Đề tài Làng nghề gỗ trong bối cảnh thực THI FLEGT và REDD+ tại Việt Nam

LÀNG NGHỀ GỖ  
TRONG BỐI CẢNH THỰC THI FLEGT  
VÀ REDD+ TẠI VIỆT NAM  
Tô Xuân Phúc, Forest Trends  
Nguyễn Tôn Quyền, VIFORES  
Lê Duy Phương, VIFORES  
Cao Thị Cẩm, VIFORES  
Ngụy Thị Hồng, VIFORES  
Hà nội - 2012  
Lời cảm ơn  
Báo cáo "Làng nghề gỗ trong bối cảnh thực thi FLEGT và REDD+ tại Việt Nam” được hoàn thành với sự trợ giúp của tổ  
chức Forest Trends, thông qua nguồn kinh phí tài trợ của Cơ quan phát triển của Vương quốc Anh (DFID) và của Chính  
phủ Na Uy (NORAD). Báo cáo là sản phẩm hợp tác giữa tổ chức Forest Trends và Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam.  
Nhóm tác giả xin cảm ơn ông Đặng Việt Quang đã góp ý cho báo cáo và trợ giúp phần thể hiện số liệu. Nhóm nghiên  
cứu cũng xin cảm ơn sự nhiệt tình của chính quyền địa phương nơi tiến hành hoạt động nghiên cứu, bao gồm các xã  
Đồng Kỵ, Vạn Điểm, Yên Ninh, Hữu Bằng, và Liên Hà. Bên cạnh đó, nhóm xin trân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các cá  
nhân, tổ chức, Hội làng nghề, đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm thực hiện nghiên cứu này.  
Quan điểm thể hiện trong báo cáo là của riêng nhóm tác giả, và không phản ánh quan điểm chính thống của các tổ  
chức thực hiện nghiên cứu, hoặc các tổ chức cung cấp tài chính cho nghiên cứu.  
Mục lục  
Tóm tắt  
Việt Nam hiện nay có khoảng trên 300 làng nghề chế biến gỗ (làng nghề gỗ), với gần 50% số làng nghề này tập trung  
tại vùng Đồng bằng Sông Hồng. Theo ước tính, lượng gỗ nguyên liệu sử dụng hàng năm cho các làng nghề gỗ trong cả  
nước khoảng 350.000 - 400.000 m3 gỗ quy tròn, chủ yếu từ nguồn nhập khẩu và khai thác trong nước.  
Làng nghề gỗ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Hiện có khoảng 300.000 lao động đang làm việc tại  
các làng nghề. Hàng năm số lượng làng nghề tăng khoảng 5%. Điều này tạo cơ hội việc làm cho nhiều người lao động  
tại vùng nông thôn. Tính bình quân, tổng doanh thu từ các làng nghề gỗ đạt khoảng 1,5 tỉ đô la/năm. Các làng nghề  
hiện nay cung cấp trên 80% tổng đồ gỗ nội thất và xây dựng cho thị trường nội địa (HRPC 2009).  
Về quy mô hoạt động, đa số các làng nghề gỗ hiện nay có quy mô nhỏ, chủ yếu là hình thức hộ gia đình, với khoảng  
10-15 lao động/cơ sở và chủ yếu là lao động phổ thông. Hầu hết tại các cơ sở này chủ và người làm thuê không có hợp  
đồng lao động mà thường tự thỏa thuận miệng với nhau về công việc và tiền công. Quy mô vốn sản xuất của các hộ  
thường nhỏ, khoảng dưới 10 tỉ đồng/hộ. Quy mô nhỏ về vốn và lao động tạo ra sự linh động trong tổ chức sản xuất  
kinh doanh, điều này tạo động lực thúc đẩy làng nghề gỗ phát triển.  
Khác với ngành công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu có sử dụng công nghệ hiện đại nhằm tiết kiệm nguyên liệu đầu gia  
tăng giá trị sản phẩm, nhiều làng nghề gỗ hiện nay chủ yếu sử dụng công nghệ thô sơ, điều này ảnh hưởng đến giá và  
chất lượng sản phẩm cuối cùng. Một số làng nghề gỗ truyền thống sử dụng lao động tay nghề cao, tạo ra sản phẩm  
độc đáo có giá trị gia tăng cao, phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.  
