Báo cáo tổng quan Các nghiên cứu về ngành rau quả của Việt Nam

VIỆN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP  
BÁO CÁO TỔNG QUAN  
CÁC NGHIÊN CỨU  
VỀ NGÀNH RAU QUẢ CỦA VIỆT NAM  
Hà nội, tháng 4 năm 2005  
Mục lục  
i
ii  
PHẦN 1. Tổng quan nghiên cứu rau quả Việt Nam  
1.1. Xu hướng phát triển sản xuất rau quả Việt Nam  
Trong thời gian qua, nhất là kể từ đầu thập kỷ 90, diện tích rau, quả của Việt Nam phát  
triển nhanh chóng và ngày càng có tính chuyên canh cao. Tính đến năm 2004, tổng diện  
tích trồng rau, đậu trên cả nước đạt trên 600 nghìn ha, gấp hơn 3 lần so với năm 1991.  
Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là vùng sản xuất lớn nhất, chiếm khoảng 29% sản lượng  
rau toàn quốc. Điều này là do đất đai ở vùng ĐBSH tốt hơn, khí hậu mát hơn và gần thị  
trường Hà Nội. ĐBSCL là vùng trồng rau lớn thứ 2 của cả nước, chiếm 23% sản lượng  
rau của cả nước. Đà Lạt, thuộc Tây Nguyên, cũng là vùng chuyên canh sản xuất rau cho  
xuất khẩu và cho nhu cầu tiêu thụ thành thị, nhất là thị trường thành phố Hồ Chí Minh  
và cho cả thị trường xuất khẩu.  
Cũng trong giai đoạn từ đầu thập kỷ 90, tổng sản lượng rau đậu các loại đã tăng tương  
đối ổn định từ 3,2 triệu tấn năm 1991 lên đạt xấp xỉ 8,9 triệu tấn năm 2004.  
Bảng 1.1. Diện tích và sản lượng rau của Việt Nam, 1991-2004  
Năm  
1991  
1992  
1993  
1994  
1995  
1996  
1997  
1998  
1999  
2000  
2001  
2002  
2003  
2004  
Diện tích (000ha)  
197,5  
Sản lượng (000 tấn)  
3213,4  
202,7  
291,9  
303,4  
328,3  
360,0  
377,0  
411,7  
459,1  
464,6  
514,6  
560,6  
577,8  
3304,7  
3483,5  
3793,6  
4155,4  
4706,9  
4969,9  
5236,6  
5792,2  
5732,1  
6777,6  
7485,0  
8183,8  
605,9  
8876,8  
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn  
Bên cạnh rau, diện tích cây ăn quả cũng tăng nhanh trong thời gian gần đây. Tính đến  
năm 2004, diện tích cây ăn quả đạt trên 550 ngàn ha. Trong đó, Đồng Bằng sông Cửu  
long (ĐBSCL) là vùng cây ăn quả quan trọng nhất của Việt Nam chiếm trên 30% diện  
tích cây ăn quả của cả nước.  
1
 
Hình 1.1. Diện tích cây ăn quả  
600  
500  
400  
300  
200  
100  
0
4500  
4000  
3500  
3000  
2500  
2000  
1500  
1000  
500  
Area  
Sản lượng  
0
1999 2000 2001  
2002 2003 2004 2005  
Nguồn: MARD  
Nhờ có nhu cầu ngày càng tăng này nên diện tích cây ăn quả trong thời gian qua tăng  
mạnh. Trong các loại cây ăn quả, một số cây nhiệt đới đặc trưng như vải, nhãn, và chôm  
chôm tăng diện tích lớn nhất vì ngoài thị trường trong nước còn xuất khẩu tươi và khô  
sang Trung Quốc. Năm 1993, diện tích của các loại cây này chưa thể hiện trong số liệu  
thống kê. Từ năm 1994, diện tích trồng 3 loại cây này tăng gấp 4 lần, với mức tăng  
trường bình quân 37%/năm, chiếm 26% diện tích cây ăn quả cả nước. Diện tích cây có  
múi và xoài cũng tăng mạnh bình quân 18% và 11%/năm. Chuối tuy là cây trồng quan  
trọng chiếm 19% diện tích cây ăn quả cả nước nhưng chưa trở thành sản phẩm hàng hoá  
qui mô lớn. Diện tích dứa giảm trong thập niên 1990, nhất là từ khi Việt Nam mất thị  
trường xuất khẩu Liên Xô và Đông âu.  
Hình 1.2. Biến động diện tích một số loại cây ăn quả (nghìn ha)  
250000  
Nh·n v¶i, ch«m ch«m  
200000  
150000  
Chuèi  
100000  
C©y cã mói  
Xoµi  
50000  
Døa  
0
Nguồn: MARD  
2
 
Nhìn chung sản xuất cây ăn quả mới nhắm vào phục vụ thị trường trong nước, một thị  
trường dễ tính, đang tăng nhanh nhưng sẽ bị cạnh tranh mạnh trong tương lai. Triển  
vọng của ngành sản xuất này là rất lớn với điều kiện đầu tư thích đáng và đồng bộ từ  
nghiên cứu, tổ chức sản xuất giống, chế biến, đóng gói, vận chuyển, tiêu chuẩn cất  
lượng, nhãn hiệu, tiếp thị,... những lĩnh vực Việt Nam còn rất yếu kém.  
Hiện nay, xu hướng phát triển sản xuất hàng hoá ngày càng tăng. Tuy nhiên mức độ  
thương mại hoá khác nhau giữa các vùng. ĐBSCL là vùng có tỷ suất hàng hoá quả cao  
nhất với gần 70% sản lượng được bán ra trên thị trường. Tiếp theo là Đông nam Bộ và  
Nam Trung Bộ với tương ứng là 60% và 58%. Các vùng còn lại tỷ suất hàng hoá đạt từ  
30-40%. Mức độ thương mại hoá cao ở Miền Nam cho thấy xu hướng tập trung chuyên  
canh với quy mô lớn hơn so với các vùng khác trong cả nước. Sản xuất nhỏ lẻ, vườn tạp  
vẫn còn tồn tại nhiều, đây chính là hạn chế của quá trình thương mại hoá, phát triển  
vùng chuyên canh có chất lượng cao.  
