Đề tài Nghiên cứu khả năng sử dụng bọ đuôi kìm để phòng trừ sâu đục thân hại mía tại vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn - Thanh Hoá

PHẦN I. MỞ ĐẦU  
1.1. Lý do chọn đề tài  
Cây mía (Saccharum officinarum L.) là cây công nghiệp có nguồn gốc nhiệt đới,  
cung cấp nguyên liệu chủ yếu cho các ngành công nghệ chế biến đường ở nhiều nước  
trên thế giới. Ở Việt Nam cây mía đang chiếm một vị trí quan trọng trong việc chuyển  
đổi cơ cấu cây trồng và đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp phục vụ cho công cuộc  
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.  
Việt Nam thuộc khu vực Bắc bán cầu nằm trải dài từ 8030’ - 23020’ vĩ độ  
bắc, có tọa độ tương ứng với các nước trong khu vực trồng mía có năng suất cao  
như Đài Loan là 456,1 tấn/ha, Ấn Độ 440,8 tấn/ha. Về vị trí địa lý của nước ta  
thuộc khu vực có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho việc phát triển và khai thác  
tiềm năng năng suất cao về cây mía, song năng suất mía bình quân chung cả nước  
mới chỉ đạt 49,7 tấn/ha. Trong nhiều nguyên nhân làm năng suất mía thấp, thì  
nhóm sâu đục thân mía làm giảm đáng kể về năng suất và chất lượng mía nguyên  
liệu (Đỗ Ngọc Diệp, 2002).  
Từ sau năm 1975 đến nay, đặc biệt trong 10 năm gần đây ngành mía đường  
đang có bước tiến đáng kể về diện tích, năng suất, sản lượng. Các nhà khoa học đã  
khẳng định, để nâng cao năng suất mía cần phải sử dụng các giống mới, kết hợp  
với đầu tư thâm canh cao, bón phân hợp lý. Tuy nhiên kinh nghiệm thực tiễn sản  
suất và kết quả nghiên cứu cho thấy: Sâu, bệnh cỏ dại và chuột là những nhân tố  
gây nên tổn thất rất lớn cho năng suất, chất lượng mía, ảnh hưởng đến hiệu quả chế  
biến đường của các nhà máy chế biến đường.  
Theo tài liệu điều tra của ngành mía đường Việt Nam năm 2000, thiệt hại  
làm giảm sản lượng do sâu: 17,1%, do bệnh: 11,5%, do cỏ dại: 11,8%.[Báo cáo  
tổng kết 5 năm thực hiện chương trình mía đường của Bộ NN&PTNT [2]  
Hiện nay việc phòng trừ sâu đục thân hại mía đang gặp rất nhiều khó khăn,  
vì cây mía là cây lưu gốc nhiều năm, bộ giống mía phong phú, địa hình trồng mía  
đa dạng và sâu đục thân mía ẩn nấp ở nhiều bộ phận khác nhau trên cây mía và các  
cây trồng khác nên công tác phòng trừ không đạt hiệu quả cao.  
1
Công tác phòng trừ sâu hại cây trồng nói chung và sâu đục thân mía nói  
riêng là tìm ra các biện pháp phòng trừ có hiệu quả không gây ô nhiễm môi trường  
đạt mục tiêu: kinh tế - xã hội - môi trường. Thời gian qua, chương trình phòng trừ  
dịch hại tổng hợp (IPM) đã được tiến hành trên nhiều loại cây trồng, với nhiều sâu  
hại khác nhau, đã mang lại hiệu quả kinh tế, đảm bảo không gây ô nhiễm môi  
trường. Việc tiến hành phòng trừ sâu đục thân hại mía theo hướng IPM cần nắm  
vững hệ sinh thái đồng mía, mối quan hệ của cây mía với dịch hại và thiên địch  
của chúng. Nguyên tắc chung của biện pháp này là bảo vệ và sử dụng các loài  
thiên địch của sâu hại nhằm khống chế quần thể sâu hại phát triển dưới ngưỡng gây  
hại kinh tế, bảo vệ cây trồng.  
Cho đến nay, các nghiên cứu về sâu đục thân mía và sử dụng bọ đuôi kìm  
trong phòng trừ sâu đục thân mía tại Bắc Trung Bộ hầu như chưa được quan tâm.  
Có một số kết quả nghiên cứu đã công bố, nhưng vừa rất tản mạn về không gian và  
thời gian, vừa quá lạc hậu với điều kiện sản xuất mới. Với những kết quả đã có  
không thể xây dựng được quy trình hay mô hình phòng trừ sâu đục thân mía nào  
phù hợp mang lại hiệu quả cao cho người trồng mía. Hiện nay, phần lớn người  
trồng mía tại Thanh Hoá chưa chú trọng phòng trừ sâu đục thân, nếu có thì các  
biện pháp phòng mang tính tự phát, riêng rẽ nên hiệu quả không cao, mà còn ảnh  
hưởng đến môi trường, không bảo vệ và sử dụng được thiên địch trong tự nhiên, ảnh  
hưởng đến chất lượng sản phẩm theo hướng GAP.  
Vì lẽ đó, để góp phần vào công tác nghiên cứu, giải quyết đòi hỏi cấp bách  
của người trồng mía trong việc phòng trừ sâu đục thân và sử dụng bọ đuôi kìm  
phòng trừ chúng tại Thanh Hoá. Chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu khả năng  
sử dụng bọ đuôi kìm để phòng trừ sâu đục thân hại mía tại vùng nguyên liệu  
mía đường Lam Sơn Thanh Hoá”  
1.2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩ thực tiễn  
1. 2.1. Ý nghĩa khoa học:  
Đề tài được tiến hành sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về thành phần loài,  
phân bố tác hại của sâu hại mía nói chung, sâu đục thân hại mía nói riêng. Cũng  
như thành phần thiên địch của chúng tại ở vùng mía Thanh Hoá.  
2
1.2.2. Ý nghĩa thực tiễn:  
Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm cơ sở để xây dựng quy  
trình quản lý tổng hợp sâu đục thân mía đáp ứng 3 yêu cầu kinh tế, xã hội, môi  
trường tại vùng nghiên cứu.  
1.3. Mục đích, yêu cầu của đề tài  
1.3.1. Mục đích  
Đề tài tiến hành nhằm mục đích sử dụng bọ đuôi kìm để phòng trừ sâu đục thân  
hại mía tại vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn Thanh Hoá. Từ đó, đề xuất giải  
pháp sử dụng bọ đuôi kìm thay thế thuốc hoá học trong việc phòng trừ sâu đục thân  
mía hại mía.  