Cục Chế biến Thương mại Nông lâm sản và Nghề muối thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN& PTNT)  
chịu trách nhiệm về quản lý nhà nước về làng nghề gỗ, thông qua việc soạn thảo nhằm ban hành các cơ chế chính  
sách quản lý, hỗ trợ phát triển làng nghề. Bộ Công thương có trách nhiệm quản lý thị trường sản phẩm thông qua các  
cơ chế chính sách hỗ trợ và phát triển thị trường. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hỗ trợ đào tạo nghề. Tuy nhiên,  
việc quản lý làng nghề nói chung và làng nghề gỗ nói riêng còn một số bất cập, đặc biệt là chưa có sự phối hợp trong  
quản lý giữa các cơ quan này. Bên cạnh đó, việc giám sát sự tuân thủ các quy định pháp luật tại các làng nghề còn lỏng  
lẻo. Hầu hết các hộ gia đình không tham gia các tổ chức xã hội nghề nghiệp như các Hiệp hội ngành hàng, điều này  
làm cho các làng nghề phát triển theo hướng tự phát. Nói cách khác, các làng nghề tự vận hành và chạy theo nhu cầu  
thị trường mà chưa tiếp cận được với nguồn thông tin thị trường, định hướng phát triển thị trường về các sản phẩm.  
Việc phát triển tự phát của nhiều làng nghề làm phát sinh một số hạn chế. Tại nhiều làng nghề, hầu hết các hộ và các  
công ty tham gia sản xuất kinh doanh chưa hiểu biết đầy đủ về nguồn gốc và tính pháp lý của nguồn gỗ nguyên liệu  
đầu vào. Điều này gây khó khăn trong việc quản lý việc tiêu thụ gỗ có nguồn gốc gỗ hợp pháp và bất hợp pháp. Một số  
làng nghề hiện sử dụng một số lượng lớn gỗ tự nhiên thuộc nhóm I và II, là các nhóm gỗ mà Nhà nước hạn chế sử  
dụng vì mục đích thương mại. Bên cạnh đó, việc tuân thủ các quy định về môi trường, điều kiện an toàn lao động, sử  
dụng lao động của các làng nghề hiện còn rất hạn chế.  
Việt Nam đang tham gia đàm phán với EU về Hiệp định Đối tác Tự nguyện trong khuôn khổ của Chương trình Thực thi  
Luật lâm nghiệp, Quản trị rừng và Thương mại gỗ (FLEGT). Đồng thời Việt Nam cũng đang tham gia sáng kiến Giảm  
phát thải do mất rừng và suy thoái rừng (REDD+). Cả 2 Sáng kiến này đều có mục đích nhằm hạn chế mất rừng và suy  
thoái rừng, góp phần vào quản lý rừng bền vững. Hàng năm, các làng nghề gỗ sử dụng một lượng gỗ nguyên liệu đáng  
kể, do vậy việc sản xuất kinh doanh và phát triển của làng nghề gỗ có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện các sáng  
kiến này tại Việt Nam. Nói cách khác, việc thực hiện các sang kiến này tại Việt Nam trong tương lai sẽ tác động trực  
tiếp đến các làng nghề. Đến nay, các làng nghề gỗ chưa tiếp cận được thông tin có liên quan đến tiến trình thực hiện  
các sáng kiến FLEGT và REDD+.  
Báo cáo này mô tả tình hình sản xuất kinh doanh của một số làng nghề nơi nhóm tác giả thực hiện nghiên cứu. Dựa  
trên thực trạng sản xuất kinh doanh của các làng này, báo cáo chỉ ra rằng các làng nghề hiện nay chưa sẵn sàng cho  
việc thực hiện FLEGT tại Việt Nam nếu việc thực hiện FLEGT cần phải đòi hỏi một quy trình kiểm tra gắt gao về tính  
hợp pháp của nguồn nguyên liệu gỗ đầu vào. Nói cách khác, việc thực hiện FLEGT và cả REDD+ nhằm đưa ra các chế  
i
 
tài quản lý nguồn nguyên liệu đầu vào hợp pháp sẽ có thể làm ảnh hưởng tiêu cực đối với các hoạt động sản xuất kinh  
doanh của làng nghề, ít nhất là trong ngắn hạn. Điều này đòi hỏi việc thiết kế và thực hiện Sáng kiến FLEGT and REDD+  
tại Việt Nam cần có sự tham vấn đầy đủ và kịp thời đối với các làng nghề về các nội dung và cách thức thực hiện trong  
tương lai.  
