Báo cáo Đánh giá tiềm năng và các yếu tố thiếu bền vững cho ngành mây - song Việt Nam

THIS PROJECT IS  
CO-FUNDED BY  
REPORT  
JUNE  
2010  
ESTABLISHING A SUSTAINABLE PRODUCTION SYSTEM OF  
RATTAN PRODUCTS IN CAMBODIA, LAOS, AND VIETNAM  
RESEARCH AND CASE STUDIES  
June 2010  
BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ  
CÁC YẾU TỐ THIẾU BỀN VỮNG CHO  
NGÀNH MÂY - SONG VIỆT NAM  
Thiết lập hệ thống sản xuất bền vững các sản phẩm song  
mây tại Việt Nam, Lào, Campuchia  
BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TIỀM  
NĂNG VÀ CÁC YẾU TỐ THIẾU  
BỀN VỮNG CHO NGÀNH MÂY  
- SONG VIỆT NAM  
Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam  
Cùng hợp tác với HRPC  
Tầng 4, Nhà C10  
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội  
Đường Đại Cồ Việt, Hà Nội, Việt Nam  
Tel: (84.4) 3 8 684 849  
Tel/Fax: (84.4) 3 8 681 618  
MỤC LỤC  
PHẦN 1. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH SONG MÂY CỦA VIỆT NAM ..................................3  
1.1 Tình hình ngành song mây...............................................................................................3  
1.2 Các chính sách và văn bản pháp lý liên quan ................................................................13  
1.2.1 Về quy hoạch vùng nguyên liệu..............................................................................13  
1.2.2. Về chính sách đất đai, tài nguyên rừng..................................................................13  
1.2.3. Chính sách nguồn giống mây.................................................................................13  
1.2.4. Về chính sách đầu tư..............................................................................................13  
1.2.5. Các sắc thuế liên quan đến kinh doanh nguyên liệu LSNG...................................14  
1.2.6 Kế hoạch hành động về bảo tồn và phát triển LSNG giai đoạn 2007-2010 ...........14  
1.2.7. Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 ......................17  
PHẦN 2. PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ THIẾU BỀN VỮNG CỦA NGÀNH  
SONG MÂY VIỆT NAM........................................................................................................19  
2.1. Nguyên liệu...................................................................................................................19  
2.2. Vận chuyển ...................................................................................................................30  
2.3. Luộc dầu........................................................................................................................31  
2.4. Bảo quản/ lưu kho.........................................................................................................32  
2.5. Phơi- sấy .......................................................................................................................34  
2.6. Chẻ và chuốt .................................................................................................................35  
2.7. Tẩy xám và tẩy trắng.....................................................................................................38  
2.8. Rửa................................................................................................................................39  
2.9. Bảo quản bằng lưu huỳnh .............................................................................................40  
2.10. Gia công (uốn, làm khung, đan, hoàn thiện)...............................................................42  
2.11. Hoàn thiện bề mặt (sơn, carbon hóa, nhuộm).............................................................43  
2.12. Đóng gói......................................................................................................................45  
2.13. Thiết kế và phát triển sản phẩm ..................................................................................46  
2.14. Các hệ thống phụ trợ và vấn đề về thiết bị..................................................................51  
2.15. Quản lý sản xuất..........................................................................................................53  
2.16. Các vấn đề sản xuất sạch khác....................................................................................53  
PHẦN 3. PHÂN TÍCH CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP  
NGÀNH SONG MÂY VIỆT NAM ....................................................................................55  
3.1. Phân tích điểm mạnh, điểm yếu và cơ hội thách thức của các doanh nghiệp ngành mây  
..............................................................................................................................................55  
3.2. Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt đông của các DNVVN trong ngành mây tre  
đan........................................................................................................................................58  
3.3. Kiến nghị và đề xuất .....................................................................................................60  
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................................62  
PHỤ LỤC.................................................................................................................................63  
2
PHẦN 1. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH SONG MÂY CỦA VIỆT NAM  
1.1 Tình hình ngành song mây  
Song, mây là nhóm quan trọng nhất của các nhóm thuộc rừng sau gỗ, đặc biệt ở châu Á. Qua  
nhiều thế kỷ, con người dùng song, mây phục vụ việc mưu sinh và sinh kế và điều này đã  
được ghi chép trong lịch sử nhân loại. Mặc dù song, mây đa số có ở châu Á, nó cũng được  
tìm thấy ở nhiều nơi khác trên thế giới như là Ai Cập cổ đại, Châu Âu trong suốt giai đoạn  
Phục Hưng, và nước Pháp trong giai đoạn trị vì của vua Louis XIII and Louis XV. Song, mây  
đến nay là sản phẩm không phải gỗ quan trọng nhất trong kinh doanh quốc tế. Tuy nhiên, đến  
nay, nhóm cây này chỉ mới nhận được sự quan tâm của tất cả mọi người nhưng trong đó lại  
không có những con người có tâm huyết. Trên thế giới có hơn 700 triệu người kinh doanh  
hoặc dùng song, mây với nhiều much đích khác nhau, như là đồ trang trí nội thất đẹp mà vật  
liệu của nó thường được người ta biết đến. Theo tổ chức lương thực nông nghiệp (FAO,  
2003), thương mại toàn cầu và giá trị sinh kế của song, mây và sản phẩm của nó được ước  
tính lên đến hơn 7,000 triệu đô-la Mỹ/ năm. Rõ ràng là, sản phẩm song, mây là đồ nội thất  
phổ biến nhất. Bên cạnh đồ nội thất, các sản phẩm khác bao gồm gậy đạp thảm, gậy chống,  
tay cầm dù, các sản phẩm phục vụ hoạt động thể thao, mũ, dây, thừng chão, lồng chim, chiếu,  
rổ, gỗ lót ván, đai gỗ, hộp gỗ và một loạt các sản phẩm có ích khác. Rõ ràng các loại song,  
mây với tán lá xoà mặt đất và có rễ mọc thẳng đứng có một vai trò quan trọng trong việc  
chống xói mòn đất. Song, mây là một phần không thể thiếu của hệ thống sinh thái rừng nhiệt  
đới do đặc tính sinh trưởng của nó: lá hình lông chim, cao đến 7 mét hoặc hơn thế nữa, đóng  
vai trò chính yếu trong việc ngăn chặn các cơn mưa lớn. Các loài này còn đóng vai trò quan  
trọng trong việc làm giàu chất hữu cơ trong đất bằng rác lá cây. Những nguồn lợi về sinh thái  
cũng như các nguồn lợi khác về kinh tế của song, mây đã được nêu trên làm tăng giá trị của  
rừng.  
Theo nghiên cứu của FAO năm 2003, Việt Nam là nơi sản xuất và nơi xuất khẩu chính về  
mây đan, chủ yếu là cây Calamus poilanei, cây Calamus platyacanthus và cây Calamus  
palustris. Tuy nhiên, khả năng cung cấp hiện tại không thể đáp ứng nổi khối lượng yêu cầu  
và xuất khẩu. Nguồn dự trữ tự nhiên bị suy yếu nghiêm trọng, và tập trung có tính chất nhỏ  
giọt vào các các mẫu thu hoạch bền vững. Việt Nam đang có một lượng lớn song, mây dại có  
thể khai thác được một cách dễ dàng và rẻ từ Campuchia và Lào PDR [1].  
