
flavonoid trong mẫu có xử lý enzyme cao gấp 1,53  
lần so mẫu trích ly không sử dụng enzyme. Như  
vậy, sử dụng enzyme đã hỗ trợ tích cực đến đến  
hiệu suất trích ly flavonoids từ lá diếp cá, và được  
sử dụng cho các nghiên cứu tiếp theo.  
Hình 1. Đường chuẩn flavonoids tính theo tương  
đương quercetin.  
2.3.2. Xác định hàm lượng flavonoid tổng (TFC)  
Theo Chang & ctv. (2001) flavonoids tổng  
được xác định theo phương pháp quang phổ theo  
nguyên tắc: Flavonoids tạo phức màu vàng với  
dung dịch AlCl3. Cường độ màu tỉ lệ thuận với  
hàm lượng flavonoids được xác định ở bước sóng  
415 nm. Quercetin được dùng làm chất chuẩn  
tham chiếu. Lấy 0,5 mL dịch chiết rau diếp đã  
được pha loãng thích hợp cho vào ống nghiệm sau  
đó thêm vào 1,5 mL ethanol 95%, 0,1 mL AlCl3  
10%, 0,1 mL CH3COOK 1M và 2,8 mL nước cất.  
Lắc đều để yên ở nhiệt độ phòng 30 phút. Đo màu  
ở bước sóng 415 nm. TFC trong mẫu được tính  
như sau:  
a × V × n  
TFC =  
× 10−3 (mg/g, vck)  
m
Trong đó:  
a: hàm lượng flavonoid xác định từ đường  
chuẩn ( g/mL)  
Hình 2. Ảnh hưởng của enzyme hàm lượng  
flavonoids thu được trong dịch trích ly. TFC: Hàm  
lượng flavonoid tổng.  
V: tổng thể tích dịch chiết (mL)  
n: hệ số pha loãng  
m: khối lượng mẫu (g)  
3.2. Ảnh hưởng của thời gian xử lý enzyme  
2.4. Xử lí số liệu  
Dựa vào kết quả xứ lý thống kê và Hình 3 cho  
thấy ảnh hưởng của thời gian xử lý enzyme đến  
hàm lượng TFC tổng có ý nghĩa về mặt thống  
kê (P < 0,05). Khi tăng thời gian xử lý enzyme  
Các thí nghiệm được lặp lại 3 lần. Kết quả trình  
bày là giá trị trung bình  
độ lệch chuẩn. Dữ  
liệu được kiểm tra bằng phần mềm Statgraphics  
Centurion XVI (Statgraphics Technologies, Inc.,  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
   
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
55  
từ 30 phút đến 90 phút thì hàm lượng TFC tổng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xúc tác chuyển  
tăng từ 20,39 (mg/g, vck) đến 22,32 (mg/g, vck). hóa cơ chất của enzyme; nếu nhiệt độ không đủ  
Cụ thể, hàm lượng TFC tổng cao nhất là 22,32 cao, trung tâm hoạt động của enzyme sẽ không  
(mg/g, vck) khi thời gian thuỷ phân 90 phút và thể hoạt động được tốt nhất và khả năng phân  
thấp nhất là 20,39 (mg/g, vck) trong 30 phút. cắt mạch cellulose không đạt hiệu quả cao. Ngoài  
Tuy nhiên, khi tăng thời gian lên đến 120 phút ra, nếu nhiệt độ cao sẽ phá hủy cấu trúc bậc 4 của  
thì hiệu suất thu hồi TFC tổng có khuynh hướng enzyme gây bất hoạt và làm mất hoạt tính xúc tác  
giảm. Vì sau khi xử lý enzyme đòi hỏi phải cần của enzyme. Do enzyme có một khoảng nhiệt độ  
một khoảng thời gian nhất định để enzyme tiến hoạt động tối ưu nhất định, thông thường ở nhiệt  
hành phân cắt cellulose ở thành tế bào thực vật, độ quá thấp (dưới 30oC), hoạt lực của enzyme  
tạo điều kiện cho dung môi dễ dàng khuếch tán là thấp. Vì vậy, trong các thí nghiệm tối ưu tiếp  
và hòa tan các chất, sau đó khuếch tán ra bên theo khoảng nhiệt độ thích hợp cho hoạt động của  
ngoài góp phần làm tăng hiệu suất trích ly, sau đó enzyme được lựa chọn là 30 đến 50oC để đánh giá  
thì hàm lượng TFC tổng không tăng nữa. Đồng sự tương tác với các yếu tố khác.  