1.3.2. Yêu cầu  
- Điều tra thành phần sâu hại mía nói chung và sâu đục thân hại mía nói  
riêng tại vùng nguyên liệu mía Đường Lam Sơn Thanh Hóa.  
- Điều tra biến động mật độ bọ đuôi kìm qua các tháng trong thời gian thực  
hiện đề tài.  
- Bố trí một số công thức thí nghiệm nghiên cứu khả năng sử dụng bọ đuôi  
kìm để phòng trừ sâu đục thân hại mía  
1.4. Tổng quan tài liệu nghiên cứu  
1.4.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới  
- Nhữngnghiên cứu về thành phần và tình hình gây hại của sâuđục thânmía  
Theo Hiệp hội Kỹ thuật Mía Đường Quốc tế (International Socienty of Sugar  
Cane Technology - ISSCT), đến năm 1999 trên mía đã ghi nhận có 324 loài sâu gây hại.  
Trong đó ngành chân khớp chiếm số lượng nhiều nhất (84,5%), tuyến trùng (4,9%),  
gặm nhấm (5,9%), các loài khác (4,7%). [36]  
Như vậy, trên phạm vi toàn thế giới, trong số các nhóm sâu hại mía, nhóm côn trùng  
hại thân chiếm số đông nhất (49,7% tổng số loài đã phát hiện) trong đó nhóm sâu đục thân  
mía luôn được đánh giá là sâu hại nguy hiểm nhất.  
3
Thành phần sâu hại mía nói chung và sâu đục thân nói riêng không chỉ biến động  
trên phạm vi toàn thế giới mà ngay trong một quốc gia cũng có sự biến động giữa vùng  
này với vùng khác, giữa trước đây và sau này.  
Ở Malaysia, kết quả điều tra thành phần của Lim và Pan từ 1970 - 1978  
(1980) [40] cho thấy có khoảng 360 loài sâu hại mía thuộc 98 họ côn trùng. Trong  
đó có 32 loài được đánh giá là quan trọng với cây mía. Trong 360 loài sâu hại mía  
có 25 loài sâu đục thân mía, trong số này có 11 loài sâu đục thân mía đã được xác  
định là sâu hại quan trọng đối với cây mía.  
Ở Ấn Độ, theo Isaac (1937) [38] thành phần sâu hại mía có 79 loài, còn theo  
Box (1953) [26] thì có 125 loài, theo Gupta (1957) [34] thì có 18 loài sâu chủ yếu  
và 21 loài sâu thứ yếu. Theo David (1977) [30] riêng sâu đục thân mía có tới 9 loài  
thường xuyên gây hại.  
Ở Ấn Độ, theo Isaac (1937) [38] người ta đã sử dụng bọ đuôi kìm để phòng trừ  
sâu đục thân mía kết quả cho thấy, khi thả bọ đuôi kìm vào lúc mía 2 tháng sau trồng,  
với lượng 400 con/ha, 600 con/ha và 800 con/ha thì năng suất mía tăng lần lượt so với  
đối chứng là 11,26%, 16,44% và 18,89% và lượng đường tăng lần lượt là 5,06%,  
7,15% và 8,88%.  
Ở Đài Loan, theo Cheng (1994) [29] nhóm sâu đục thân hại mía có 5 loài thường  
xuyên gây hại là sâu đục thân mình vàng Eucosma schistaceana, sâu đục thân 5  
vạch Chilo infuscatellus Snellen, sâu đục thân 4 vạch Proceras venosatus Walker,  
sâu đục thân mình trắng Scirpophaga nivella Fabricius và sâu đục thân mình hồng  
Sesamia inferens Walker.  
Đánh giá về tình hình thiệt hại do sâu đục thân mía, theo Solomon et al. (2000)  
[41] cho thấy các loài sâu đục mầm làm giảm 26,65% mầm cấp 1; 6,4% mầm cấp 2;  
27,1% mầm cấp 3 và 75,0% mầm cấp 4, làm giảm 22 - 30% năng suất mía và 12,5%  
hàm lượng đường. Theo Avasthy và Tiwari (1986) [20] ở Ấn Độ sâu đục thân 5 vạch  
là loài gây hại chính yếu, loài này có thể làm giảm tỷ lệ mầm từ 30 - 75% ở các vùng  
mía khác nhau. Theo Waterhouse (1993) [43] đã tổng kết rằng sâu đục thân mía gây  
hại nặng ở Philippines, Cam-pu-chia và thường gây hại nặng cục bộ tại Lào và  
Indonesia. Theo Solomon et al. (2000), các loài sâu đục ngọn là nguyên nhân làm chết  
4
khoảng 10% số mầm và 3-4% số cây ở giai đoạn vươn lóng, làm giảm năng suất từ  
18,5-44,8% và 0,2-4,1 chữ đường (CCS).  
Phương thức gây hại và thời kỳ cây mía bị sâu đục thân tấn công của các  
loài sâu đục rất khác nhau. Các loài sâu đục lóng chủ yếu gây hại phần thân lóng,  
nhưng cũng có thể gây hại phần đốt lóng. Triệu chứng gây hại của chúng khác  
nhau, ví dụ: Sâu đục thân 4 vạch chủ yếu gây hại ở các lóng mềm còn bẹ lá (d/Emmerez  
de Charmoy, 1917) [32]  
Trọng lượng cây mía giảm khi bị sâu đục thân hại nặng và có thể bị chết do  
thân bị thối và khô. Các lóng bị đục thường dễ gãy và các mầm nách phát triển  
mạnh làm giảm độ đường trong cây mía (Gupta và Avasthy, 1960) [35]  
Khi cây mía bị sâu đục thân gây hại thì hàm lượng đường saccaro, độ Brix,  
Pol, Ap giảm đáng kể. Ngược lại, hàm lượng N, chất tro và chất nhựa tăng lên  
(Box, 1929) [25]  
- Những nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái và quy luật phát sinh, phát  
triển của sâu đục thân hại mía  
Theo kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của sâu đục thân 4 vạch của các  
tác giả Harris (1990) [37], Betbeder-Matibet (1990) [24], David (1980) [31] ở các  
nước khu vực Ấn Độ Dương cho thấy: ngài thường vũ hoá tập trung trong thời gian  
khoảng 4 giờ sau khi mặt trời lặn và hoạt động chủ yếu vào đêm, ngài cái thường chỉ  
giao phối 1 lần duy nhất trong đời. Sau khi giao phối khoảng 1 đêm thì ngài cái đẻ  
trứng với số trứng khoảng 850 quả. Chúng đẻ trứng thành ổ ở mặt trên hoặc dưới của  
lá, đôi khi trứng còn đẻ cả trên bẹ lá, mỗi ổ trứng có từ 20-40 quả.  
Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học của sâu đục thân 5 vạch cho thấy: Trưởng  
thành thường vũ hóa vào ban đêm, ban ngày ít hoạt động thường ẩn nấp bên dưới bẹ lá.  
Ngài cái tiết pheromone dẫn dụ giới tính để thu hút ngài đực đến ghép đôi giao phối.  
Ngài thường để trứng vào giữa đêm. Trứng đẻ thành ổ ở mặt dưới các lá còn xanh. Mỗi  
ổ từ 2 - 4 hàng trứng, với trung bình 25 quả/ổ. Trong một đêm ngài cái thường đẻ  
khoảng 400 quả trứng. Trứng sau khi đẻ 4 - 6 ngày thì nở, sâu non tuổi 1 phân tán bằng  
cách nhả tơ đu sang cây khác để gây hại. Chúng rất thích ăn các đỉnh sinh trưởng và các  
mô mềm gây nên hiện tượng nõn héo. Thời gian phát dục của pha sâu non (5-6 tuổi) từ  
5
16 - 30 ngày, sau đó hóa nhộng ngay bên trong đường đục của thân cây (Harris, 1990  
[37]; Butani, 1977 [27]; Avasthy và Tiwari, 1986 [20]; Kumar, K., S. C. Gupta, U. K.  
Mishra, G. P. Dwivedi and N. N. Sharma (1987) [39]  
- Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ  
Theo Suhartawan và Wirioatmodjo (1996) [42] có thể áp dụng các biện pháp  
phòng trừ như vệ sinh đồng ruộng và xử lý hom giống trong nước nóng 500C trong  
2 giờ, sử dụng các giống mía chống chịu cao với sâu đục thân hoặc sử dụng các  
loài ong mắt đỏ kí sinh pha sâu non và pha trứng. Ngoài ra cũng có thể dùng thuốc  
hoá học như Carbaryl, Dicrotophos, Monocrotophos và Acephate để phun phòng  
trừ sâu non.  
Theo CABI (2000) [28] có thể dùng biện pháp cắt bỏ cây bị ngọn héo và giết chết  
sâu non, biện pháp này tốn nhiều công lao động. Ngoài ra người ta còn có thể sử dụng ong  
mắt đỏ Trichogramma chilonis để trừ trứng của sâu đục thân.  
Theo (David, 1980) [31], sử dụng các hom giống sạch sâu để trồng, kết hợp với  
việc bóc lá vào các thời điểm 5, 7 và 9 tháng sau khi trồng, hạn chế sử dụng quá nhiều  
phân đạm, đồng thời tiêu úng với vùng ngập úng cũng hạn chế sự xuất hiện và gây hại  
của sâu đục thân 4 vạch. Tăng cường sử dụng các giống mía chống chịu cao đối với sâu  
đục thân 4 vạch như Co285, Co453, Co513, Co6860, Co915 để hạn chế thiệt hại do sâu  
đục thân 4 vạch..  
Đối với sâu đục thận mình hồng, các biện pháp phòng trừ như: Cắt bỏ cây bị  
sâu, rút bỏ ngọn héo và giết chết sâu non bên trong, vun luống sớm ở giai đoạn cây  
con và bạt gốc ngay sau khi thu hoạch đối với mía để lưu gốc. Đây là các biện pháp  
tương đối đơn giản mà hiệu quả lại cao trong việc phòng trừ sâu đục thân mình hồng.  
Biện pháp sinh học, có thể sử dụng loài ruồi kí sinh để trừ sâu ở giai đoạn sâu non.  
Kết quả thử nghiệm trong phòng cho thấy, loài ruồi này có thể kí sinh với tỷ lệ khá  
cao (84,4%) (David, 1980) [31].  
Đối với sâu đục thân mía thì đã có nhiều nghiên cứu và sử dụng khá thành công  
bọ đuôi kìm trong việc phòng trừ sâu đục thân hại mía. Kết quả nghiên cứu cho thấy  
khi thả bọ đuôi kìm với lượng 400 con/ha thì tỷ lệ lóng bị hại giảm 64,58% so với đối  
chứng và năng suất mía tăng 26,48% (David, 1980) [31].  
6
* Những nghiên cứu về bọ đuôi kìm  
Theo Easki Teiso et. al (1952) [69] Bọ đuôi kìm Dermaptera còn có tên  
khoa học là Euplexoptera, Euplecoptera, Dermoptera, Labiduroida hay  
Forficulida; tên tiếng anh là Earwigs.  
Cơ thể kéo dài, kiểu đầu nhô về phía trước, hàm kiểu miệng nhai với râu đầu  
nhiều đốt, mắt kép phát triển. Hầu hết trong bộ Dermaptera cánh ngắn, cánh ngoài  
biến thái, gân cánh mịn, cánh trong dạng màng hình bàn nguyệt, gân cánh xếp hình  
dẻ quạt. Các chân gân bằng nhau với 3 đốt bàn. Bụng 10 đốt, đốt bụng cuối cùng  
kéo dài như cái kìm, theo Richard leung (2004) [109], bụng BĐK có 10 đốt ở con  
đực (kể cả đuôi kìm), con cái có 8 đốt bụng. Máng đẻ trứng của con cái ngắn hoặc  
tiêu biến tùy theo loài.  
Bọ đuôi kìm được phát hiện ở hầu hết các nơi trên thế giới trừ những vùng  
băng giá, rất phổ biến ở những vùng có khí hậu nóng ẩm. Có khoảng hơn chục loài  
sống trong hang dơi vùng Châu á.  
Có khoảng 1.200 loài đã được miêu tả, hầu hết chúng đều sống tự do, ăn tạp  
(các côn trùng nhỏ), một số loài ăn chồi non thực vật nhưng khi xuất hiện con mồi  
thì chúng lại chuyển sang ăn con mồi ngay. Bọ đuôi kìm thường sống ẩn nấp, chạy  
nhanh, mặc dù có cánh nhưng không thấy chúng bay [69], chỉ tìm kiếm thức ăn  
trên cây, ăn côn trùng nhỏ vào ban đêm [109].  