Bảng 1. Sản phẩm song mây từ 1995 đến 2005  
Năm  
Tấn  
1995  
1996  
1997  
1998  
1999  
2000  
2001  
2002  
2003  
2004  
2005  
28,500 25,975 25,639 80,097 65,700 53,891 44,204 36,259 29,741 24,396 20,011  
song,  
mây  
Nguồn: MARD, Dự án quốc gia về bảo vệ và phát triển sản phẩm rừng không phải gỗ cho giai đoạn 2006-2020  
* Số liệu cho giai đoạn 2000-2005 được tính toán bởi nhân viên tư vấn  
Việc không kiểm soát hoạt động khai thác song, mây trong nhiều năm đã dẫn đến việc gần  
như biến mất các nguồn song, mây ở Việt Nam. Để hỗ trợ cho ngành nghề thủ công đang  
phát triển, chính phủ đang khuyến khích việc trồng song, mây đối với các các đối tượng liên  
quan. Ở các tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Hà Tĩnh và Nam Hà, song, mây đã và đang được  
3
trồng trong vườn nhà qua hàng thế kỷ như một loại cây có nhiều mục đích sử dụng. Hàng  
năm, nông dân trên khắp đất nước có thể sản xuất khoảng 1500 đến 2000 tấn từ việc thu  
hoạch sản phẩm từ gia đình họ. Ngày nay, thị trường song, mây đã và đang được mở rộng tự  
do và được hoạt động bởi các doanh nghiệp tư nhân, các nhà máy chế biến sơ khởi, các hãng  
xuất khẩu và các công ty xuất khẩu do nhà nước quản lý. Ở Việt Nam, một số hoạt động chế  
biến thứ cấp được thực hiện để phục vụ thị trường nội địa và nói chung thì các sản phẩm xuất  
khẩu đều ở dạng chế biến sơ khởi. Việc chế biến thứ cấp để làm ra sản phẩm trang trí nội thất  
và các vật dụng gia đình khác thường xảy ra ở các nước đang nhập khẩu. Hằng năm, khoảng  
20,000 đến 40,000 người liên quan đến việc khai thác và chế biến song, mây, đây là nguồn  
cung cấp việc làm quan trọng. Các loài song, mây quan trọng nhất ở Việt Nam là: cây  
Calamus tetradactylus Hance (có đường kính nhỏ) ở miền Bắc; cây Calamus tonkinensis  
Becc (có đường kính nhỏ) và cây Calamus rudentum Warb (có đường kính nhỏ) có khắp nơi;  
song mat (Calamus platyacanthus Warb) (có đường kính nhỏ) ở miền Bắc và cây Calamus  
poilanei Lour (song bot) (có đường kính to) ở phía Nam. Các loài cây như Calamus  
tetradactylus Hance (may nep), Calamus tonkinensis Becc (may dang) and Calamus amarus  
Roxb (cay mai) đã và đang được trồng trong vườn nhà.  
Khối lượng và giá trị xuất khẩu của song, mây Việt nam  
Mây tre đan là sản phẩm quan trọng trong nhóm lâm sản ngoài gỗ ở nước ta và đóng vai trò  
quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong những năm gần đây. Trong  
thời kỳ 1999-2005 giá trị kim ngạch xuất khẩu lâm sản tăng hơn 2,3 lần, trong khi đó con số  
này lớn nhiều đối với sản phẩm mây tre đan: tăng gần 4 lần, đưa tổng giá trị xuất khẩu của  
nhóm hàng này từ 48,21 triệu USD năm 1999 lên hơn 211 triệu USD năm 2007. Con số này  
của 6 tháng đầu năm 2008 là 110,9 triệu USD Mây tre đan cũng chiếm tỉ lệ lớn và có xu  
hướng tăng lên trong những năm gần đây: từ 61,60% năm 1999 lên 97,79% năm 2005. Theo  
nhiều nghiên cứu cho thấy nếu tính cả giá trị sản phẩm tiêu thụ nội địa thì sản lượng ngành  
mây tre đan có thể lên tới 250 triệu USD (MPDF, 2005). Kết quả khảo sát tại các tỉnh cũng  
cho thấy vai trò quan trọng của thủ công mỹ nghệ trong quá trình phát triển ngành nghề phi  
nông nghiệp thông qua tỉ lệ trong tổng sản lượng tiểu thủ công nghiệp: Hà Tây - 47%; vùng  
Tây Bắc - 17% và Đồng bằng sông Cửu Long - 10%.  
Trong những năm gần đây sản phẩm mây tre đan của Việt Nam đã thâm nhập được nhiều thị  
trường khó tính trên thế giới như Mỹ, EU và Nhật Bản. Nếu như trong những năm 80 thị  
trường chính của sản phẩm này là Liên Xô và các nước Đông Âu cũ (thị trường truyền thống,  
thị trường khu vực I) thì nay khách hàng của Việt Nam là các nước có nền kinh tế phát triển.  
Hiện tại các sản phẩm mây tre đan của ta đã có mặt tại hơn 90 quốc gia và khu vực và có xu  
hướng ngày càng mở rộng. Các thị trường xuất khẩu chính là Nhật Bản, Đức, Đài Loan,  
Pháp, Mỹ… Thị trường Nhật Bản và Đài Loan chiến thị phần cao và ổn định: từ 13 triệu  
USD năm 2000 lên 27,6 triệu USD năm 2005. Thị trường Mỹ là tương đối mới nhưng có  
mức tăng trưởng rất nhanh và là thị trường tiềm năng. Giá trị kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ  
năm 2000 chỉ ở mức thấp chưa đến 2 triệu USD thì đến năm 2005 đã lên tới hơn 22 triệu  
USD, tăng đến hơn 10 lần vươn lên thứ hai sau thị trường Nhật Bản. Một số thị trường chiếm  
thị phần lớn như Đức, Pháp, Tây Ban Nha vẫn duy trì ở thứ hạng cao, trong nhóm 10 thị  
trường lớn của mây tre đan Việt Nam.  
4
Hình 1. Biểu đồ giá trị xuất khẩu mây, song của các nước trên thế giới  
Trong thập niên 1970 và 1980, hầu hết song, mây của Việt Nam được xuất khẩu dưới dạng  
thành phẩm sang Liên Xô cũ. Cùng với sự sụp đổ của các nước Đông Âu, thị trường này cũng  
mất đi và nó bị chuyển sang dạng xuất khẩu hàng thô và xuất khẩu các vật liệu chế biến bán  
phần đến các nước lân cận như Thái Lan, Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc, và Nhật Bản.  
Từ 1993 đến 1995, xuất khẩu song, mây thô giảm xuống do nghị định 90, chính phủ quy định  
cấm xuất khẩu hàng song, mây thô và hàng song, mây chế biến bán phần để thúc đầy công  
nghệ chế biến trong nước. Quy định đã được công bố vào năm 1992, nhưng việc buôn bán  
các sản phẩm này vẫn tiếp tục cho đến năm 1995. Theo sau lệnh cấm, thành phần song, mây  
ở Việt Nam gặp phải nhiều vấn đề, do việc thiếu trầm trọng kỹ thuật chế biến và công nhân  
thủ công lành nghề. Tuy nhiên, đến năm 1996 công nghệ chế biến song, mây của Việt Nam  
đã có bước tiến. Kể từ năm 1996, xuất khẩu các sản phẩm đã được hoàn thành đã tiếp tục gia  
tăng một phần là do sự cải cách về kinh tế của Việt Nam. Như vậy, thị trường xuất khẩu mới  
như Đức và Mỹ đang chiếm dần vị thế quan trọng [1].  