thời, thời gian kéo dài sẽ hòa tan các chất không  
mong muốn làm ảnh hưởng đến quá trình trích ly  
(Hahn & ctv., 2012; Hoang & Le, 2020). Do vậy,  
3.5. Ảnh hưởng của tỉ lệ nguyên liệu và dung  
môi  
thời gian thuỷ phân thích hợp là 90 phút và được  
cố định cho các thí nghiệm tiếp theo.  
Kết quả Hình 6 cho thấy tỉ lệ nguyên liệu  
và dung môi có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê  
đến hàm lượng TFC tổng trong dịch trích ly (P  
< 0,05). Khi tăng tỉ lệ tăng từ 1:15 đến 1:30  
(w/v) thì hàm lượng TFC tăng từ 20,67 đến 23,71  
(mg/g, vck). Tỉ lệ nguyên liệu và dung môi tăng  
thì hàm lượng TFC tổng tăng, nhưng từ tỉ lệ 1:25  
trở đi thì hàm lượng TFC tăng không đáng kể (P  
> 0,05) và có khuynh hướng tiệm cận ngang. Bởi  
vì, khi tỉ lệ thể tích dung dịch enzyme cellulase  
tăng thì diện tích bề mặt tiếp xúc giữa enzyme  
và cơ chất càng lớn, khi tỉ lệ quá thấp thì en-  
zyme không đủ tiếp xúc và tương tác với cơ chất  
làm giảm khả năng phân cắt mạch cellulase giảm  
(Truong & ctv., 2015). Khi tỉ lệ thể tích quá cao,  
thì cơ chất và enzyme bị pha loãng, làm giảm khả  
năng thuỷ phân của enzyme, dẫn đến TFC thu  
được thấp. Từ kết quả này, tỉ lệ enzyme thích hợp  
cho thí nghiệm tối ưu hoá tiếp theo là 1:20 đến  
1:30 (w/v).  
3.3. Ảnh hưởng của nồng độ xử lý  
Hình 4 trình bày sự thay đổi của hàm lượng  
TFC tổng khi thay đổi nồng độ enzyme xử lý,  
từ nồng độ 25 đến 100 g/mL. Kết quả cho  
thấy nồng độ enzyme ảnh hưởng đến hàm lượng  
flavonoids tổng và có ý nghĩa về mặt thống kê  
(P < 0,05). Khi tăng nồng độ enzyme cellulase  
từ 25 đến 75 g/mL thì hàm lượng TFC tổng  
tăng từ 19,38 đến 21,25 (mg/g, vck), nhưng khi  
tăng nồng enzyme đến 100 g/mL thì hàm lượng  
TFC tăng không đáng kể. Hay nói cách khác, khi  
tăng nồng độ enzyme thì hàm lượng TFC tăng,  
tuy nhiên khi tăng nồng độ enzyme đến một mức  
nhất định thì hàm lượng TFC không tăng nữa và  
có khuynh hướng tiệm cận ngang. Nguyên nhân  
là do cơ chất trong mẫu nên hiệu suất phân cắt  
giảm, dẫn đến hiệu suất trích ly tăng không đáng  
kể (Puri & ctv., 2012). Vì thế, khoảng nồng độ  
enzyme thích hợp cho trích ly flavonoids tổng từ  
lá diếp cá là từ 50 đến 100 g/mL và được tiến  
hành tối ưu cho thí nghiệm tiếp theo.  