Trưởng thành cái đẻ trứng vào trong ổ làm dưới đất, chúng có tập tính là  
chăm sóc và bảo vệ trứng, thậm chí còn có hành động bảo vệ con 1 – 2 tuần sau  
nở. Trong điều kiện ấm áp chúng đẻ nhiều, mùa hè chúng ít khi đẻ trứng, mùa  
đông lạnh chúng đình dục hoàn toàn cho đến mùa xuân lại tiếp tục hoạt động, mỗi  
năm BĐk thường có 7 lứa.  
Pobham (1965) phân loại BĐK bộ Dermaptera theo kiểu hình giải phẫu bên  
trong, theo cơ quan sinh dục ngoài và phân bố theo địa lý đã chia các loài BĐK  
bắt mồi tập trung ở bộ phụ Porficulina gồm:  
- Tổng họ Pygidicranoidea, tổng họ này sinh sống chủ yếu trog các kho  
chứa ở các nước Asian, Australia, Nam Phi và Nam Mĩ.  
7
- Tổng họ Karschilloidea rất lớn tập trung ở Nam Phi, tổng họ này chủ yếu  
là BĐK ăn kiến.  
- Tổng họ Labioidea có 3 họ là Labiidae, Carcinophoridea, Arixeniidea, họ  
Labiidea phổ biến hơn, họ Arixeniidea gồm các loài kí sinh trên dơi.  
- Tổng họ Forficuloidea có ba họ là Chelisochidea, Labiduridea,  
Forficuloi-dea trong đó họ Labiduridea phân bố rộng, giống Labidura và  
Euborellia phổ biến nhất  
Theo Gullan, P.J. và P.S. Crranston (2000) có khoảng 1.800 loài bọ đuôi  
kìm với 10 họ phân bố trên thế giới [73].  
1.4.2. Tình hình nghiên cứu trong nước  
- Nhữngnghiêncứuvềthànhphầnvàtìnhhìnhgâyhạicủasâuđụcthânmía  
Nhìn chung trước những năm 1990 công tác nghiên cứu về sâu đục thân hại mía ở  
nước ta còn rất ít. Tuy nhiên, sau những năm 1990 đến nay, đặc biệt khi chương trình mía  
đường được Nhà nước chú trọng, quan tâm là cây xoá đói giảm nghèo cho người dân  
nông thôn miền núi thì các vùng nguyên liệu mới chú ý đưa các giống mới có năng suất  
cao, đầu tư thâm canh công nghệ cao để theo kịp các nước trên Thế giới và khu vực, theo  
đó công tác BVTV cũng được quan tâm.  
Ở miền Bắc, theo Lương Minh Khôi (1963) [10] và Hồ Khắc Tín & CTV (1962)  
[15] có 5 loài sâu đục thân hại mía thường xuyên là sâu đục thân mình vàng Eucosma  
schistaceana, sâu đục thân 5 vạch Chilo infuscatellus Snellen, sâu đục thân 4 vạch  
Proceras venosatus Walker, sâu đục thân mình trắng Scirpophaga nivella Fabricius và sâu  
đục thân mình hồng Sesamia inferens Walker. Trong đó sâu đục thân mình vàng, sâu đục  
thân 4 vạch và sâu đục thân mình trắng là những loài phát sinh gây hại phổ biến nhất tại  
Thanh Hóa và các tỉnh Bắc Trung Bộ.  
Theo Phạm Bình Quyền và CTV (1995) [1], ở miền Bắc có 2 loài sâu đục  
thân mía phổ biến nhất là sâu đục thân mình trắng Scirpophaga nivella Fabricius  
và sâu đục thân 4 vạch Proceras venosatus Walker. Kết quả điều tra cho thấy số  
lượng sâu non của sâu đục thân mình trắng cao hơn số lượng sâu non của sâu đục  
thân 4 vạch (tương ứng là 70,0 - 77,2% và 22,3 - 30,0%). Tuy nhiên theo kết quả  
điều tra trong 3 năm 2005, 2006 và 2007 của Nông trường Thống Nhất huyện Yên  
8
Định Thanh Hoá là trong 5 loại sâu đục thân thì số lượng xuất hiện và gây hại  
nhiều nhất là sâu đục thân 4 vạch tiếp đến là sâu đục thân mình vàng với tỷ lệ  
tương ứng là 70,16 và 42,44%. Kết quả này cũng trùng với kết quả điều tra của  
Nông trường Vân Du huyện Thạch Thành và Nông trường Sao Vàng huyện Thọ  
Xuân tỉnh Thanh Hoá.  
Theo kết quả điều tra của Lương Minh Khôi và Lê Thanh Hải (1997) [7] tại  
Nông trường Hà Trung tỉnh Thanh Hoá và Nông trường Đồng Giao tỉnh Ninh Bình  
cho thấy trên các giống mới của Đài Loan ROC1, ROC9, ROC10 và ROC16 trong  
niên vụ 1995-1996 cho thấy đã xác định được 19 loài sâu hại mía, trong đó có 5 loài  
sâu đục thân mía, loài gây hại nặng nhất là sâu đục thân mình vàng và sâu đục thân 4  
vạch.  
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn văn Hoan trong 3 năm từ 1998-2000  
tại Vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn Thanh Hoá gồm 7 huyện 4 Nông  
trường, cho thấy thành phần sâu hại mía gồm 26 loài thuộc 7 bộ 12 họ. Trong đó,  
nhóm sâu đục thân mía có 5 loài là sâu đục thân mình vàng Eucosma schistaceana,  
sâu đục thân 5 vạch Chilo infuscatellus Snellen, sâu đục thân 4 vạch Proceras  
venosatus Walker, sâu đục thân mình trắng Scirpophaga nivella Fabricius và sâu đục  
thân mình hồng Sesamia inferens Walker.  
Kết quả điều tra của Đỗ Ngọc Diệp tại khu vực miền Đông Nam bộ năm  
1987 cho thấy có 20 loài sâu hại mía. Trong đó, sâu đục thân có 5 loài chiếm 25%  
tổng số loài đã xác định. Chúng bao gồm sâu đục thân mình vàng Eucosma  
schistaceana, sâu đục thân 5 vạch Chilo infuscatellus Snellen, sâu đục thân 4 vạch  
Proceras venosatus Walker, sâu đục thân mình trắng Scirpophaga nivella  
Fabricius và sâu đục thân mình hồng Sesamia inferens Walker. Tại Viện Nghiên  
cứu Mía đường Bến Cát, các kết quả điều tra của Nguyễn Đức Quang năm 1997  
[13], Vũ Hữu Hạnh năm 1995 [6] và Cao Anh Đương 1998 đều cho thấy trong  
thành phần sâu hại mía có 5 loài sâu đục thân tương tự như kết quả điều tra của các  
tác giả khác.  