ii  
Từ viết tắt  
CoC  
Chuỗi hành trình sản phẩm  
DFID  
Bộ Phát triển Quốc tế Vương Quốc Anh (Department for International Development)  
Liên minh Châu Âu  
EU  
FLEGT  
FSSP  
Chương trình tăng cường thực thi luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại gỗ  
Đối Tác Hỗ Trợ Ngành Lâm Nghiệp  
Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ Phát triển các Làng nghề Thủ công truyền thống Việt Nam  
Hợp Tác Xã  
HRPC  
HTX  
NĐ-CP  
NN và PTNT  
NORAD  
QĐ-TTg  
TNHH  
TLAS  
Nghị Định của Chính Phủ  
Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn  
Cơ quan hợp tác phát triển Na-uy  
Quyết Định của Thủ Tướng Chính Phủ  
Trách Nhiệm Hữu Hạn  
Hệ thống đảm bảo tính hợp pháp của gỗ  
Định nghĩa gỗ hợp pháp  
TLD  
UBND  
VAT  
Ủy Ban Nhân Dân  
Thuế giá trị gia tăng  
VIFORES  
VPA  
Hiệp Hội Gỗ và Lâm Sản Việt Nam  
Hiệp định đối tác tự nguyện  
iii  
 
1. Giới thiệu  
Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp gỗ của Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Đồ gỗ của  
Việt Nam đã được xuất khẩu đến 120 thị trường trên toàn thế giới. Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc là những thị  
trường tiêu thụ chính của đồ gỗ Việt Nam, trong đó chỉ riêng thị trường Mỹ và EU đã chiếm trên 80% tổng kim ngạch  
xuất khẩu về các sản phẩm này. Năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ của Việt Nam đã đạt  
trên 3,9 tỷ USD.  
Các làng nghề này sử dụng một lượng gỗ nguyên liệu tương đối lớn để sản xuất các mặt hàng phục vụ nhu cầu trong  
nước và xuất khẩu. Năm 2007, các làng nghề chế biến gỗ ở Đồng bằng sông Hồng sử dụng trên 221.600 m3 gỗ trong  
tổng số 305.600 m3 gỗ của tất cả các làng nghề cả nước (HRPC, 2009). Nguồn nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng  
được 20%; phần còn lại (80%) được nhập khẩu từ nước ngoài (cùng nguồn trích dẫn).  
Đến nay, Việt Nam và Liên minh Châu Âu đã chính thức đàm phán Hiệp định Đối tác Tự nguyện (VPA) trong khuôn  
khổ Chương trình Tăng cường Thực thi Luật lâm nghiệp, Quản trị rừng và Thương mại gỗ (FLEGT). Hiện Việt Nam  
đang xây dựng Định nghĩa về gỗ hợp pháp (timber legality definition) và hoàn thiện Hệ thống đảm bảo tính hợp pháp  
của gỗ (Timber Legality Assurance Systems). Việt Nam cũng đang tham gia sáng kiến REDD+ (reduced emissions from  
deforestation and forest degradation), nhằm giảm phát thải khí nhà kính thông qua các hoạt động chống mất rừng và  
suy thoái rừng, trong đó có việc ngăn chặn khai thác gỗ bất hợp pháp.  
Lượng gỗ sử dụng bởi các làng nghề hàng năm là rất lớn, do vậy hoạt động sản xuất kinh doanh của làng nghề có ý  
nghĩa trực tiếp đến việc bảo vệ và phát triển rừng tại Việt Nam. Việc một số làng nghề đang trực tiếp tham gia vào  
xuất khẩu có ý nghĩa trực tiếp đến việc thực hiện FLEGT trong tương lai. Gắn kết các làng nghề này vào tiến trình thiết  
kế và thực hiện các sáng kiến này là việc làm hết sức cần thiết nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực có thể có của  
FLEGT đến các làng nghề trong tương lai.  
