Bài giảng Giống vật nuôi - Dương Thảo Chinh
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG LÀO CAI
Dương Thảo Chinh
Bài giảng
GIỐNG VẬT NUÔI
LÀO CAI, 2011
LỜI NÓI ĐẦU
Giống vật nuôi là môn khoa học ứng dụng các quy luật di truyền để cải tiến về mặt
di truyền đối với năng suất và chất lượng sản phẩm của vật nuôi.
Để có thể hiểu được bản chất những vấn đề phức tạp của môn học và những ứng
dụng trong thực tiễn sản xuất, đòi hỏi người đọc phải có kiến thức về di truyền số lượng,
xác suất, thống kê và đại số tuyến tính.
Tập bài giảng Giống vật nuôi là tài liệu học tập cho học sinh chuyên ngành Chăn
nuôi - Thú y ở các trường trung học chuyên nghiệp. Do chưa có giáo trình giảng dạy nên
nội dung môn học chưa được "thống nhất, thiếu tính hệ thống và chưa tạo điều kiện thuận
lợi trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy và đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Để chuẩn hóa một bước các kiến thức giảng dạy, phù hợp với đặc thù của một
trường Miền núi và tạo điều kiện thuận lợi cho việc đổi mới phương pháp dạy và học chúng
tôi biên soạn cuốn tập bài giảng "Giống vật nuôi " dùng để giảng dạy cho sinh viên khoa
Nông lâm.
Do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế, cuốn tập bài giảng "Giống vật nuôi " lần đầu
tiên ra mắt độc giả chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót và tồn tại. Chúng tôi rất mong
nhận được ý kiên đóng góp của các đồng nghiệp, các bạn học viên và các độc giả khác.
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ
3
Chương 1. GIỐNG VÀ CÔNG TÁC GIỐNG VẬT NUÔI
1.1. KHÁI NIỆM VỀ GIỐNG, DÒNG VẬT NUÔI
1.1.1. Khái niệm về giống vật nuôi
Khái niệm về giống vật nuôi trong chăn nuôi khác với khái niệm về giống trong phân
loại sinh vật học. Trong phân loại sinh vật học, giống là đơn vị phân loại trên loài, một
giống gồm nhiều loài khác nhau. Còn giống vật nuôi là đơn vị phân loại dưới của loài, có
nhiều giống vật nuôi trong cùng một loài.
Có nhiều khái niệm về giống vật nuôi khác nhau dựa trên các quan điểm phân tích so
sánh khác nhau. Hiện tại, chúng ta thường hiểu khái niệm về giống vật nuôi như sau: Giống
vật nuôi là một tập hợp các vật nuôi có chung một nguồn gốc, được hình thành do quá trình
chọn lọc và nhân giống của con người. Các vật nuôi trong cùng một giống có các đặc điểm
về ngoại hình, tính năng sản xuất, lợi ích kinh tế giống nhau và các đặc điểm này di truyền
được cho đời sau.
Trong thực tế, một nhóm vật nuôi được coi là một giống cần có những điều kiện sau:
- Có nguồn gốc, lịch sử hình thành rõ ràng
- Có một số lượng nhất định: Số lượng đực cái sinh sản khoảng vài trăm con đối với
trâu, bò, ngựa; vài nghìn con đối với lợn; vài chục nghìn con đối với gà, vịt
- Có các đặc điểm riêng biệt của giống, các đặc điểm này khác biệt với các giống
khác và được di truyền một cách tương đối ổn định cho đời sau
- Được Hội đồng giống vật nuôi quốc gia công nhận là một giống.
1.1.2. Khái niệm về dòng vật nuôi
Dòng là một nhóm vật nuôi trong một giống. Một giống có thể vài dòng (khoảng 2 -
5 dòng). Các vật nuôi trong cùng một dòng, ngoài những đặc điểm chung của giống còn có
một hoặc vài đặc điểm riêng của dòng, đây là các đặc điểm đặc trưng cho dòng.
Ví dụ: Hai dòng V1 và V3 thuộc giống vịt siêu thịt CV Super Meat đã được nhập vào
nước ta. Dòng V1 là dòng trống có tốc độ sinh trưởng nhanh và khối lượng cơ thể lớn,
trong khi đó dòng V3 là dòng mái có khối lượng nhỏ hơn, tốc độ sinh trưởng chậm hơn,
nhưng lại cho sản lượng trứng và các tỷ lệ liên quan tới ấp nở cao hơn.
Tuy nhiên, trong thực tế người ta có những quan niệm khác nhau về dòng. Các quan
niệm chủ yếu bao gồm:
- Nhóm huyết thống: Là nhóm vật nuôi có nguồn gốc từ một con vật tổ tiên.
Con vật tổ tiên thường là con vật có đặc điểm nổi bật được người chăn nuôi ưa
chuộng. Các vật nuôi trong một nhóm huyết thống đều có quan hệ họ hàng với nhau và
mang được phần nào dấu vết đặc trưng của con vật tổ tiên.
Tuy nhiên, do không có chủ định ghép phối và chọn lọc rõ ràng nên nhóm huyết thống
thường chỉ có một số lượng vật nuôi nhất định, chúng không có các đặc trưng rõ nét về tính
năng sản xuất mà thông thường chỉ có một vài đặc điểm về hình dáng, màu sắc đặc trưng.
- Nhóm vật nuôi địa phương: Là các vật nuôi trong cùng một giống được nuôi ở một
địa phương nhất định. Do mỗi địa phương có những điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
nhất định, do vậy hình thành nên các nhóm vật nuôi địa phương mang những đặc trưng
riêng biệt nhất định.
- Dòng cận huyết: Dòng cận huyết được hình thành do giao phối cận huyết giữa các
vật nuôi có quan hệ họ hàng với một con vật tổ tiên.
4
Con vật tổ tiên này thường là con đực và được gọi là đực đầu dòng. Đực đầu dòng là
con đực xuất sắc, có thành tích nổi bật về một vài đặc điểm nào đó mà người chăn nuôi
muốn duy trì ở các thế hệ sau.
Để tạo nên dòng cận huyết, người ta sử dụng phương pháp nhân giống cận huyết
trong đó các thế hệ sau đều thuộc huyết thống của đực đầu dòng này.
1.1.3. Phân loại giống vật nuôi
- Căn cứ vào mức độ tiến hoá của giống, các giống vật nuôi được phân thành 3 nhóm sau:
+ Giống nguyên thuỷ: Là các giống vật nuôi mới được hình thành từ quá trình thuần
hoá thú hoang. Các vật nuôi thuộc nhóm giống này thường có tầm vóc nhỏ, năng suất thấp,
thành thục về tính dục và thể vóc muộn, điều kiện nuôi dưỡng chúng ở mức độ đơn giản.
Một số giống gia súc hiện nuôi ở các tỉnh miền núi nước ta thuộc nhóm giống này:
lợn Mẹo (Nghệ An), lợn Sóc (vùng Tây Nguyên), dê Cỏ...
+ Giống quá độ: Là các giống nguyên thuỷ nhưng đã trải qua một quá trình chọn lọc
trong mối quan hệ tác động của các điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc ở mức độ nhất định.
So với nhóm giống nguyên thuỷ, các giống quá độ được cải tiến hơn về tầm vóc,
năng suất, thời gian thành thục về tính dục và thể vóc.
Tuy nhiên chúng cũng đòi hỏi điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc ở mức độ cao hơn.
Lợn Móng Cái, vịt Cỏ, vịt Bầu... của nước ta thuộc nhóm giống này.
+ Giống gây thành: Về thời gian, chúng là nhóm giống được hình thành sau cùng do
kết quả của quá trình lai tạo kết hợp với chọn lọc và nuôi dưỡng chăm sóc trong những điều
kiện môi trường thích hợp. Vật nuôi trong nhóm giống này có hướng sản xuất chuyên dụng
hoặc kiêm dụng.
So với hai nhóm giống trên, chúng có tầm vóc lớn hơn, thành thục về tính dục và thể vóc
sớm hơn, song chúng cũng đòi hỏi những điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc ở mức độ cao hơn.
