Nghiên cứu hoạt tính sinh học của cao chiết lá nhàu (Morinda citrifolia.L)

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 2 (2021)  
NGHIÊN CỨU HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA CAO CHIẾT LÁ NHÀU  
(MORINDA CITRIFOLIA .L)  
1
2
2
2*  
Lê Thị Minh Hậu , Nguyễn Công Hòa , Võ Thị Phước , Chế Thị Cẩm Hà  
1
Trường THPH Hoàng Hoa Thám, TP. Pleiku, Gia Lai  
2
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế  
*
Ngày nhận bài: 3/8/2020; ngày hoàn thành phản biện: 7/8/2020; ngày duyệt đăng: 15/4/2021  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu chúng tôi nhằm khảo sát hoạt tính sinh học của lá cây Nhàu(Morinda  
citrifolia). Các hợp chất có hoạt tính sinh học cao đã được thu nhận bằng phương  
pháp tạo cao chiết và được xác định thành phần các hợp chất bằng phương pháp  
GC-MS. Đánh giá tính kháng khuẩn của dịch chiết lá Nhàu bằng phương pháp  
khuếch tán đĩa thạch. Kết quả phân tích dịch chiết thu được 11 cấu tử khác nhau  
trong đó Tetradecanal chiếm tỉ lệ cao nhất (39,17 %). Dịch chiết lá Nhàu có khả  
năng kháng chủng Streptococcus pyogeneslà chủng vi sinh vật gây bệnh cơ hội ở  
người. Ở nồng độ 150 μg/ml,dịch chiết có khả năng kích thích phân chia nguyên  
bào sợi tốt nhất đồng thời kích thích tăng tiết cytokine IL-6.  
Từ khóa: Morinda Citrifolia, Tetradecanal, vết xước, nguyên bào sợi.  
1. MỞ ĐẦU  
Sự gia tăng nhanh chóng của nhiều bệnh nguy hiểm như tim mạch, viêm hô  
hấp cấp, tiểu đường, lupus ban đỏ, nhiễm khuẩn máu, ung thư…đang là một khủng  
hoảng nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng và là thách thức lớn cho hệ thống y học.  
Theo WHO thống kê trên thế giới, đến nay có khoảng 80% dân số ở các nước phát triển  
và đang phát triển sử dụng thực vật để bảo vệ sức khỏe, đặc biệt với hơn 33% thuốc  
chống ung thư có nguồn gốc từ thực vật.  
Cây Nhàu (Morinda citrifoia.L) là vị thuốc quý, không chỉ được sử dụng trong  
phạm vi địa phương mà còn được ứng dụng trong y học hiện đại để chữa các bệnh  
truyền nhiễm, các bệnh mãn tính.Các nghiên cứu Mani Saminathan (2013) đã hệ thống  
về thành phần sinh học khác nhau trong các bộ phận của cây Nhàu và đánh giá cây  
Nhàu có tiềm năng chống ung thư, có các hoạt động dược lý bảo vệ sức khỏe như  
chống oxy hóa, điều hòa miễn dịch…[1].  
97  
Nghiên cứu hoạt tính sinh học của cao chiết lá nhàu (Morinda citrifolia .L)  
Bài báo này nghiên cứu các tác động sinh lý, sinh hóa của các thành phần hóa  
học có trong lá Nhàu lên các chủng vi sinh vật gây bệnhcơ hội và lên tế bào lành trên in  
vitro nhằm minh chứng những dữ liệu khoa học về các thành phần hóa học trong lá  
Nhàu, góp phần hỗ trợ cho các hướng nghiên cứu ứng dụng sau này hướng tới các sản  
phẩm có nguồn gốc thảo dược điều trịvết thương hở và bảo vệ sức khỏe con người.  
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
- Lá Nhàu (Morinda citrifolia L. )  
Lá Nhàu (Morinda citrifolia L.) được  
thu mẫu tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.  
Tuyển chọn những lá tươi, nguyên vẹn và  
không bị sâu phá hại (hình 1).  
Hình 1. Lá nhàu (Morinda citrifolia L.)  
