Báo cáo Phân tích xu hướng công nghệ - Chuyên đề: Xu hướng ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TP.HCM  
TRUNG TÂM THÔNG TIN VÀ THỐNG KÊ KH&CN  
    
BÁO CÁO PHÂN TÍCH XU HƯỚNG CÔNG NGHỆ  
Chuyên đề:  
XU HƯỚNG ỨNG DỤNG DI TRUYỀN PHÂN TỬ  
TRONG CHỌN GIỐNG GIA SÚC  
Biên soạn: Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học và Công nghệ  
Với sự cộng tác của:  
TS. Chung Anh Dũng  
Trưởng phòng Nghiên cứu Công nghệ sinh học,Viện Khoa học  
Kỹ thuật Nông Nghiệp Miền Nam  
Ths. Diệp Tấn Toàn  
Quản lý trại bò sữa công nghệ cao Israel, Trung tâm quản lý và  
kiểm định giống cây trồng-vật nuôi TP Hồ Chí Minh  
TP.Hồ Chí Minh, 12/2016  
MỤC LỤC  
XU HƢỚNG ỨNG DỤNG DI TRUYỀN PHÂN TỬ  
TRONG CHỌN GIỐNG GIA SÚC  
**************************  
I. TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG DI TRUYỀN PHÂN TỬ TRONG  
CÔNG TÁC CHỌN GIỐNG GIA SÚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI  
VIỆT NAM  
1.1. Khái niệm về phƣơng pháp lựa chọn giống gia súc qua kiểu hình  
và kiểu gen  
a. Lựa chọn giống gia súc qua kiểu hình (truyền thống và phổ biến)  
Lựa chọn qua kiểu hình thông qua sự đo lường các tính trạng quan tâm  
(sinh sản, tăng trọng, chất lượng thịt…). Kiểu hình được điều chỉnh theo người  
chăn nuôi và hiệu quả kinh tế, dựa trên chỉ số ước lượng giá trị chăn nuôi  
(Estimate Breeding Value-EBVs). EBV giúp ước lượng tính trạng của một cá  
thể sẽ được thể hiện ở thế hệ con cháu như thế nào, nhằm mục đích đưa tính  
trạng của tất cả cá thể trong đàn hoặc trong giống lên một mặt bằng so sánh  
đồng nhất để giúp có một quyết định chọn giống phù hợp dựa trên sự so sánh  
tương đồng (của tính trạnh theo dõi) bất chấp hệ thống hay điều kiện sản xuất.  
b. Lựa chọn giống gia súc dựa trên kiểu gen  
Lựa chọn dựa trên kiểu gen gồm:  
- Chọn lọc với sự hỗ trợ của marker (marker assisted selection- MAS):  
Chọn giống dựa trên marker phân tử liên kết với gen quan tâm, marker  
đóng vai trò gián tiếp.  
- Chọn lọc với sự hỗ trợ của gen (gene assisted selection- GAS): Chọn  
giống trực tiếp trên gen quan tâm, marker đóng vai trò trực tiếp.  
- Chọn lọc dựa trên Genomic (Genomic selection-GS)  
Lợi ích của lựa chọn giống gia súc dựa trên kiểu gen: làm tăng tính chính  
xác của chọn lọc thông qua các thông tin liên quan trực tiếp tới kiểu gen, thu hẹp  
1
   
khoảng cách giữa thế hệ bằng cách chọn lọc sơ các tính trạng khi vật nuôi đang  
còn trẻ bởi gen cho phép kiểm tra tính trạng không phụ thuộc vào giới tính hay  
tuổi tác vật nuôi, tăng độ chính xác khi chọn lọc trên những tính trạng khó, giảm  
quần thể kiểm định/hậu bị do chọn lọc ngay chính kiểu gen.  
1.2. Tình hình về ứng dụng di truyền phân tử trong công tác chọn  
giống trên thế giới  
Thuần hóa động vật là một bước thiết yếu trong phát triển chăn nuôi, trong  
các giai đoạn tiếp theo, công cụ tiến hóa chính là đột biến, chọn giống, thích  
ứng, cô lập di truyền đã tạo ra một sự đa dạng rất lớn trong quần thể địa phương.  