Hình 2. Số lượng mây và tre xuất khẩu năm 2004  
Nguồn: Cơ quan xúc tiến thương mại Việt Nam 2004 - Bộ Thương Mại  
5
Bảng 2. Hàng xuất khẩu song, mây Việt Nam trong giai đoạn 2001-2003  
Giai  
đoạn  
Dòng  
chảy  
Giá trị  
hàng hoá  
Số liệu phần trăm của các nước chủ yếu  
thương  
mại  
2001 Xuất khẩu $2,124,000  
đến  
Tổng (50%) trong đó: Tây Ban Nha (24.9%);  
Singapore (12.5%);  
Trung Quốc (6.2%); Italy (3.1%); Hong Kong (1.4%);  
Philippines (0.8%); Thailand (0.8%; Nhật Bản (0.3%);  
Tổng (50%) trong đó: Tây Ban Nha (13.8%);  
Singapore (11.7%);  
2002 Xuất khẩu $2,562,000  
đến  
Philippines (8.3%); Trung Quốc (7.2%); Japan (2.7%)  
Lào (1.1%); Đức (0.9%); France (0.9%); Switzerland  
(0.9%); Đan Mạch (0.4%); Hungary (0.4%) Hàn Quốc  
(0.3%); Bồ Đào Nha (0.3%); Malta (0.2%); Australia  
(0.2%); Các nước châu Á khác NES (0.2%); Nga  
(0.2%); Hongkong (0.2%) UAE (0.1%); UK (0.1%)  
Tổng (50%) trong đó: Tây Ban Nha (18%); Philippines  
(2.8%); Singapore (12%); Trung Quốc (9.2%); Italy  
(6.5%); Thailand (0.6%; Nhật Bản (0.4%); Hong Kong  
(0.4%)  
2003 Xuất khẩu $1,790,000  
đến  
Tổng xuất khẩu song, mây Việt Nam = $6,476,000 trong giai đoạn 2001 - 2003  
Nguồn: dữ liệu COMTRADE, số liệu thống kê Liên Hiệp Quốc  
Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng mây tre, lá, thảm sơn mài của Việt  
Nam trong năm 2008 đạt 224,7 triệu USD, tăng 3% so với năm 2007. Các thị trường xuất  
khẩu chủ yếu nhóm các mặt hàng mây tre lá, thảm, sơn mài của Việt Nam trong năm 2008 là  
Đức đạt 37 triệu USD, Mỹ 32,3 triệu USD, Nhật Bản 31,1 triệu USD, Pháp 12,8 triệu USD,  
Tây Ban Nha 10,8 triệu USD, Đài Loan 10,4 triệu USD,....Số liệu thống kê xuất khẩu sản  
phẩm mây, tre, cói & thảm của Việt Nam sang các nước năm 2008 như sau:  
Bảng 3. Thị trường và kim ngạch xuất khẩu hàng mây tre đan Việt Nam  
Thị trường  
Achentina  
Kim ngạch (USD)  
824.782  
Thị trường  
Italia  
Kim ngạch (USD)  
9.140.859  
650.779  
CH Ailen  
Ấn Độ  
784.795  
Látvia  
1.774.345  
7.217.452  
1.048.427  
5.055.921  
6.531.063  
1.020.675  
1.742.717  
47.708  
Malaixia  
Nauy  
1.254.793  
294.213  
Anh  
Áo  
CH Nam Phi  
Niu Zilân  
Liên bang Nga  
Nhật Bản  
Ôxtrâylia  
Phần Lan  
691.351  
Ba Lan  
Bỉ  
786.996  
4.624.370  
31.157.018  
6.007.055  
917.577  
Bồ Đào Nha  
Braxin  
Tiểu vương quốc  
6
Arập thống nhất  
Cămpuchia  
Canada  
242.583  
3.211.696  
10.377.733  
2.695.676  
37.033.081  
217.694  
Pháp  
12.828.232  
900.388  
CH Séc  
Đài Loan  
Đan Mạch  
CHLB Đức  
Extônia  
Xingapo  
901.161  
Slôvenhia  
Tây Ban Nha  
Thái Lan  
Thổ Nhĩ Kỳ  
Thuỵ Điển  
Thuỵ Sĩ  
216.545  
10.788.806  
600.619  
Hà Lan  
7.657.752  
5.769.681  
32.331.654  
673.572  
1.166.816  
3.234.707  
1.228.173  
1.217.948  
492.305  
Hàn Quốc  
Hoa Kỳ  
Hong Kong  
Hungari  
Trung Quốc  
Ucraina  
846.634  
Hy Lạp  
868.874  
Trong cơ cấu các chủng loại hàng mây tre lá, thảm, sơn mài xuất khẩu chủ yếu trong năm  
2008, thì kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng bằng tre đan chiếm tỷ trọng cao nhất với 55,6  
triệu USD, tăng 17,5% so với cùng kỳ năm 2007 và chiếm 24,8% tổng kim ngạch xuất khẩu  
các mặt hàng mây tre lá, thảm, sơn mài của cả nước, trong khi tỷ lệ này của năm 2007 là  
21,6%. Tiếp đến là các mặt hàng bằng mây đan, trong năm 2008, kim ngạch xuất kẩu các mặt  
hàng bằng mây đan của Việt Nam đạt 33,1 triệu USD, giảm 17,9% so với cùng kỳ năm 2007  
và chiếm 14,7% tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng mây tre lá, thảm, sơn mài của cả  
nước trong năm, trong khi tỷ lệ này của năm 2007 là 18,4%. Trong các sản phẩm mây đan  
xuất khẩu trong năm 2008, thì kim ngạch xuất khẩu mặt hàng bàn ghế bằng mây đan đạt cao  
nhất với 15,3 triệu USD, giảm 9,5% so với cùng kỳ năm 2007 và chiếm 46,2% tổng kim  
ngạch xuất khẩu các mặt hàng mây đan của cả nước. Một số các sản phẩm khác xuất khẩu  
trong năm 2008 cũng đạt kim ngạch khá cao như: khay mây, giỏ mây, hộp mây, thùng mây,  
rổ rá bằng mây đan; bát đĩa mây; kệ mây.....Các thị trường xuất khẩu hàng mây tre đan chủ  
yếu của Việt Nam trong năm 2008 là Đức, Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Tây Ban Nha, Italia, Thuỵ  
Điển, Anh, Ba Lan, Hà Lan, Bỉ....  
Theo thông tin từ Mạng lưới Mây tre toàn cầu (INBAR), sức tiêu thị của thị trường mây thế  
giới là 4 tỷ USD/năm. Trong khi đó tổng giá trị sản xuất các mặt hàng mây trên toàn thế giới  
chưa vượt qua con số 1,5 tỷ USD/năm. Như vậy thị phần của các sản phẩm mây Việt Nam  
(33,1 triệu USD) chiếm chưa đến 1% thị phần mây thế giới và Việt nam vẫn có cơ hội để  
nâng cao thị phần các sản phẩm mây của mình. Vấn đề cốt lõi là chúng ta có đưa ra được các  
mặt hàng song mây có mẫu mã và chất lượng đáp ứng thị hiếu tiêu dùng của thị trường thế  
giới hay không mà thôi.  