- Chủng vi sinnh vật thử nghiệm  
Các chủng vi khuẩn gây bệnh cơ hội ở người là Streptococcus pyogenes  
(ATCC19615), Proteus vulgaris (ATCC49132) và Pseudomonas aeruginosa (ATCC27853).  
Các chủng này gây nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng vết  
thương, viêm phổi, viêm màng não, viêm họng,…(các chủng do Khoa Vi Sinh - Bệnh  
viện Trung Ương Huế cung cấp và thẩm định). Các chủng vi sinh vật được nuôi cấy  
0
trong môi trường TSB lỏng ở 37 C trong 24 giờ và được cấy chuyển 3 giờtrước khi khảo  
sát tính kháng khuẩn.  
- Tế bào thử nghiệm  
Nguyên bào sợi (Fibroblast) được thu nhận từ lớp thạch Wharton của dây rốn  
và lưu trữ tại phòng thí nghiệm Tế bào gốc của Khoa Sinh học, trường Đại học Khoa  
học, Đại học Huế.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
- Điều chế cao từ lá Nhàu  
0
Lá Nhàu sau khi thu hái được rửa sạch, cắt nhỏ và sấy khô ở nhiệt độ 50-60 C.  
0
Mẫu sau đó được nghiền nhỏ thành dạng bột mịn, ủ với ethanol 96 trong 48 giờ ở  
0
nhiệt độ phòng với tỷ lệ1:5 (W/V). Thu dịch lọc và cô cạn ở nhiệt độ 50 – 55 C đến khi  
mẫu sánh, có màu nâu đen, còn lại 5% dung môi, ta thu được cao chiết lá Nhàu và bảo  
0
quản ở 4 C[3].  
98  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 2 (2021)  
- Phân tích thành phần hóa học của caochiết: Hệ thống sắc ký khí ghép khối  
phổ (GC/MS).  
-Khảo sát hoạt tính kháng khuẩn  
Hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định được tiến hành theo phương pháp của  
Vanden và Vlietlinck (1991). Lấy chủng vi sinh vật cho vào dung dịch NaCl 0,9%  
vortex đo độ đục đạt 0,55 thu được dịch khuẩn. Hút 200 μl dịch khuẩn cho vào môi  
trường thạch, dùng tăm bông vô trùng đánh dịch khuẩn đều trên đĩa thạch, đục lỗ với  
đường kính 4mm, hút 50μl dịch chiết lá Nhàu ở nồng độ ban đầu và ở các nồng độ pha  
loãng 25%, 6,25% trong dung dịch NaCl nhỏ vào các lỗ đục. Đối chứng dương dùng  
0
Betadine 10%. Đối chứng âm dùng NaCl 0,9%. Đĩa thạch được cho vào 4 C trong 8 – 15  
0
giờ, chuyển qua tủ ấm37 C sau 24 giờ. Đo đường kính vòng vô khuẩn. Mỗi thí nghiệm  
lặp lại 3 lần. Đường kính vòng vô khuẩn (ĐKVVK) được tính bằng công thức: ĐKVK =  
ĐKVK mẫu thử - ĐKVK chứng âm. Qui trình kỹ thuật này được xây dựng dựa trên các  
thường qui chuẩn thức của Việt Nam và dựa trên qui trình thao tác chuẩn về thử  
nghiệm tính nhậy cảm kháng sinh của CLSI (Clinical Laboratory Standard Institute)  
năm 2010. Qui trình này đã được đánh giá tại phòng thí nghiệm Kháng sinh - Khoa Vi  
khuẩn – Bệnh Viện TW Huế.  
- Thử nghiệm gây độc nguyên bào sợi  
Khi mật độ tế bào đạt 60% bổ sung vào môi trường nuôi (DMEM/F12 + 10%  
FBS + 1% Kháng sinh) các nồng độ khác nhau của cao chiết lá Nhàu, theo dõi tế bào  
trong 48 giờ[4]. Sau khi thăm dò nồng độ gây độc của cao chiết lá Nhàu, tiến hành  
đếm số lượng tế bào sống.  