3.6. Tối ưu hóa các điều kiện trích ly  
Từ các thí nghiệm đơn ở phía trên, các điều  
kiện trích ly với sự hỗ trợ enzyme cellulase, bao  
gồm nồng độ, nhiệt độ và tỉ lệ nguyên liệu: dung  
môi, được chọn cho nghiên cứu tối ưu điều kiện  
trích ly sao cho hàm lượng TFC thu được là cao  
nhất. Các khoảng thích hợp của các yếu tố này  
được trình bày ở Bảng 1. Thí nghiệm tối ưu được  
thiết kế theo kiểu CCD bằng phương pháp RSM  
và kết quả hàm lượng TFC trong dịch trích ly  
khi thực hiện các thí nghiệm tối ưu được trình  
bày qua Bảng 2. Kết quả phân tích phương sai  
(ANOVA) đã xác định được mô hình đa thức bậc  
3.4. Ảnh hưởng của nhiệt độ xử lý  
Dựa vào kết quả Hình 5 cho thấy ảnh hưởng  
của nhiệt độ đến hàm lượng TFC toàn phần thu  
được là có ý nghĩa (P < 0,05). Khi tăng nhiệt độ  
từ 30oC đến 40oC, hàm lượng TFC tăng từ 20,71  
đến 21,54 (mg/g, vck), khi tăng nhiệt độ tới 50oC  
thì hàm lượng TFC tăng không đáng kể (P >  
0,05). Nguyên nhân là vì enzyme là một phân tử  
sinh học có bản chất là protein, do đó nhiệt độ có  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
56  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Hình 3. Ảnh hưởng của thời gian đến hàm lượng flavonoid tổng (TFC) toàn phần.  
Các giá trị trung bình có ký tự khác nhau thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức độ tin cậy 95%.  
Hình 4. Ảnh hưởng của nồng độ enzyme Cellulase đến hàm lượng flavonoid tổng (TFC) toàn phần.  
Các giá trị trung bình có ký tự khác nhau thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức độ tin cậy 95%.  
2 có thể sử dụng để mô tả các số liệu thực nghiệm lý ANOVA cho thấy mô hình hồi quy bậc 2 có  
với hệ số R2 cao (0,96). Các giá trị dự đoán tương ý nghĩa thống kê (P < 0,001). Do đó, có thể kết  
đối phù hợp với các giá trị thực nghiệm thu dược luận mô hình thu được có thể sử dụng để mô tả  
từ thiết kế RSM (Bảng 2). Ngoài ra, kết quả xử ảnh hưởng của các điều kiện trích ly (nồng độ,  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
   
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
57  
Hình 5. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hàm lượng flavonoid tổng (TFC) toàn phần.  
Các giá trị trung bình có ký tự khác nhau thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức độ tin cậy 95%.  
Hình 6. Ảnh hưởng của tỉ lệ nguyên liệu/dung môi đến hàm lượng flavonoid tổng (TFC) toàn phần.  
Các giá trị trung bình có ký tự khác nhau thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức độ tin cậy 95%.  
nhiệt độ và tỉ lệ nguyên liệu so với dung môi) đến ratio) và giá trị P (mức ý nghĩa) và được liệt kê  
hàm lượng flavonoids tổng trong dịch trích ly.  