Nhập khẩu nguyên liệu mây  
Việt Nam đang phải nhập khẩu mây từ một số quốc gia trong khu vực như Lào, Philippine,  
Indonesia.. Theo số liệu thống kê của Liên hiệp quốc, kim ngạch nhập khẩu mây của Việt  
Nam năm 2004 là 1,34 triệu USD, các năm 2005, 2006 và 2007 có giá trị kim ngạch nhập  
khẩu là 1,66 triệu, 1,43 triệu và 0,65 triệu USD  
7
Bảng 4. Kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu  
Năm 2004 Năm 2005  
Giá trị  
thương mại  
$1,343,345  
$602,359  
$535,107  
$131,907  
$69,228  
Trọng lượng  
tịnh (kg)  
Giá trị  
thương mại  
$1,666,942  
$796,888  
$750,734  
$119,320  
Trọng lượng  
tịnh (kg)  
761,274  
Nước  
Tổng  
Nước  
613,491 Tổng  
Lào  
275,091 Phillipin  
244,377 Lao  
60,240 Singapore  
31,616  
363,930  
Philippin  
Indonesia  
Singapore  
Nhật  
342,852  
54,492  
$2,440  
1,114  
Pháp  
$2,304  
1,052  
Năm 2006  
Giá trị  
Năm 2007  
Giá trị  
Trọng lượng  
tịnh (kg)  
652,800 Tổng  
Trọng lượng  
tịnh (kg)  
295,093  
164,304  
80,472  
Nước  
Nước  
thương mại  
$1,429,420  
$669,662  
$313,863  
$282,750  
$93,887  
thương mại  
$646,075  
$359,727  
$176,186  
$82,850  
Tổng  
Phillipin  
Indonesia  
Lào  
305,827 Indonesia  
143,338 Philippines  
129,129 Lào  
37,841  
Campuchia  
42,877 Campuchia  
$23,712  
10,830  
Các nước  
16,117  
Singapore  
$35,290  
$3,600  
1,644  
Châu Á khác  
Malaysia  
$31,368  
$2,600  
14,325  
1,187  
Trung Quốc  
Lượng nhập khẩu mây này có thể được hiểu trên 2 phương diện - Phương diện thứ nhất là do  
giá thành mây của Việt Nam đắt hơn của nước ngoài nên các đơn vị sản xuất hàng mây ở  
Việt Nam phải nhập khẩu mây ở nước ngoài về - tuy nhiên lập luận này có thể được loại trừ  
do thực tế mức giá trung bình của mây nhập khẩu từ các bảng trên là 2,19 USD/kg – cao hơn  
rất nhiều so với giá thành mây trung bình hiện đang được bán tại Việt Nam ở Việt Nam (25-  
28.000 đồng/kg). Do vậy, phương diện thứ 2 hoàn toàn có cơ sở có thể khẳng định việc nhập  
khẩu mây tại Việt Nam là do sự thiếu nguyên liệu trong nước buộc các doanh nghiệp phải  
chấp nhận nhập khẩu với đơn giá cao để đảm bảo nhu cầu sản xuất trong nước. Điều này  
cũng đồng nghĩa với kết luận là việc tạo thêm nguồn nguyên liệu mây mới là có cơ sở về mặt  
thị trường nói chung – vấn đề còn lại chỉ là tính cạnh tranh về mặt năng suất và chất lượng  
cây mây ở mỗi địa bàn sẽ được triển khai.  
Việc nhập khẩu nguyên liệu song mây sẽ ngày một khó khăn hơn do chính sách “thắt chặt”  
xuất khẩu của các nước. Từ những năm của thập niên 90, hầu hết các nước (Indonesia,  
Malaysia, Lào, …) đều cấm xuất khẩu nguyên liệu thô và ra hạn ngạch khai thác, xuất khẩu  
nguyên liệu đã chế biến. Indonesia là nước có sản lượng song mây nhiều nhất thế giới (chiếm  
trên 70% sản lượng song mây toàn thế giới), nhưng hàng năm hạn ngạch cho khai thác  
khoảng 250 ngàn tấn trong đó 165 ngàn tấn phục vụ trong nước và phần còn lại để xuất khẩu  
nguyên liệu sơ chế. Song trong thực tế, nhu cầu sử dụng nguyên liệu song mây cho sản xuất  
8
hàng thủ công mỹ nghệ trong nước khoảng 450-500 ngàn tấn/năm và như vậy việc khai thác  
không phép của người dân địa phương là điều không tránh khỏi.  
Qua những phân tích trên, sự đòi hỏi đẩy mạnh phát triển nguyên liệu song mây trong nước là  
một thực tế khách quan, là vấn đề bức thiết hiện nay để tạo điều kiện cho sự phát triển của  
ngành hàng mây tre, đồng thời cũng là phương thức rất tốt để tạo thu nhập cho người trồng  
mây, nhất là đối với những nông dân nghèo sinh sống tại các vùng miền núi.  
Doanh nghiệp ngành mây Việt Nam  
Theo kết quả điều tra tháng 9/2009, hiện cả nước có 238 doanh nghiệp đang hoạt động trong  
các công đoạn khác nhau của ngành mây (từ khai thác, chế biến, xuất khẩu), trong đó đa số  
các công ty nằm ở khu vực đồng bằng Sông Hồng (97 doanh nghiệp, chiếm 40%), miền Đông  
Nam Bộ (59 doanh nghiệp, chiếm 25%) và Bắc Trung Bộ (34 doanh nghiệp, chiếm 14%).  
Nhiều công ty tham gia cả chế biến và xuất khẩu, phân theo chức năng có 25 công ty chế biến  
nguyên liệu mây, 161 công ty trực tiếp sản xuất, 184 công ty có các hoạt động kinh doanh và  
130 công ty có các hoạt động xuất khẩu.  
Theo kết quả điều tra, hiện có 713 làng nghề mây tre đan, chiếm 24% tổng số làng nghề thủ  
công ở Việt Nam và có số lượng lao động tham gia sản xuất lớn nhất – 342 nghìn lao động.  
Các làng nghề mây tre đan phân bố rộng khắp trong cả nước và trên một nửa số làng nghề tập  
trung ở khu vực Đồng bằng Sông Hồng. Người Việt Nam, dù là miền xuôi hay miền núi đã  
và đang làm các vật dụng hàng ngày từ mây tre ở địa phương như khay, giỏ, bàn ghế…v.v.  
Bảng 5. Phân bố làng nghề mây tre đan  
Khu vực Đ. bằng Đông  
Tây  
Bắc  
Bắc  
Trung  
Bộ  
Nam  
Trung Nguyên  
Bộ  
Tây  
Đông  
Nam  
Bộ  
Đ.bằng  
Sông  
C.Long  
73  
sông  
Hồng  
337  
Bắc  
Số làng  
nghề  
77  
45  
121  
34  
0
0
26  
mây tre  
%
47,3%  
10,8%  
6,3%  
17%  
4,8%  
3,6%  
10,2%  
Nguồn: JICA – MARD 2002  
9
Bản đồ phân bố làng nghề thể hiện ở bảng sau đây:  
Làng nghề mây tre đan và thợ thủ công  
Sự phân bố các làng nghề mây tre đan  
713 làng  
(24% tổng số làng nghề)  
342 nghìn thợ  
(25,4% tổng số thợ thủ  
công)  
Lịch sử nghề mây tre đan  
Dươí10 năm  
Trên 100 n m  
19,8 %  
29%  
10 – 30 n m  
30 – 100 n m  
32,2%  
19 %  
Nam  
Nữ  
Tổng  
Nam  
Nữ  
136.057  
206.404  
342.461  
333.000  
258.000  
288.000  
Số lao động  
tham gia sản xuất  
trong làng nghề  
Thu nhập trung bình  
năm 2002 (đồng)  
Trung bình  
Bắc  
Hà Nội, Hà Nam, Thái Bình..  
Vùng sản  
xuất chính  
Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng  
Nam, Khánh Hòa, Bình Định  
Trung  
Nam  
Tây Ninh, T.P Hồ Chí Minh  
Riêng đối với các sản phẩm mây, có thể phân thành 2 nhóm mặt hàng chính: Các mặt hàng  
đan lát từ mây và các mặt hàng nội ngoại thất. Phân bố chính của các nhóm làng nghề này  
như sau:  
Nhóm mặt hàng  
Miền Bắc  
Miền Trung  
Miền Nam  
Hàng mây đan lát  
Hà Nội  
Thái Bình  
Hà Nam  
Hưng Yên (phát  
triển sau này)  
Hà Nội  
Hà Nam  
Thái Bình  
Hưng Yên  
Quảng Nam  
Hầu như không có dưới  
dạng làng nghề, nhưng có  
nhiều nhóm nhỏ ở Đồng  
Nai  
Hàng nội và ngoại  
thất  
Khánh Hòa, Quảng Hầu như không có dưới  
Nam, Đà Nẵng  
dạng làng nghề, nhưng có  
nhiều nhóm nhỏ ở Đồng  
Nai, T.P Hồ Chí Minh,  
Bình Dương  
10  
Sự phát triển của vùng nguyên liệu mây ở Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào thị trường tiêu  
thụ của các sản phẩm từ mây, đặc biệt là vai trò của thị trường xuất khẩu – nơi tiêu thụ đến  
khoảng 95% các sản phẩm từ mây của Việt Nam.  