- Khảo sát khả năng tăng sinh nguyên bào sợi bằng phương pháp làm lành vết  
xước  
Khi tế bào đạt 70-80% bề mặt, tiến hành  
tạo vết xước 800µm theo chiều rộng bằng đầu col  
5ml. Môi trường nuôi cấy sau đó được loại bỏ  
ngay lập tức (cùng với các tế bào di chuyển). Rửa  
đĩa nuôi 2 lần với PBS và thay thế bằng môi  
trường nuôi DMEM/F12 + 10% FBS + 1% Kháng  
sinh. Thêm vào môi trường nuôi các nồng độ cao  
chiết lá Nhàu khác nhau. Theo dõi 3 giờ/72 giờ  
Hình 2. Mô hình tạo vết xước theo  
phương pháp Hussain et al.,(2016)  
[5].  
Các thí nghiệm lặp lại 3 lần. Kích thước vết thương đượctheo dõi tại các thời  
điểm khác nhau bằng cách quan sát dưới kính hiển vi và đánh giá mức độ di chuyển  
của tế bào, định lượng bằng tỷ lệ khoảng cách 72 giờ so với 0 giờ.  
99  
Nghiên cứu hoạt tính sinh học của cao chiết lá nhàu (Morinda citrifolia .L)  
- Thống kê và xứ lý số liệu: Các kết quả thực nghiệm được phân tích thống kê  
bằng phần mềm SPSS; mức ý nghĩa thống kê là P <0,05.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Thu nhận dịch chiết  
Dịch chiết từ lá Nhàu (Morinda citrifolia L.) thu được ở dạng cao chiết cô đặc, có  
0
màu nâu đen, có mùi, ở dạng cao không tan được trong nước. Bảo quản ở 4 C để sử  
dụng lâu dài. Thành phần hóa học trong cao chiết lá Nhàu (Morinda citrifolia L.) được  
xác định bằng phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS), kết quả được thể hiện  
trên sắc ký đồ ở hình 2.  
Hình 2. Thành phần hóa học của cao chiết lá Nhàu  
Từ kết quả hình 2 cho thấy phương pháp GC-MS đã xác định được 11 hợp chất  
có trong cao chiết lá Nhàu (Morinda citrifolia L.). Thành phần hóa học trong cao chiết  
chủ yếu là Tetradecanal (39.17%); Palmitic acid (26.90%); Lycopersen (11,33%); Methyl  
linolenate (11.30%). Ngoài ra trong cao chiết còn có mặt các thành phần khác như (-)-  
Loliolide, Neophytadiene, Phytol, Ethyl palmitate, Pluchidiol, 2-Pentadecanone,  
6,10,14-trimethyl-, Ethyl Lionleolate chiếm hàm lượng dưới 5%.  
Theo Almeida (2019), thành phần GC-MS của lá Nhàu(Morinda citrifolia L.) bao  
gồm triterpen, flavonoid, glycoside, lactones, iridoids, ketone,... kết quả của chúng tôi  
tương tự với các thành phần trong nghiên cứu của Almeida[6]. Điều đặc biệt trong kết  
quả này là bên cạnh những thành phần hóa học phổ biến đã được công bố so với các  
nghiên cứu trước, thì trong cao chiết của chúng tôi có chứa hợp chất Tetradecanal -  
một hợp chất có hoạt tính sinh học cao đã được chứng minh có khả năng chống ung  
thư, ức chế nhiều dòng tế bào ung thư khác nhau in vitro, có khả năng kháng khuẩn,  
chống oxy hóa[7], [8]. Đây là thực sự là một khám phá mới mẽ lá Nhàu (Morinda  
100  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 2 (2021)  
citrifolia L.), sự khác biệt quan trọng trong thành phần cao chiết lá Nhàu ở Gia Lai so  
với các nghiên cứu khác đã công bố.  
3.2. Khả năng kháng khuẩn  
Cao chiết lá Nhàu được thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn ở nồng độ gốc và  
các nồng độ pha loãng (6,25% và 25%)trên 4 chủng vi khuẩn gây mầm bệnh cơ hội ở  
người. Kết quả được thể hiện ở hình 3.  
Kết quả khảo sát cho thấy cao  
chiết lá Nhàu có khả năng kháng chủng  
là S. pyogenes, các chủng còn lại không  
thể hiện hoạt tính kháng khuẩn (bảng 2).  