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu thực trạng sản xuất kinh doanh tại một số làng nghề gỗ. Nghiên cứu được thực hiện  
với kỳ vọng sẽ cung cấp một số thông tin tham khảo cho quá trình thiết kế và vận hành Sáng kiến FLEGT và REDD+ tại  
Việt Nam. Cụ thể, nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu nguồn gốc của gỗ và quá trình luân chuyển sản phẩm gỗ trên thị  
trường. Kết quả của nghiên cứu góp phần vào việc xây dựng hệ thống đảm bảo tính hợp pháp của gỗ và định nghĩa  
gỗ hợp pháp.  
Mục tiêu nghiên cứu  
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng, quy mô, nguồn cung và nhu cầu của các sản phẩm đồ gỗ tại các làng nghề,  
thông qua đó tìm hiểu nguồn gốc gỗ nguyên liệu sử dụng trong 5 làng nghề vùng đồng bằng sông Hồng.  
1
 
2. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu được tiến hành dựa vào các nguồn thông tin thứ cấp và sơ cấp. Nguồn thông tin thứ cấp được thu thập  
từ các báo cáo, tài liệu của các cơ quan, tổ chức có các hoạt động có liên quan đến làng nghề. Cho đến nay, nguồn  
thông tin thứ cấp về các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề gỗ là hết sức hạn chế.  
Thông tin sơ cấp được thu thập trực tiếp từ các làng nghề, thông qua phỏng vấn một số doanh nghiệp và hộ sản xuất  
trong làng nghề. Bảng hỏi với câu hỏi bán cấu trúc được xây dựng nhằm thu thập thông tin. Quá trình điều tra được  
tiến hành tại 5 làng nghề của khu vực Đồng bằng sông Hồng (Hình 1). Nhóm đã tiến hành phỏng vấn 156 cơ sở sản  
xuất tại các làng nghề này, trong đó bao gồm 16 công ty và 140 hộ gia đình. Các cơ sở sản xuất được lựa chọn ngẫu  
nhiên và không mang tính đại diện cho tất cả các làng nghề được tiến hành nghiên cứu.  
Hình 1. Địa điểm nghiên cứu trên khu vực Đồng Bằng Sông Hồng  
Nguồn: Đặng Việt Quang  
Các làng nghề được lựa chọn để điều tra nằm ở vùng Đồng bằng sông Hồng, nơi tập trung gần 50% số lượng làng  
nghề gỗ trong cả nước. Sản phẩm tạo ra bởi các làng nghề này rất đa dạng và phong phú. Một số làng nghề như Đồng  
Kỵ, Vạn Điểm và La Xuyên sản xuất các sản phẩm như bàn, ghế, giường tủ với mẫu mã giả cổ, được làm từ các loại gỗ  
tự nhiên, thông thường thuộc các nhóm gỗ quý như trắc, hương, cẩm lai… có giá rất cao phục vụ nhóm người tiêu  
dùng chuộng các sản phẩm có nguồn gốc từ gỗ thiên nhiên, hoặc xuất khẩu sang thị trường trong nước. Một số làng  
nghề khác như Hữu Bằng và Liên Hà lại sản xuất chủ yếu các sản phẩm tân thời, có nguồn gốc từ gỗ có giá trị thấp  
hơn, bao gồm cả gỗ rừng trồng và vườn nhà như keo, xoan đào và các loại gỗ ép.  
Các làng nghề nơi tiến hành nghiên cứu đều được hình thành và phát triển từ rất nhiều năm trước. Tại các làng này  
có trên 30% số hộ tham gia sản xuất sản phẩm gỗ. Cả 5 làng nghề được khảo sát đều được công nhận là làng nghề  
trong hệ thống làng nghề của Việt Nam. Bảng 1 mô tả các đặc điểm chính của 5 làng nghề nghiên cứu.  