Mặc dù không có số liệu thống kê riêng biệt thể hiện giá trị kim ngạch xuất khẩu của mặt  
hàng mây nói riêng mà chỉ có số liệu thống kê của các mặt hàng mây tre lá nói chung - còn  
gọi là sợi tự nhiên/natural fibers (các mã số HS4601.20/ 4602.10/ 4602.90/ 6504.00 / 9401.50  
và 9403.80), tuy nhiên tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của nhóm mặt hàng sợi tự nhiên hàng  
năm hoàn toàn có thể đại diện cho tốc độ tăng trưởng của các sản phẩm mây.  
Bảng 6. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu  
Năm  
Lượng nguyên liệu mây Doanh thu xuất khẩu  
Tốc độ tăng  
trưởng  
(%)  
và tre sử dụng (tấn)  
hàng mây tre (nghìn  
USD)  
1999  
2000  
2001  
2002  
2003  
2004  
2005  
2007  
2008  
6,523  
5,068  
4,626  
7,621  
8,830  
9,911  
9,000  
n/a  
48,216  
65,932  
37%  
11%  
21%  
12%  
39%  
27%  
25%  
3%  
73,216  
88,747  
99,737  
138,218  
140,000  
219,000  
224,700  
n/a  
Nguồn: Bộ NN và PTNT, Dự án Quốc gia về bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ giai đoạn 2006-2020  
kết hợp số liệu thống kê của Trung tâm thông tin Bộ Thương mại  
Vai trò của các làng nghề sản xuất hàng mây tre  
Các làng nghề sản xuất hàng mây tre đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm và thu  
nhập ở vùng nông thôn, giảm tải dòng di cư ngày càng nhiều ra các thành phố lớn và tạo nên  
nhiều bất ổn trong nền kinh tế xã hộ của đất nước. Bên cạnh việc tạo việc làm cho 342.000  
lao động, nếu phân tích trên góc độ thu nhập hộ gia đình các hộ làm nghề năm 2008, các hộ  
gia đình làm hàng gốm sứ, gỗ mỹ nghệ và sơn mài có thu nhập cao nhất (2,5 – 3 triệu  
đồng/tháng), tiếp theo là các hộ gia đình làm hàng mây tre đan và dệt lụa (2,3 triệu  
đồng/tháng). So với các hộ làm nông nghiệp trên cùng địa phương thì thu nhập của các hộ  
làm nghề mây tre đan cao hơn 2,3 lần  
Bảng 7. Thu nhập của các hộ sản xuất các nhóm mặt hàng khảo sát năm 2008  
Nhóm  
Mây tre  
Cói, lục  
Gốm sứ  
Gỗ mỹ  
Sơn mài  
Lụa,  
Nghề  
bình  
nghệ  
lanh  
khác  
Tổng số hộ  
Bình quân hộ/ xã  
143.042  
2.201  
68.681  
1.962  
64.907  
4.327  
67.892  
2.425  
11.907  
2.977  
43.418  
2.412  
6.926  
1.385  
Hộ Nông  
nghiệp  
Hộ Phi  
Thu  
nhập  
TB  
1.023.554 1.037.503 1.386.333  
743.258 2.050.000 1.173.796  
756.000  
2.339.730 1.748.478 3.090.000 2.509.097 2.937.500 2.272.894 1.303.000  
2,3 1,7 2,2 3,4 1,4 1,9 1,7  
2.108.897 1.880.954 2.743.800 2.377.805 2.975.000 2.715.012 1.700.000  
VND/ N.nghiệp  
tháng  
Hộ cả 2  
Nguồn: HRPC, 2009  
11  
Thu nhập bình quân của người làm nghề năm 2007 cũng đã tăng từ 30% đến 103% so với  
năm 2001, trong đó mức tăng của nhóm hàng mây tre là 43%. Một điều cũng được lưu ý là  
mức thu nhập trung bình của phụ nữ tham gia sản xuất hàng mây tre không khác biệt nhiều so  
với nam ngoại trừ các nghề đòi hỏi sức khỏe và cường độ lao động cao như gỗ mỹ nghệ, còn  
thông thường hệ số thu nhập của lao động nữ chỉ thấp hơn lao động nam khoảng 1,1 lần.  
Trong mọi trường hợp có thể thấy rằng ngành nghề thủ công đóng góp rất lớn vào quá trình  
phát triển kinh tế nông thôn do mức thu nhập trung bình của cả nam giới và phụ nữ làm nghề  
cao hơn so với mức trung bình ở cả nước.  
Bảng 8. Thu nhập của lao động sản xuất các nhóm mặt hàng khảo sát  
Đơn vị: nghìn đồng  
Nhóm  
Mây tre  
584  
Cói, lục  
bình  
Gốm sứ  
816  
Gỗ mỹ  
nghệ  
Sơn mài Lụa, lanh  
Nghề  
khác  
Người làm  
nghề  
453  
861  
600  
543  
350  
Người thuần  
nông  
269  
2,2  
223  
2,0  
507  
1,6  
223  
3,9  
410  
1,5  
328  
1,7  
573  
0,6  
Chênh lệch  
Nam làm  
nghề  
2001  
588  
455  
823  
1.110  
600  
571  
350  
534  
1,1  
455  
1,0  
782  
1,1  
676  
1,6  
600  
1,0  
527  
1,1  
275  
1,3  
Nữ làm nghề  
Chênh lệch  
Người làm  
nghề  
836  
677  
1.197  
1.639  
1.217  
708  
590  
Người thuần  
nông  
412  
2,0  
391  
1,7  
668  
1,8  
340  
4,8  
817  
1,5  
454  
1,6  
750  
0,8  
Chênh lệch  
Nam làm  
nghề  
2007  
868  
672  
1.233  
1.561  
1.417  
750  
590  
815  
1,1  
678  
1,0  
1.167  
1,1  
1.034  
1,5  
1.317  
1,1  
693  
1,1  
590  
1,0  
Nữ làm nghề  
Chênh lệch  
Mức tăng thu nhập  
đầu người từ ngành  
nghề từ 2001-2007  
Mức tăng thu nhập  
của người thuần nông  
từ 2001-2007  
43%  
53%  
49%  
75%  
47%  
32%  
90%  
52%  
103%  
99%  
30%  
39%  
69%  
31%  
Nguồn: HRPC  
Như vậy, làng nghề có vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo thu nhập cho người lao động,  
đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong các vùng miền. Tuy  
nhiên, vẫn còn nhiều cơ hội để tiếp tục gia tăng thu nhập cho người lao động thông qua các  
hoạt động sản xuất tại các làng nghề thông qua việc nâng cao hệ số sử dụng nguyên liệu, bố trí  
quy trình sản xuất hợp lý (giảm chi phí đầu vào), đa dạng hóa sản phẩm trong đó tập trung vào  
các sản phẩm có giá trị cao (tăng giá trị sản phẩm bán ra), tăng cường công tác thị trường…  
Đây sẽ là những nhân tố góp phần tạo dựng nguồn thu nhập cao và bền vững cho lao động làng  
nghề.  