Hình 1.3. Tỷ suất hàng hoá năm 2002  
Đồng bằng sông Hồng  
Đông Bắc  
38  
34  
Tây Bắc  
38  
37  
Bắc Trung Bộ  
Nam Trung Bộ  
Tây Nguyên  
53  
32  
Đông Nam Bộ  
61  
Đồng bằng sông Cửu Long  
69  
80  
0
20  
40  
60  
Nguồn: IFPRI (Viện Nghiên cứu Chính sách Lương thực Quốc tế) , 2002.  
Sự khác nhau không chỉ thể hiện rõ giữa các vùng mà còn giữa các nhóm thu nhập. Kết  
quả nghiên cứu cho thấy nông dân giàu bán nhiều sản phẩm hơn nông dân nghèo vì có  
quy mô sản xuất lớn hơn và khả năng tiếp cận thị trường dễ dàng hơn so với nông dân  
nghèo. Những người sản xuất giàu nhất bán 83% trong năm 2002 so với 76% những hộ  
ở nhóm nghèo  
3
 
1.2. Tình hình tiêu thụ trong nước  
Hiện nay có một số nghiên cứu về tình hình tiêu thụ các loại rau quả của Việt Nam  
trong thời gian qua. Các nghiên cứu cho thấy rau và quả là hai sản phẩm khá phổ biến  
trong các hộ gia đình. Theo nghiên cứu của IFPRI (2002), ICARD (2004)1, hầu hết các  
hộ đều tiêu thụ rau trong năm trước đó, và 93% hộ tiêu thụ quả. Các loại rau quả được  
tiêu thụ rộng rãi nhất là rau muống (95% số hộ tiêu thụ), cà chua (88%) và chuối (87%).  
Hộ gia đình Việt Nam tiêu thụ trung bình 71 kg rau quả cho mỗi người mỗi năm2. Rau  
chiếm 3/4.  
Thành phần tiêu thụ rau quả cũng thay đổi theo vùng. Đậu, su hào và cải bắp là những  
loại rau được tiêu thụ rộng rãi hơn ở miền Bắc; trong khi cam, chuối, xoài và quả khác  
lại được tiêu thụ phổ biến hơn ở miền Nam. Sự tương phản theo vùng rõ nét nhất có thể  
thấy với trường hợp su hào với trên 90% số hộ nông thôn ở miền núi phía Bắc và Đồng  
bằng sông Hồng tiêu thụ, nhưng dưới 15% số hộ ở miền Đông Nam bộ và Đồng bằng  
sông Cửu Long tiêu thụ. ở các khu vực thành thị, tỷ lệ hộ tiêu thụ đối với tất cả các sản  
phẩm đều cao.  
Bảng 1.2. Tỷ lệ thiêu thụ đối với từng sản phẩm theo vùng  
Vùng  
Hà nội  
TP  
Sản phẩm  
Đậu  
Rau muống  
Su hào  
Bắp cải  
Cà chua  
Rau khác  
Cam  
Chuối  
HCMC Khác Thị xã MNPB ĐBSH BTB NTB  
TN ĐNB SCL  
64  
97  
64  
99  
52  
96  
54  
91  
62  
98  
57  
98  
50  
90  
19  
47  
76  
98  
46  
92  
49  
83  
00  
97  
100  
65  
79  
59  
62  
94  
12  
38  
94  
3
42  
69  
45  
91  
96  
68  
94  
92  
90  
90  
94  
70  
78  
79  
97  
70  
95  
83  
91  
100  
99  
79  
89  
98  
60  
93  
65  
90  
100  
97  
78  
87  
97  
48  
85  
72  
88  
100  
94  
100  
98  
99  
95  
85  
94  
78  
94  
93  
91  
81  
84  
91  
92  
92  
68  
33  
65  
57  
97  
96  
87  
72  
89  
88  
Xoài  
89  
76  
68  
17  
27  
22  
Quả khác  
Các loại rau  
Các loại quả  
Quả & Rau  
Nguồn: IFPRI, 2002  
90  
83  
82  
53  
57  
59  
100  
99  
100  
98  
100  
93  
100  
79  
100  
92  
100  
94  
100  
100  
100  
100  
100  
100  
100  
100  
Theo tính toán của IFPRI, tiêu thụ ở các khu vực thành thị có xu hướng tăng mạnh hơn  
nhiều so với các vùng nông.  
1 Đây là bài viết Tiêu thụ rau quả và thịt cho Ngân hàng thế giới của nhóm nghiên cứu Trung tâm Thông  
tin (ICARD)  
2 Cần phải nói rằng những con số này có thể không bao gồm tiêu thụ rau quả như một phần sản phẩm chế  
biến (như nước quả và mứt) và tiêu thụ ở nhà hàng  
4
     
Hình 1.4. Tiêu thụ rau quả theo vùng  
B×nh qu©n  
§BSCL  
§NBé  
T©y nguyªn  
Duyªn h¶i nam TB  
B¾c trung bé  
§BSH  
Qu¶  
Rau  
Vïng nói phÝa B¾c  
ThÞ x·  
TP kh¸c  
Hµ Néi, TPHCM  
0
20  
40  
60  
80  
100  
120  
Tiªu thô (kg/ng−êi/n¨m)  
Nguồn: IFPRI , 2002  
Khi thu nhập cao hơn, thì các hộ cũng tiêu thụ nhiều rau quả hơn. Tiêu thụ rau quả theo  
đầu người giữa của các hộ giàu nhất gấp 5 lần các hộ nghèo nhất, từ 26 kg đến 134 kg.  