2
 
Bảng 1. Khái quát về các làng nghề được khảo sát  
TT Tên làng nghề  
Sốcơ  
sởkhảo  
sát  
Nguồn nguyên liệu chủ yếu  
Sản phẩm chủyếu  
Thị  
trường  
chính  
Nhập khẩu  
Nội địa  
1
2
Đồng Kỵ(TừSơn -  
Bắc Ninh)  
31  
Hương, gụ,  
trắc, mun  
Không sử dụng  
Sản phẩm mỹnghệ  
truyền thống: bàn ghế,  
tủ, sập, đồ thờ  
Nội địa,  
Trung  
Quốc  
Vạn Điểm (Thường  
Tín, Hà Nội)  
30  
Hương, gụ,  
trắc, mun  
Không  
Sản phẩm mỹnghệ  
truyền thống: bàn ghế,  
tủ, sập, đồ thờ  
Nội địa  
3
4
La Xuyên (Yên Ninh, Ý  
Yên, Nam Định)  
35  
30  
Hương, gụ, mít, Không  
các loại gỗ khác  
Sản phẩm mỹnghệ  
truyền thống: bàn ghế,  
tủ, sập, đồ thờ  
Nội địa  
Nội địa  
Hữu Bằng (Thạch Thất  
- Hà Nội)  
Xoan đào, sồi  
Châu Âu, sồi  
Mỹ  
Keo, xoan ta,  
bạch đàn, ván  
công nghiệp  
Sản phẩm thông dụng  
kiểu dáng tân thời: Bàn  
ghế phòng ăn, phòng  
họp, giường, tủ, kệ ti  
vi...  
5
Liên Hà (Đan Phượng -  
Hà Nội)  
30  
Xoan đào, sồi,  
sấu, muồng  
Keo, ván công  
nghiệp  
Sản phẩm thông dụng  
kiểu dáng tân thời:  
giường, tủ quần áo, kệ  
ti vi, bàn phần  
Nội địa  
Tổng cộng  
156  
Trong khuôn khổ của báo cáo này, làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, làng hoặc các điểm dân cư  
tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều sản  
phẩm khác nhau. Tiêu chí này được quy định trong thông tư TT 116/2006/TT-BNN ban hành năm 2006 của Bộ NN và  
PTNT.  
3. Tổng quan về làng nghề  
Đến năm 2010 cả nước có trên 300 làng nghề gỗ, dự kiến đến năm 2015 sẽ phát triển trên 350 làng nghề (HRPC,  
2009). Chủ yếu các làng nghề tập trung ở vùng Đồng bằng Sông Hồng. Bảng 2 mô tả phân bố của các làng nghề.  
So sánh với các làng nghề khác, làng nghề gỗ có vai trò rất quan trọng về kinh tế. Con số điều tra của Trung tâm  
Nghiên cứu và Hỗ trợ Phát triển các Làng nghề Thủ công truyền thống Việt Nam (HRPC) năm 2009 cho thấy, mặc dù  
số lượng làng nghề gỗ chỉ chiếm dưới 10% trong tổng số làng nghề của cả nước, giá trị sản xuất và tổng doanh thu của  
các làng nghề gỗ chiếm tới 50% tổng giá trị của 6 nhóm làng nghề được điều tra.1 Nhiều làng nghề gỗ có sản phẩm  
xuất khẩu. Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu của các làng nghề gỗ và lâm sản ngoài gỗ đạt 200 triệu USD, tương đương  
với 25% tổng số kim ngạch của tất cả làng nghề Việt Nam (HRPC, 2009).  
Hiện các làng nghề gỗ cung cấp tới trên 80% đồ gỗ nội thất và đồ gỗ xây dựng cho thị trường nội địa. Với lượng lao  
động rồi dào (trên 300.000 lao động), làng nghề gỗ đã tạo công ăn việc làm cho rất nhiều lao động địa phương.  
1 6 nhóm làng nghềđiều tra gồm: làng nghềgỗmỹ nghệ, làng nghềsơn mài, làng nghề mây tre đan, làng nghề dệt lụa, làng nghềcói và làng nghềlục  
bình.  
3
   
Bảng 2: Phân bố các làng nghề chế biến gỗ năm 2009  
Vùng phân bố  
Tổng làng nghềgỗ  
Đồng Bằng Sông Hồng  
Đông Bắc  
130  
40  
Tây Bắc  
18  
Bắc Trung Bộ  
40  
Nam Trung Bộ  
Tây Nguyên  
18  
20  
Đông Nam Bộ  
14  
Đồng Bằng Sông Cửu Long  
22  
Tổng  
302  
Nguồn: HRPC, 2009  
3.1. Tình hình sử dụng nguyên liệu của làng nghề chế biến gỗ  
Làng nghề gỗ sử dụng nhiều sản phẩm gỗ đầu vào khác nhau, bao gồm gỗ tròn, gỗ xẻ, các loại ván nhân tạo. Các loại  
gỗ nguyên liệu này được cung cấp từ nguồn trong nước và nhập khẩu.  