Các giống gia súc, gia cầm được nhập vào nước ta trong thời gian gần đây phần lớn
đều thuộc nhóm giống gây thành: lợn Yorkshire, Landrace, bò Holstein Friesian, Santa
Gertrudis, gà Leghorn, gà BE 88, vịt Khaki Campbell, CV Super Meat...
- Căn cứ vào hướng sản xuất, các giống vật nuôi được phân thành 2 nhóm sau:
+ Giống chuyên dụng: Là những giống có năng suất cao về một loại sản phẩm nhất định.
Ví dụ: Bò có các giống chuyên cho sữa như Holstein Friesian, chuyên cho thịt như
Blanc Bleu Belge (viết tắt là BBB).
Gà có giống chuyên cho trứng như Leghorn, chuyên cho thịt như Cornish
Ngựa có giống chuyên để cưỡi, chuyên để cày kéo
Vịt có giống chuyên cho trứng như Khaki Campbell, chuyên cho thịt như CV Super Meat
Lợn có giống chuyên cho nạc như Piétrain, Landrace...
+ Giống kiêm dụng: Là những giống có thể sử dụng để sản xuất nhiều loại sản phẩm,
năng suất từng loại sản phẩm của các giống này thường thấp hơn so với các giống chuyên dụng.
Ví dụ: Giống bò kiêm dụng sữa - thịt như bò nâu Thuỵ Sĩ (Brown Swiss)
Giống lợn kiêm dụng thịt - mỡ như lợn Cornwall
Giống gà kiêm dụng trứng - thịt Rhode Island...
- Căn cứ vào nguồn gốc, các giống vật nuôi được chia làm 2 nhóm sau:
+ Giống địa phương: Là các giống có nguồn gốc tại địa phương, được hình thành và
phát triển trong điều kiện kinh tế xã hội, tự nhiên của địa phương
Ví dụ: Lợn Móng Cái, bò vàng, vịt Cỏ là các giống địa phương của nước ta.
5
Các giống địa phương có khả năng thích ứng cao với điều kiện và tập quán chăn nuôi
của địa phương, sức chống bệnh tốt, song năng suất thường bị hạn chế.
+ Giống nhập: Là các giống có nguồn gốc từ vùng khác hoặc nước khác. Các giống
nhập nội thường là những giống có năng suất cao hoặc có những đặc điểm tốt nổi bật so với
giống địa phương.
Ví dụ: Lợn Yorkshire, bò Holstein, vịt Khaki Campbell là các giống nhập nội.
Tuy nhiên, do nguồn gốc xuất phát ở vùng có điều kiện môi trường khác biệt với nơi
nhập vào nuôi, các giống nhập phải thích ứng với điều kiện sống mới. Điều này tuỳ thuộc
vào khả năng thích nghi của giống nhập, vào những điều kiện mà con người tạo ra nhằm
giúp chúng dễ thích ứng được với điều kiện sống ở nơi ở mới.
1.2. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA CÔNG TÁC GIỐNG TRONG CHĂN NUÔI
1.2.1. Khái niệm về công tác giống vật nuôi
Chọn giống và nhân giống vật nuôi, được gọi tắt là giống vật nuôi, là một môn khoa
học ứng dụng các quy luật di truyền để cải tiến về mặt di truyền đối với năng suất và chất
lượng sản phẩm của vật nuôi.
Công tác giống vật nuôi gồm hai nhiệm vụ cơ bản là chọn giống và nhân giống vật
nuôi. Những người làm công tác giống vật nuôi cần thành thạo ba kỹ năng chủ yếu sau đây:
- Phải nắm được những biến đổi di truyền nào là có giá trị
Nhiệm vụ đầu tiên của công tác giống vật nuôi là phải xác định được mục tiêu của
công tác giống là nhằm cần cải tiến, nâng cao những đặc tính nào ở vật nuôi.
Những người làm công tác giống vật nuôi luôn quan tâm đến những cá thể, các
nhóm, các đàn vật nuôi có các đặc tính tốt hơn các cá thể, các nhóm, các đàn vật nuôi khác.
Nếu các biến đổi của các đặc tính này do yếu tố di truyền gây nên, thì khi phối giống giữa
các bố mẹ có các đặc tính tốt sẽ tạo được những biến đổi di truyền có lợi ở đời con.
- Phải lựa chọn chính xác và có hiệu quả được những con giống tốt
Trong quá trình nuôi dưỡng, sử dụng vật nuôi, cần quan sát mô tả hoặc xác định giá
trị các tính trạng của vật nuôi. Trên cơ sở các tính trạng theo dõi được, tiến hành đánh giá
vật nuôi và lựa chọn những vật nuôi đáp ứng được yêu cầu về các tính trạng mà ta muốn
nâng cao để giữ chúng làm giống.
Các vật nuôi giữ làm giống được gọi là các vật giống. Vật giống là những vật nuôi
đực hoặc cái dùng để sinh sản ra thế hệ sau.
Quyết định giữ hay không giữ lại vật nuôi làm vật giống được gọi là chọn lọc giống
vật nuôi, gọi tắt là chọn giống.
- Tìm được cách cho phối giống giữa những vật giống tốt nhằm mang lại hiệu quả
tốt nhất về mặt di truyền cũng như về mặt kinh tế
Không phải bất cứ việc phối giống nào giữa những đực và cái tốt đều mang lại hiệu
quả cao về di truyền cũng như về kinh tế. Cho các nhóm vật giống đực và cái phối giống với
nhau theo các phương thức khác nhau nhằm tạo ra thế hệ sau có năng suất, chất lượng tốt
hơn thế hệ trước và thu được hiệu quả kinh tế cao hơn, công việc này được gọi là nhân
giống vật nuôi.
1.2.2. Ý nghĩa của công tác giống trong chăn nuôi
Công tác giống vật nuôi có ý nghĩa quan trọng trong chăn nuôi. Cùng với dinh
dưỡng, chăm sóc quản lý và vệ sinh phòng bệnh, giống là một trong những biện pháp kỹ
thuật cơ bản của sản xuất chăn nuôi.
6
Cải thiện điều kiện dinh dưỡng, chăm sóc quản lý và vệ sinh thú y có thể cải tiến
được năng suất vật nuôi, phẩm chất sản phẩm chăn nuôi. Tuy nhiên, cho dù có tạo được
những giải pháp kỹ thuật tối ưu nhất về các điều kiện này, năng suất và phẩm chất vật nuôi
cũng sẽ dừng lại ở một giới hạn nhất định trong phạm vi cá thể, nhóm, đàn hoặc giống vật
nuôi đó.
Chọn và nhân giống vật nuôi là biện pháp kỹ thụât có thể tạo nên những giới hạn cao
hơn, phạm vi rộng hơn, phong phú và đa dạng hơn về năng suất vật nuôi và phẩm chất sản
phẩm chăn nuôi. Làm tốt công tác giống sẽ tạo được những cá thể, nhóm, đàn vật nuôi có
tiềm năng di truyền tốt, có khả năng cho năng suất cao và chất lượng sản phẩm tốt.
Bằng biện pháp chọn và nhân giống có thể tạo được những con bò cái sữa có khả
năng cho sản lượng sữa rất cao, nhưng nếu không được cung cấp đầy đủ về dinh dưỡng và
chăm sóc tốt, chúng sẽ có năng suất sữa thậm chí thua kém hơn cả những con bò bình
thường trong đàn.
Cải tiến di truyền phải kết hợp chặt chẽ với nuôi dưỡng chăm sóc và quản lý mới có
thể nâng cao năng suất, tăng chất lượng sản phẩm chăn nuôi và mang lại hiệu quả thiết thực
cho sản xuất chăn nuôi.
1.3. MỘT SỐ GIỐNG VẬT NUÔI PHỔ BIẾN Ở NƯỚC TA
1.3.1. Các giống vật nuôi địa phương
1.3.1.1. Trâu Việt Nam
Trâu Việt Nam thuộc nhóm trâu đầm lầy (swamp
buffalo), được nuôi ở các vùng sinh thái khác nhau, sử
dụng với nhiều mục đích: cày kéo, lấy thịt và lấy phân.
Trâu có tầm vóc khá lớn, ngoại hình tương đối đồng
nhất, toàn thân mầu đen, cổ ngực có dải trằng hình chữ
V, khoảng 5% trâu có mầu trắng. Nghé sơ sinh có khối
lượng 28 - 30kg.