Sự chênh lệch này đối với quả là 14 lần, với rau là 4 lần. Kết quả là, phần quả tăng từ  
12% đến 32% trong tổng số tăng. Nhu cầu về cam, chuối và xoài tăng mạnh khi thu  
nhập tăng, nhưng su hào thì tăng chậm hơn rất nhiều  
Hình 1.5. Mức tiêu thụ rau quả phân theo nhóm chi tiêu  
140  
Qu¶ kh¸c  
120  
XoµI  
Chuèi  
100  
Cam  
80  
Rau kh¸c  
Cµ chua  
60  
B¾p c¶i  
40  
Su hµo  
Rau muèng  
§Ëu  
20  
0
1
2
3
4
5
Nhãm chi tiªu (nhãm 20%)  
Nguồn:IFPRI, 2002  
1.3. Tác động của chi tiêu và giá đối với cầu rau quả  
Kết quả phân tích về cầu cho thấy rau và quả có những kiểu tiêu thụ khác nhau. Độ co  
giãn theo thu nhập của rau là 0,54; trong khi của quả là 1,09. Điều này có nghĩa là khi  
5
 
thu nhập của hộ tăng, thì tỷ trọng chi cho rau giảm và cho quả tăng cao hơn so với mức  
tăng chi tiêu.  
Độ co giãn theo thu nhập đối với từng loại rau quả riêng. Cam và xoài có tính co giãn  
theo nhu nhập cao nhất (cam 1,45 và xoài 1,38). Điều này cho thấy là khi thu nhập của  
các hộ gia đình Việt Nam tăng, thì phần chi dành cho các sản phẩm này cũng tăng. Hay  
nói cách khác, nhu cầu đối với các mặt hàng này của người dân Việt Nam sẽ tăng nhanh  
hơn so với chi tiêu bình quân đầu người.  
Bảng 1.3. Độ co giãn chi tiêu đối với rau và quả  
Sản phẩm  
Rau muống  
Su hào  
Độ co giãn  
0,40  
0,46  
Bắp cải  
0,70  
Cà chua  
0,88  
Rau khác  
Cam  
0,48  
1,45  
Chuối  
0,79  
Xoài  
1,38  
Quả khác  
Các loại rau  
Các loại quả  
Quả & Rau  
Nguồn: IFPRI, 2002  
1,12  
0,54  
1,09  
0,74  
Nghiên cứu hệ số co giãn của cầu đối với giá một số loại rau quả chính như cam chuối,  
xoài , nước quả cho thấy, dù không co giãn nhiều nhưng biến động của cầu khá tương  
đương khi giá thay đổi. Hơn nữa, cầu của cam, xoài và nước quả có xu hướng tăng  
nhanh hơn khi giá giảm.  
Bảng 1.4. Hệ số co giãn của cầu giá đối với giá  
Loại quả  
Cam  
Hệ số co giãn  
-0.95  
Chuối  
-0.8  
Xoài  
-0.92  
Nước quả  
0.95  
Nguồn: ICARD, 2004  
6
 
1.4. Xuất khẩu  
Những năm vừa qua, thị trường rau quả có xu hướng phát triển nhanh. Xu hướng hội  
nhập cũng tạo điều kiện mở rộng thị trường và là điều kiện tốt cho sản xuất phát triển.  
Trước năm 1991, rau quả của Việt Nam chủ yếu là ở Liên Xô cũ và thị trường các nước  
XHCN (chiếm 98% sản lượng xuất khẩu) thị trường này nhỏ bé và không phát triển.  
Năm 1995 xuất khẩu rau quả Việt Nam mới chỉ đạt con số 56,1 triệu USD nhưng đến  
năm 2001 đã đạt mức kỷ lục với giá trị 330 triệu USD, tăng gấp gần 6 lần năm 1995 và  
2,2 lần năm 2000, chiếm 2,2% trong tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam năm 2001.  
Tuy nhiên, từ năm 2002 đến nay kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam giảm đáng  
kể, năm 2002 giá trị xuất khẩu rau quả chỉ đạt 200 triệu USD, giảm 39,4% so với năm  
2001 và năm 2003 đạt 152 triệu USD, giảm 24,4% so với năm 2002.  
Hình 1.6. Kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam, 1991-2004 (nghìn USD)  
350  
300  
250  
200  
150  
100  
50  
0
Nguồn:MARD  
Hiện nay Việt Nam đã xuất khẩu sản phẩm rau quả đi trên 50 nước. Các mặt hàng xuất  
khẩu chính như xoài, dứa, chuối, nhãn vải, thanh long, măng cụt và các loại nước quả.  
Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn  
Quốc. Gần đây chúng ta mở rộng sang một số nước Châu âu như Đức, Nga, Hà Lan và  
nhất là Mỹ. Xuất khẩu nông sản nói chung và rau quả nói riêng sang Mỹ đã tăng lên  
mạnh mẽ khi hiệp định thương mại Việt Mỹ được ký kết. Hiện nay, kim ngạch xuất  
khẩu rau quả sang Mỹ chiếm gần 10% tổng kim ngạch.  
7
 
Hình 1.7. Thị trường xuất khẩu rau quả chính của Việt Nam năm 2000 và 2004  
Năm 2000  
Năm 2004  
US, 1.0  
China, 16.3  
Others, 8.6  
Others, 25.4  
Russia, 2.2  
Korea, 6.4  
Japan, 5.5  
Japan, 14.5  
Hongkong, 3.1  
German, 3.2  
Neitherland, 3.9  
Taiwan, 12.8  
Taiwan, 9.8  
US, 9.8  
Campuchia, 4.0  
China, 56.5  
Russia, 7.1  
Nguồn: AIE, Đánh giá tiềm năng xuất khẩu nông sản Việt Nam, 2005  
Trong những năm qua, Trung Quốc luôn là thị trường xuất khẩu rau quả lớn nhất của  
Việt Nam. Tuy nhiên gần đây, việc xuất khẩu sang Trung Trung Quốc gặp rất nhiều khó  
khăn, kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh nhất là từ năm 2000. Mặc dù những năm gần  
đây, xuất khẩu sang các nước khác được đẩy mạnh nhưng do xuất khẩu sang Trung  
Quốc giảm mạnh làm kim ngạch xuất khẩu chung giảm xuống. Kim ngạch xuất khẩu  
rau quả của Việt Nam sang Trung Quốc giảm từ 140 triệu USD năm 2001 xuống chỉ  
còn 25 triệu USD năm 2004.  