Từ bảng 2, nhận thấy hoạt tính kháng  
khuẩn thể hiện ở cả 3 nồng độ nghiên  
cứu với với đường kính vòng kháng  
khuẩn lần lượt là 16mm, 10mm, 8mm  
(bảng 1).  
Pseudomonas  
Proteus vulgaris  
Khi so sánh với các nghiên cứu  
trước đây, các kết quả đều cho thấy khả  
năng ức chế vi khuẩn của lá Nhàu. Theo  
Candida Thamyris(2014), cao chiết Nhàu  
có thể ức chế tăng sinh trên các chủng  
Staphylococcus aureus và E.coli [2].  
Streptococcus  
Hình 3. Khả năng kháng khuẩn  
của cao chiểt lá Nhàu  
S. Esath Natheer (2012) đã nhận thấy cao chiết Nhàu có khả năng kháng các  
chủng Shigella flexneri, Proteus mirabilis, Pseudomonas diminuta, Enterococcus cloacae,  
Klebshiella pneumonia[9]. Năm 2014, Thamyris báo cáo chiết xuất ethanolic của trái cây  
Nhàu (Morinda citrifolia L.), có hoạt động kháng khuẩn, ức chế sự tăng trưởng của  
Staphylococcus aureus và Escherichia coli [2]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy  
cao chiết lá Nhàu có khả năng ức chế trên một chủng mới là Streptococus pyrogenes. Kết  
quả thu được góp phần cung cấp thêm dữ liệu về khả năng kháng khuẩn của cao chiết  
lá Nhàu cho nguồn dược liệu ở Việt Nam.  
Bảng 1. Đường kính vòng kháng khuẩn của các chủng thử nghiệm  
Nồng độ  
ATCC19615  
16±0,7  
ATCC49132  
ATCC 27853  
Dung dịch gốc  
Pha loãng 25 %  
Pha loãng 6,25 %  
0
0
0
0
0
0
10±0,3  
8±0,3  
101  
Nghiên cứu hoạt tính sinh học của cao chiết lá nhàu (Morinda citrifolia .L)  
3.3. Độc tính của cao chiết lá Nhàu lên nguyên bào sợi  
Năm 2016, Daly LT và cộng sự đã nghiên cứu hợp chất minocycline ảnh hưởng  
đến ức chế quá trình tăng sinh nguyên bào sợi và tế bào sừng. Kết quả báo cáo ở nồng  
độ nhỏ hơn 10 μg/ml kích thích quá trình tăng sinh trên cả hai dòng tế bào và gây ra sự  
ức chế tăng sinh khi nồng độ lớn hơn 50 μg/ml [10]. Tế bào bình thường có khả năng  
phản ứng lại bởi các tín hiệu được gửi từ các tế bào lân cận xung quanh hoặc bởi các  
yếu tố ngoại lai được bổ sung vào môi trường nuôi. Với lý do trên, cần thiết khảo sát  
độc tính cao chiết lá Nhàu lên nguyên bào sợi bằng các thử nghiệm bổ sung các nồng  
độ pha loãng cao chiết lá Nhàu vào môi trường nuôi DMEM/F12 + FBS 10%+ 1% kháng  
sinh để xác định nồng độ gây độc tế bào. Các nồng độ pha loãng của cao chiết, dùng  
môi trường nuôi cấy làm chất pha loãng.  
Tế bào tạo dòng đạt mật độ 60% được tiếp xúc với nồng độ khác nhau (100 -  
500 μg/ml) của cao chiết lá Nhàu để đánh giá tác động gây độc của chúng. Kết thúc  
mỗi nghiệm thức chúng tôi đều tiến hành đếm tế bào để xác định khả năng gây độc  
của cao chiết. Theo dõi khả năng gây độc trong 48 giờ tại các nồng độ (hình 4)  
Hình 4. Đánh giá độc tính của cao chiết lá Nhàu lên nguyên bào sợi  
Kết quả ở hình 4 cho thấy ở nồng độ nhỏ hơn 200 μg/ml: hình thái tế bào ổn  
định, số lượng tế bào tăng so với đối chứng và tăng cao nhất ở nồng độ 100 μg/ml. Ở  
nồng độ 300 μg/ml: hình thái tế bào không thay đổi, tuy nhiên đã gây ra ức chế sự tăng  
sinh của tế bào làm số lượng tế bào giảm đi so với đối chứng.Ở nồng độ lớn hơn 400  
μg/ml: xuất hiện tế bào chết đặc biệt ở nồng độ 500 μg/ml: 60 - 70% các tế bào đã bị  
bong khỏi bề mặt chai nuôi và trôi lơ lửng trong môi trường.  