12  
1.2 Các chính sách và văn bản pháp lý liên quan  
Cho đến nay, ở Việt Nam chưa có hệ thống chính sách riêng về mây nói riêng và lâm sản  
ngoài gỗ (LSNG) nói chung. Trong một số văn bản pháp luật có đề cập đến chính sách LSNG  
và cụ thể về cây mây nhưng tản mạn trong một chương, hoặc điều, khoản của các văn bản  
pháp luật.  
1.2.1 Về quy hoạch vùng nguyên liệu  
Theo quy định của pháp luật hiện hành, vùng nguyên liệu LSNG có thể được hình thành trên  
vùng đất, vùng rừng quy hoạch cho mục đích xây dựng rừng sản xuất, rừng phòng hộ. Nhà  
nước khuyến khích khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng có trồng bổ sung cây LSNG trên đất  
rừng phòng hộ, rừng sản xuất; coi khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên rừng là một trong  
những giải pháp quan trọng để phục hồi rừng, trong đó có các loài LSNG. Tại Quyết định  
100/2007/QĐ-TTg ngày 06 tháng 7 năm 2007 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định  
số 661/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998 về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực  
hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng cũng đã mở rộng điều khoản về khả năng phát triển  
LSNG cả ở rừng đặc dụng “Diện tích quy hoạch là rừng đặc dụng nhưng chưa có rừng, nếu  
cần phục hồi lại rừng thì thực hiện biện pháp khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh rừng là chính;  
đặc biệt chú ý phát triển lâm sản ngoài gỗ tạo thu nhập cho người dân sinh sống trong vùng  
rừng đặc dụng (ngoài vùng bảo vệ nghiêm ngặt)”  
1.2.2. Về chính sách đất đai, tài nguyên rừng  
Nhà nước giao quyền sử dụng rừng, đất rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn  
định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; việc quy định người sử dụng đất, người sử dụng rừng  
(chủ rừng) có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng,  
thực hiện chính sách cho thuê đất, thuê rừng đã tạo thuận lợi cho việc tập trung, tích tụ đất đai  
hình thành các vùng nguyên liệu LSNG.  
1.2.3. Chính sách nguồn giống mây  
Quyết định Số 26/2007/QĐ-BNN ngày 09 tháng 4 năm 2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát  
triển Nông thôn về việc Ban hành Danh mục bổ sung giống cây lâm nghiệp được phép sản  
xuất kinh doanh chỉ rõ “Mây nếp (Calamus tetradactylus) là loài cây được phép sản xuất kinh  
doanh nhưng tối thiểu phải có nguồn giống là lâm phần tuyển chọn hoặc có các cây mẹ được  
công nhận”  
1.2.4. Về chính sách đầu tư  
Các văn bản pháp luật về đầu tư quy định trồng rừng nguyên liệu nói chung, trong đó có  
trồng cây LSNG, chế biến lâm sản, các ngành nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ truyền  
thống (mây tre, trúc mỹ nghệ…) được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư như miễn giảm tiền sử  
dụng đất, miễn giảm tiền thuê đất. Các dự án trồng rừng nguyên liệu LSNG, cơ sở chế biến  
LSNG, sản xuất mây tre, hàng thủ công mỹ nghệ được vay vốn với lãi suất ưu đãi; ngoài ra  
hộ gia đình sản xuất mây tre, hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến LSNG còn được ngân hàng  
cho vay vốn với lãi suất thương mại.  
13  
1.2.5. Các sắc thuế liên quan đến kinh doanh nguyên liệu LSNG  
Đất trồng cây LSNG chịu mức thuế suất thuế sử dụng đất là 4% so với giá trị sản phẩm khai  
thác. Từ năm 2003 đến năm 2010, các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển nguyên liệu LSNG  
được miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp; khai thác tre, nứa, vầu, giang, mai, lồ ô từ  
rừng tự nhiên phải nộp thuế tài nguyên là 10%; song, mây là 5% so với giá trị sản phẩm khai  
thác; thuế giá trị gia tăng (VAT) với thuế suất 5% đối với song, mây, tre, nứa khai thác từ  
rừng tự nhiên chưa qua chế biến ở khâu kinh doanh thương mại; sản phẩm làm bằng đay, cói,  
tre, nứa, song, mây.  
Trong vài năm gần đây, đã ban hành các văn bản pháp luật quy định việc khai thác LSNG  
trong rừng sản xuất là rừng tự nhiên, trong rừng phòng hộ là rừng tự nhiên, chính sách hưởng  
lợi, lưu thông, tiêu thụ LSNG, cụ thể như sau:  
Quyết định số 59/2005/QĐ-BNN ngày 10/10/2005 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát  
triển nông thôn Về việc ban hành Quy định về kiểm tra, kiểm soát lâm sản và Quyết định số  
40 /2005/QĐ-BNN ngày 07 tháng 07 năm 2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
. Không được khai thác lâm sản trong rừng đặc dụng (vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên  
nhiên…)  
. Được phép khai thác các loại lâm sản phụ (trừ các loại quý hiếm cấm khai thác sử dụng  
theo quy định của Chính phủ) trong rừng phòng hộ, nhưng không được làm ảnh hưởng  
đến khả năng phòng hộ của rừng. Việc khai thác do chủ rừng tự quyết định (nếu khai thác  
trong rừng thuộc quyền quản lý của Uỷ ban nhân dân cấp xã, do Uỷ ban nhân dân cấp xã  
cấp phép  
. Được phép khai thác, thu hái các lâm sản ngoài gỗ (mây song chẳng hạn) trong rừng sản  
xuất là rừng tự nhiên nhưng phải đảm bảo không làm ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và  
phát triển của từng loài. Việc khai thác, thu hái do chủ rừng tự quyết định (đối với rừng  
thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã quản lý, do Uỷ ban nhân dân cấp xã cấp phép khai thác,  
thu hái), sản phẩm khai thác, thu hái được tự do lưu thông.  
1.2.6 Kế hoạch hành động về bảo tồn và phát triển LSNG giai đoạn 2007-2010  
(Ban hành kèm theo Quyết định số 2242 ngày 7 tháng 8 năm 2007 của Bộ Nông nghiệp  
và Phát triển nông thôn)  
a. Chương trình về sản xuất LSNG  
Mục tiêu  
Các hoạt động ưu tiên  
Đảm bảo cung cấp trên 50% nhu cầu 1. Điều tra cơ bản, xây dựng hệ thống cơ sở  
nguyên liệu LSNG cho chế biến và xuất  
khẩu;  
dữ liệu về LSNG  
2 Phát triển các loài thực vật LSNG chủ yếu  
Một số hoạt động và mục tiêu cụ thể:  
Điều tra, đánh giá hiện trạng về công tác gây trồng phát triển, khai thác, chế biến nhóm  
cây nguyên liệu, hàng mỹ nghệ (mây, luồng, trúc sào): Đến hết năm 2008 có 01 Báo cáo  
đánh giá hiện trạng công tác gây trồng nhóm cây NL, hàng mỹ nghệ ở cấp quốc gia; xây  
dựng phần mềm cơ sở dữ liệu để quản lý (Cục Lâm nghiệp và Cục Chế biến NLS&NM  
chủ trì).  
14  
b. Chương trình bảo tồn về LSNG  
Mục tiêu  
Các hoạt động ưu tiên  
1. Công tác tổ chức, quản lý, 1. Bảo tồn LSNG trong các khu VQG, khu Bảo tồn  
qui hoạch bảo tồn và phát thiên nhiên, khu rừng phòng hộ  
triển LSNG được tăng  
cường.  
2 Xây dựng mô hình bảo tồn LSNG trên cơ sở áp dụng  
và phát huy kiến thức bản địa  
2. Nâng cao nhận thức của toàn  
xã hội về bảo tồn LSNG  
3. Nâng cao nhận thức của người dân, các cấp, các  
ngành và toàn xã hội vể bảo tồn LSNG.  