9
Kết quả điều tra trong phạm vi toàn quốc của Lương Minh Khôi từ 1992 -  
1997 [8] cho thấy thành phần sâu hại mía có 27 loài trong đó nhóm sâu đục thân có  
9 loài chiếm 33,33% tổng số loài đã xác định.  
Trên các giống mía mới nhập về từ đài Loan và Trung Quốc hiện nay đang  
được trồng phổ biến tại Thanh Hoá thì hầu hết đều bị sâu đục thân phá hại nhưng tỷ lệ  
hại từ 2,52-5,88% nhỏ hơn giống F134 (giống cũ của Trung Quốc) là 11,5% và giống  
MY55-14 của Cu Ba là 12,85%. Theo nghiên cứu của Lương Minh Khôi và Lê Thanh  
Hải (1997) [7] cho thấy giống F134 bị sâu đục thân hại nặng hơn các giống ROC1,  
ROC9, ROC10 và ROC16 từ 1,4 - 2,3 lần. Tuy nhiên theo báo cáo của Nông trường  
Vân Du huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hoá cho thấy trong 4 năm từ 2004 - 2007 khi  
đầu tư thâm canh cao thì các giống ROC, Việt đường, Quế đường có tỷ lệ sâu đục  
thân từ 13,21- 17,68%.  
Theo đánh giá của Nguyễn Huy Ước (1994) [19] thiệt hại do sâu đục thân  
mía gây ra tại miền Đông Nam Bộ lên đến 20% năng suất mía. So sánh tỷ lệ bị sâu  
đục thân gây hại giữa mía tơ và mía gốc cho thấy trên mía gốc bị gây hại năng hơn  
trên mía tơ. Tương tự như vậy, kết quả thí nghiệm tại nông trường Hà Trung Thanh  
Hóa và Đồng Giao Ninh Bình cho thấy tỷ lệ bị sâu đục thân phá hại trên mía gốc là  
14% trong khi đó trên mía tơ là 8% (Lương Minh Khôi và Lê Thanh Hải, 1997) [7]  
Theo Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi (1997) [5] sâu đục thân mình  
vàng và sâu đục thân 4 vạch là những loài nguy hiểm nhất ở miền Bắc, có nơi các  
loài sâu này làm thiệt hại năng suất từ 25 - 30%. Xét về các giống mía thì giống  
F134 bị sâu đục thân phá hại năng hơn các giống việt đường, quế đường và các  
giống ROC (Lương Minh Khôi và Lê Thanh hải, 1997) [7]  
- Những nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái và quy luật phát sinh phát triển của  
sâu đục thân hại mía  
Theo nghiên cứu của Lương Minh Khôi (1997) [9] cho thấy:  
- Loài sâu đục thân mình vàng Eucosma schistaceana phát sinh nhiều vào 20/4 và  
20/5 còn từ tháng 6 trở đi ít gặp. Vòng đời: Trứng từ 4-6 ngày, sâu non 20-22 ngày,  
nhộng từ 9-10 ngày, trưởng thàng từ 8-13 ngày. Bướm cái đẻ trung bình 173 quả  
10  
trứng/con. Sâu non bắt đầu gây hại chủ yếu từ khi mía mọc mầm và chiếm tỷ lệ 8,5%  
các loài sâu đục thân.  
- Loài sâu đục thân 4 vạch Proceras venosatus Walker phát sinh 6 đợt trong năm kéo  
dài suốt quá trình sinh trưởng của cây mía. Vòng đời: Trứng từ 5-7 ngày, sâu non 20-26  
ngày, nhộng từ 7-12 ngày, trưởng thành từ 3-7 ngày. Bướm cái đẻ trung bình từ 8-11 ổ  
trứng, mỗi ổ khoảng 200 quả trứng. Sâu non bắt đầu gây hại khi mía mọc mầm nhưng  
hại mạnh nhất khi mía vươn lóng. Tỷ lệ hại chiếm 71,8% các loài sâu đục thân.  
- Sâu đục thân mình trắng Scirpophaga nivella Fabricius mỗi năm phát sinh 4-5  
lứa. Vòng đời: Trứng từ 7-15 ngày, sâu non 31-61 ngày, nhộng từ 12-18 ngày,  
trưởng thành từ 3-13 ngày. Sâu non phá hại mía cây, đặc biệt ở đốt ngọn, sâu non  
đục từ ngọn mía xuống dưới, ăn điểm sinh trưởng, gây nên hiện tượng cây bị cụt  
ngọn. Sâu hại khi cây mía được 220 ngày với tỷ lệ hại chiếm 61,0% các loài sâu  
đục thân.  
- Sâu đục thân mình hồng Sesamia inferens Walker trong năm phát sinh 5-6 lứa.  
Vòng đời trong điều kiện mùa hè: Trứng từ 5-6 ngày, sâu non 20-30 ngày, nhộng  
từ 8-10 ngày, trưởng thành từ 5-6 ngày. Mùa đông vòng đời dài hơn. Mỗi bướm  
cái đẻ khoảng 300 trứng. Sâu non phá hại ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng của cây  
mía. Ở miền Nam sâu mình hồng nhiều nhất chiêm tỷ lệ 51,85% - 69,35% các loài  
sâu đục thân mía.  
- Sâu đục thân 5 vạch Chilo infuscatellus Snellen trong năm phát sinh 5-6 lứa.  
Vòng đời trong điều kiện mùa hè: Trứng từ 3-5 ngày, sâu non 18-35 ngày, nhộng  
từ 7-8 ngày, trưởng thành từ 4-6 ngày. Mùa đông vòng đời dài hơn. Bướm cái đẻ  
thành ổ, mỗi ổ có từ 250 - 300 trứng. Sâu non nở là phân tán, thường nhả tơ đu đưa  
nhờ gió, di chuyển từ cây này sang cây khác để phá hại. Chúng phá hại mạnh trên  
mía trồng vụ đông.  