trong Bảng 3. Giá trị tỉ lệ t lớn hơn và giá trị P  
nhỏ hơn cho thấy ảnh hưởng đáng kể hơn đến các  
biến tương ứng (Amin & Anggoro, 2004). Theo  
Ý nghĩa của các hệ số của mô hình đa thức bậc  
hai được xác định bằng cách sử dụng tỉ lệ t (t  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
   
58  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Bảng 2. Hàm lượng flavonoid tổng (TFC) theo thực nghiệm và dự đoán từ mô hình thiết kế  
Hàm lượng TFC (mg/g, vck)  
(X2, C) (X3, w/v) Thực nghiệm  
Nồng độ  
(X1, g/mL)  
Nhiệt độ  
Tỉ lệ  
Thí nghiệma  
o
Dự đoán  
23,06  
22,58  
20,85  
23,54  
23,54  
22,73  
22,19  
21,03  
20,17  
23,54  
21,51  
22,27  
23,54  
22,65  
23,54  
21,48  
20,08  
23,54  
19,74  
20,35  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
19  
20  
75  
75  
50  
75  
75  
75  
50  
50  
100  
75  
100  
75  
75  
100  
75  
100  
50  
75  
50  
100  
40  
40  
50  
40  
40  
50  
40  
50  
50  
40  
30  
30  
40  
40  
40  
50  
30  
40  
30  
30  
30  
20  
30  
25  
25  
25  
25  
20  
20  
25  
30  
25  
25  
25  
25  
30  
20  
25  
30  
20  
22,89  
22,19  
21,18  
23,67  
23,74  
21,98  
22,01  
21,03  
20,60  
23,86  
21,65  
22,47  
23,72  
22,27  
23,70  
21,48  
20,22  
23,68  
19,45  
20,16  
aCác thí nghiệm được thực hiện ngẫu nhiên .  
Bảng 3. Hệ số hồi quy và tỉ lệ t (t ratio)  
của phương trình tối ưu dự đoán hàm lượng  
flavonoid tổng (TFC)  
kết quả Bảng 3, có thể thấy rằng yếu tố có ảnh  
hưởng lớn nhất đến hàm lượng TFC là hệ số bậc  
2 của X1 (nồng độ) và X2 (nhiệt độ), kế đến là  
hệ số bậc 2 của X3 (tỉ lệ nguyên liệu so với dung  
môi) và hệ số tương tác của X1 và X3. Khi xét hệ  
số bậc 1 của phương trình hồi quy thì các yếu tố  
khảo sát không ảnh hưởng đáng kể đến hàm lượng  
TFC. Không có sự tương tác có ý nghĩa thống kê  
giữa yếu tố nồng độ và nhiệt độ, và nhiệt độ và  
tỉ lệ (P > 0,05).  
Hệ số hồi quya  
a0  
t ratio  
23,543 < 0,0001∗∗∗  
Bậc 1  
a1  
0,228  
0,231  
0,245  
0,1051  
0,1007  
0,0846  
a2  
a3  
Bậc 2  
a11  
a22  
- 1,126  
- 1,042  
- 0,723  
0,0010∗∗  
0,0016∗∗  
0,0141*  
Để xác định mức tối ưu của các yếu tố độc lập  
đến TFC tổng, các đồ thị bề mặt 3D và đường  
đồng mức 2D đã được thể hiện ở Hình 7 (a, b,  
c). Đồ thị bề mặt đáp ứng cho thấy mối quan hệ  
giữa các yếu tố độc lập và flavonoids, trong khi  
đường đồng mức giúp hình dung hình dạng của  
bề mặt đáp ứng. Do đó, dựa vào các đồ thị giúp  
ích trong việc đánh giá sự phù hợp của mô hình  
(Ba¸s & Boyaci, 2007).  
a33  
Tương tác  
a12  
a13  
- 0,284  
0,37  
0,04  
0,075  
0,0257∗  
0,7931  
a23  
R2  
0,96  
∗P < 0,05, ∗∗P < 0,01, ∗∗∗P < 0,001.  
aa0 là hằng số, ai, aii, aij lần lượt là các hệ số hồi  
Hình 7a cho thấy ảnh hưởng của nồng độ và  
nhiệt độ đến hàm lượng TFC trong dịch trích ly.  
Nhìn chung, ở nhiệt độ cố đinh (40oC), khi tăng  
nồng độ enzyme xử lý thì hàm lượng flavonoids  
tăng và đạt cực đại ở nồng độ khoảng 78 g/mL.  