Khối lượng trâu đực và trâu cái trưởng thành có thể phân thành 3 mức độ to, trung
bình và nhỏ (tương ứng như sau: 450 - 500 và 400 - 450kg, 400 - 450 và 350 - 400kg và 350
- 400 và 300 - 350kg) tuỳ thuộc vào điều kiện nuôi dưỡng, chọn lọc và sử dụng.
Dựa vào tầm vóc, người ta còn chia trâu thành hai nhóm: trâu ngố là trâu có tầm vóc lớn và
trâu gié là trâu có tầm vóc nhỏ.
Khả năng sinh sản của trâu thấp: tuổi đẻ lứa đầu muộn (4 - 5 tuổi). Biểu hiện động
dục không rõ nét, nhịp đẻ thưa (1,5 - 2 năm/lứa). Sản lượng sữa thấp (600 - 700kg/chu kỳ),
tỷ lệ mỡ sữa cao (9 - 12%). Tốc độ sinh trưởng chậm, tỷ lệ thịt xẻ thấp (43 - 48%).
Một số địa phương có trâu tầm vóc lớn: Hàm Yên, Chiêm Hoá (Tuyên Quang), Lục Yên
(Yên Bái), Mường Và, Mai Sơn (Lai Châu), Thanh Chương (Nghệ An), Quảng Nam, Bình
Định, Tây Ninh.
1.3.1.2. Các giống Bò Việt Nam
- Bò vàng:
Bò được nuôi để lấy thịt, cầy kéo và lấy phân. Có
lông da mầu vàng nên gọi là bò vàng. Bò vàng có
tầm vóc nhỏ. Khối lượng trưởng thành phổ biến ở
con đực là 200 - 250kg, con cái là 140 - 160kg, đực
giống tốt: 250 - 280kg, cái giống tốt: 180 - 200kg.
7
Được nuôi ở một số địa phương vùng núi phía Bắc và
Tây Bắc.
Lợn mầu đen, có 6 đốm trắng ở trán, bốn chân và
chóp đuôi, tai to và rủ, mõm dài.
ầu tương đối sớm (30 - 32 tháng), nhịp
đẻ tương đối mau (13 - 15 tháng/lứa). Sản lượng sữa thấp (300 - 400 kg/chu kỳ). Tỷ lệ mỡ
sữa cao (5,5%). Tốc độ sinh trưởng chậm, tỷ lệ thịt xẻ thấp (45%).
Một số địa phương có các nhóm bò tốt: Lạng Sơn, bò Mèo (Đồng Văn - Hà Giang),
Thanh Hoá, Nghệ An, Phú Yên.
- Bò Lai Sind:
Cách đây khoảng 70 năm, bò Red Sindhi được nhập vào
nước ta và nuôi ở một số địa phương. Việc lai giữa bò
Sindhi và bò vàng đã hình thành nên giống bò Lai Sind.
Bò Lai Sind là giống bò tốt, thích nghi cao với điều kiện
nuôi dưỡng và khí hậu nước ta.
Bò có tầm vóc tương đối lớn (ở tuổi trưởng thành con đực nặng 250 - 300kg, con
cái nặng 200 - 250kg), mầu lông vàng sẫm, tai to và hơi rủ, yếm cổ phát triển kéo dài tới
rốn, u vai cao.
Khả năng sinh trưởng, cho thịt và cầy kéo đều tốt hơn bò vàng. Khả năng sinh sản
tương đối tốt, sản lượng sữa 790 - 950kg/chu kỳ, tỷ lệ mỡ sữa 5%. Tốc độ sinh trưởng
nhanh hơn bò vàng, tỷ lệ thịt xẻ tương đối cao (50%).
1.3.1.3. Ngựa Việt Nam
Ngựa Việt Nam được nuôi nhiều ở vùng núi, ven đô thị
và được dùng để thồ hàng, kéo xe hoặc cưỡi. Ngựa có mầu
lông khá đa dạng, tầm vóc nhỏ.Ở tuổi trưởng thành, khối
lượng con đực 170 - 180kg, con cái 160 - 170kg. Ngựa
Việt Nam có thể kéo xe trọng tải 1400 - 1500kg, thồ
được 160 - 180kg hàng, hoặc cưỡi với tốc độ trung bình
25km/giờ.
1.3.1.4. Dê Việt Nam
- Dê nội:
Chia dê nội thành hai nhóm: dê cỏ và dê núi. Dê cỏ chiếm
đa số và được nuôi chủ yếu ở vùng trung du, đồng bằng
và ven biển.
Dê cỏ có mầu lông đa dạng: trắng, ghi, nâu, đen; tầm
vóc nhỏ. Ở tuổi trưởng thành, con đực 40 - 45kg, con cái
26 - 28kg).
Dê núi được nuôi ở các tỉnh vùng núi miền Bắc như Sơn La, Hà Giang, Lạng Sơn...
Chúng có tầm vóc lớn hơn dê cỏ. Ở tuổi trưởng thành, con đực 40 - 50kg, con cái 34 - 36kg).
Nhìn chung dê Việt Nam có tầm vóc nhỏ, chủ yếu được nuôi để lấy thịt.
Khả năng sinh sản tương đối tốt: dê cái 6 tháng tuổi đã thành thục về tính tỷ lệ đẻ
sinh đôi chiếm 60 - 65%.
Sản lượng sữa thấp chỉ đủ nuôi con.
Tốc độ sinh trưởng chậm, tỷ lệ thịt xẻ thấp (dê cỏ 43%, dê núi 45%).
8
- Dê Bách Thảo:
Có nguồn gốc từ các gống dê Beetal, Jamnpari (ấn Độ) và
Alpine, Saanen (Pháp) được nhập vào nước ta cách đây
hàng trăm năm, hiện được nuôi chủ yếu ở một số tỉnh
duyên hải miền nam trung bộ: Phan Rang, Phan Thiết,
Khánh Hoà.
Dê Bách Thảo được nuôi để vắt sữa, đa số dê có hai sọc đen chạy dọc theo mặt, thân
mầu đen, bụng cẳng chân và đuôi mầu trắng. Tầm vóc của dê Bách Thảo lớn hơn dê nội
Ở tuổi trưởng thành con đực có khối lượng 65 - 75 kg, con cái 42 - 45 kg. Khả năng
sinh sản tương đối tốt: tuổi đẻ lứa đầu 12 - 14 tháng tuổi, 2/3 số dê cái đẻ 2 con/lứa. Sản
lượng sữa 170 - 200 kg/chu kỳ cho sữa 150 ngày.
1.3.1.5. Các giống lợn Việt Nam
- Lợn ỉ:
Có nguồn gốc từ Nam Định và là giống lợn địa phương
của hầu hết các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Có hai nhóm
lợn ỉ chính: nhóm béo hơn là ỉ mỡ, nhóm thanh hơn là ỉ
pha (hoặc nhóm tầm vóc lớn hơn là ỉ gộc). Lợn ỉ thành
thục tính dục sớm: con cái lúc 3 - 4 tháng tuổi (12 - 18
kg), con đực lúc 1,5 - 2 tháng tuổi.
Khối lượng lúc trưởng thành con đực 40 - 50 kg, con cái 60 - 80 kg. Khả năng sinh
sản tương đối khá (đẻ 10 - 11 con/lứa).
Lợn thịt có tốc độ sinh trưởng chậm (300 - 350g/ngày), tiêu tốn nhiều thức ăn (5 - 5,5
kg thức ăn/kg tăng trọng), nhiều mỡ ít nạc (tỷ lệ nạc 32 - 35 %).
Hiện nay lợn ỉ gần như bị tuyệt chủng, số lượng lợn thuần còn rất ít.
- Lợn Móng Cái:
Có nguồn gốc từ Quảng Ninh, hiện được nuôi ở một
số tỉnh đồng bằng sông Hồng và khu bốn cũ. Lợn
Móng Cái có tầm vóc lớn và thanh thoát hơn lợn ỉ.
Lông da có mầu đen vá trắng, đầu đen có đốm trắng ở
trán, vai có dải trắng vắt ngang, bụng và 4 chân trắng,
lưng mông và đuôi đen, nhưng chóp trắng.