Trong các thập niên qua, sự phát triển chăn nuôi tập trung nhiều vào chương  
trình lựa chọn hiệu quả bằng cách cải thiện di truyền trong một số giống. Sự đa  
dạng di truyền vật nuôi trong trang trại nhắm vào mức độ biến dị di truyền giữa  
các giống, chủng, dòng. Duy trì sự đa dạng di truyền là một yêu cầu quan trọng  
trong chiến lược chăn nuôi tương lai vì vật nuôi phải phù hợp với hệ thống chăn  
nuôi và thích ứng được với thay đổi của môi trường. Đặc tính di truyền phân tử  
của các quần thể chăn nuôi đã trở thành một lĩnh vực hoạt động nghiên cứu để  
trả lời các câu hỏi sau:  
1. Tổ tiên của các loài hoang dã và nơi đã diễn ra sự thuần hóa đầu tiên cùa  
loài?  
2. Thời gian, đặc điểm giống cha mẹ và đa dạng nhiễm sắc thể thể hiện  
được điều gì về lịch sử tiến hóa và số lượng bầy đàn trong chăn nuôi?  
3. Gen nào có liên quan đến kiểu hình?  
4. Quản lý sự đa dạng di truyền của giống vật nuôi như thế nào?  
Trong khi nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được thực hiện thì tiến bộ trong công  
nghệ gen hiện nay đã mở ra chân trời mới. Ba loại marker di truyền được phân  
biệt bởi các phạm vi ứng dụng như sau [1]:  
2
 
- Ti thể DNA (mtDNA): được di truyền từ mẹ cho con cái, có mức biến  
đổi lớn, và có thể truy xuất từ quần thể đầu tiên trong nội địa (Pellecchia  
et al. 2007; White et al. 2008)  
- Nhiễm sắc thể haplotype Y là marker dòng nội động vật có vú, có thể  
tiết lộ sự lựa chọn của giống đực  
- Biến đổi của nhiễm sắc thể DNA thường: liên kết chặt chẽ nhất với kiểu  
hình  
Dữ liệu phân tử đã làm sáng tỏ về thuần hóa lợn bằng cách truy tìm  
mtDNA. Nghiên cứu mtDNA ban đầu cho thấy lợn Châu Âu và Trung Quốc đã  
được thuần hóa một cách độc lập từ phân loài Châu Á và Châu Âu của heo rừng  
hoang dã (Giuffra al. 2000) nhưng các nghiên cứu sau đó đưa ra ít nhất 7 sự kiện  
thuần hóa khắp Eurasia (Larson et al.2005) và Đông Á ( Wu et al. 2007). Fang  
et al (2009) đã nghiên cứu biến thể di truyền trong gen (MC1R) giữa 15 giống  
hoang dã và 68 giống lợn nội địa từ cả Châu Âu và Châu Á để giải thích tại sao  
màu lông thay đổi quá nhiều giữa vật nuôi so với tổ tiên hoang dã. Trên khắp thế  
giới, gần 400 giống đã được khai thác và số lượng giống lớn nhất được tìm thấy  
ở Châu Âu và Châu Á[2]  
Hiện nay, các công ty cung cấp giống gia súc nổi tiếng trên toàn cầu đều đã  
áp dụng kỹ thuật di truyền phân tử trong chọn và lai tạo giống như: ABS global  
(Mỹ), PIC (Mỹ), Monsanto (Mỹ), Semex (Canada), Dansire (Đan mạch)…  
1.3. Những nghiên cứu ứng dụng di truyền phân tử trong công tác  
chọn giống ở nƣớc ta  
Trong khoảng 40 năm qua, các nhà khoa học đã sử dụng nhiều biện pháp  
như thay đổi điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, năng cao chất lượng thức ăn cũng  
như các chương trình lai tạo và chọn giống dựa trên các đặc điểm về ngoại hình  
và các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa. Các biện pháp này cũng đạt được nhiều kết quả  
nhưng còn nhiều biến động do tốn kém thời gian, độ chính xác không cao, khó  
kiểm soát các đặc điểm ngoại hình. Chọn lọc di truyền là phương pháp hiệu quả  
3
 
và chính xác để cải thiện nguồn giống vật nuôi nhằm nâng cao năng suất sản  
xuất.  
Với sự phát triển mạnh mẽ của sinh học phân tử, các kỹ thuật di truyền  
phân tử đang dần được áp dụng rộng rãi vào công tác chọn giống lợn, bò. Tại  
Việt Nam, lĩnh vực nghiên cứu về ứng dụng di truyền phân tử còn rất mới, các  
kết quả nghiên cứu về gen hầu hết chỉ trên đối tượng thực vật: lúa, đỗ tương,  
ngô… mà chưa có nhiều nghiên cứu trên đối tượng là gia súc.  