Từ những kết quả trên có thể kết luận:  
102  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 2 (2021)  
- Ở nồng độ 300 μg/ml: cao chiết lá Nhàu ức chế tăng sinh tế bào nguyên bào  
- Ở nồng độ nhỏ hơn 200 μg/ml: cao chiết lá Nhàu có khả năng kích thích tăng  
sợi.  
sinh tế bào nguyên bào sợi.  
3.4. Khả năng kích thích phân chia của nguyên bào sợi bằng làm lành vết xước  
Sự tăng sinh và di chuyển của nguyên bào sợi đóng vai trò quan trọng trong  
quá trình làm lành vết thương. Nguyên bào sợi bị thu hút bởi các yếu tố tăng trưởng  
được tiết ra bởi tiểu cầu, bạch cầu đơn nhân để di chuyển đến vị trí vết thương và tăng  
sinh đẩy nhanh quá trình liền vết thương. Thông thường, các yếu tố ngoại lai bổ sung  
vào môi trường nuôi in vitro có khuynh hướng làm thay đổi đặc điểm tế bào hoặc kích  
thích khả năng phân chia tế bào. Trong nghiên cứu này chúng tôi khảo sát các nồng độ  
cao chiết khác nhau để tìm ra nồng độ tối ưu cho việc tăng khả năng phân chia tế bào  
bằng làm lành vết xước. Cho tế bào được tiếp xúc với nồng độ khác nhau (50 – 200  
μg/ml) của cao chiết để đánh giá khả năng gây tăng sinh nguyên bào sợi.  
Khi nguyên bào sợi đạt 70-80% diện tích đĩa 6 giếng, tiến hành tạo các vết xước  
với kích thước 800µm. Vết xước được chọn phải đảm bảo đồng đều về kích thước vết  
xước và không làm thương tổn tế bào.  
Tiến hành theo dõi tế bào sau mỗi 3 giờ liên tục trong 72 giờ, kết quả nghiên  
cứu được thể hiện ở hình 5.  
Hình 5. Ảnh hưởng của cao chiết lá Nhàu lên khả năng làm liền vết xước nguyên bào sợi.  
Ở thời gian 8h sau khi bổ sung cao chiết lá Nhàu, các tế bào vẫn phát triển bình  
thường, kích thước vết xước chưa thay đổi ở tất cả các nhóm. Sau 12 giờ, bắt đầu có sự  
di chuyển của tế bào ra vùng rìa của vết xước ở các giếng có bổ sung dịch chiết. Sau 36  
giờ bổ sung cao chiết, các tế bào ở các giếng bổ sung cao chiết tăng sinh mạnh mẽ, mật  
độ tế bào dày lên so với nhóm đối chứng đặc biệt ở các nồng độ 100 μg/ ml, 150 μg/ ml,  
200 μg/ ml. Sau 48 giờ theo dõi, kích thước vết xước thu hẹp nhanh nhất ở nồng độ 150  
μg/ ml, diện tích vết xước hẹp lại và lớn hơn 2,3 lần so với đối chứng. Ở các nồng độ 50  
μg/ ml, 100 μg/ ml, 200 μg/ ml diện tích vết xước hẹp lại lớn hơn lần lượt là 1,25; 1,5;  
103  
Nghiên cứu hoạt tính sinh học của cao chiết lá nhàu (Morinda citrifolia .L)  
1,3 lần so với đối chứng. Sau 72h, hầu hết tế bào đã phủ đầy vết xước ở các giếng có bổ  
sung dịch chiết so với đối chứng. Riêng ở nồng độ 150 μg/ ml, tế bào ở vết xước dày  
nhất so với các nồng độ khác  
Như vậy, kết quả nghiên cứu cho thấy kích thước vết xước thu hẹp nhanh nhất  
ở nồng độ bổ sung cao chiết 150 μg/ml. Khi so sánh kết quả nghiên cứu của chúng tôi  
với các nghiên cứu trước đây về hoạt tính kích thích sự tăng sinh của các cao chiết có  
dược tính, cho thấy sự tương đồng. Lê Đình Tổ và cộng sự (2017) đã nghiên cứu khả  
năng làm lành vết thương ngoài da của cây cỏ Tai hùm (Conyza canadensis L.) và kết  
luận dịch chiết ethanol cây cỏ Tai hùm có khả năng kích thích nguyên bào sợi ở nồng  
độ 31,25 μg/ ml gấp 1,6 lần so với đối chứng[11]. Năm 2016, Hussain et al đã nghiên  
cứu hợp chất Juglone có trong quả óc chó lên khả năng làm liền vết xước nguyên bào  
sợi in vitro và thu được kết quả hợp chất Juglone làm lành vết xước hơn so với đối  
chứng trong 24 giờ theo dõi[5].  