Hình 1.8. Kim ngạch và tỷ trọng xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang Trung  
Quốc  
160000  
140000  
120000  
100000  
80000  
60000  
40000  
20000  
0
70  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
Value (000USD)  
Share (%)  
2000  
2001  
2002  
2003  
2004  
Nguồn:Tổng cục Hải quan  
Có ý kiến khác nhau giải thích việc xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc giảm  
xuống. Trong đó có hai quan điểm chính đáng chú ý:  
• Thứ nhất, xuất khẩu rau quả giảm do kể từ khi Trung Quốc ra nhập WTO, Trung  
Quốc có những quy định về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm ngặt nghèo  
8
 
hơn. Các sản phẩm Việt Nam chưa đáp ứng được tiêu chuẩn và yêu của các nhà  
nhập khẩu  
• Thứ hai, do tác động của Hiệp định buôn bán rau quả của Trung Quốc và Thái  
Lan. Việc ký kết Hiệp định thương mại Rau quả với Thái Lan giúp Trung Quốc  
có nguồn hàng ổn định hơn, ưu dãi hơn và có chất lượng tốt hơn.  
Hộp 1.1. Việt Nam - Thái Lan, chạy đua xuất khẩu vào Trung Quốc  
Thái Lan là đối thủ trực tiếp của Việt Nam trên thị trường Trung Quốc. Những mặt hàng thế  
mạnh của Việt Nam đồng thời cũng là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Thái Lan. Cạnh tranh  
giữa các doanh nghiệp hai nước trên thị trường Trung Quốc ngày càng gay gắt khi cả Việt Nam  
và Thái Lan đang tìm mọi cách để gia tăng xuất khẩu.  
Bất lợi về thuế và kiểm dịch  
Mặt hàng rau quả Việt Nam luôn được đánh giá có khả năng cao khi xuất  
khẩu vào Trung Quốc, nhưng điều "nhức nhối" là kim ngạch xuất khẩu  
rau quả Việt Nam liên tục sụt giảm trong mấy năm gần đây, trong khi xuất  
khẩu của Thái Lan lại tăng rất nhanh. Năm 2004, Việt Nam xuất được 24  
triệu USD (chỉ bằng 36% năm 2003) thì Thái Lan xuất được 445 triệu  
USD (tăng 91% so với năm 2003), chiếm 41% thị phần nhập khẩu rau  
quả Trung Quốc.  
Lý giải điều này, Tổng Công ty Rau quả Việt Nam cho biết: từ năm 2003,  
Trung Quốc và Thái Lan đã đạt được thoả thụân song phương để giảm  
thuế rau quả xuống 0%. Trong khi đó, mức thuế Việt Nam phải chịu thấp  
nhất là 12% và cao nhất là 24,5%. Với chênh lệch này thì không một lợi  
thế nào có thể bù đắp nổi. Vì vậy, năm 2004, Tổng Công ty Rau quả tăng  
trưởng xuất khẩu 21% nhưng số lượng vào Trung Quốc rất ít. Để đẩy mạnh xuất khẩu, Tổng  
công ty cho rằng phải chờ đến 2006 khi mức thuế giảm xuống 0% theo cam kết của chương  
trình "Thu hoạch sớm" giữa Trung Quốc với các nước ASEAN.  
Một bất lợi khác mà nhiều doanh nghiệp xuất khẩu kêu ca là việc Việt Nam và Trung Quốc  
chưa thống nhất được các Hiệp định chung về kiểm dịch đối với động vật và thực vật. Trong khi  
đó, một số thỏa thuận về kiểm dịch và giám sát vệ sinh đối với mặt hàng gạo, thuỷ sản đã được  
ký kết đến nay vẫn chưa đi vào thực tế do các Bộ, ngành Việt Nam chậm hướng dẫn, phổ biến  
để các doanh nghiệp thực hiện. Điều này khiến cho không chỉ rau quả mà nhiều nhóm hàng  
khác vấp phải các rào cản kỹ thuật khi xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc. Một ví dụ được  
nhiều doanh nghiệp nêu lên là cơ chế kiểm tra hải quan một lần giữa Trung Quốc và Việt Nam  
vẫn chưa được thực hiện nên hàng hoá Việt Nam vào Trung Quốc, nhất là các mặt hàng tươi  
sống hay bị gây khó dễ bởi mã hàng hai bên không thống nhất, chứng chỉ vệ sinh chưa được  
hai bên công nhận...  
Ngược lại, Thái Lan đã giải quyết rất tốt vấn đề này bằng các văn bản ký  
kết giữa Chính phủ hai nước. Hơn nữa, sự đảm bảo về chất lượng từ  
nguồn nguyên liệu đến công nghệ chế biến tốt là một lợi thế của doanh  
nghiệp Thái Lan. Trong khi đó đây lại là điểm yếu của doanh nghiệp Việt  
Nam. Trung Quốc có quy chế, nếu hàng Việt Nam có chứng chỉ C/O thì  
sẽ được giảm 50% thuế nhưng từ trước đến nay doanh nghiệp Việt Nam  
vẫn chưa làm được.  
Mất dần lợi thế thị trường gần  
Khoảng cách vận chuyển gần, có nhiều ưu đãi trong buôn bán biên mậu  
là lợi thế đã được các doanh nghiệp và thương nhân Việt Nam khai thác  
hiệu quả. Tàu thuyền đánh bắt ở Vịnh Bắc bộ có thể vào cảng Vạn Gia  
(Trung Quốc) bán hàng rồi lại quay ra tiếp tục đánh bắt dài ngày trên  
biển. Xe thuỷ sản đông lạnh từ các tỉnh miền Trung và miền Nam chỉ mất  
Thuỷ sản Việt Nam  
- "đặc sản phương  
Nam" rất đắt hàng  
ở Trung Quốc.  
vài ngày để lên đến cửa khẩu ở Lạng Sơn, qua những thủ tục đơn giản là có thể đưa hàng  
sang các chợ đầu mối biên giới, thậm chí là có thể đi sâu vào nội địa hàng trăm kilomet để  
nhập hàng đến cuối ngày quay về Việt Nam.  