Việc áp dụng kỹ thuật di truyền phân tử phân lập và mã hóa các gen liên  
quan đến các tính trạng thịt, sữa ở Việt Nam là cần thiết để phục vụ cho công tác  
chọn giống, và đã được tham gia nghiên cứu bởi các nhà khoa học từ các phòng  
thí nghiệm di truyền phân tử-Viện Chăn nuôi, phòng ADN ứng dụng, phòng tế  
bào sinh sản, phòng di truyền phân tử, viện công nghệ sinh học, viện Khoa học  
kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, trường Đại học Nông nghiệp I…Những kết  
quả nghiên này cũng là dữ liệu ban đầu về ứng dụng kỹ thuật gen trên đối tượng  
là lợn và bò của Việt Nam.  
Công tác chọn giống bò: chủ yếu chọn lọc qua kiểu hình dựa trên các tính  
trạng: tăng trọng, tỷ lệ thịt xẻ hay năng suất, chất lượng sữa và một tính trạng  
sinh sản.  
Mô hình thí điểm ứng dụng kỹ thuật di truyền phân tử trong chọn giống bò  
sữa tại thành phố Hồ Chí Minh là trại trình diễn và thực nghiệm chăn nuôi bò  
sữa công nghệ cao (gọi tắt là trại bò Israel, Trung tâm quản lý và kiểm định  
giống cây trồng-vật nuôi TP Hồ Chí Minh, địa bàn xã Phạm Văn Hai, huyện  
Hoóc Môn). Trại bò Israel là nơi đi đầu trong nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ  
khoa học kỹ thuật nhân nhanh đàn bò nhờ áp dụng nhiều biện pháp lai tạo giống  
hiện đại và quy trình chăn nuôi tiên tiến của Israel.  
Ngoài ra, thành phố cũng đang đồng loạt triển khai nhiều dự án liên quan  
đến di truyền giống bò sữa theo phương pháp tiên tiến. Ủy ban nhân dân TP  
HCM cũng đã ký quyết định “ Phê duyệt chương trình phát triển chăn nuôi bò  
4
sữa trên địa bàn TP HCM giai đoạn 2011-2015” tập trung hình thành và phát  
triển những vùng sản xuất giống chất lượng cao, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ  
khoa học kỹ thuật công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học để lai tạo giống và  
nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh.  
Công tác chọn giống heo: hiện chỉ có các trại heo sản xuất heo giống quy  
mô lớn mới áp dụng chọn lọc theo kiểu hình, dựa trên chỉ số chọn lọc (SPI- sow  
productivity Index, MLI- Material Line Index hay SLI-Sire line Index). Việc  
ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống mới đang được thử nghiệm và  
chưa thực sự triển khai như các công ty sản xuất giống nước ngoài.  
5
II. PHÂN TÍCH XU HƢỚNG ỨNG DỤNG DI TRUYỀN PHÂN TỬ  
TRONG CÔNG TÁC CHỌN GIỐNG GIA SÚC TRÊN CƠ SỞ SỐ LIỆU  
SÁNG CHẾ QUỐC TẾ  
Kỹ thuật di truyền phân tử cho phép so sánh sự đa dạng di truyền giữa các  
giống nhằm nâng cao hiệu quả lựa chọn giống vật nuôi so với các kỹ thuật  
truyền thống  
Để quản lý hiệu quả nguồn giống di truyền trong chăn nuôi đòi hỏi cán bộ  
kỹ thuật phải có kiến thức toàn diện về giống, đặc điểm và sự đa dạng di truyền  
của các giống.  