Theo Cục Bảo vệ Thực vật (1999) [4], loài sâu đục thân mình vàng thường  
phát sinh 7 lứa trong năm, nhưng gây hại nặng nhất ở lứa 1 và lứa 2 (khoảng cuối  
tháng 3, 4 và 5), gây mía mầm và mía bắt đầu vươn lóng, phát sinh gây hại nhiều  
trên mía trồng đất ruộng và đất bãi. Sâu đục thân 4 vạch thường phát sinh 4-5 lứa  
trong năm, sâu phá hại mía quanh năm từ khi mía mọc mầm cho đến khi thu hoạch.  
11  
Sâu đục thân mía 5 vạch thường phát sinh gây hại 5 đợt, nhưng có 2 đợt cao điểm,  
cao điểm 1 từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 5 và cao điểm 2 từ cuối tháng 5 đến đầu  
tháng 6. Sâu thường phát sinh gây hại nhiều trên đất đồi khô hạn. Sâu đục thân  
mình trắng thường phát sinh 4-5 lứa trong năm, nhưng tập trung hại nhiều nhất ở  
lứa 1 (tháng 5) và lứa 2 (tháng 6-7), lứa thứ 3 (tháng 8-9). Loài sâu đục thân mình  
hồng là loài phát sinh gây hại sớm nhất trong ruộng mía và gây hại quanh năm, cả vụ mía  
Đông, nhưng hàng năm phát sinh gây hại nhiều vào tháng 3-4, hại lúa mía đẻ nhánh. Ngoài  
cây mía, sâu còn hại lúa, ngô và các cây trồng thuộc họ hoà thảo khác.  
Tóm lại: Những kết quả nghiên cứu trong nước về đặc điểm sinh học và quy  
luật phát sinh phát triển của các loài sâu đục thân mía chủ yếu ở miền Bắc tập  
trung vào các loài sâu đục thân phổ biến, dễ nuôi như sâu đục thân mình hồng và  
sâu đục thân mình vàng. Trong khi các loài sâu đục thân khác như sâu đục thân  
mình tím và sâu đục thân 4 vạch lại chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều.  
Nguyên nhân có thể là do các loài sâu này tương đối khó nuôi bằng thức ăn tự  
nhiên, trong khi thức ăn nhân tạo lại chưa có.  
Theo Lương Minh Khôi (1997b) [9], ở Việt Nam có 4 loài thiên địch chủ yếu  
của nhóm sâu đục thân mía, chúng bao gồm: Ong mắt đỏ Trichogramma spp. Ký  
sinh trứng sâu đục thân mía mình vàng, 4 vạch, 5 vạch và sâu đục thân mình trắng;  
ong đen Telenomus sp. Ký sinh trứng các loài sâu đục thân mía mình vàng, 4 vạch,  
5 vạch và mình trắng, nhưng ký sinh trứng sâu đục thân mình trắng nhiều hơn, ong  
đen kiến trắng chân vàng Apanteles flavipes Cameron ký sinh pha sâu non các loại  
sâu đục thân 5 vạch, 4 vạch và sâu đục thân mình hồng và bọ đuôi kìm ăn các loại  
sâu non của sâu đục thân. Theo Phạm Bình Quyền và CTV (1995) [1] ở miền Bắc  
chỉ có 2 loài thiên địch phổ biến của nhóm sâu đục thân mía là ong mắt đỏ  
Trichogramma chilonis và ong đen Telenomus sp. ký sinh pha trứng các loài sâu  
đục thân mình trắng và sâu đục thân 4 vạch.  
- Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ sâu đục thân hại mía  
* Biện pháp kỹ thuật canh tác:  
Đây là biện pháp được nông dân trồng mía ở nhiều vùng áp dụng phổ biến  
từ khá lâu. Theo các tác giả Hồ Khắc Tín và CTV (1982) [15], Lương Minh Khôi  
12  
(1997a [8] và 1997b [9]), Nguyễn Huy Ước (1994) [19], Phạm Văn Lầm (1999)  
[11]... Các biện pháp này bao gồm:  
+ Trước khi trồng mía, đất phải được cày bừa kỹ nhằm tiêu diệt mầm mống của sâu ẩn  
náutrong đất, vùng đất thấp có thểchonước ngập để diệt sâu.  
+ Chọn hom, giống mía trồng: chọn các hom giống không có sâu hại và  
chọn các giống mía có tính chống chịu sâu như các giống ROC, Việt đường CP34-  
79, HN56-12, QĐ11 và F156.  
+ Bón phân đầy đủ và cân đối cho mía mọc tốt. Chăm sóc làm cỏ kịp thời kể  
cả trên các đường lô và bụi rậm xung quanh, nhằm loại trừ nơi ẩn náu của sâu. Nơi  
có điều kiện lao động nên bóc là già, cắt chồi vô hiệu, loại bỏ mầm mống trứng ở  
đó. Kết quả thí nghiệm của Viện Nghiên cứu Mía Đường (1996) [18] cho thấy  
ruộng mía bóc lá kịp thời giảm tác hại của sâu đục thân từ 16,77 - 41,73% và tăng  
năng suất mía lên 13,75% so với ruộng đối chứng.  
+ Ruộng mía để gốc sau thu hoạch phải được cày lật đất kịp thời và cày sâu,  
giết chết các loại sâu ẩn nấp trong gốc mía và dưới đất.  
+ Bố trí thời vụ hợp lý: ở miền Bắc vụ xuân tốt nhất nên trồng mía trong  
tháng 2, vụ đông tốt nhất là tháng 10-11 vì lúc trồng mía sẽ dễ dàng hơn, mía phát  
triển trùng với các tháng có đủ lượng mưa, nhiệt độ và ánh sáng, đồng thời tránh  
được các cao điểm phát sinh của sâu (Lương Minh Khôi, 1997a) [8]  
* Biện pháp hoá học:  
Sâu đục thân tuy phá hại nhiều và phổ biến, nhưng người trồng mía nói  
chung ít chú trọng công tác phòng trừ. Đặc biệt, trong những năm gần đây khi các  
vùng nguyên liệu mía đưa nhiều giống mới có năng suất, phẩm chất đồng thời chế  
độ thâm canh cao thì sự phá hại của sâu đục thân là rất nặng nề và nghiêm trọng.  