3
2.5  
2
1.5  
1
0.5  
0
ĐC  
50  
100  
150  
200  
Nồng độ (μg/ml)  
Hình 6. Cao chiết lá Nhàu kích thích tổng hợp IL-6  
in vitro phụ thuộc vào các nồng độ khác nhau  
Interleukin 6 (IL-6) là các phân tử cytokine có vai trò trong cơ thể và hoạt động  
giúp định hướng phản ứng miễn dịch của cơ thể. Nồng độ IL-6 trong đồng nuôi cấy  
nguyên bào sợi với tế bào đại thực bào, kết quả được đo bằng bộ xét nghiệm ELISA  
của Quantikine® (Hệ thống R & D, Mỹ). Một trong những mối quan tâm của chúng tôi  
là đánh giá nồng độ cytokine dưới tác động của cao chiết lá Nhàu. Kết quả thu được  
IL-6 cao hơn ở các nhóm có bổ sung dịch chiết so với nhóm đối chứng như vậy có thể  
các hợp chất từ cao chiết lá Nhàu đã tham gia cảm ứng tế bào nguyên bào sợi, làm thay  
đổi quá trình chuyển hóa của chúng. Trong đó, sự gia tăng tổng hợp IL-6 đã được báo  
cáo trong nhóm 150 μg/ml là cao nhất so với các nhóm 50 μg/ml, 100μg/ml và 200  
μg/ml (hình 6).  
Từ những kết quả thu được, chúng tôi có nhận xét: ở nồng độ 150 μg/ml cao  
chiết lá Nhàu là tối ưu cho sự phát triển và tăng sinh tế bào nguyên bào sợi. Các thành  
phần trong cao chiết lá Nhàu đã tương tác với các thành phần đóng vai trò quan trọng  
cho việc phân chia tế bào để thúc đẩy quá trình tăng sinh. Cao chiết lá Nhàu làm tăng  
tổng hợp IL-6 ở nồng độ 150 μg/ml là cao nhất so với các ở nồng độ 50 μg/ml,  
100μg/ml và 200 μg/ml.  
104  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 2 (2021)  
KẾT LUẬN  
Các kết quả này cho thấy tiềm năng bảo vệ sức khỏe của lá Nhàu (Morinda  
citrifolia L.). như điều trị viêm loét, chữa lành vết thương, chữa trị bệnh nhiễm khuẩn.  
Thành phần của cao chiết lá Nhàu với nhiều hợp chất hóa học có giá trị, trong đó  
Tetradecanal chiếm tỉ lệ cao nhất (39.17%).  
Cao chiết lá Nhàu (Morinda citrifolia L.). là các hợp chất hoàn toàn từ thực vật,  
có khả năng ức chế sự tăng trưởng của chủng vi khuẩn Streptococcus pyogennes gây  
bệnh cơ hội ở người và tăng kích thích tổng hợp IL- 6 trong in vitro.  
Cao chiết lá Nhàu(Morinda citrifolia L.) trong in vitro:  
+ Gây độc tính làm chết nguyên bào sợi ở nồng độ 300 μg/ml.  