Theo tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hiệp Quốc (Food and  
agriculture Organization of the United Nations-FAO) thì mục tiêu quản lý hiệu  
quả nguồn giống di truyền là một trong bốn lĩnh vực chiến lược ưu tiên của toàn  
cầu. Tại hội nghị kỹ thuật quốc tế lần đầu tiên về nguồn gen động vật được tổ  
chức ở Thụy Sỹ vào năm 2007, dự án về nguồn gen động vật đã được thông qua  
bởi 109 quốc gia. [2]  
Tại Việt Nam, các đề tài nghiên cứu về di truyền phân tử trong chọn giống  
gia súc cũng đã được tiến hành trong những năm gần đây như:  
Tên đề tài  
Tác giả  
Phân tích đa hình ADN trong một số PGS.TS. Nguyễn Văn Cường,  
ứng gen kháng bệnh ở lợn nội Việt 2014  
Nam và phát triển chỉ thị di truyền Viện Công nghệ sinh học - Viện  
phân tử hỗ trợ chọn giống lợn kháng Hàn lâm Khoa học và Công nghệ  
bệnh  
Việt Nam  
Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật di PGS.TS. Nguyễn Đăng Vang, 2004  
truyền phân tử trong chọn, tạo giống Viện Chăn nuôi- Bộ Nông nghiệp  
vật nuôi năng suất cao  
và Phát triển Nông thôn  
6
 
Trên thế giới, xu hướng ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống vật  
nuôi được nghiên cứu và ứng dụng từ cuối thập niên 80  
2.1. Tình hình nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế về ứng dụng di  
truyền phân tử trong chọn giống gia súc theo thời gian  
Trên cơ sở dữ liệu sáng chế tiếp cận được, hiện nay, có khoảng gần 350  
sáng chế đăng ký bảo hộ về ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia  
súc. Năm 1989, có 1 sáng chế đầu tiên về vấn đề này nộp đơn đăng kí bảo hộ tại  
Mỹ, số lượng sáng chế tăng không liên tục theo từng mốc thời gian và đạt số  
lượng nộp đơn nhiều nhất là 40 sáng chế vào năm 2013.  
45  
40  
35  
30  
25  
20  
15  
10  
5
40  
31  
30  
28  
26  
25  
18  
15  
14  
14  
10  
10  
13  
11  
9
8
8
6
3
2
4
1
3
1
0
1989 1991 1993 1995 1997 1999 2001 2003 2005 2007 2009 2011 2013 2015  
Biểu đồ1: Tình hình nộp đơn bảo hộ sáng chế về ứng dụng di truyền phân tử  
trong chọn giống gia súc theo thời gian  
Bên cạnh số lượng sáng chế đăng kí, xu hướng về ứng dụng di truyền phân  
tử trong chọn giống gia súc còn được thể hiện rõ qua số lượng bài báo khoa học  
công bố về vấn đề này theo từng năm.  
Dựa trên nguồn dữ liệu Google scholar vào năm 1989 có 5.020 bài báo  
khoa học công bố về ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc. Số  
lượng bài báo tăng dần theo thời gian cho đến năm 2005 thì đạt số lượng bài báo  
công bố nhiều nhất là 21.700 bài báo. Từ 2005 đến 2015 số lượng bài báo không  
tăng hơn nữa nhưng vẫn đạt được trung bình 20.000 bài báo mỗi năm.  
7
 
24500  
22500  
20500  
18500  
16500  
14500  
12500  
10500  
8500  
21700  
21400  
19900  
21500  
21300  
20900  
20300  
20100  
20400  
19400  
20300  
19200  
21000  
19700  
18000  
20500  
17200  
15300  
13500  
18700  
12300  
10300  
9070  
8050  
7010  
7070  
6500  
Nguồn: Google scholar  
5020  
4500  
1989 1991 1993 1995 1997 1999 2001 2003 2005 2007 2009 2011 2013 2015  
Biểu đồ 2: Số lượng bài báo khoa học công bố về ứng dụng di truyền phân tử  
trong chọn giống gia súc theo thời gian  
Điều này cho ta thấy xu hướng ứng dụng di truyền phân tử trong chọn  
giống gia súc là chủ đề được thế giới quan tâm cho đến hiện nay.  
Sự gia tăng số lượng sáng chế đăng kí về vấn đề này có thể được thấy rõ  
qua sự phân chia theo từng giai đoạn thời gian như sau:  
Thập niên 80 có 1 sáng chế đầu tiên nộp đơn về ứng dụng di truyền phân tử  
trong chọn giống gia súc. Số lượng sáng chế tăng nhanh chóng từ 27 sáng chế ở  
thập niên 90 tăng lên 152 sáng chế trong giai đoạn 2000-2009 và chỉ trong nửa  
đầu thập niên giai đoạn 2010-2019 đã có 168 sáng chế. Do từ những năm 90 thì  
FAO mới mở rộng hoạt động nghiên cứu vào lĩnh vực nguồn gen động vật cho  
lương thực và nông nghiệp và từ năm 2007 bắt đầu triển khai dự án về nguồn  
gen động vật toàn cầu [2].  