Hiện nay tại các vùng nguyên liệu mía khu vực Thanh Hoá, người trồng mía đã  
tích cực phòng trừ các loài sâu đục thân. Theo Cục Bảo vệ thực vật [4] các loại  
thuốc sử dụng chủ yếu là Diazinon 10H (rắc vào gốc khi vun với lượng 10-  
20Kg/ha), padan 95SP (phun với lượng 0,8 - 1,0 lit/ha), supracide 40EC (phun với  
lượng 0,8 - 1,0 lit/ha), sumithion (phun với lượng 1,0 - 1,5 lit/ha). Theo Lương  
Minh Khôi (1997b) [9] có thể dùng các loại thuốc diazinon 10G lượng 20kg/ha  
13  
hoặc padan 4G lượng 20 - 30kg/ha rải vào luống khi trồng, cũng có thể rải vào gốc  
khi vun, hiệu quả phòng trừ đạt tỷ lệ 64,1% so với đối chứng. Ngoài ra, có thể  
dùng padan 95SP phun khi mía mọc mầm, đạt tỷ lệ trừ sâu 78,7%.  
* Biện pháp sinh học:  
Chủ yếu sử dụng ong kí sinh và bọ đuôi kìm. Nhìn chung biện pháp sinh học còn  
chưa được chú trọng nhiều.  
14  
PHẦN II. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
- Sâu đục thân hại mía.  
- Bọ đuôi kìm (thiên địch của sâu đục thân mía)  
- Khả năng sử dụng bọ đuôi kìm để trừ sâu đục thân hại mía tại vùng nguyên  
liệu mía đường Lam Sơn Thanh Hoá  
2.2. Nội dung nghiên cứu  
- Điều tra thành phần sâu hại trên một số giống mía tại vùng nguyên liệu mía  
đường Lam Sơn Thanh Hoá  
- Điều tra thành phần sâu đục thân, mức độ gây hại của chúng đối với một số  
giống mía được trồng chủ yếu tại vùng nguyên liệu Mía đường Lam Sơn Thanh Hóa.  
- Điều tra biến động mật độ bọ đuôi kìm qua các tháng trong thời gian thực  
hiện đề tài.  
- Nghiên cứu khả năng sử dụng bọ đuôi Kìm để phòng trừ sâu đục thân hại mía  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
2.3.1 Thời gian địa điểm nghiên cứu  
Thời gian: Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2015  
Địa điểm: vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn Thanh Hoá.  
2.3.2 Phương pháp điều tra  
Phương pháp điều tra nghiên cứu biến động mật độ bọ đuôi kìm được tiến hành  
điều tra định kỳ 1 tuần/lần, để xác định biến động mật độ bọ đuôi kìm tại vùng  
nguyên liệu mía đường Lam Sơn Thanh Hoá.  
Phương pháp điều tra: chúng tôi điều tra cố định 5 hộ trồng mía tại nông  
trường Sao Vàng . Ở mỗi hộ trồng mía, chọn 1 điểm đại diện, mỗi điểm chọn một  
hàng dài 5m (theo hàng mía) tại đó điều tra các giống MY55-14, ROC10, ROC22  
và viên lâm 6, trên cả mía tơ và mía gốc. Tại điểm điều tra tiến hành quan sát toàn  
bộ cây để phát hiện những dấu vết hoặc triệu chứng bị hại (héo ngọn, khô đọt, lá có  
vết bị hại, thân có lỗ đục, cây sinh trưởng còi cọc, đổ gãy...). Dùng dao chẻ dọc  
những cây bị hại hoặc nghi bị hại, thu thập tất cả các loài côn trùng bắt gặp, kể cả  
những cá thể đục trong thân cây. Ghi chép các thông tin về loài sâu gây hại.  
15  
Mức độ phổ biến của sâu đục thân và bọ đuôi kìm được đánh giá như sau:  
- : Rất ít (<10% tần suất bắt gặp)  
+: ít (10- 20% tần suất bắt gặp)  
++: Trung bình (21- 50% tần suất bắt gặp)  
+++: Nhiều (>50% tần suất bắt gặp)  
2.4. Phương pháp bố trí thí nghiệm trên diện tích hẹp thả bọ đuôi kìm, đánh  
giá khả năng khống chế sâu đục thân hại mía của bọ đuôi kìm  
Chọn ruộng ở cách xa ruộng trồng mía khác, có diện tích 1000m2 , để thả bọ  
đuôi kìm. Bọ đuôi kìm được mua từ Chi cục BVTV Nghệ An và chúng được thả  
theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Ruộng đối chứng không thả bọ đuôi kìm, không  
dùng thuốc BVTV, có cùng giống mía, tuổi mía, cùng chế độ canh tác như ruộng  
thả bọ đuôi kìm. Sau khi thả bọ đuôi kìm, chúng tôi điều tra liên tục 7 ngày/lần, để  
đánh giá và so sánh sự phát sinh, phát triển và gây hại của sâu đục thân hại mía  
giữa hai ruộng.  
Thí nghiệm nghiên cứu khả năng sử dụng bọ đuôi kìm để trừ sâu đục thân  
hại mía được tiến hành với 6 công thức sau:  
- Công thức 1: Đối chứng không phun thuốc, không dùng bọ đuôi kìm.  
- Công thức 2: Thả bọ đuôi kìm với mức 400 con/ha. Bọ đuôi kìm được thả vào lúc  
mía mới mọc mầm.  
- Công thức 3: Thả bọ đuôi kìm với mức 600 con/ha. Bọ đuôi kìm được thả vào lúc  
mía mới mọc mầm.  
- Công thức 4: Thả bọ đuôi kìm với mức 800 con/ha. Bọ đuôi kìm được thả vào lúc  
mía mới mọc mầm.  
2.5. Công thức tính toán.  
- Xác định mức độ ảnh hưởng của thuốc hóa học:  
+ Hiệu lực của thuốc hóa học ngoài đồng ruộng được tính theo công thức  
của Henderson – Tilton:  
16  
TaCb  
CaTb  
E(%) 1  
100  
Trong đó: E (%) Hiệu lực của thuốc  
Ta : Số sâu sống ở công thức đối chứng sau khi phun thuốc  
Cb : Số sâu sống ở công thức đối chứng trước khi phun thuốc  
Ca : Số sâu sống ở công thức đối chứng sau khi phun thuốc  
Tb : Số sâu sống ở công thức đối chứng trước khi phun thuốc  
Tổng số mầm (cây) bị sâu đục  
- Tỷ lệ mầm (cây) bị hại (%) =  
x 100  
Tổng số mầm (cây) điều tra  
Tổng số lóng bị đục  
- Tỷ lệ lóng bị hại (%) =  
x 100  
Tổng số lóng điều tra  
17  
PHẦN III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN  
Bảng 1: Diễn biến khí hậu thời tiết  
tháng  
1
2
3
4
Chỉ tiêu  
Nhiệt độ ( t0 )  
Lượng mưa (mm)  
Độ ẩm (%)  
17,3  
28,5  
85  
19,7  
31,2  
88  
20,0  
71,8  
92  
24,5  
24,3  
85  
Nhiệt độ: Tháng 1 thấp dẫn tới thờ kỳ sinh trưởng phát triển của cây mía  
chậm đấy là giai đoạn mía đang ở thời kỳ mầm và cây con. Nhiệt độ tháng 1 tới  
tháng 4 tăng dần phù hợp cho cây mía sinh trưởng phát triển tốt.  