+ Kích thích sự phân chia nguyên bào sợi cao nhất ở nồng độ 150 μg/ml, thông  
qua khả năng làm lành vết xước nhanh nhất sau 72 giờ quan sát.  
+ Tăng khả năng tổng hợp IL-6 ở nồng độ 150 μg/ml là cao nhất  
105  
Nghiên cứu hoạt tính sinh học của cao chiết lá nhàu (Morinda citrifolia .L)  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. M. Saminathan, R. B. Rai, K. Dhama, R. Tiwari, S. Chakraborty, Amarpal, et al. Systematic  
review on anticancer potential and other health beneficial pharmacological activities of  
novel medicinal plant Morinda citrifolia (Noni). International Journal of Pharmacology.  
2013;9(8): 462-492  
[2]. T. Candida, J. P. d. França, A. L. F. Chaves, F. A. R. Lopes, S. Gaiba, C. K. d. Sacramento, et  
al. Evaluation of antitumoral and antimicrobial activity of Morinda lcitrifolia L. grown in  
Southeast Brazil. Acta cirurgica brasileira. 2014;29: 10-14  
[3]. S. Boontha, N. Kaewjaiboon, P. Rattanatanyapat, W. Nanto, S. Taolam, B. Buranrat, et al.  
Cytotoxicity and cell migration suppression by noni fruit extract on Michigan Cancer  
Foundation-7 human breast cancer cells and development of topical microemulsions.  
Pharmacognosy Magazine. 2018;14(59): 499  
[4]. N. A. Petushkova, A. L. Rusanov, M. A. Pyatnitskiy, O. V. Larina, V. G. Zgoda, A. V.  
Lisitsa, et al. Proteomic characterization of HaCaT keratinocytes provides new insights into  
changes associated with SDS exposure. Biomedical Dermatology. 2020;4(1): 1-13  
[5]. H. M. Wahedi, Y. U. Park, E. Y. Moon, and S. Y. Kim. Juglone ameliorates skin wound  
healing by promoting skin cell migration through Rac1/Cdc42/PAK pathway. Wound Repair  
and Regeneration. 2016;24(5): 786-794  
[6]. É. S. Almeida, D. de Oliveira, and D. Hotza. Properties and Applications of Morinda  
citrifolia (Noni): A Review. Comprehensive Reviews in Food Science and Food Safety. 2019:  
[7]. N. Sisin, H. Abdullah, and M. Sul’ain. Antiproliferative, antioxidative and compounds  
identification from methanolic extract of Passiflora foetida and its fractions. J Anal Pharm  
Res. 2017;6(1): 00166  
[8]. S. Soosairaj and T. Dons. Bio-active compounds analysis and characterization in ethanolic  
plant extracts of Justicia tranquebariensis L.(Acanthaceae)-using GC-MS. nternational J.  
Chem Tech Res. 2016;9(7): 260-265  
[9]. S. E. Natheer, C. Sekar, P. Amutharaj, M. S. A. Rahman, and K. F. Khan. Evaluation of  
antibacterial activity of Morinda citrifolia, Vitex trifolia and Chromolaena odorata. African  
journal of pharmacy and pharmacology. 2012;6(11): 783-788  
[10]. L. T. Daly, D. M. Tsai, M. Singh, K. Nuutila, R. A. Minasian, C. C. Lee, et al. Topical  
minocycline effectively decontaminates and reduces inflammation in infected porcine  
wounds. Plastic and reconstructive surgery. 2016;138(5): 856e-868e  
[11]. T. D. Le, N. T. Hoang, N. T. T. Nguyen, T. L. Tran, and T. T. P. Dang. Wound healing  
activity of Conyza canadensis (L.) Cronquist. Science and Technology Development Journal-  
Natural Sciences. 2017;1(T5): 35-40  
106  
                     
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 2 (2021)  
STUDY OF BIOLOGICAL ACTIVITIES  
OF MORINDA CITRIFOLIA LEAF EXTRACT  
1
2
2
2*  
Le Thi Minh Hau , Nguyen Cong Hoa , Vo Thi Phuoc , Che Thi Cam Ha  
1
Hoang Hoa Tham High school, Gia Lai province  
2
University of Sciences, Hue University  
*
ABSTRACT  
Morinda citrifolia has many bioactive compounds. Many studies in the world have  
reported that different parts of the Morinda citrifolia have many health benefits  
such as antioxidant, antibacterial, immune response, wound healing, and anti-  
cancer effects.This study aims to investigate the biological activity of Morinda  
citrifolia’s leaf. Compounds with high biological properties can be agglomerated  
by extracting method and determined by GC-MS analysis. Evaluating Morinda  
citrifolia stimulates activity on cell proliferation of Morinda citrifolia extract by in  
vitro scratch assay. Evaluation of the antibacterial properties of the extract is made  
by agar diffusion method. Results of the extract obtaine 11 different constituents of  
which Tetradecanal is accounted for the highest proportion (39.17%). Morinda  
citrifolia’s leaf extract is resistant to Steptococcus pyogenes, an opportunistic  
pathogenic microorganism in humans. At a concentration of 150 μg / ml, the  
extract has the best ability to stimulate fibroblast division while stimulating  
cytokine IL-6 secretion.  