Sau đó giảm dần khi tăng nồng độ enzyme xử lý.  
quy bậc 1, 2 và tương tương trong phương trình bậc  
2.  
hàm lượng flavonoids tổng tăng khi nhiệt độ xử lý  
tăng và đạt cực đại ở nhiệt độ 41oC, sau đó giảm  
dần khi tiếp tục tăng nhiệt độ xử lý. Khuynh  
hướng này cũng tương tự như thí nghiệm sơ bộ  
Ở nồng độ enzyme xử lý không đổi (70 g/mL),  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
   
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
59  
(a)  
(b)  
(c)  
Hình 7. Bề mặt đáp ứng 3D và đường đồng mức 2D biểu diễn ảnh hưởng của các yếu tố (nồng độ, X1;  
nhiệt độ, X2 và tỉ lệ, X3) đến hàm lượng flavonoid tổng (TFC).  
trước đó (Mục 3.3 và 3.4). Kết quả Bảng 3, cho  
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định  
thấy không có sự tương tác có ý nghĩa thống kê các điều kiện trích ly tối ưu, do đó phương pháp  
giữa nồng độ và nhiệt độ xử lý (P > 0,05).  
tối ưu hoá đã được thực hiện bằng phần mềm  
JMP. Kết quả mô hình tối ưu là hàm lượng  
flavonoids tổng thu được cao nhất trong dịch trích  
ly. Kết quả Hình 8 cho thấy giá trị lý thuyết tối  
ưu của hàm lượng flavonoids tổng (23,59 mg/g,  
vck) đạt được trong điều kiện trích ly tối ưu là  
nồng độ 78 g/mL, nhiệt độ 41oC và tỉ lệ nguyên  
liệu so với dung môi là 1:26 (w/v).  
Kết quả Hình 7b cho thấy, hàm lượng TFC  
tăng lên khi nhiệt độ xử lý tăng lên và đạt cực  
đại ở 41oC khi tỉ lệ giữa nguyên liệu và dung môi  
cố định ở mức 1:25 (w/v). Ở nhiệt độ xử lý cố  
định nào đó, hàm lượng TFC đạt cực đại khi nhiệt  
độ xử lý là 41oC. Ngoài ra, kết quả xử lý thống  
kê cho thấy không có sự tương tác giữa nhiệt độ  
xử lý và tỉ lệ giữa nguyên liệu và dung môi (P >  
0,05).  
Hơn nữa, việc so sánh giữa các giá trị đáp ứng  
được dự đoán và đo lường là một cách để thiết  
lập mức độ chính xác của mô hình mô tả quá  
trình trích ly được nghiên cứu. Do đó, một thí  
nghiệm (với ba lần lặp lại) đã được thực hiện ở  
các điều kiện tối ưu. Kết quả thống kê cho thấy  
không có khác biệt đáng kể giữa giá trị dự đoán  
Kết quả xử lý thống kê (Bảng 3) và Hình 7c  
cho thấy có sự tương tác giữa nồng độ enzyme  
xử lý và tỉ lệ giữa nguyên liệu và dung môi (P <  
0,05). Khuynh hướng ảnh hưởng hưởng của nồng  
độ và tỉ lệ cũng tương tự như Hình 7a và 7c.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
 
60  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Hình 8. Mô hình dự đoán hàm lượng flavonoid tổng (TFC) là một hàm của nồng độ, nhiệt độ và tỉ lệ giữa  
nguyên liệu và dung môi.  
và đo lường của hàm lượng TFC tổng. Hàm lượng ứng dụng trong lĩnh vực thực phẩm chức năng và  
flavonoids tổng của thí nghiệm thẩm tra đạt 24,04 dược phẩm.  