Các phương thức này đã tỏ ra rất có ưu thế và phát triển mạnh khi Nhà nước có chính sách  
hoàn thuế GTGT cho xuất khẩu nông sản; kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản và rau quả thời kỳ đó  
9
 
lên đến hàng trăm triệu USD. Nhưng tình hình đã thay đổi rất nhanh, khi Trung Quốc bãi bỏ dần  
các ưu đãi biên mậu thì kim ngạch nhiều mặt hàng đã giảm xuống 4-5 lần. Cửa khẩu duy nhất  
còn lại áp dung các ưu đãi biên mậu là Lào Cai thì gặp nhiều khó khăn về vận chuyển đường  
bộ, nhất là các mặt hàng tươi sống.  
Trong khi các nhà xuất khẩu Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn thì Thái Lan đã tìm ra các biện  
pháp để khắc phục bất lợi về khoảng cách địa lý của mình. Theo ông Nguyễn Duy Luật - Tuỳ  
viên thương mại ở Côn Minh: Thái Lan có những biện pháp mà doanh nghiệp Việt Nam chưa  
hề nghĩ tới như: mỗi ngày, chở đến Côn Minh 8-10 tấn tôm biển tươi bằng máy bay và đã được  
bán giá rất đắt. Thái Lan và Trung Quốc cũng đầu tư rất lớn để cải tạo sông Mêkông thành một  
đường thủy vận chuyển rất an toàn, chi phí rất rẻ cho những mặt hàng cồng kềnh, đòi hỏi cao  
về bảo quản như rau quả. Ngày ngày, hàng rau quả, thuỷ sản Thái Lan vẫn đến được với các  
tỉnh miền Tây xa xôi của Trung Quốc bằng hàng không và đường thuỷ. Trong khi đó các doanh  
nghiệp Việt Nam với phương thức vận chuyển bằng xe đông lạnh đã bị bỏ lại rất xa cuộc chạy  
đua vào thị trường Trung Quốc.  
Chuẩn bị bứt phá  
Mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu đến 2010 được đặt ra rất cao. Vì thế, ngay từ bây giờ, Bộ  
Thương mại đã kêu gọi doanh nghiệp cần chuẩn bị để tạo ra sự bứt phá mạnh mẽ trong việc  
xuất khẩu sang Trung Quốc, nhất là sau khi Việt Nam có được những ưu đãi thuận lợi như Thái  
Lan hiện nay. Sự chuẩn bị trước hết là phải "kiên quyết chuyển sang phương thức buôn bán  
chính ngạch những mặt hàng có kim ngạch lớn để thâm nhập ổn định và bền vững trên thị  
trường Trung Quốc".  
Tham tán Thương mại tại Trung Quốc Đào Ngọc Chương cho biết: bắt đầu từ 2006, cơ hội sẽ  
mở ra rất nhiều cho doanh nghiệp Việt Nam khi hầu hết các mặt hàng sẽ được giảm thuế  
xuống 0%. Việc vận chuyển nhất là vận chuyển lên các tỉnh miền Tây Trung Quốc cũng dễ  
dàng hơn nhờ tuyến đường cao tốc nối từ cửa khẩu biên giới với Lào Cai lên Côn Minh và đi  
các tỉnh miền Tây hoàn thiện. Vấn đề còn lại là sự chuẩn bị của Việt Nam, từ phía các doanh  
nghiệp là cách thức bán hàng, xây dựng hệ thống phân phối, phát triển chế biến, nâng cao chất  
lượng; từ phía các cơ quan quản lý phải nhanh chóng thống nhất hành lang pháp lý để giải toả  
các rào cản kỹ thuật cho hàng hoá Việt Nam. Ông Chương tin rằng: nếu chuẩn bị tốt, hàng hoá  
Việt Nam có thể cạnh tranh tốt với đối thủ Thái Lan trên thị trên thị trường chiến lược Trung  
Quốc.  
Nguồn: Vietnamnet  
Bên cạnh đó, hàng năm Việt Nam cũng nhập một lượng hoa quả lớn từ Trung Quốc. So  
với kim ngạch xuất khẩu thì nhập khẩu rau quả của Việt Nam từ Trung Quốc là tương  
đối hạn chế. Tuy nhiên, lượng rau quả Trung Quốc vào Việt Nam cũng tăng tương đối  
ổn định từ 24,3 triệu USD năm 2000 lên mức 40,2 triệu năm 2003 với mức tăng trưởng  
bình quân hàng năm đạt 18%. Các mặt hàng nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam từ Trung  
Quốc gồm có lê/táo (HS0808) với kim ngạch khoảng trên 10 triệu USD, nho với mức  
khoảng 2-3 triệu USD, tỏi/hành, cà chua.  
Hiện tại ở thị trường nội địa, sản phẩm trái cây trong nước vẫn đang chiếm lĩnh vì trái  
cây nhập khẩu đắt. Trái cây của Trung Quốc là loại được nhập khẩu nhiều nhất thì bị  
người tiêu dùng đánh giá là không tốt bằng trái cây của Việt Nam bởi người trồng  
Trung Quốc sử dụng thuốc trừ sâu. Một số còn sử dụng những hóa chất bị quốc tế cấm  
sử dụng.  
Mặc dù có sự phát triển mạnh nhưng thị phần của hầu hết các mặt hàng rau quả Việt  
Nam còn ở mức rất hạn chế, không tạo được tác động chi phối đến thị trường thế giới.  
10  
Bảng 1.5. Thị phần của một số nước châu Á trên thị trường rau quả thế giới giai  
đoạn 1997-2001  
Mặt hàng  
Quả tươi  
Quả khô  
Dứa hộp  
Nấm hộp  
Việt Nam  
4,8  
Trung Quốc  
2,6  
Thái Lan  
32,6  
Indonesia  
Ấn Độ  
2,7  
1,6  
5,8  
0,9  
1,2  
10,6  
3,4  
52,0  
18,3  
45,2  
1,7  
11,5  
7,4  
1,1  
Nguồn: Vietnamnet, 20/4/2005  
Nguyên nhân của tình trạng đó là tuy đã có những tiến bộ nhất định khả năng mở rộng  
xuất khẩu, thị trường xuất khẩu của Việt Nam khá hạn chế, chủ yếu phụ thuộc vào thị  
trường những nước lân cận như Trung Quốc. Xuất khẩu rau quả, đặc biệt là rau quả tươi  
sang các thị trường nhập khẩu lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản còn gặp nhiều trở ngại về  
công nghệ bảo quản và chế biến cũng như khả năng đáp ứng các yêu cầu về hàng nhập  
khẩu của các thị trường này.  