8
168  
180  
160  
140  
120  
100  
80  
152  
60  
40  
20  
27  
1
0
Thập niên 80 Thập niên 90  
Giai đoạn  
Giai đoạn  
2000-2009  
2010-2016  
Biểu đồ 3: Tình hình nộp đơn bảo hộ sáng chế về ứng dụng di truyền phân tử  
trong chọn giống gia súc theo từng giai đoạn  
2.2. Tình hình nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế về ứng dụng di  
truyền phân tử trong chọn giống gia súc tại các quốc gia  
Sáng chế đăng kí bảo hộ về ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống  
gia súc được nộp đơn bảo hộ tại 24 quốc gia và 2 tổ chức từ cả 5 châu lục: Châu  
Á, Châu Mỹ, Châu Úc, Châu Âu và Châu Phi.  
Hình 1: Sự phân bố khu vực có sáng chế nộp đơn bảo hộ về ứng dụng di truyền phân tử  
trong chọn giống trên thế giới  
Châu Á: có 197 sáng chế đăng kí bảo hộ tại 7 quốc gia: Trung Quốc, Hàn  
Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Singapore, Israel và Hồng Kông.  
9
 
Châu Mỹ: có 56 sáng chế đăng kí bảo hộ tại 5 quốc gia: Mỹ, Canada,  
Mexico, Braxin và Achentina.  
Châu Úc: có 27 sáng chế đăng kí bảo hộ tại 2 quốc gia: Úc và New  
Zealand.  
Châu Âu: có 14 sáng chế đăng kí bảo hộ tại 9 quốc gia: Tây Ban Nha,  
Hungary, Đức, Anh, Nga, Hà Lan, Czech, Ukraina, Romani.  
Châu Phi: có 2 sáng chế đăng kí bảo hộ tại quốc gia duy nhất là Nam Phi.  
Trong đó, chín quốc gia dẫn đầu về nhận đơn đăng kí bảo hộ sáng chế về  
nghiên cứu ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc: Trung Quốc  
(163SC), Mỹ (29SC), Úc (21SC), Hàn Quốc (18SC), Canada (12SC), Nhật  
(9SC), Mexico (9SC), New Zealand (6SC), Braxin (5SC).  
200  
163  
150  
100  
50  
29  
21  
18  
12  
9
0
9
6
5
Biểu đồ 4: Tình hình nộp đơn bảo hộ sáng chế về ứng dụng di truyền phân tử  
trong chọn giống gia súc tại các quốc gia dẫn đầu  
Trung Quốc: vào thập niên 90 có một sáng chế đầu tiên nộp đơn, và bắt  
đầu tăng lên 35 sáng chế giai đoạn 2000-2009, đến giai đoạn 2010-2016 nhận  
10  
126 sáng chế, ta thấy chỉ trong khoảng nửa thập niên đầu số sáng chế đã tăng  
vượt trội gấp 3 lần so với giai đoạn 2000-2009.  
Mỹ là quốc gia có sáng chế nộp đơn đăng kí bảo hộ về di truyền phân tử  
trong chọn giống gia súc sớm nhất từ thập niên 80, đến thập niên 90 có 3 sáng  
chế nộp đơn bảo hộ ta nhận thấy không có sự thay đổi nhiều về số lượng, đến  
giai đoạn 2000-2009 số lượng sáng chế tăng lên gấp 3 lần đạt 15 sáng chế, và  
giai đoạn 2010-2016 có 8 sáng chế nộp đơn đăng kí bảo hộ về vấn đề này.  
Úc: có 3 sáng chế nộp đơn đăng kí bảo hộ về di truyền phân tử trong chọn  
giống gia súc vào thập niên 90, giai đoạn 2000-2009 số lượng sáng chế tăng lên  
15 sáng chế, gấp 5 lần so với giai đoạn đầu, giai đoạn 2010-2016 có 3 sáng chế  
nộp đơn bảo hộ về vấn đề này.  
Hàn Quốc: vào giai đoạn 2000-2009 mới bắt đầu có sáng chế đăng kí bảo  
hộ về di truyền phân tử trong chọn giống gia súc và trong giai đoạn này có 13  
sáng chế nộp đơn, giai đoạn 2010-2016 có 5 sáng chế nộp đơn.  
Canada: có 3 sáng chế nộp đơn đăng kí bảo hộ về di truyền phân tử trong  
chọn giống gia súc vào thập niên 90, giai đoạn 2000-2009 số sáng chế tăng lên  
6 sáng chế, giai đoạn 2010-2016, có 3 sáng chế nộp đơn về vấn đề này.  