Giữa hai vùng lông và đen trắng có dải ngăn cách rộng 2 - 5 cm trong đó da màu đen
còn lông mầu trắng. Lợn Móng Cái có khả năng sinh sản tốt hơn lợn ỉ (đẻ 10 - 12 con/lứa).
Lợn thịt có tốc độ tăng trọng 350 - 400 g/ngày, tiêu tốn 5,0 - 5,5 kg thức ăn/kg tăng trọng, tỷ
lệ nạc 33 - 36 %. Hiện nay lợn Móng Cái chủ yếu được sử dụng làm nái nền lai với lợn đực
ngoại sản xuất lợn lai F1 nuôi thịt hoặc dùng làm nái trong các công thức lai phức tạp hơn.
- Lợn Mường Khương:
9
So với lợn ỉ và lợn Móng Cái, lợn Mường Khương có tầm vóc lớn hơn, dài mình
hơn, chân khoẻ hơn, nhưng khả năng sinh sản kém (đẻ 6 - 8 con/lứa). Sinh trưởng chậm:
Lợn thịt 1 năm tuổi có khối lượng 60 - 70 kg.
1.3.1.6. Các giống gà Việt Nam
- Gà Ri:
Gà Ri có tầm vóc nhỏ. Ở tuổi trưởng thành con trống
nặng 1,8 - 2,3 kg, con mái nặng 1,2 - 1,8 kg. Gà Ri có
dáng thanh, đầu nhỏ, mỏ vàng, cổ và lưng dài, chân nhỏ
mầu vàng. Phổ biến nhất là gà trống có bộ lông mầu nâu
sẫm, gà mái lông mầu vàng nhạt.
Gà Ri thành thục về tính tương đối sớm (4,5 - 5 tháng tuổi). Sản lượng trứng 90 -
120 quả/mái/năm. Khối lượng trứng nhỏ 38 - 42g
Gà mái có tính ấp bóng cao ấp trứng và nuôi con khéo. Nuôi thịt có tốc độ tăng
trưởng chậm, thịt thơm ngon. Gà Ri thích hợp với nuôi chăn thả hoặc bán chăn thả.
- Gà Hồ:
Có nguồn gốc từ thôn Song Hồ thuộc huyện Thuận
Thành (Bắc Ninh). Ở tuổi trưởng thành con trống
nặng 3,5 - 4 kg, con mái nặng 3 -3,5 kg.
Gà mái đẻ trứng muộn, sản lượng trứng 50 -60
quả/mái/năm. Trứng to 50 - 60g, tỷ lệ ấp nở thấp,
gà mái ấp trứng và nuôi con vụng
1.3.1.7. Các giống vịt, ngan, ngỗng của Việt Nam
- Vịt Cỏ:
Là giống vịt nội phổ biến nhất, được nuôi để lấy trứng
và thịt. Vịt Cỏ có mầu lông khá đa dạng, đa số mầu cánh
sẻ, tầm vóc nhỏ. Ở tuổi trưởng thành con trống 1,5 -
1,7kg, con mái 1,4 - 1,5kg. Khả năng sinh sản của vịt Cỏ
khá tốt: tuổi đẻ quả trứng đầu tiên 130 - 140 ngày tuổi,
sản lượng trứng 200 - 210 quả/mái/năm, khối lượng
trứng 60 - 65g.
Vịt thịt nuôi chăn thả giết thịt lúc 2 tháng tuổi con trống nặng 1,2 - 1,3kg; con mái nặng
1,0 - 1,2 kg.
- Ngan nội:
Có ba mầu lông chủ yếu: trắng, đen và loang đen
trắng. Ngan nội có tầm vóc nhỏ.
Ở tuổi trưởng thành con trống 3,8 - 4,0kg, con mái
2,0 - 2,2 kg. Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên: 225 -
235ngày tuổi.
0
Sản lượng trứng 65 - 70 quả/mái/năm. Khối lượng trứng 65 - 70 g.
Ngan nuôi chăn thả thường giết thịt lúc 11 - 12 tuần tuổi
Khối lượng ngan trống 2,9 - 3,0 kg, ngan mái 1,7 - 1,9 kg.
- Ngỗng Cỏ (còn gọi là ngỗng Sen)
Có 3 mầu lông chủ yếu: trắng, xám và vừa trắng vừa xám. Ngỗng Cỏ tầm vóc nhỏ
Ở tuổi trưởng thành con trống 4,0 - 4,5kg, con mái 3,6 - 4,0kg.
Con mái có sản lượng trứng 60 - 76 quả/mái/năm, khối lượng trứng 140 - 170 g.
1.3.2. Các giống vật nuôi địa phương
1.3.2.1. Các giống trâu bò nhập nội
- Trâu Murrah
Trâu Murrah được nhập từ ấn Độ, Pakistan là
nhóm trâu sông (river buffalo). Trâu Murrah có
tầm vóc lớn, toàn thân mầu đen, da mỏng, sừng
cong xoắn. Lúc trưởng thành, trâu đực nặng 700 -
750 kg, trâu cái nặng 500 - 600 kg. Khả năng cho
sữa khá: 1.500 - 1.800 kg/chu kỳ 9 - 10 tháng. Tỷ
lệ mỡ sữa 7 - 9%. Tỷ lệ thịt xẻ: 48%.
- Bò sữa Holstein Fiesian
Là giống bò sữa ôn đới nổi tiếng thế giới có
nguồn gốc từ Hà Lan. Bò Holstein Fiesian có mầu
lông lang trắng đen. Khi trưởng thành, bò đực nặng
800 - 1.000 kg, bò cái nặng 500 - 550 kg. Bò cái có
dáng thanh, đầu nhỏ, da mỏng, bầu vú phát triển, tĩnh
mạch vú nổi rõ.
Đàn bò sữa tại Hà Lan hiện có sản lượng sữa trung bình 8000 kg/chu kỳ 305 ngày, tỷ lệ
mỡ sữa 4,1%. Tuy nhiên, bò thích ứng kém với điều kiện nhiệt đới và khả năng chống chịu
bệnh thấp.
Bò Holstein Fiesian được nuôi phổ biến ở nhiều nước, được nhập vào nước ta lần đầu
qua đường Trung Quốc (bò Lang trắng đen Bắc Kinh), sau đó từ Cu Ba, gần đây từ
Australia và Mỹ để lai với bò Vàng hoặc bò Lai Sind hoặc nuôi thuần chủng để phát triển
đàn bò sữa của nước ta.
1.3.2.2. Các giống ngựa, dê nhập nội
- Ngựa Cabadin: Được nhập từ Liên Xô cũ
Ngựa Cabadin là giống ngựa có tầm vóc lớn, khả năng sử dụng cưỡi hoặc kéo đều tốt.
Ngựa Cabadin được nuôi thích nghi qua nhiều thế hệ tại Bá Vân (Thái Nguyên) và cũng
đã được sử dụng để lai tạo với ngựa Việt Nam nhằm cải tiến tầm vóc và khả năng sản xuất.
- Dê Barbari: Được nhập từ ấn Độ
Dê có thân hình thon chắc, mầu lông trắng có đốm vàng nâu, tai nhỏ và thẳng.
11
Lúc trưởng thành, con đực nặng 30 - 35 kg. Con cái có bầu vú phát triển, cho sữa 0,9
- 1 kg/ngày với chu kỳ vắt sữa 145 - 148 ngày.
Dê có khả năng chịu đựng kham khổ, ăn tạp, hiền lành, phù hợp với điều kiện chăn
nuôi ở nước ta.
1.3.2.3. Các giống lợn nhập nội
- Lợn Yorkshire:
Lợn có nguồn gốc từ vùng Yorshire (Anh) và là giống
lợn phổ biến trên thế giới. Lợn có tầm vóc lớn, toàn
thân mầu trắng, tai nhỏ dựng thẳng.
Ở tuổi trưởng thành, lợn đực nặng 350 - 380 kg, lợn nái
nặng 250 - 280 kg. Khả năng sinh sản và cho thịt đều tốt.
Lợn cái phối giống lần đầu lúc 8 - 9 tháng tuổi
Trung bình mỗi lứa đẻ 11 - 12 con. Lợn thịt tăng trọng trung bình 700 - 750 g/ngày
Tỷ lệ nạc 50 - 55%, tiêu tốn 2,2 - 2,4 kg thức ăn/kg tăng trọng.