Hiện tại rau quả Việt Nam chịu sự cạnh tranh mạnh trong xuất khẩu rauq quả từ các  
nước khác trong khu vực và trên thế giới như Thái Lan, Philippin, Trung Quốc, Úc,  
Canada, vầ rấu nhiều các nước khác. Theo rất nhiều các nghiên cứu khác nhau, xuất  
khẩu rau quả còn một số hạn chế sau:  
a. Giá thành cao  
Hiện tại so với một số quốc gia xuất khẩu thì giá thành của Việt Nam còn thấp. Dù Việt  
nam có nguồn lao động rồi rào nhưng do năng suất thấp, cộng với các chi phí giao dịch  
marketing cao, công nghệ chế biến lạc hậu ,cơ sở hạ tầng yếu kém nên chi phí xuất khẩu  
của Việt Nam còn cao.  
b. Chất lượng chưa cao  
Có nhiều nguyên nhân làm cho chất lượng rau quả của ta còn thấp và chưa đồng đều.  
Trong đó nguyên nhân chủ yếu là do giống, phương pháp canh tác còn yếu, vườn tạp  
nhiều, trình độ phòng bệnh, chăm sóc kém, dư lượng trừ sâu còn nhiều.  
Bên cạnh dó, công nghệ chế biến lạc hậu cũng ảnh hưởng tới chất lượng rau quả. Ngoài  
ra, việc thiếu các phương tiện vận chuyển lạnh, phương tiện bảo quản hiện đại cũng là  
những lý do ảnh hưởng đến chất lượng quả. Hơn nữa việc thu hái, phương pháp thu hái  
cũng có những tác động tích cực tới chất lượng rau quả. Một nguyên nhân nữa là do các  
tiêu chuẩn chất lượng của Việt Nam tương đối lạc hậu so với các tiêu chuẩn quốc tế.  
Điều này cũng tạo những khoảng cách nhất định.  
c. Thiếu thương hiệu  
Hiện nay, nông sản Việt nam nói chung và rau quả xuất khẩu nói riêng vẫn chưa có  
thương hiệu mạnh. Chính vì thế việc bán dưới dạng thô hoặc sơ chế chưa tạo ra giá trị  
cao.  
11  
 
Hộp 1.2. Việt nam mất hàng trăm triệu USD mỗi năm vì không thương hiệu  
90% nông sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường nước ngoài phải qua trung gian dưới  
những thương hiệu của các nước khác nên người tiêu dùng thế giới vẫn chưa biết nhiều  
về những nét đặc thù của nông sản Việt Nam.  
Xây dựng thương hiệu cho nông sản Việt Nam đang là vấn đề cấp bách nhằm giảm thiệt hại  
cho nông dân, doanh nghiệp và nâng cao vị thế của của nông sản Việt Nam trên thị trường  
quốc tế.  
Hiện nay, Việt Nam là quốc gia đứng đầu thế giới về xuất  
khẩu hạt tiêu, thứ hai về cà phê và các sản phẩm khác  
như điều, chè và xuất khẩu thủy sản đều ở mức cao trên  
thế giới. Tuy nhiên, theo Bộ NN - PTNT, hầu hết các mặt  
hàng nông sản, thực phẩm của Việt Nam xuất ra nước  
ngoài đều được bán dưới dạng thô hoặc sơ chế nên  
chưa tạo giá trị cao để tăng lợi nhuận cho nông dân.  
Thêm vào đó, trên 90% nông sản Việt Nam xuất ra thị  
trường nước ngoài là chưa có thương hiệu. Theo tiến sĩ  
Võ Mai, Chủ tịch Hiệp hội trái cây Việt Nam, điều này  
Hầu hết rau quả xuất khẩu của ta  
khiến nước ta thất thu hàng trăm triệu USD mỗi năm.  
còn chưa có nhãn hiệu.  
Nguyên nhân của tình trạng trên, theo Bộ NN - PTNN và  
Cục Sở hữu trí tuệ, là do các doanh nghiệp chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của thương  
hiệu, vẫn còn quan niệm “hữu xạ tự nhiên hương”, thiếu thông tin thị trường cũng như không rõ  
về thủ tục, chi phí đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ và thương hiệu.  
Phát biểu tại hội thảo, các đại biểu cho rằng việc xây dựng thương hiệu nông sản phải đầu tư  
toàn diện, có chiến lược phát triển lâu dài và sự kết hợp đồng bộ của tất cả các khâu từ việc  
chọn lựa giống, trồng trọt, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch. Việc này đòi hỏi  
phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nông, nhà khoa học, nhà truyền thông, doanh nghiệp và  
Nhà nước. Thêm vào đó, Việt Nam cần xác định được ưu thế của những nông sản mũi nhọn ở  
từng khu vực, từng loại hàng hóa để phát huy thế mạnh và tạo sự độc quyền trên thị trường  
quốc tế  
Nguồn: VietNamNet, 22/11/2003  
d. Thiếu các hiệp định Quốc tế  
Bài học từ Hiệp định thương mại quả của Trung Quốc và Thái lan cho thấy rõ nhất về  
vấn đề này. Nếu có thể có những hiệp định thương mại giữa các nước với những ưu đãi  
thương mại sẽ tạo ra cánh cửa tốt cho sản phẩm của Việt Nam xâm nhập vào thị trường  
các đối tác.  
f. Thiếu các kiến thức về hội nhập  
Đây là hạn chế chung của các doanh nghiệp Việt Nam nhất là các doanh nghiệp vừa và  
nhỏ. Điều này cần phải được chuẩn bị tốt giúp cho các doanh nghiệp chủ động hội nhập,  
phát huy lợi thế của mình để có được những chiến lược hiệu quả.  