0,05 (mg/g, vck). Điều này có thể thấy hàm  
lượng TFC đo được phù hợp với các giá trị được Lời Cam Đoan  
dự đoán bằng mô hình hồi quy bậc 2. Như vậy, có  
thể sử dụng phương trình bậc hai để dự đoán hàm  
Nhóm tác giả tuyên bố không có bất kỳ mâu  
lượng flavonoids tổng trong các điều kiện trích ly thuẫn nào giữa các tác giả.  
tối ưu. Hay nói cách khác, phương pháp tối ưu  
hóa bề mặt đáp ứng đối với các điều kiện trích ly Tài Liệu Tham Khảo (References)  
flavonoids từ lá diếp cá có giá trị thực tiễn.  
Amin, N. A. S., & Anggoro, D. D. (2004). Optimization  
of direct conversion of methane to liquid fuels over cu  
loaded w/zsm-5 catalyst. Fuel 83(4-5), 487-494.  
4. Kết Luận  
Ba¸s, D., & Boyaci, I. H. (2007). Modeling and optimiza-  
tion i: usability of response surface methodology. Jour-  
nal of Food Engineering 78(3), 836-845.  
Quá trình trích ly flavonoids từ là diếp cá có  
hiệu quả khi sử dụng enzyme cellulase trong thời  
gian 90 phút. Nghiên cứu đã xây dựng được mô  
hình toán học mô tả ảnh hưởng của các yếu tố  
trích ly (nồng độ enzyme, nhiệt độ và tỉ lệ nguyên  
liệu/dung môi) đến hàm lượng flavonoids từ lá  
Chang, J. S., Chiang, L. C., Chen, C. C., Liu, L. T.,  
Wang, K. C., & Lin, C. C. (2001). Antileukemic Ac-  
tivity of Bidens pilosa L. var. Minor (Blume) Sherff  
and Houttuynia cordata Thunb. The American Jour-  
diếp cá. Các giá trị tối ưu để chiết từ lá diếp  
nal of Chinese Medicine 29(02), 303-312.  
cá như sau: nồng độ enzyme 78 g/mL, nhiệt độ  
Djihane, B., Wafa, N., Elkhamssa, S., Pedro, D. H.  
J., Maria, A. E., & Mohamed Mihoub, Z., (2017).  
41oC và tỉ lệ nguyên liệu : enzyme là 1:26 g/mL.  
Tại điều kiện trích ly tối ưu, hàm lượng flavonoids  
thu được là 24,04 mg/g vật chất khô. Từ kết  
quả này có thể khẳng định tiềm năng sử dụng  
lá diếp cá như một nguồn chiết xuất flavonoids  
Chemical constituents of Helichrysum italicum (Roth)  
G. Don essential oil and their antimicrobial activity  
against gram-positive and gram-negative bacteria, fil-  
amentous fungi and Candida albicans. Saudi Pharma-  
ceutical Journal 25(5), 780-787.  
tự nhiên với hiệu suất cao để nâng cao khả năng  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
   
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
61  
Du, S., Li, H., Cui, Y., Yang, L., Wu, J., Huang,  
H., Chen, Y., Huang, W., Zhang, R., Yang, J.,  
Chen, D., Li, Y., Zhang, S., Zhou, J., Wei, Z., &  
Chow, N. T. (2012). Houttuynia cordata inhibits  
lipopolysaccharide-induced rapid pulmonary fibrosis  
by up-regulating IFN-γ and inhibiting the TGF-  
β1/Smad pathway. International Immunopharmacol-  
ogy 13(3), 331-340.  
Myers, R. H., & Montgomery, D. C. (2002). Response  
surface methodology: Product and process optimiza-  
tion using designed experiments (2nd ed.). New York,  
USA: John Wiley & Sons.  
Puri, M, Sharma, D., & Barrow, C. J., (2012). Enzyme-  
assisted extraction of bioactives from plants. Trends in  
Biotechnology 30(1), 37-44.  