- Lợn Landrace:
Có nguồn gốc từ Đan Mạch và là giống lợn cho nạc nổi
tiếng thế giới. Lợn có tầm vóc lớn, mình dài có 16 đôi
xương sườn, hình dáng giống quả thuỷ lôi, đầu nhỏ,
mông và đùi phát triển.Toàn thân mầu trắng, tai to rủ
che kín mắt. ở tuổi trưởng thành, lợn đực nặng 300 -
320 kg, lợn nái nặng 220 - 250 kg.
Lợn cái phối giống lần đầu lúc 8 - 9 tháng tuổi, trung bình mỗi lứa đẻ 11 - 12 con.
Lợn thịt tăng trọng trung bình 700 - 750g/ngày. Tỷ lệ nạc trên 55%, tiêu tốn 2,3 - 2,5
kg thức ăn/kg tăng trọng.
1.3.2.4. Các giống gà nhập nội
- Gµ Leghorn
Là giống gà chuyên cho trứng có nguồn gốc từ Italia
Gà mầu lông trắng, mào đơn rất phát triển. Gà có tầm
vóc nhỏ, con trống 2,2 - 2,5 kg, con mái1,6 - 1,8 kg.
Tuổi đẻ quả trứng đầu 140 ngày tuổi, sản lượng trứng
240 - 260 quả/mái/năm. Khối lượng trứng 50 - 55 g,
vỏ trứng mầu trắng.
Hai dòng gà Leghorn thuần chủng BVX và BVY nuôi
tại Ba Vì đã được công nhận là giống quốc gia của
- G
Việt Nam.
kg, gà mái nặng 2,2 - 2,3 kg, tiêu tốn 2,1 - 2,2 kg thức ăn cho mỗi kg tăng trọng. Gà mái có
sản lượng trứng 190 quả/mái/năm.
1.3.2.5. Các giống vịt, ngan và ngỗng nhập nội
- Vịt Bắc Kinh:
12
Là giống vịt thịt nổi tiếng, được nhập từ những
năm 1960. Vịt có bộ lông mầu trắng tuyền, mỏ
vàng, cổ to dài vừa phải, ngực nở sâu rộng. Lúc
trưởng thành, vịt trống nặng 2,8 - 3 kg, vịt mái
nặng 2,4 - 2,7 kg. Sản lượng trứng đạt 130 -
140 quả/mái/năm, khối lượng trứng 75 - 85 g.
Vịt thịt lúc 56 ngày tuổi, con trống nặng 2,3 - 2,5
kg, con mái nặng 2 - 2,2 kg. Tiêu tốn 2,8 - 3,2 kg
thức ăn/kg tăng trọng.
- Ngan Pháp:
Ngan Pháp dòng R51
Ngan Pháp dòng R31
Được nhập từ hãng Grimand Fress gồm 2 dòng R31 (màu xám đen) và R51 (màu
trắng tuyền). Cả 2 dòng ngan này đều có khả năng cho thịt và sinh sn cao, thích ứng tốt với
điều kiện nhiệt đới. Con trống nặng 4,4 - 4,8 kg lúc 88 ngày tuổi, con mái nặng 2,4 - 2,6 kg
lúc 77 ngày tuổi. Sản lượng trứng đạt 100 quả/mái/năm. Nuôi thịt lúc 12 tuần tuổi con trống
nặng 3,3 - 3,4 kg, con mái nặng 2,5 kg.
c. Ngỗng Sư Tử: Được nhập từ Trung Quốc vào những năm 1960.
Ngỗng có mầu lông xám sẫm, đầu to mỏ đen, mào to mầu đen.
Lúc trưởng thành, con trống nặng 4 - 4,5 kg, con mái nặng 3,6 - 4 kg.
Sản lượng trứng 30 - 38 quả/mái/6 tháng, khối lượng trứng 140 - 170 g.
Ngỗng thịt lúc 70 ngày tuổi đạt 3,3 - 3,6 kg.
13
Chương 2. CHỌN GIỐNG VẬT NUÔI (CHỌN LỌC)
2.1. KHÁI NIỆM VỀ TÍNH TRẠNG
Các vật nuôi luôn có những đặc điểm nhất định, các đặc điểm này được gọi là các
tính trạng. Tính trạng là đặc trưng của một cá thể mà ta có thể quan sát hay xác định được.
Có hai loại tính trạng: Tính trạng chất lượng và tính trạng số lượng.
Các tính trạng có thể quan sát và mô tả bằng cách phân loại là các tính trạng chất lượng.
Ví dụ: Tính trạng có sừng hoặc không có sừng ở dê, mào trái dâu hoặc mào cờ ở gà. Các
tính trạng như sản lượng sữa của bò, tốc độ tăng trọng của lợn, sản lượng và khối lượng
trứng của gà... là các tính trạng số lượng.
Có thể xác định giá trị của các tính trạng số lượng bằng các phép đo (các cách cân,
đo, đong, đếm).
Những điểm khác biệt cơ bản giữa tính trạng số lượng và tính trạng chất lượng:
- Tính trạng chất lượng thường chỉ do một hoặc rất ít gen chi phối, tính trạng số
lượng do nhiều gen chi phối và mỗi gen thường chỉ gây ra một ảnh hưởng nhỏ.
Ví dụ, tính trạng có sừng hay không sừng ở dê do gen P, p quy định (không sừng: PP
hoặc Pp, có sừng: pp), trong khi đó người ta cho rằng có vài nghìn gen chi phối tính trạng
tốc độ tăng trọng của lợn.
Tuy nhiên, cũng có một vài tính trạng số lượng mà giá trị của chúng cũng không phải
là những biến liên tục.
Ví dụ: các giá trị của tính trạng số con đẻ trong một lứa của lợn hoặc của dê, cừu
tuy chỉ là những số nguyên rời rạc trong một giới hạn nhất định, nhưng số con đẻ trong một
lứa vẫn thuộc tính trạng số lượng.
- Các giá trị của tính trạng số lượng là biến liên tục, các quan sát của tính trạng chất
lượng chỉ là biến rời rạc.
Ví dụ: Các giá trị của tính trạng sản lượng sữa bò (số kg sữa/chu kỳ vắt sữa) là cả
một dãy số liệu liên tục, trong khi đó người ta chỉ có thể phân loại màu lông của lợn thành
vài nhóm khác nhau (đen, trắng, loang...)
- Tính trạng chất lượng ít chịu ảnh hưởng của điều kiện sống, tính trạng số lượng
chịu ảnh hưởng lớn bởi điều kiện sống.
Ví dụ: điều kiện nuôi dưỡng không ảnh hưởng đến màu lông, hình dáng mào gà
nhưng lại ảnh hưởng rất lớn tới sản lượng trứng, tốc độ tăng trọng của gà
2.2. NHỮNG TÍNH TRẠNG CƠ BẢN CỦA VẬT NUÔI
2.2.1. Tính trạng về ngoại hình
Ngoại hình của một vật nuôi là hình dáng bên ngoài của con vật. Tuy nhiên, trên
những khía cạnh nhất định, ngoại hình phản ảnh được cấu tạo của các bộ phận cấu thành cơ
thể, tình trạng sức khoẻ cũng như năng suất của vật nuôi.
Ví dụ: Căn cứ vào hình dáng của một con trâu cầy, nếu thấy nó to lớn, vạm vỡ, gân
guốc có thể dự đoán nó có khả năng cầy kéo tốt; quan sát một con bò cái sữa, nếu thấy nó có
bầu vú lớn, tĩnh mạch vú to và nổi rõ có thể dự đoán nó cho năng suất sữa cao...
Để đánh giá ngoại hình vật nuôi, người ta dùng mắt để quan sát và dùng tay để sờ
nắn, dùng thước để đo một số chiều đo nhất định.
Có thể sử dụng một số phương pháp đánh giá ngoại hình sau đây:
14
- Quan sát từng bộ phận và tổng thể con vật, phân loại ngoại hình con vật theo các
mức khác nhau.
Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, tuy nhiên việc đánh giá chính xác hay
không tuỳ thuộc vào kinh nghiệm của người đánh giá và hầu như không có tư liệu lưu lại
sau khi đánh giá.