4. Thí điểm mô hình cộng đồng quản lý rừng gắn với  
bảo tồn LSNG  
Một số hoạt động và mục tiêu cụ thể:  
. 28 vườn quốc gia đưa nội dung bảo tồn LSNG Insitu và Exsitu vào kế hoạch hoạt động  
. 30 khu bảo tồn thiên nhiên đưa nội dung bảo tồn LSNG Insitu  
. 20 khu rừng phòng hộ đưa nội dung bảo tồn extu và inxtu LSNG  
. 05 mô hình bảo tồn LSNG trên cơ sở áp dụng và phát huy kiến thức được xây dựng  
đại diện cho các vùng (Tây Bắc, Đông Bắc, Trung bộ, Tây Nguyên, vùng ngập mặn,  
. Chương trình truyền thông về bảo tồn LSNG được xây dựng và vận hành  
. Thông tin chuyên đề về bảo tồn LSNG được xuất bản  
.
10 mô hình thí điểm cộng đồng quản lý rừng gắn với bảo tồn LSNG được thiết lập đại  
diện cho vùng Tây Bắc, miền núi phía Bắc, Trung Bộ, Tây Nguyên  
c. Chương trình về chế biến và thương mại LSNG  
Mục tiêu  
Các hoạt động ưu tiên  
1. Gia tăng đóng góp của chế biến 3. Quy hoạch các làng nghề gắn với vùng  
LSNG cho nền kinh tế quốc dân và nguyên liệu  
nâng cao vị thế cạnh tranh của chế 4. Phát triển làng nghề gắn với vùng nguyên  
biến LSNG.  
liệu  
2. Hình thành và phát triển thị trường  
LSNG cho một số sản phẩm cụ thể  
5. Hỗ trợ các doanh nghiệp, làng nghề ứng  
dụng công nghệ mới nâng cao chất lượng sản  
phẩm cho một số loài LSNG có tiềm năng  
phát triển thành hàng hóa  
6. Xây dựng hệ thống thông tin thị trường  
LSNG  
7. Tổ chức hội chợ LSNG  
Một số hoạt động và mục tiêu cụ thể:  
. Bản quy hoạch được Bộ NN &PTNT phê duyệt vào cuối năm 2008  
. 50 làng nghề truyền thống sản xuất LSNG được hỗ trợ  
. 20 Làng nghề và 10 DN vừa và nhỏ được hỗ trợ xây dựng hệ thống quản lý chất lượng  
ISO 9001: 2000; ISO 14000 …  
. 10 DN được hỗ trợ đổi mới công nghệ xử lý nguyên liệu và công nghệ hoàn thiện sản  
phẩm cuối cùng  
15  
. Hệ thống thông tin về thị trường LSNG được thiết lập và vận hành  
. Bản tin về thị trường LSNG được biên soạn mỗi quý một lần; Thiết lập và cập nhật  
thường xuyên thông tin về thị trường LSNG trên trang Web  
.
Tổ chức 01 hội chợ về LSNG  
d. Chương trình về nghiên cứu, đào tạo và khuyến lâm  
Mục tiêu  
Các hoạt động ưu tiên  
Phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ . Nghiên cứu và hoàn thiện công nghệ nuôi  
để thuần dưỡng, nuôi trồng, bảo quản và chế  
biến các loài LSNG phục vụ trực tiếp cho  
bảo tồn và phát triển LSNG ở Việt Nam.  
trồng, khai thác, bảo quản và chế biến  
một số loài LSNG chủ yếu  
. Nghiên cứu dự báo thị trường một số loài  
LSNG chủ yếu có tiềm năng.  
Có nguồn nhân lực đảm bảo cho phát triển . Phát triển và áp dụng chương trình giảng  
và bảo tồn LSNG  
dạy về LSNG cho các cơ sở đào tạo và  
dạy nghề về lâm nghiệp  
Nhanh chóng đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản . Xây dựng và vận hành chương trình  
xuất và hướng dẫn nông dân phát triển bền  
vững LSNG.  
khuyến lâm quốc gia về LSNG  
Một số hoạt động và mục tiêu cụ thể:  
. Nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ tạo giống, gây trồng, khai thác, chế biến và bảo  
quản cây trúc sào, song mật, mây nếp...)  
. Nghiên cứu, lựa chọn thiết bị và công nghệ thích hợp để chế biến và bảo quản tre nứa,  
song mây và một số loài cây đa chức năng, với quy mô vừa và nhỏ / Hệ thống thiết bị  
chế biến song, mây và tre quy mô vừa và nhỏ (tập trung vào khâu nguyên liệu và hoàn  
thiện sản phẩm chế biến tre và song mây) được hội đồng khoa học nghiệm thu. Quy  
trình về công nghệ chế biến tre nứa, song mây được ban hành và áp dụng vào thực tế.  
. Đưa ra Báo cáo về thực trạng thị trường LSNG (Dự báo thị trường LSNG đến 2010,  
Đề xuất chính sách về thị trường đối với LSNG ở Việt Nam)  
. Khung chương trình đào tạo về LSNG cho trường trung cấp và các trường dạy nghề và  
được sử dụng.  
. Khung chương trình đào tạo khuyến lâm cho cấp tỉnh, và cấp huyện và được áp dụng  
e. Chương trình về thể chế, chính sách LSNG  
Mục tiêu  
Các hoạt động ưu tiên  
1. Tạo hành lang pháp lý thuận lợi, khuyến Xây dựng chính sách khuyến khích bảo tồn  
khích các tổ chức, cá nhân, các thành phần và phát triển LSNG phù hợp với  
kinh tế tham gia phát triển nguồn tài qúa trình hội nhập kinh tế quốc tế  
nguyên LSNG bền vững theo định hướng  
kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc  
tế  
Sửa đổi, bổ sung một số chính sách có liên  
quan đến LSNG  
Củng cố quản lý nhà nước về LSNG  
Hỗ trợ hình thành các Hiệp hội liên quan  
2. Nâng cao năng lực quản lý về LSNG .  
16  
đến bảo tồn và phát triển LSNG  
Một số hoạt động và mục tiêu cụ thể:  
. Xây dựng chính sách khuyến khích tạo vùng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến  
LSNG  
. QĐ mới của Bộ Nông nghiệp và PTNT về khai thác lâm sản ; về kiểm tra, kiểm sóat  
lâm sản được ban hành  
. Hình thành bộ phận hoặc phận công cán bộ quản lý, theo dõi LSNG ở các cấp  
. Hiệp hội về ngành hàng LSNG được hình thành và đi vào hoạt động  
1.2.7. Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020  
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày  
05/02/2007  
Xây dựng và phát triển ở Vùng Bắc Trung Bộ các vùng nguyên liệu gỗ và lâm sản ngoài gỗ  
gắn với công nghiệp chế biến để hình thành các vùng công nghiệp chế biến lâm sản của các  
địa phương trên cơ sở tiềm năng và thị trường. Đẩy mạnh chế biến đồ mộc (trước mắt là dăm  
giấy) và phát triển các làng nghề nông thôn, chú ý chế biến lâm sản ngoài gỗ (nhựa thông, tre  
luồng và song mây...)  