Keywords: Morinda citrifolia, Tetradecanal, scratch model, fibroblast, cytokine IL-6.  
107  
Nghiên cứu hoạt tính sinh học của cao chiết lá nhàu (Morinda citrifolia .L)  
Lê Thị Minh Hậu sinh ngày 08/04/1979 tại Gia Lai. Bà tốt nghiệp cử nhân  
chuyên ngành Sinh học tại trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn năm 1997.  
Hiện nay, bà đang là học viên Cao học chuyên ngành Sinh học thực  
nghiệm tại trường Đại học Khoa học, Đại học Huế. Bà đang công tác tại  
trường THPT Hoàng Hoa Thám, Pleiku, tỉnh Gia Lai.  
Lĩnh vực nghiên cứu:Nghiên cứu hoạt tính sinh học, hợp chất thứ cấp từ  
dược liệu.  
Nguyễn Công Hòa sinh ngày 12 tháng 03 năm 1995 tại Nghệ An. Ông tốt  
nghiệp kĩ sư chuyên ngành Công nghệ sinh học tại trường Đại học Khoa  
học, Đại học Huế năm 2018.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Tế bào gốc, xét nghiệm sinh học phân tử, phân nhóm  
HLA-DR, HLA-A và HLA-B., hệ nhóm máu ABO trước và sau khi ghép  
tạng.  
Võ Thị Phước sinh ngày 19 tháng 11 năm 1997 tại Thừa Thiên Huế. Bà tốt  
nghiệp kĩ sư chuyên ngành Công nghệ sinh học tại trường Đại học Khoa  
học, Đại học Huế năm 2020. Hiện tại bà đang là học viên cao học ngành  
Công nghệ sinh học tại Trường Đại học Khoa học, ĐH huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Tế bào gốc, xét nghiệm trực tiếp trên gen mã hóa  
kháng nguyên, phân nhóm HLA bằng PCR, nghiên cứu các hợp chất có  
nguồn gốc từ thực vật.  
Chế Thị Cẩm Hà sinh ngày 27 tháng 03 năm 1973 tại TP Huế. Bà tốt  
nghiệp cử nhân Sinh học tại trường Đại học Khoa học, ĐH Huế năm 1999;  
tốt nghiệp thạc sĩ chuyên nghành Sinh lý động vật - Tế bào - Di truyền tại  
trường ĐH Khoa học, ĐH Huế năm 2003; tốt nghiệp tiến sĩ chuyên  
nghành Liệu pháp tế bào tại trường Paris 7, Pháp năm 2010. Hiện tại, bà  
công tác tại trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tế bào gốc vào  
điều trị bệnh chấn thương sọ não nặng, bệnh thận do lupus; Phân tích,  
đánh giá hàm lượng độc tính và các hoạt tính sinh học từ dược liệu lên  
hoạt động tế bào in vitro và in vivo; Hoạt tính sinh học của các hợp chất từ  
dược liệu lên khả năng ức chế tế bào ung thư.  
108  
pdf 12 trang yennguyen 15040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu hoạt tính sinh học của cao chiết lá nhàu (Morinda citrifolia.L)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_hoat_tinh_sinh_hoc_cua_cao_chiet_la_nhau_morinda.pdf