126  
140  
120  
35  
100  
80  
60  
40  
20  
0
2
19  
1
1
8
15  
13  
Trung Quốc  
Mỹ  
Úc  
Hàn Quốc  
3
3
5
3
6
3
Canada  
Thập niên  
Thập niên  
Giai đoạn  
80  
90  
Giai đoạn  
2010-2016  
2000-2009  
Biểu đồ 5: Tình hình nộp đơn bảo hộ sáng chế về ứng dụng di truyền phân tử  
trong chọn giống gia súc tại năm quốc gia dẫn đầu theo thời gian  
11  
2.3. Tình hình nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế về ứng dụng di  
truyền phân tử trong chọn giống gia súc theo chỉ số phân loại sáng chế  
quốc tế IPC  
Theo bảng phân loại sáng chế quốc tế IPC, số lượng các sáng chế về ứng  
dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc tập trung chủ yếu vào các  
hướng nghiên cứu sau:  
- Hướng nghiên cứu về các phương pháp đo hoặc thử nghiệm có sử dụng  
enzym hoặc vi sinh vật trong nghiên cứu di truyền phân tử chiếm 45,4%  
tổng lượng sáng chế  
- Hướng nghiên cứu về kỹ thuật di truyền: quá trình phân lập DNA,  
RNA, kỹ thuật tái tổ hợp AND, các gen mã hóa protein động vật chiếm  
37,1% tổng lượng sáng chế.  
- Hướng nghiên cứu về quá trình sinh trưởng, sinh sản và giống mới của  
vật nuôi chiếm 11,5% tổng lượng sáng chế.  
- Các hướng nghiên cứu khác chiếm 6% tổng lượng sáng chế  
Hướng nghiên cứu về các  
phương pháp đo và thử nghiệm  
6.0%  
11.5%  
Hướng nghiên cứu về kỹ thuật  
di truyền  
45.4%  
Hướng nghiên cứu về quá trình  
sinh trưởng, sinh sản và giống  
mớicủa vật nuôi  
37.1%  
Các hướng nghiên cứu khác  
Biểu đồ 6: Tình hình nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế về ứng dụng di truyền phân tử  
trong chọn giống gia súc theo chỉ số phân loại sáng chế quốc tế IPC  
12  
 
Các sáng chế đăng kí bảo hộ về ứng dụng di truyền phân tử trong chọn  
giống gia súc tại 5 quốc gia dẫn đầu hầu hết phân bố vào cả 3 hướng nghiên cứu  
chính. Số lượng sáng chế đăng kí bảo hộ tại Trung Quốc chiếm đa số ở cả ba  
hướng nghiên cứu chính.  
Tại Trung Quốc: tập trung vào hướng nghiên cứu kỹ thuật di truyền.  
Tại Mỹ: tập trung vào hướng nghiên cứu các phương pháp đo và thử  
nghiệm có sử dụng enzym hoặc vi sinh vật trong nghiên cứu di truyền phân tử.  
Tại Úc: tập trung hướng nghiên cứu quá trình sinh trưởng, sinh sản và  
giống mới của vật nuôi.  
Tại Hàn Quốc: tập trung vào hướng nghiên cứu các phương pháp đo và thử  
nghiệm có sử dụng enzym hoặc vi sinh vật trong nghiên cứu di truyền phân tử.  
Tại Canada: tập trung vào hướng nghiên cứu quá trình sinh trưởng, sinh sản  
và giống mới của vật nuôi.  
70%  
60%  
50%  
40%  
30%  
20%  
10%  
Quá trình sinh trƣởng, sinh sản và giống mới  
Kỹ thuật di truyền  
0%  
Các phƣơng pháp đo và thử nghiệm  
Biểu đồ 7: Tình hình đăng kí sáng chế bảo hộ ở các hướng nghiên cứu  
về ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc tại các quốc gia  
13  
III. NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG DI TRUYỀN PHÂN TỬ TRONG CÔNG  
TÁC CHỌN GIỐNG GIA SÚC CỦA VIỆN KHKT NÔNG NGHIỆP MIỀN  
NAM  
3.1. Ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc để ngăn ngừa  
các bệnh di truyền. Kết quả cụ thể, hiệu quả kinh tế, khả năng ứng  
dụng vào thực tiễn.  
3.1.1 Các bệnh di truyền trên bò  
Theo Gholap (2014) hiện có khỏang 17 bệnh di truyền trên bộ xương, hệ  
thần kinh, hệ tuần hoàn, da, cơ và mắt của bò. Trong số đó, bệnh BLAD là khá  
phổ biến trên đàn bò sữa.  