Các chính sách quan trọng liên quan đến phát triển làng nghề, khuyến công và xúc tiến  
thương mại  
(Bao gồm: Nghị định 66/66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 của Chính phủ, thông tư  
116/2006/QĐ-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp, Thông tư 113//2006/TT-BTC  
ngày 28/12/2006 của Bộ Tài Chính; Nghị định 134//2004/NĐ-CP của Chính phủ, quyết định  
136/2007/QĐ-TTg ngày 20/8/2007 của Thủ tướng chính phủ, Quyết định 279/2005 QĐ-TTg  
của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 80/2009/QÐ-TTg ngày 21 tháng 5 năm 2009 của  
Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 279/2005/QÐ-  
TTg). Một số cơ chế hỗ trợ cụ thể như sau:  
Về mặt bằng sản xuất: Nhà nước hỗ trợ đầu tư hạ tầng làng nghề và ngoài hàng rào các cụm  
cơ sở ngành nghề nông thôn. Các cơ sở ngành nghề nông thôn có dự án đầu tư, có hiệu quả  
được: (a) Tạo điều kiện thuận lợi về giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất tại các cụm  
cơ sở ngành nghề nông thôn và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định  
của pháp luật về đất đai (b) Các cơ sở ngành nghề nông thôn di dời ra khỏi khu dân cư đến  
địa điểm quy hoạch được ưu đãi về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất và hỗ trợ  
kinh phí để di dời.  
Về đầu tư, tín dụng: Ngân sách tỉnh hỗ trợ một phần kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng  
và xử lý môi trường cho các làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề nông thôn. Đối với các tỉnh  
khó khăn về nguồn thu ngân sách, ngân sách trung ương hỗ trợ một phần trong dự toán hàng  
năm. Các dự án sản xuất kinh doanh có hiệu quả được (a) Hưởng ưu đãi đầu tư theo Luật Đầu  
tư (b) Hỗ trợ lãi suất sau đầu tư theo quy định hiện hành (c) Vay vốn từ Quỹ hỗ trợ giải quyết  
việc làm theo quy định hiện hành (d)Thực hiện theo quy định của nhà nước về tín dụng đầu  
tư phát triển, tín dụng xuất khẩu và (e) Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa bảo  
lãnh vay vốn tại các tổ chức tín dụng.  
Về xúc tiến thương mại: Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho các  
cơ sở ngành nghề nông thôn hoạt động xúc tiến thương mại theo quy định hiện hành của  
17  
Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia (hỗ trợ 50% tham dự gian hàng hội chợ trong  
nước, 100% gian hàng ở nước ngoài, hỗ trợ 50% -70% kinh phí đào tạo...). Doanh nghiệp  
cũng được hỗ trợ để phát triển thương hiệu.  
Về khoa học công nghệ: (1) Cơ sở ngành nghề nông thôn khi thực hiện các hoạt động triển  
khai ứng dụng kết quả khoa học và công nghệ, đổi mới công nghệ, sản xuất sản phẩm mới và  
thực hiện các dịch vụ khoa học công nghệ hay tiếp nhận tiến bộ khoa học kỹ thuật từ các tổ  
chức, cá nhân trong và ngoài nước thì được hưởng các ưu đãi theo chính sách và cơ chế tài  
chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học công nghệ. (2) Cơ sở  
ngành nghề nông thôn thực hiện đề tài nghiên cứu độc lập hoặc phối hợp với các cơ quan  
nghiên cứu khoa học để tạo ra công nghệ mới, hoàn thiện sản phẩm nghiên cứu có khả năng  
thương mại hoá thuộc lĩnh vực ngành nghề nông thôn thì được Nhà nước hỗ trợ một phần  
kinh phí từ nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học công nghệ.  
Về đào tạo nhân lực: Các dự án đầu tư cơ sở dạy nghề nông thôn được hưởng các chính  
sách về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước theo quy định để đào tạo nguồn nhân lực đối  
với các ngành nghề cần phát triển theo quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn. Các nghệ  
nhân ngành nghề nông thôn tổ chức truyền nghề được thu tiền học phí của học viên trên nguyên  
tắc thỏa thuận; được thù lao theo quy định của cơ sở đào tạo khi tham gia giảng dạy tại các cơ  
sở đào tạo; được hưởng các ưu đãi về thuế trong hoạt động truyền nghề. Lao động nông thôn  
khi tham gia học nghề được hỗ trợ kinh phí đào tạo theo chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn  
cho lao động nông thôn; được vay vốn từ chương trình quốc gia giải quyết việc làm.  
18  
PHẦN 2. PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ THIẾU BỀN  
VỮNG CỦA NGÀNH SONG MÂY VIỆT NAM  
2.1. Nguyên liệu  
Cho đến nay, chưa có số liệu định lượng được công bố và cũng chưa có nghiên cứu nào về  
lượng mây hiện tại ở Việt Nam. Trên thực tế, cũng rất khó xác định được số lượng cụ thể của  
nguyên liệu mây bởi vì đặc tính của cây mây thường sống xen lẫn với các loại cây khác trong  
rừng.  
Việt Nam có 30 loài mây thuộc 6 chi, được phân bố ở các vùng sinh thái khác nhau. Trong đó  
10 loài mây có giá trị kinh tế cao, được sử dụng phổ biến trong sản xuất các mặt hàng thủ  
công mỹ nghệ. Vùng có trữ lượng mây nhiều nhất nằm ở duyên hải trung bộ (201.076 ha /  
381.936 ha tổng diện tích rừng có mây của Việt Nam – Theo MARD). Mây tự nhiên phân bố  
chủ yếu trong rừng ở các vùng miền núi. Mây vườn, những năm gần đây đã được trồng khá  
phổ biển ở nhiều tỉnh, trong đó trọng tâm là một số tỉnh miền Bắc (Thái Bình, Hà Tây cũ,  
Tuyên Quang, …) và miền Trung (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, …). Cả hai loại mây này  
đều có giá trị tăng thu nhập, không chỉ cho đồng bào dân tộc thiểu số mà còn cho người  
nghèo nông thôn. Mây được thu hoạch và chế biến quanh năm nhằm đảm bảo nguồn thu đủ  
mua thực phẩm cho gia đình. Tính riêng ở vùng Bắc Trung Bộ, khoảng 4.000 người liên quan  
đến các hoạt động thu gom mây từ rừng tự nhiên, chế biến mây…tạo tổng giá trị khoảng 1,6  
triệu USD/năm.  
Mười loại mây có giá trị kinh tế cao ở Việt Nam (Nguồn: Viện Điều tra quy hoạch rừng)  
Tên V.Nam/Tên  
TT  
Loài  
Vùng phân bố chính  
Địa phương  
Mây Nếp, Tắt, Ruột Gà  
Mái, mây Nước  
Mây nước Pie  
1 C. tetradactylus Hance  
2 Calamus armarus Lour  
3 D.pierreanus  
Bắc Trung Bộ và Bắc Bộ  
Trung Bộ, Bắc Trung Bộ và Bắc Bộ  
Trung Bộ, Bắc Trung Bộ và Bắc Bộ  
Tr.Bộ, Bắc Tr.Bộ và Đông Bắc Bộ  
Nam Tr.Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ  
Đ.Nam Bộ, Trung Bộ và Bắc Tr.Bộ  
Từ Nghệ An trở ra phía Bắc  
4 Calamus tokinensis Becc  
5 C. bousinggonii Pierre  
6 Calamus palustric Griff  
7 C. platyacanthus Warb  
8 C. poilanei Conrard  
9 Calamus rudentum Lour  
Mây Đắng, Mái  
Chèo Đồi, mây Lá Rộng  
Mây Tàu  
Song mật  
Song Bột, Trèo Đồi, Poóng Từ Thừa Thiên – Huế trở ra  
Song Đá, song Đen  
Hầu hết các tỉnh Bắc, Trung, Nam  
Trung Bộ và Bắc Bộ  
10 C. psendoscutellaris Conrard Cây Hèo  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 70 trang yennguyen 22480 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Đánh giá tiềm năng và các yếu tố thiếu bền vững cho ngành mây - song Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_danh_gia_tiem_nang_va_cac_yeu_to_thieu_ben_vung_cho.pdf