- Dùng thước đo để đo một số chiều đo trên cơ thể con vật, mô tả những đặc trưng
chủ yếu về ngoại hình thông qua số liệu các chiều đo này.
Số lượng các chiều đo tuỳ thuộc vào tầm quan trọng của các bộ phận cơ thể đối với
mục đích chọn lọc và nhân giống. Ví dụ: Để chọn lọc ngoại hình ngựa đua người ta phải sử
dụng rất nhiều chiều đo khác nhau, nhưng để đánh giá ngoại hình lợn nái người ta chỉ cần xem
xét một vài chiều đo cơ bản.
Phương pháp này phức tạp hơn, phải có dụng cụ đo và người thực hiện phải nắm
được phương pháp đo. Trong tiêu chuẩn chọn lọc gia súc của nước ta hiện nay, các chiều đo
cơ bản của trâu, bò, lợn bao gồm:
+ Cao vai (đối với trâu bò còn gọi là cao vây): Chiều cao từ mặt đất tới điểm sau của
u vai (đo bằng thước gậy).
+ Vòng ngực: Chu vi lồng ngực tại điểm tiếp giáp phía sau của xương bả vai (đo
bằng thước dây).
+ Dài thân chéo (đối với trâu bò): Khoảng cách từ phía trước của khớp bả vai-cánh
tay đến mỏm sau của u xương ngồi (đo bằng thước gậy).
+ Dài thân (đối với lợn): Khoảng cách từ điểm giữa của đường nối giữa 2 gốc tai tới
điểm tiếp giáp giữa vùng khum và vùng đuôi (đo sát da, bằng thước dây).
Các chiều đo trên còn được sử dụng để ước tính khối lượng của con vật. Sau đây là
một vài công thức ước tính khối lượng trâu, bò, lợn:
Khối lượng trâu Việt Nam (kg) = 88,4 (Vòng ngực)2 x Dài thân chéo
Khối lượng bò vàng (kg)
= 89,8 (Vòng ngực)2 x Dài thân chéo
2
Khối lượng lợn (kg)= [(Vòng ngực) x Dài thân]/14.400
- Phương pháp đánh giá ngoại hình đang được sử dụng rộng rãi là đánh giá bằng cho điểm.
Nguyên tắc của phương pháp này là hình dung ra một con vật mà mỗi bộ phận cơ thể
của nó đều có một ngoại hình đẹp nhất, đặc trưng cho giống vật nuôi mà người ta mong
muốn. Có thể nói đó là con vật lý tưởng của một giống, các bộ phận của nó đều đạt được
điểm tối đa trong thang điểm đánh giá. So sánh ngoại hình của từng bộ phận giữa con vật
cần đánh giá với con vật lý tưởng để cho điểm từng bộ phận. Điểm tổng hợp của con vật là
tổng số điểm của các bộ phận.
Theo Tiêu chuẩn lợn giống của nước ta(TCVN.1280-81), việc đánh giá ngoại hình
lợn được thực hiện theo phương pháp cho điểm 6 bộ phận. Ví dụ: Điểm tối đa ngoại
hình cho từng bộ phận đối với lợn nái Móng Cái là 5 điểm, 6 bộ phận
được nhân với các hệ số khác nhau như sau:
1. Đầu và cổ
1
2. Vai và ngực
2
3
3
3
3
3. Lưng sườn và bụng
4. Mông và đùi sau
5. Bốn chân
6/ Vú và bộ phận sinh dục
15
Cuối cùng căn cứ vào điểm tổng số để xếp cấp ngoại hình theo các thang bậc: đặc
cấp, cấp I, cấp II, cấp III và cấp IV.
Hiện nay, trong tiêu chuẩn chọn lọc ngoại hình bò sữa ở các nước châu Âu và Mỹ,
ngoài chiều cao cơ thể được đánh giá bằng cách đo cao khum (khoảng cách từ mặt đất tới
điểm cao nhất ở phần khum con vật), người ta sử dụng thang điểm từ 1 tới 9 để cho điểm 13
bộ phận khác nhau (gọi là các tính trạng tuyến tính). Điểm tổng cộng của con vật cũng là
căn cứ để phân ngoại hình thành 6 cấp độ khác nhau.
2.2.2. Tính trạng về sinh trưởng
Sinh trưởng là sự tăng thêm về khối lượng, kích thước, thể tích của từng bộ phận hay
của toàn cơ thể con vật. Thực chất của sinh trưởng chính là sự tăng trưởng và phân chia của
các tế bào trong cơ thể vật nuôi.
Để theo dõi các tính trạng sinh trưởng của vật nuôi cần định kỳ cân, đo, đong các cơ
quan bộ phận hay toàn cơ thể con vật. Khoảng cách giữa các lần cân, đo, đong này phụ
thuộc vào loại vật nuôi và mục đích theo dõi đánh giá. Chẳng hạn: đối với lợn con, thường
cân khối lượng lúc sơ sinh, 21 ngày tuổi, cai sữa mẹ. Đối với lợn thịt, thường cân khối
lượng khi bắt đầu nuôi, kết thúc nuôi và ở từng tháng nuôi.
Để biểu thị tốc độ sinh trưởng của vật nuôi, người ta thường sử dụng 3 độ sinh
trưởng sau đây:
- Độ sinh trưởng tích luỹ: khối lượng, kích thước, thể tích của toàn cơ thể hay của từng
bộ phận cơ thể tại các thời điểm sinh trưởng, nghĩa là các thời điểm thực hiện các phép đo.
- Độ sinh trưởng tuyệt đối: Độ sinh trưởng tuyệt đối là khối lượng, kích thước, thể
tích của toàn cơ thể hay của từng bộ phận cơ thể tăng lên trong một đơn vị thời gian. Công
thức tính như sau:
trong đó, A: độ sinh trưởng tuyệt đối
V2, t2: khối lượng, kích thước, thể tích tại thời điểm t2
V1, t1: khối lượng, kích thước, thể tích tại thời điểm t1
Độ sinh trưởng tương đối là tỷ lệ phần trăm khối lượng, kích thước, thể tích của cơ
thể hay từng bộ phận cơ thể tăng thêm so với trung bình của hai thời điểm sinh trưởng sau
và trước. Độ sinh trưởng tương đối thường được biểu thị bằng số phần trăm,
Ví dụ: Khối lượng 1 lợn thịt lúc 5 và 6 tháng tuổi lần lượt là 46 và 70 kg
Độ sinh trưởng tuyệt đối là: A = (70 - 46)/(6-5) = 24 kg/tháng.
Nếu giữa 2 tháng tuổi này có số ngày là 30 thì: A = (70.000 - 46.000)/30 = 800 g/ngày.
- Độ sinh trưởng tương đối: Độ sinh trưởng tương đối là tỷ lệ phần trăm khối lượng,
kích thước, thể tích của cơ thể hay từng bộ phận cơ thể tăng thêm so với trung bình của
hai thời điểm sinh trưởng sau và trước. Độ sinh trưởng tương đối thường được biểu thị bằng
số phần trăm, công thức tính như sau:
Trong đó:
R(%): độ sinh trưởng tương đối (%)
V2: khối lượng, kích thước, thể tích tại thời điểm sau
V1: khối lượng, kích thước, thể tích tại thời điểm trước
Ví dụ: Cũng lợn thịt trên, độ sinh trưởng tương đối là: R(%) = [(70 - 46)/(70 + 46)/2] x 100 = 41,38%.
16
2.2.3. Các tính trạng năng suất và chất lượng sản phẩm
2.2.3.1. Năng suất và chất lượng sữa
Đối với vật nuôi lấy sữa, người ta theo dõi đánh giá các tính trạng chủ yếu sau:
- Sản lượng sữa trong 1 chu kỳ tiết sữa: Là tổng lượng sữa vắt được trong 10 tháng
tiết sữa (305 ngày);
- Tỷ lệ mỡ sữa: Là tỷ lệ mỡ sữa trung bình trong một kỳ tiết sữa.
- Định kỳ mỗi tháng phân tích hàm lượng mỡ sữa 1 lần, căn cứ vào hàm lượng mỡ
sữa ở các kỳ phân tích và sản lượng sữa hàng tháng để tính tỷ lệ mỡ sữa.