Bảng 1.6. Phân tích điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức của xuất khẩu rau quả  
•
•
•
•
•
Đặc điểm khí hậu đa dạng và thích hợp cho sản xuất rau quả  
Sản phẩm phong phú  
Hỗ trợ từ Chính phủ  
Thu được nhiều lợi nhuận hơn sản xuất cây lương thực  
Cầu trong nước lớn, đặc biệt đối với rau quả tươi  
Điểm mạnh  
12  
 
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
Thiếu các hiệp định thương mại song phương  
Thiếu SPS với các nước nhập khẩu lớn như Trung Quốc  
Chất lượng thấp và không đồng đều  
Thiếu nguyên liệu cho chế biến  
Chưa có thương hiệu mạnh  
Phương tiện cất trữ và dịch vụ thương mại kém  
Thiếu kỹ năng thương mại và quảng cáo  
Cơ sở hạ tầng kém  
Điểm yếu  
Các hộ chế biến lạc hậu và nhỏ  
Chưa có giám sát kỹ thuật và hệ thống kiểm duyệt  
Không có khu vực tập trung chuyên canh  
Bệnh tật  
Cầu thị trường trong nước và thế giới tăng  
Chương trình hỗ trợ từ Chính phủ  
Gần các thị trường lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan,  
Singapore  
Cơ hội  
•
•
•
Đất thích hợp cho sản xuất hoa quả còn có thể mở rộng  
Năng suất chế biến còn lớn  
Tăng đầu tư cho khoa học kỹ thuật của Chính phủ  
•
Cạnh tranh từ các nước xuất khẩu khác (Thái Lan) trên cả thị trường  
trong và ngoài nước  
•
•
•
•
Xuất khẩu sang thị trường chính (Trung Quốc) giảm  
Thiên tai (hạn hán, lũ lụt)  
Sử dụng quá mức thuốc trừ sâu và phân bón  
Cơ sở hạ tầng nghèo nàn  
Thách thức  
Hộp 1.3. Nhận định một số thị trường xuất khẩu rau quả  
Theo Vietnam.net, thị trường rau quả xuất khẩu cũng có nhiều biến động,. Tuy nhiên tiềm năng  
cho xuất khẩu rau quả còn lớn nếu Việt Nam biết khắc phục những hạn chế và phát triển mạnh  
hơn.  
Với thị trường Trung Quốc: Trong những năm tới, Trung Quốc vẫn là thị trường có nhiều tiềm  
năng phát triển đối với rau quả xuất khẩu của Việt Nam. Trung Quốc là thị trường lớn, dễ thâm  
nhập, yêu cầu về chất lượng không quá cao, nhu cầu tiêu dùng của cư dân cũng rất đa dạng.  
Các nước khác trong khu vực: Đài Loan và Hàn Quốc cũng là thị trường xuất khẩu rau quả lớn  
thứ hai của Việt Nam, chiếm khoảng 10% và 6% tổng kim ngạch xuất khẩu. Các nước ASEAN  
cũng là những thị trường xuất khẩu rau quả quan trọng của Việt Nam, trong đó Singapore,  
Malaysia và Indonesia nhập khẩu 1-2 triệu USD/năm.  
Nhật Bản: Hiện tại và trong những năm tới, Nhật Bản vẫn là khu vực đầy tiềm năng của nhiều  
loại rau quả như bắp cải, dưa chuột, khoai tây, đậu quả các loại, dứa, cà chua, thanh long, tỏi,  
hoa… Đây cũng là những mặt hàng mà nước ta có năng lực sản xuất khá dồi dào. Năm 2003,  
Nhật Bản đã nhập khẩu một lượng rau quả trị giá khoảng trên 16 triệu USD từ Việt Nam. Tuy  
vậy, lượng kim ngạch này mới chỉ chiếm 0,4% tổng kim ngạch nhập khẩu rau quả của Nhật  
Bản.  
Thị trường EU: Do khoảng cách xa và chi phí vận chuyển cao, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu  
sang châu Âu các loại rau quả đóng hộp, nước quả. Các thị trường xuất khẩu quan trọng nhất  
của Việt Nam trong khu vực này là Đức, Pháp, Hà Lan, Italia, Anh và Thuỵ Sĩ. Trong những  
năm gần đây, các nước châu Âu có xu hướng tăng cường nhập khẩu các loại quả nhiệt đới.  
Thị trường Bắc Mỹ: Trong những năm qua, xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang thị trường  
Bắc Mỹ, đặc biệt là thị trường Hoa Kỳ, đã có những bước tiến đáng kể. Hoa Kỳ nhập khẩu từ  
Việt Nam chủ yếu là rau quả chế biến và nước quả. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Hoa  
Kỳ, kim ngạch nhập khẩu rau quả chế biến của Hoa Kỳ từ Việt Nam đã tăng từ 5,0 triệu USD  
năm 1999 lên 5,7 triệu USD năm 2003.  
13  
 
Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu của Việt  
Nam sang thị trường này. Kể từ khi Hiệp định thương mại song phương Việt Nam và Hoa Kỳ  
xuất khẩu rau quả của Việt Nam vào Hoa Kỳ trở nên dễ dàng hơn. Nhờ được hưởng quy chế  
đối xử tối huệ quốc (MFN), thuế nhập khẩu giảm đáng kể.  
Thị trường Nga: Việt Nam được hưởng chế độ GSP của Nga nên chính sách thuế không đặt ra  
áp lực cạnh tranh đối với xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang thị trường này. Thị trường Nga  
trước mắt và lâu dài còn cần nhiều hàng nông sản, rau, trái cây vùng nhiệt đới. Việt Nam có  
nhiều cơ hội có thể chiếm lĩnh được thị trường khu vực Viễn Đông của Nga, như đã làm trước  
kia. Vấn đề đặt ra là cách thức tổ chức sản xuất và xuất khẩu rau qảu từ lúc chọn giống, cách  
trồng, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản, vận chuyển nội địa, giao hàng lên tàu lạnh.  