Bệnh di truyền gây ra do những thay đổi trên bộ gen, nên không thể phát  
hiện bệnh bằng các phương pháp thông thường chỉ có thể phát hiện bằng  
sinh học phân tử.  
Mặc dù ban đầu tỷ lệ nhiễm bệnh (di truyền) thấp, nhưng sẽ tăng nhanh  
qua các thế hệ nên gây hậu quả kinh tế lớn.  
Không có phương pháp điều trị cho bệnh di truyền, cách ngăn ngừa là  
loại bỏ những gia súc mang những đột biến xấu, ảnh hưởng đến sức khỏe  
và khả năng sản xuất.  
   
3.1.2 Kết quả nghiên cứu cụ thể ngăn ngừa bệnh di truyền BLAD trên  
bò  
Cơ sở khoa học phát sinh bệnh di truyền BLAD trên bò  
BLAD (Bovine Leukocyte Adhesion Deficiency) là một bệnh di truyền tác  
động đặc hiệu lên giống bò Holstein (Shuster và ctv, 1992). BLAD được xác  
định đầu tiên ở bò Holstein – Friesian vào những năm đầu của thập niên 80. Vào  
năm 1983, một trường hợp nghi ngờ về sự rối loạn chức năng bạch cầu còn gọi  
là granulocytopathy của con bò cái tơ Holstein được công bố (Hagemoser và  
ctv, 1983). Đến năm 1987, nhiều trường hợp bệnh liên quan đến rối loạn chức  
năng bạch cầu cùng với các triệu chứng lâm sàng như hoại tử, viêm phổi, sự gia  
tăng bạch cầu đáng kể ở những con bê Holstein được công bố từ Nhật  
(Takahashi và ctv, 1987). Đến năm 1990, người ta đã khám phá ra sự thiếu hụt  
β2 integrin do bạch cầu tạo ra từ một con bê bị bệnh granulocytopathy và khi đó  
bệnh này được đặt tên là Bovine Leucocyte adhesion deficiency (BLAD) tương  
tự như bệnh LAD trên người (Kehrli, 1990).  
Bệnh do kiểu gen đồng hợp lặn (autosomal recessive disease) nằm trên  
nhiễm sắc thể thường gây ra. BLAD làm giảm khả năng miễn dịch của gia súc  
do sự giảm đáng kể hoặc thiếu hoàn toàn những phức hợp protein β2-intergrin  
trên bề mặt bạch cầu. Những protein này có cấu trúc là glyco-protein, có vai trò  
giúp bạch cầu gắn kết vào thành mạch, di chuyển đến vị trí viêm tấn công tác  
nhân gây bệnh thông qua phản ứng bám dính giữa tế bào với tế bào hay giữa tế  
bào với thể nền (tác nhân gây bệnh). Đối với các cá thể mang gene BLAD, các  
tế bào bạch cầ  
ả năng nhận biết nhưng không có khả năng kế  
với tế bào bị xâm nhiễm, từ đó bạch cầu không có khả năng di chuyển vào bên  
trong tế bào để tiêu diệt tác nhân gây bệnh. Phức hợp β2-intergrin còn được gọi  
là phức hợp protein CD11/CD18, bao gồm hai cấu trúc phụ là cấu trúc β (CD18)  
và cấu trúc α (gồm có CD11a, CD11b, CD11c) trong đó cấu trúc CD11c rất cần  
thiết để giúp cho bạch cầu có thể bám dính và xâm nhập vào bên trong các thể  
viêm. Việc biểu hiện của integrin cần phải có mối liên hệ nội bào của cả tiểu đơn  
vị CD11 và CD18, vì vậy việc khiếm khuyết CD18 đã ngăn cản mọi hoạt động  
15  
chức năng của integrin (Kishimoto và ctv, 1987). Tình trạng giảm/thiếu khả  
năng kết dính này của bạch cầu (LAD-Leukocyte Adhesion Deficiency) cũng  
xảy ra trên người. Nền tảng phân tử của BLAD là một đột biến điểm thay đổi  
Adenine thành Guanine ở vị trí nucleotide thứ 383 trong gen CD18 mã hóa  
protein β2-  
ến sự thay thế Aspartic acid thành Glycine ở vị trí  
amino acid thứ 128 (D128G) trong glycoprotein. Những cá thể mang đột biến  
này sẽ sản sinh CD18 khiếm khuyết. Từ đây, bạch cầu sẽ không hoạt động bình  
thường nếu không có sự kết hợp của những tiểu phần CD11 và CD18.  