Sekita, Y., Murakami, K., Yumoto, H., Mizuguchi, H.,  
Amoh, T., Ogino, S., Matsuo, T., Miyake, Y., Fukui,  
H., & Kashiwada, Y. (2016). Anti-bacterial and anti-  
inflammatory effects of ethanol extract from Hout-  
tuynia cordata poultice. Bioscience Biotechnology and  
Biochemistry 80(6), 1205-1213.  
Hahn, T., Lang, S., Ulber, R., & Muffler, K. (2012). Novel  
procedures for the extraction of fucoidan from brown  
algae. Process Biochemistry 47(12), 1691-1698.  
Hoang, N. T. N., & Le, T. T. T. (2020). Study on the  
influence of cellulase enzyme and microwave on the ex-  
traction of Flucoidan from the seaweed Ceratophyllum  
Submersum. Journal of Science and Technology-The  
University of Danang 18(3), 5-9.  
Truong, D. H., Le Q. P. T., Tran C. T. H., Pham, N. T.  
K., & Dong D. T. A. (2015). Optimization of extrac-  
tion and extraction of crude saponins from Codonopsis  
Javanica (Blume) Hook. f. by alpha-amylase enzyme.  
Science and Technology Information Special 4(99), 1-  
3.  
Kumar, M., Prasad, S. K., Krishnamurthy, S.,  
&
Hemalatha, S. (2014). Antihyperglycemic activity of  
Houttuynia cordata Thunb. in streptozotocin-induced  
diabetic rats. Advances in Pharmacological and Phar-  
maceutical Sciences 2014, 809438.  
Vergara-Barberán, M., Lerma-García, M. J., Herrero-  
Martínez, J. M., & Simó-Alfonso, E. F. (2015). Use  
of an enzyme-assisted method to improve protein ex-  
traction from olive leaves. Food Chemistry 169, 28-33.  
Li, A. N., Li, S., Zhang, Y. J., Xu, X. R., Chen, Y. M.,  
& Li, H. B. (2014). Resources and biological activities  
of natural polyphenols. Nutrients 6(12), 6020-6047.  
Verma, R. S., Joshi, N., Padalia, R. C., Singh, V. R.,  
Goswami, P., Kumar, A., Iqbal, H., Verma, R. K.,  
Chanda, D., Chauhan, A., & Saikia, D. (2017). Chem-  
ical composition and allelopathic, antibacterial, anti-  
fungal, and antiacetylcholinesterase activity of fish-  
mint (Houttuynia cordata Thunb.) from India. Chem-  
istry & Biodiversity 14(10), e1700189.  
Li, T., Liu, L., Wu, H., Chen, S., Zhu, Q., Gao, H., Yu, X.,  
Wang, Y., Su, W., Yao, X., & Peng, T. (2017). Anti-  
herpes simplex virus type 1 activity of Houttuynoid A,  
a flavonoid from Houttuynia cordata Thunb. Antiviral  
Research 144, 273-280.  
Meng, L., Lozano, Y., Bombarda, I., Gaydou, E., &  
Li, B. (2006). Anthocyanin and flavonoid production  
from Perilla frutescens: Pilot plant scale processing in-  
cluding cross-flow microfiltration and reverse osmosis.  
Journal of Agricultural and Food Chemistry 54(12),  
4297-4303.  
Wang, J. Y., Liu, Z. P., Liu, L., & Liu, C. (2008). Ef-  
fects of NaCl on the growth and alkaloid content of  
Catharanthus roseus seedlings. The Journal of Applied  
Ecology 19(10), 2143-2148.  
Miyata, M., Koyama, T., & Yazawa, K. (2010). Water  
extract of Houttuynia cordata Thunb. Leaves exerts  
anti-obesity effects by inhibiting fatty acid and  
glycerol absorption. Journal of Nutritional Science  
and Vitaminology 56(2), 150-156.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
pdf 11 trang yennguyen 19300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tối ưu hóa điều kiện trích ly flavonoids từ lá diếp cá", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftoi_uu_hoa_dieu_kien_trich_ly_flavonoids_tu_la_diep_ca.pdf