1.5. Kiến nghị phát triển ngành rau quả Việt Nam  
• Tự do hoá hơn nữa thị trường nông nghiệp (kể cả thị trường rau quả) sẽ củng cố và  
tăng lợi nhuận của cải cách thị trường. Cải cách thị trường sẽ giảm đói nghèo, mở  
rộng sản xuất và xuất khẩu rau quả, góp phần đa dạng tiêu thụ rau quả. Nhiều loại  
hàng hoá kể cả các sản phẩm rau quả có thuế nhập khẩu là 40% hoặc cao hơn. Các  
doanh nghiệp Nhà nước tiếp tục đóng vai trò lớn trong thị trường nông nghiệp, bao  
gồm sản xuất giống, phân phối phân bón, chế biến và xuất khẩu rau quả.  
• Tự do hoá nhập khẩu kể cả giảm thuế nhập khẩu và hạn ngạch rau quả tươi và rau  
quả chế biến sẽ mang lại lợi ích lớn cho Việt nam. Mặc dù nhập khẩu có thể tăng áp  
lực cạnh tranh đến người sản xuất rau quả trong nước, nhưng mang lại 3 điểm lợi  
cho đất nước. Thứ nhất là người tiêu dùng có nhiều lựa chọn và giá thấp hơn. Thứ  
hai là người xuất khẩu rau quả (và người xuất khẩu hàng hoá khác) có lợi từ tự do  
hoá thương mại từ đối tác của Việt nam. Thứ ba là mặc dù bị thiệt hại trước mắt,  
nhưng rau quả nhập khẩu mang lại nhiều mặt có lợi đối với người sản xuất trong  
nước, buộc họ phải cải tiến hiệu quả đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng và cung cấp  
sản phẩm có chất lưọng cao, bao bì đẹp cho người tiêu dùng.  
• Các quy định không cho chuyển đổi đất trồng lúa sang cây trồng khác dựa trên lý  
do an ninh lương thực mà hiện nay vấn đề an ninh lương thực không còn lo ngại  
nữa. Cho đến gần đây, các quy định về sử dụng đất gây khó khăn cho chuyển đổi  
đất lúa sang cây trồng khác. Thay đổi chính sách gần đây cho phép chính quyền địa  
phương nới lỏng quy định này, nhưng vẫn tiếp tục áp dụng trong từng trường hợp cụ  
thể. Các quy định này khó lý giải vì hiện nay Việt nam là nước xuất khẩu gạo chính.  
Những thay đổi trong sản xuất không ảnh hưởng đến an ninh lương thực thông qua  
giá gạo, vì giá cả do thị trường thế giới quyết định. Cho phép nông dân trồng lúa  
nhiều hay ít theo ý muốn của họ sẽ cải thiện thu nhập của nông dân mà không nguy  
14  
 
hại đến an ninh lương thực. Trong nhiều trường hợp, nới lỏng quy định sử dụng đất  
sẽ cho phép nông dân chuyển sang cây trồng có giá trị cao hơn kể cả rau và quả.  
• Xây dựng các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá lớn: đây là vấn đề được rất  
nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, bởi một thực tế các vườn rau quả của Việt Nam rất  
nhiều vườn tạp, đôi khi còn có giống tạp. Chính vì vậy để có thể phát triển hàng hoá  
lớn cho xuất khẩu với chất lượng cao, việc phát triển vùng chuyên canh là vấn đề rất  
cần thiết. Tuy nhiên hiện nay, việc xây dựng vùng chuyên canh không dễ do quy mô  
của hộ nhỏ và việc cải tạo vườn tạp đồng nhất là không dễ.  
• Tăng cường nghiên cứu và khuyến nông về rau quả sẽ mang lại lợi ích đáng kể cho  
nông dân và người tiêu dùng. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đầu tư Nhà nước cho  
nghiên cứu nông nghiệp sẽ mang lại hiệu quả cao. Hơn nữa, hiệu quả trong nghiên  
cứu rau quả là rất lớn vì kinh phí cho lĩnh vực này còn chưa tương xứng với tầm  
quan trọng của nó trong sản xuất và xuất khẩu. Thậm chí nông dân chuyên trồng rau  
quả hàng hoá cho biết không thường xuyên được tiếp xúc với các đơn vị khuyến  
nông và đánh giá dịch vụ khuyến nông Nhà nước không cao.  
• Phát triển thông tin thị trường: Thông tin thị trường ngày càng quan trọng đối với  
thị trường rau quả. Vì thị trường rau quả mở rộng, nhu cầu thông tin chính xác và  
kịp thời về giá cả và điều kiện thị trường ngày càng tăng. Rau quả dẽ bị hỏng, nên  
dự trữ kho ít có khả năng điều hành giá cả, và thông tin thị trường có giá trị đặc  
biệt khi giá cả biến động. Dịch vụ thông tin thị trường tập trung vào các sản phẩm  
và thị trường chính, tránh tràn lan. Hơn nữa, thông tin cần kết hợp cả ý kiến phản  
hồi của người sử dụng thông tin để đảm bảo thông tin có ích và tin cậy.  
• Nâng cao năng lực, hỗ trợ phát triển các hiệp hội . Hiệp hội người sản xuất và  
người buôn bán dễ hợp tác về những vấn đề cùng quan tâm. Ví dụ hình thành hệ  
thống thu thập và cung cấp thông tin thị trường, xây dựng tiêu chuẩn phân loại, xem  
xét ý kiến phản hồi của người nghiên cứu về ưu tiên sản xuất, hỗ trợ dịch vụ khuyến  
nông cho các thành viên và trao đổi ý kiến về chính sách với Chính phủ. Hội các  
người sản xuất trái cây Việt nam (Vinafruit) chính thức thành lập năm 2001, nhưng  
những người tổ chức cho biết việc đăng ký phải mất vài năm. Thường có các trở  
ngại về tổ chức và tài chính khi thành lập hiệp hội và cần được trợ giúp, ủng hộ của  
chính quyền các cấp.  
• Quan tâm đầu tư đến vấn đề vệ sinh và kiểm dịch động thực vật (SPS). Vấn đề SPS  
có lẽ là rào cản lớn nhất trong xuất khẩu rau quả đến các thị trường có thu nhập  
15  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 48 trang yennguyen 28060 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo tổng quan Các nghiên cứu về ngành rau quả của Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_tong_quan_cac_nghien_cuu_ve_nganh_rau_qua_cua_viet_n.pdf