Về mặt huyết học, những gia súc này có số lượng bạch cầu trung tính  
(neutrophil > 100.000) trong máu nhiều hơn bình thường và thay đổi trong công  
thức bạch cầu. Ngoài ra hàm lượng albumin thấp, globulin cao và các chất  
creatinin, urea nitrogen và glucose thấp.  
Bò mang kiểu gen này có những biểu hiện thường xuyên và tái diễn của  
bệnh lý như: cúm (pneumonia), viêm nướu răng (ulcerative gingivitis) và các  
bệnh liên quan đến răng miệng (loss of teeth, periodotitis), tiêu chảy (diarrhea),  
viêm ruột non (enteritis), các vết thương chậm lành (delayed wounded healing),  
thường xuyên bị nhiễm bệnh do vi khuẩn, bị nhiễm trùng da, viêm dạ dày, viêm  
đường hô hấp và thể trạng kém. Bê thường chết trong vòng từ 2- 4 tháng tuổi,  
nếu sống sót sau 2 năm tuổi, khả năng tăng trưởng không cao (stunted growth).  
Bên cạnh đó, thể mang gen bệnh còn cho chất lượng sữa thấp hơn nhiều so với  
những cá thể bình thường.Tần suất alen đột biến của bệnh này thì thấp ở giống  
bò Holstein và mức biểu hiện lâm sàng cùng thấp cho nên người ta giả thiết rằng  
có thể hầu hết các con bê chết trước khi được chẩn đoán bệnh, có thể chưa tới  
một năm tuổi. Một số con bò có thể tồn tại hơn hai năm tuổi tuy nhiên năng suất  
thịt và sữa thấp.  
Cơ chế sinh học phân tử của bệnh BLAD  
Cơ chế sinh học phân tử của BLAD là hiện tượng đột biến điểm tại vị trí  
383 của gen CD18. Gen CD18, mxã hóa protein β2-intergrin, nằm trên nhiễm  
sắc thể số 21 (Suomalainen và ctv 1985, 1986) Một đột biến điểm thay thế  
16  
Adenin thành Guanine trong phân đoạn cDNA 383bp (GenBank, ACC  
Y12672) và trong phân đoạn cDNA 488bp (GenBank, ACC M81233). Đột biến  
này làm thay thế aspartic thành glycine tại vị trí amino acid 128 củ  
ột biến này làm mất đi vị trị cắt TaqI của enzym giới  
hạn và tạo ra vị trí cắt khác là HaeIII. Với PCR-RFLP khuyếch đại đọan gen có  
chứa vị trí 383 của gen CD18 sẽ cho phép phân biệt giữa những cá thể bị bệnh,  
mang gen bệnh và những các thể bình thường (Shuster, 1992).  
Hình 2. Cơ chế đột biến điểm  
Kriegesmann và ctv đã phân lập một phần đoạn cấu trúc của gen CD18 có  
chiều dài 1618bp (Gene bank accession number: Y12672) và clone vào trong  
plasmid PGEM 4Z và sau đó đã giải trình tự để phục vụ cho công tác xét  
nghiệm bệnh BLAD.  
Hình 3. Phân đoạn 1618 bp của gen CD 18. Đoạn intron được ký hiệu là đường thẳng,  
đoạn exon được ký hiệu dạng hộp, vị trị primers bắt cặp ký hiệu mũi tên nhỏ và vị trị đốt  
biến gen A/G trên gen CD18.  
17  
Hình 4. Trình tự gen CD18 (Kriegesmann và ctv, 1997)  
3.1.3 Các phƣơng pháp xác định bệnh BLAD trên bò  
Chẩn đoán lâm sàng  
Hình 5. Các biểu hiện lâm sàng của bò bị bệnh BLAD  
Bò bị bệnh BLAD thường có dấu hiệu hoại tử liên tục và những viêm  
nhiễm không đau xảy ra ở những mô mềm như màng nhày và thành ruột.  
Những đặc điểm thường nhận thấy ở những con bò bị bệnh này là sốt, biếng ăn,  
viêm phổi mãn tính, tiêu chả  
i đi tái lại nhiều lần, có những  
18  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 35 trang yennguyen 16840 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Phân tích xu hướng công nghệ - Chuyên đề: Xu hướng ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống gia súc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_phan_tich_xu_huong_cong_nghe_chuyen_de_xu_huong_ung.pdf