Đối với nguồn gỗ nhập khẩu, các làng nghề gỗ ở phía Bắc sử dụng chủng loại gỗ đầu vào khác với các làng nghề ở phía  
Nam. Trong khi các làng nghề phía Bắc sử dụng chủ yếu gỗ nhập khẩu có nguồn gốc từ rừng tự nhiên, thuộc nhóm gỗ  
quý, đặc biệt là từ các nước Đông Nam Á, một số loại gỗ từ Châu Phi thì các làng nghề phía Nam sử dụng nhiều hơn  
các loại gỗ có nguồn gốc từ rừng trồng, một số loại gỗ nhân tạo như ván ép, hoặc gỗ từ rừng tự nhiên như không  
thuộc nhóm gỗ quý.  
Nhiều làng nghề gỗ hiện nay sử dụng nguồn gỗ có nguồn gốc từ trong nước, bao gồm cả gỗ từ rừng tự nhiên và rừng  
trồng. Ngoài ra, các làng này còn sử dụng gỗ vườn nhà và ván nhân tạo. Hiện nay, hàng năm Chính phủ vẫn cho phép  
khai thác gỗ từ rừng tự nhiên, với lượng khai thác khoảng 150.000 – 200.000 m3/năm, chủ yếu tập trung tại các tỉnh  
Tây Nguyên2 (Nguyễn Quang Dương, 2012). Hầu hết lượng gỗ này được đưa vào lưu thông tại thị trường nội địa,  
trong đó một lượng lớn qua khâu chế biến các làng nghề trước khi đưa vào lưu thông. Bên cạnh đó, lượng gỗ khai  
thác từ diện tích rừng chuyển đổi (ví dụ từ rừng nghèo kiệt sang cao su, từ rừng sang các công trình cơ sở hạ tầng) tuy  
không có con số thống kê chính thức như theo ước tính là không nhỏ và các làng nghề cũng có vai trò quan trọng  
trong việc đưa khối lượng gỗ khai thác vào thị trường. Ngoài ra, nguồn gỗ trong nước còn có nguồn gốc từ gỗ đấu  
thầu từ nguồn gỗ do các cơ quan nhà nước tịch thu của các đối tượng khai thác, lưu thông trái phép. Theo con số  
thống kê của cơ quan kiểm lâm, hàng năm có hàng chục ngàn m3 gỗ khai thác lậu tại các cánh rừng tự nhiên bị các cơ  
quan chức năng tịch thu3. Trên thực tế, lượng khai thác thực lậu thực tế chắc chắn còn lớn hơn nhiều con số này, và  
nhiều người cho rằng một số lượng gỗ này đã đi vào trong làng nghề.  
Diện tích rừng trồng của Việt Nam liên tục được mở rộng trong những năm gần đây, với diện tích khoảng 150.000 ha  
mỗi năm4. Hàng năm lượng gỗ khai thác từ rừng trồng rất lớn, khoảng 4-5 triệu m3 gỗ quy tròn5. Làng nghề cũng sử  
2Báo cáo hội nghịthường niên FSSP – Nguyễn Quang Dương, tháng 3, 2012  
4 Báo cáo Tổng kết Chương trình 661, BộNN và PTNT, 2011  
5 Báo cáo xác định các bên liên quan FLEGT, Nhóm tác giảTô Xuân Phúc, Nguyễn Tôn Quyền, 2011; Báo cáo Nghiên cứu những sáng kiến, kinh  
nghiệm của Việt Nam vềviệc tăng cường phát triển sản xuất và thương mại gỗbền vững hơn, Nhóm tác giảNguyễn Tôn Quyền, Trần Hữu Nghị,  
2011  
4
         
dụng một số lượng gỗ khai thác này. Gỗ rừng trồng gồm các loại gỗ Bạch Đàn, Keo, Bồ Đề, Mỡ, Thông. Các sản phẩm  
được sử dụng bởi làng nghề bao gồm các loại gỗ tròn có đường kính trên 15cm hoặc gỗ đã xẻ phôi.  
Một số làng nghề sử dụng ván nhân tạo có nguồn gốc nhập khẩu hoặc sản xuất trong nước. Ước tính, lượng sử dụng  
nguyên liệu cho tất cả các làng nghề gỗ trong cả nước khoảng trên 3500.000-400.000 m3 /năm, chiếm khoảng 35-  
40% tổng lượng gỗ tiêu thụ tại thị trường nội địa (khoảng 1 triệu m3/năm).  