- Tỷ lệ protein sữa: Là tỷ lệ protein trung bình trong một kỳ tiết sữa.
- Cách xác định và tính toán tương tự như đối với tỷ lệ mỡ sữa.
2.2.3.2. Năng suất và chất lượng thịt
Đối với vật nuôi lấy thịt, người ta theo dõi các tính trạng chủ yếu sau:
- Tăng trọng trung bình trong thời gian nuôi: Là khối lượng tăng trung bình trong
đơn vị thời gian mà con vật đạt được trong suốt thời gian nuôi.
- Người ta thường tính bằng số gam tăng trọng trung bình hàng ngày (g/ngày).
- Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng: Là số kg thức ăn chi phí trung bình cho mỗi
kg tăng trọng mà con vật đạt được trong thời gian nuôi.
- Tuổi giết thịt: Là số ngày tuổi vật nuôi đạt được khối lượng giết thịt theo quy định.
2.2.3.3. Năng suất sinh sản
Đối với vật nuôi dùng để sinh sản, các tính trạng năng suất chủ yếu bao gồm:
+ Con cái:
- Tuổi phối giống lứa đầu: Tuổi bắt đầu phối giống. Tuổi đẻ lứa đầu: Tuổi đẻ lứa đầu tiên.
- Khoảng cách giữa hai lứa đẻ: Số ngày từ lứa đẻ trước tới lứa đẻ sau.
- Tỷ lệ thụ thai: Số cái thụ thai so với tổng số cái được phối giống.
- Tỷ lệ đẻ: Số cái đẻ so với tổng số cái có khả năng sinh sản (với trâu bò, dê, ngựa).
- Số con đẻ ra còn sống sau khi đẻ 24 giờ, số con còn sống khi cai sữa, số lứa đẻ/nái/năm,
số con cai sữa/nái/năm (với lợn); tỷ lệ đẻ 1 con/lứa, sinh đôi, sinh ba (với dê, cừu).
- Khối lượng sơ sinh, cai sữa: Khối lượng con vật cân lúc sơ sinh, lúc cai sữa.
+ Con đực:
- Tuổi bắt đầu sử dụng phối giống: Tuổi bắt đầu phối giống.
- Phẩm chất tinh dịch: Tổng số tinh trùng có khả năng thụ thai trong 1lần xuất tinh
(ký hiệu là: VAC). VAC là tích số của 3 tính trạng: lượng tinh dịch bài xuất trong 1 lần xuất
tinh (dung tích: V); số lượng tinh trùng/1ml tinh dịch (nồng độ: C); tỷ lệ tinh trùng có vận
động thẳng tiến (hoạt lực: A).
2.3. CÁC PHƯƠNG PHÁP MÔ TẢ ĐÁNH GIÁ CÁC TÍNH TRẠNG SỐ LƯỢNG
2.3.1. Trung bình số học:
Là tham số đặc trưng cho giá trị chính giữa của sự phân bố các giá trị quan sát được.
Ký hiệu giá trị trung bình số học (gọi tắt là trung bình) là x
Công thức:
17
Trong đó
xi : giá trị của các quan sát
n : số lượng các quan sát
2.3.2. Phương sai
Tham số đặc trưng cho mức độ phân tán của các giá trị quan sát được. Kí hiệu S2
Giá trị phương sai được tính bằng:
Trong đó: xi : Giá trị của các quan sát
n : Số lượng các quan sát
x : Giá trị trung bình
2.3.4. Độ lệch tiêu chuẩn
Độ lệch tiêu chuẩn là tham số đặc trưng cho mức độ phân tán của các giá trị quan sát
được. Độ lệch tiêu chuẩn bằng căn bậc hai của phương sai.
Ký hiệu độ lệch tiêu chuẩn là s. Giá trị của độ lệch tiêu chuẩn được tính bằng:
2.3.5. Sai số của số trung bình:
Là tham số đặc trưng cho mức độ phân tán của giá trị trung bình đã được tính toán
trên cơ sở các mẫu quan sát rút ra từ quần thể. Ký hiệu sai số của số trung bình là mx:
2.3.6. Hệ số biến động:
Là tỷ lệ phần trăm giữa độ lệch tiêu chuẩn và trung bình của mẫu.
Ký hiệu hệ số biến động là Cv, đơn vị tính phần trăm.
2.3.7. Hệ số tương quan:
Dùng để biểu thị mức độ quan hệ giữa 2 tính trạng x và y. Hệ số tương quan là tỷ số
giữa hiệp phương sai của x và y với tích của hai độ lệch tiêu chuẩn x và độ lệch tiêu chuẩn
y. Hiệp phương sai của x và y biểu thị mối quan hệ tương hỗ giữa hai đại lượng x và y, được
ký hiệu là Sxy:
Trong đó:
xi: các giá trị quan sát của tính trạng x; x : giá trị trung bình của tính trạng x
yi: các giá trị quan sát tương ứng của tính trạng y
y : giá trị trung bình của tính trạng y
n: số lượng các cặp giá trị quan sát x và y
18
Ký hiệu hệ số tương quan giữa x và y là rxy:
rxy có giá trị biến động trong phạm vi -1 tới +1.
Nếu rxy = 0: giữa x và y không có tương quan;
rxy > 0: giữa x và y có mối tương quan thuận, nghĩa là giá trị của x tăng lên
hoặc giảm đi thì giá trị của y cũng tăng lên hoặc giảm đi và ngược lại;
rxy < 0: giữa x và y có mối tương quan nghịch, nghĩa là giá trị của x tăng lên
hoặc giảm đi thì giá trị của y lại giảm đi hoặc tăng lên và ngược lại.
2.4. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHỌN GIỐNG VẬT NUÔI
Quyết định lựa chọn con vật có thể làm vật làm vật giống hay không được gọi là
chọn giống vật nuôi. Quyết định này thường xảy ra trong thời gian nuôi hậu bị các con đực
và con cái (từ khi tách mẹ tới lúc chuẩn bị phối giống).
Ví dụ: trong quá trình nuôi những lợn cái con từ cai sữa mẹ tới lúc có thể phối giống,
người ta tiến hành các theo dõi đánh giá để chọn lọc một số làm vật giống, số còn lại sẽ
được nuôi thịt.
Loại thải vật giống là quyết định không để cho con vật tiếp tục làm giống nữa. Quyết
định này thường xảy ra sau mỗi chu kỳ sản xuất của con vật
Ví dụ: Sau mỗi lứa đẻ của lợn nái, mỗi chu kỳ vắt sữa của bò sữa... hoặc theo định kỳ
về thời gian cũng như các kiểm tra đánh giá nhất định.
Để chọn một con vật làm giống, trước hết phải lựa chọn bố và mẹ chúng. Người ta thường
căn cứ vào giá trị giống của các chỉ tiêu năng suất và ngoại hình để lựa chọn các cặp bố mẹ.
Ví dụ: Muốn có một bò đực giống có năng suất cao về sản lượng sữa, người ta cho
một bò cái sữa cao sản có giá trị giống là 300 kg để phối giống với một bò đực giống có giá
trị giống là 600 kg, ước tính đời con sẽ có giá trị giống là 450 kg . Tuy bố mẹ là những con
giống đã được chọn lọc, nhưng chúng cũng không thể có những nhược điểm nhất định về
ngoại hình.
Tránh sự trùng lặp các khuyết điểm về ngoại hình của bố và mẹ là biện pháp hữu
hiệu ngăn ngừa khuyết điểm này lại xuất hiện ở đời con.
Ví dụ: Nếu bò mẹ có nhược điểm ở chân sau người ta sẽ không cho phối giống với
bò đực giống cũng có nhược điểm này.
Cần kiểm tra đánh giá con vật trong 2 giai đoạn:
- Giai đoạn hậu bị: Từ khi con vật được nuôi tách mẹ (đối với gia súc) hoặc từ 4 tuần
tuổi (đối với gia cầm) tới khi con vật bắt đầu sinh sản. Việc theo dõi đánh giá trong giai
đoạn này tập trung vào các chỉ tiêu sinh trưởng và ngoại hình.