Lượng mưa: Từ tháng 1 đến tháng 4 biến đổi không đều, lượng mưa thấp  
nhất vào tháng 4 là 24,3 mm và cao nhất vào tháng 3 là 71,8 mm.  
Ẩm độ: từ tháng 1 đến tháng tư biến đổi không nhiều, ẩm độ cao nhất vào  
tháng 3 là 92%.  
Nhìn chung nhiệt độ và độ ẩm khá cao chính vì vậy đã tạo điều kiện thuận  
lợi cho dịch hại phát sinh phát triển và gây hại mạnh.  
3.1. Thành phần sâu hại mía tại vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn Thanh Hoá  
Thực tiễn sản xuất trong những năm gần đây cho thấy, mía bị rất nhiều sâu  
hại tấn công, đặc biệt khi nâng cao trình độ canh tác, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật  
vào thâm canh mía công nghệ cao (năng suất: 100 - 150 tấn/ha với 10 - 13 độ  
CCS), thì tình hình sâu bệnh càng phức tạp. Mía là cây trồng thích hợp cho nhiều  
loại sâu bệnh tồn tại và phát triển.  
Cho đến nay, các nghiên cứu về sâu đục thân mía và sử dụng bọ đuôi kìm  
trong phòng trừ sâu đục thân mía tại Bắc Trung Bộ hầu như chưa được quan tâm.  
Có một số kết quả nghiên cứu đã công bố, nhưng vừa rất tản mạn về không gian và  
thời gian, vừa quá lạc hậu với điều kiện sản xuất mới. Với những kết quả đã có  
không thể xây dựng được quy trình hay mô hình phòng trừ sâu đục thân mía nào  
18  
phù hợp mang lại hiệu quả cao cho người trồng mía. Hiện nay, phần lớn người  
trồng mía tại Thanh Hoá chưa chú trọng phòng trừ sâu đục thân, nếu có thì các  
biện pháp phòng tránh chỉ mang tính tự phát, riêng rẽ nên hiệu quả không cao, mà  
còn ảnh hưởng đến môi trường, không bảo vệ và sử dụng được thiên địch trong tự  
nhiên, để lại tồn dư thuốc BVTV trong sản phẩm quá ngưỡng cho phép, ảnh hưởng  
đến sức khoẻ người tiêu dùng.  
Tại vùng trồng nguyên liệu mía đường Lam Sơn Thanh Hóa chúng tôi đã  
thu thập được 18 loài sâu thuộc 7 bộ và 13 họ côn trùng khác nhau, được trình bày  
ở bảng sau:  
Bảng 2: Thành phần sâu hại mía tại vùng Nguyên liệu mía đường Lam Sơn  
Thanh Hóa  
Mức độ phổ  
TT Tên việt nam  
Tên khoa học  
Bộ/họ  
biến  
I
Bộ cánh đều  
Homoptera  
1
2
3
Ceratovacuna lanigera  
Zehntner  
Rệp xơ trắng  
Eriosomatidae +++  
Empoasca flavescens  
Fabr  
Rầy xanh lá mạ  
Rệp sáp  
Cicadellidae  
++  
++  
Trionymus sacchari  
Cockerell  
Coccidae  
II  
Bộ cánh vảy  
Sâuđụcthân4  
vạch  
Lepidoptera  
Pyralidae  
4
Proceras venosatus  
Walker  
++  
++  
5
6
7
Sâu đục thân  
bướm trắng  
Sâu đục thân  
mình vàng  
Sâu đục thân  
Scirpophaga nivella F  
Pyralidae  
Argyroploce  
Eucosnidae  
Noctuidae  
+++  
++  
schistaceana Snellen  
Sesamia inferens  
19  
mình hồng  
Walker  
III Bộ cánh bằng  
Isoptera  
8
Mối  
Odontotermes sp  
Termitidae  
Thysanoptera  
+++  
++  
IV Bộ cánh tơ  
9
Stenochretothrips  
Bọ trĩ  
Thripidae  
Orthoptera  
Acrididae  
biformis (Bagnall)  
V
Bộ cánh thẳng  
10  
Parapleurus alliaceus  
Gemar  
Châu chấu  
++  
++  
++  
11 Cào cào xanh  
Acrida sp  
Acrididae  
lớn  
12  
Brachytrupes  
Dế mèn  
Gryllidae  
portentosus Lich  
VI  
Bộ cánh nửa  
Bọ xít dài  
Hemiptera  
13  
Leptocorisa acuta  
Thunberg  
Coreidae  
++  
+
14 Bọ xít xanh  
Nezara viridula Linn  
Cletus punctiger  
Thunberg  
Pentatomidae  
Coreidae  
15  
Bọ xít gai  
+
VII Bộ cánh cứng  
16 Bọ hung đen  
đục gốc  
Coleoptera  
Scarabaeidae  
Alissonotum  
++  
+++  
+
impressicole Anow  
Onthophagus suginoi  
Ochi  
17 Bọ hung nâu  
nhỏ  
Scarabaeidae  
Scarabaeidae  
18 Cánh cam đục Anomala expensa  
gốc Bates  
Qua bảng 2 ta thấy cây mía là cây trồng có tập đoàn sâu hại rất phong phú,  
chúng gây hại trên tất cả các bộ phận của cây (gốc, thân, lá, ngọn) và trong cả quá  
trình sinh trưởng, phát triển cho đến khi thu hoạch. Thành phần sâu hại mía mà  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
docx 42 trang yennguyen 15040 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề tài Nghiên cứu khả năng sử dụng bọ đuôi kìm để phòng trừ sâu đục thân hại mía tại vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn - Thanh Hoá", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docxde_tai_nghien_cuu_kha_nang_su_dung_bo_duoi_kim_de_phong_tru.docx