- Giai đoạn sinh sản: Đối với con đực, theo dõi đánh giá các chỉ tiêu sinh sản của
bản thân chúng hoặc các chỉ tiêu năng suất ở đời con của chúng sẽ cung cấp những thông tin
cho việc quyết định lựa chọn con đực làm giống hay không. Đánh giá các chỉ tiêu sinh sản
ở con cái nhằm đi đến quyết định có tiếp tục giữ chúng làm giống hay không. Trong thực
tiễn chọn lọc vật nuôi nhằm quyết định sử dụng chúng làm giống hoặc loại thải chúng, người
ta thường áp dụng các phương pháp kiểm tra đánh giá để chọn lọc sau đây:
* Chọn lọc hàng loạt
19
Là phương pháp định kỳ theo dõi, ghi chép các chỉ tiêu năng suất, chất lượng sản
phẩm mà vật nuôi đạt được ngay trong điều kiện của sản xuất, căn cứ vào các kết quả theo
dõi được mà quyết định tiếp tục sử dụng hay loại thải chúng.
Đây là phương pháp chọn lọc đơn giản, không tốn kém, dễ thực hiện. Tuy nhiên,
năng suất và chất lượng sản phẩm của con vật luôn chịu ảnh hưởng của các điều kiện nuôi
dưỡng chăm sóc cũng như một số nhân tố khác, do vậy chọn lọc hàng loạt cũng là một
phương pháp có độ chính xác kém.
Để tăng thêm độ chính xác của chọn lọc theo phương pháp này, người ta phải tiến
hành việc hiệu chỉnh các số liệu năng suất, chất lượng sản phẩm, nghĩa là loại trừ bớt một số
nhân tố ảnh hưởng, giảm bớt các sai lệch do môi trường gây nên, làm cho giá trị kiểu hình
gần đúng hơn với giá trị giống của con vật.
Chẳnghạn, năng suất sinh sản của lợn nái phụ thuộc vào lứa đẻ của chúng, quy luật
chung là năng suất trong lứa đầu thấp.
* Kiểm tra năng suất (kiểm tra cá thể)
Phương pháp này thường được tiến hành tại các cơ sở chuyên môn hoá được gọi là
các trạm kiểm tra năng suất. Kiểm tra năng suất được tiến hành trong giai đoạn hậu bị nhằm
chọn lọc những vật nuôi được giữ lại làm giống.
Để loại trừ một số ảnh hưởng của môi trường, tạo những điều kiện thuận lợi phát huy
hết tiềm năng di truyền của con vật, người ta nuôi chúng trong điều kiện tiêu chuẩn về
chuồng nuôi, chế độ dinh dưỡng (cho ăn không hạn chế)... Trong quá trình nuôi kiểm tra,
con vật được theo dõi một số chỉ tiêu nhất định. Các kết quả đạt được về các chỉ tiêu này
được sử dụng để đánh giá giá trị giống và căn cứ vào giá trị giống để quyết định chọn lọc
hay loại thải con vật.
Đặc điểm của phương pháp này là đánh giá trực tiếp năng suất của chính con vật
tham dự kiểm tra, vì vậy việc ước tính giá trị giống đảm bảo được độ chính xác đối với các
tính trạng có hệ số di truyền ở mức độ cao hoặc trung bình.
* Kiểm tra đời con
Phương pháp này được sử dụng để đánh giá chọn lọc các đực giống. Để kiểm tra
đời con, người ta cho các đực giống tham dự kiểm tra phối giống với một số lượng cái giống
nhất định. Khi các cái giống này sinh ra đời con, người ta nuôi các con của chúng tại các
trạm kiểm tra có các điều kiện tiêu chuẩn về chuồng nuôi, chế độ dinh dưỡng .. giống như
đối với kiểm tra năng suất. Đời con được theo dõi những chỉ tiêu nhất định về năng suất,
căn cứ vào các chỉ tiêu đạt được ở đời con để đánh giá giá trị giống của con đực và quyết
định chọn lọc hay loại thải các đực giống này.
* Kiểm tra kết hợp
Là phương pháp kết hợp giữa kiểm tra năng suất và kiểm tra đời con. Ví dụ: Để
kiểm tra kết hợp nhằm lựa chọn lợn đực giống người ta tiến hành như sau: Cũng như đối với
kiểm tra đời sau, cho các lợn đực giống tham dự kiểm tra phối giống với một số lợn nái
giống nhất định. Đời con của chúng được nuôi tại trạm kiểm tra và được theo dõi các chỉ
tiêu năng suất với 2 mục đích: kiểm tra năng suất của đời con.
20
Chương 3. NHÂN GIỐNG VẬT NUÔI
3.1. NHÂN GIỐNG THUẦN CHỦNG
3.1.1. Khái niệm
Nhân giống thuần chủng là phương pháp nhân giống bằng cách cho các đực giống
và cái giống của cùng một giống giao phối với nhau. Do vậy, thế hệ con vẫn là giống thuần,
nghĩa là chỉ mang các đặc điểm của một giống ban đầu duy nhất.
Ví dụ:
Cho lợn đực Móng Cái x lợn cái Móng Cái
F1 Giống thuần Móng Cái
Cho gà trống Ri x gà mái Ri
F1 gà Ri thuần.
3.1.2. Vai trò tác dụng của nhân giống thuần chủng
Nhân giống thuần chủng thường được áp dụng trong một số trường hợp sau:
- Nhân giống một giống mới được tạo thành hoặc mới nhập từ nơi khác về, số lượng
vật nuôi trong giống còn ít, một số đặc điểm của giống còn chưa ổn định. Nhân giống thuần
chủng sẽ có tác dụng tăng số lượng cá thể của giống, kết hợp với chọn lọc nhân giống thuần
chủng sẽ củng cố được các đặc điểm của giống vật nuôi.
- Bảo tồn quỹ gen các vật nuôi đang bị giảm về số lượng cũng như về địa bàn phân
bố và có nguy cơ bị tiệt chủng. Điều này đặc biệt quan trọng đối với một số giống vật nuôi
bản địa do năng suất của chúng thấp, chất lượng sản phẩm không còn đáp ứng
được với nhu cầu thị trường. Chẳng hạn, lợn ỉ hiện đang là một trong những đối tượng
vật nuôi cần được bảo tồn.
- Khi thực hiện nhân giống thuần chủng có thể cải tiến được năng suất của vật nuôi.
Mức độ cải tiến tuỳ thuộc vào đặc điểm của tính trạng, ly sai chọn lọc, khoảng cách thế hệ.
Thông thường, những tính trạng có hệ số di truyền cao hoặc trung bình sẽ được cải tiến một
cách nhanh và chắc chắn hơn so với các tính trạng có hệ số di truyền thấp.
- Trong quá trình thực hiện nhân giống thuần chủng cần chú ý tránh giao phối cận
huyết. Giao phối giữa các bố mẹ có quan hệ huyết thống sẽ gây ra hiện tượng suy hoá cận
huyết ở đời con. Biểu hiện của suy hoá cận huyết là sự giảm sút của những tính trạng liên
quan tới khả năng sinh sản và khả năng sống của vật nuôi.
- Những tính trạng có hệ số di truyền thấp thường có mức độ suy hoá cận huyết cao,
ngược lại những tính trạng có hệ số di truyền cao mức độ suy hoá cận huyết thường thấp.
Mức độ suy giảm này tuỳ thuộc vào hệ số cận huyết, hệ số cận huyết càng cao suy hoá cận
huyết càng lớn.
Để có thể tránh việc giao phối cận huyết cần hiểu các khái niệm cơ bản về hệ phổ và
hệ số cận huyết.
3.1.3. Nhân giống thuần chủng theo dòng
Nhân giống theo dòng là một phương thức đặc biệt của nhân giống thuần chủng
nhằm tạo được một tập hợp vật nuôi có chung các đặc điểm cơ bản của giống nhưng lại
hình thành và duy trì được một vài đặc điểm riêng biệt của dòng.
Trong quá trình nhân giống thuần chủng của một giống nhất định, người ta chọn lọc,
xác định được một con giống có năng suất rất cao về một tính trạng nào đó, nghĩa là có đặc
điểm tốt nổi trội và người chăn nuôi muốn duy trì đặc điểm tốt này ở các thế hệ sau.
21
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Giống vật nuôi - Dương Thảo Chinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bai_giang_giong_vat_nuoi_duong_thao_chinh.pdf