Bên cạnh các làng nghề gỗ, các cụm công nghiệp chế biến gỗ khu vực nông thôn, nơi chưa hình thành các làng nghề  
hàng năm sử dụng khoảng 400.000 m3 gỗ quy tròn. Ngoài ra, hiện cả nước có khoảng 20.000 hộ gia đình sản xuất nhỏ  
lẻ tham gia và chế biến gỗ, với lượng nguyên liệu sử dụng hàng năm khoảng 200.000 m3.  
3.2. Sản phẩm của làng nghề và thị trường  
Trong thập kỷ gần đây Việt Nam đã có bước tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, và điều này cũng làm gia tăng nhu cầu sử  
dụng gỗ của người dân6. Theo thống kê sơ bộ của Hiệp hội gỗ và Lâm sản Việt nam, nhu cầu mua sắm đồ gỗ trong hộ  
gia đình là tương đối lớn, với lượng ước tính bình quân khoảng 6 triệu đồng/hộ (trao đổi với ông Nguyễn Tôn Quyền,  
Chủ tich Hiệp hội, 2012). Nhu cầu đồ gỗ cho các khách sạn, văn phòng cho thuê và các khu đô thị mới cũng có xu  
hướng tăng nhanh. Điều này lý giải sự phát triển của các cơ sở sản xuất đồ gỗ cũng như các làng nghề chế biến gỗ  
nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước về gỗ và các sản phẩm gỗ.  
Hiện nay các cơ sở sản xuất đồ gỗ của Việt Nam trong đó có các làng nghề đang cung cấp cho thị trường nhiều mặt  
hàng với nhiều kiểu dáng và chất lượng khác nhau. Tuy nhiên cho đến nay phần lớn sản phẩm được sản xuất phục vụ  
nhu cầu tiêu dùng trong nước của các cơ sở sản xuất nhỏ, bao gồm cả các làng nghề, đều chưa có sự kiểm định về  
chất lượng và tính hợp pháp của nguồn gỗ đầu vào. Nói cách khác, thị trường nội địa đối với các sản phẩm gỗ hiện  
vẫn hầu như chưa được kiểm soát.  
3.3. Kênh thị trường đầu ra của các làng nghề gỗ  
Các làng nghề gỗ tiêu thụ sản phẩm qua 2 kênh chủ yếu – kênh bán buôn và kênh bán lẻ  
•
Kênh bán buôn. Hầu hết các làng nghề đều có các cơ sở chuyên về thương mại. Các cơ sở này mua gom các  
sản phẩm được sản xuất từ các cơ sở sản xuất và sau đó đưa các sản phẩm này vào lưu thông trong thị  
trường (trong nước và xuất khẩu) thông qua các kênh bán hàng do mình thiết lập. Các kênh này có thể trực  
tiếp là các cửa hàng tại các thành phố, hoặc có thể thông qua kênh thương mại lớn hơn. Tại tất cả các làng  
nghề nghiên cứu đều thấy các mô hình này.  
•
Kênh bán lẻ. Đây là hình thức tiêu thụ tương đối phổ biến tại một số làng nghề. Với nguồn vốn hạn chế,  
nhiều hộ chỉ có thể đầu tư vào một số lượng hạn chế sản phẩm. Sản phẩm sau khi được hoàn thành có thể  
được bán trực tiếp tại hộ cho những người khách vãng lai hoặc những người khách hàng nhỏ lẻ trực tiếp đặt  
hàng với hộ gia đình. Thông thường các sản phẩm được bán theo hình thức này là các sản phẩm có giá trị thị  
trường cao, với sản phẩm được làm từ các loại gỗ quý và người mua lẻ kỹ tính thường kiểm tra sản phẩm để  
đảm bảo sản phẩm đúng chất lượng và mẫu mã. Một số hộ sản xuất có vị trí không thuận lợi cho việc bán  
hàn trực tiếp thì đem sản phẩm của mình đi kí gửi tại các cửa hàng chuyên làm thương mại. Khi sản phẩm  
được bán, các hộ sản xuất phải trả một khoản phí bán hàng cho các cửa hàng ký gửi. Mô hình bán hành này  
thấy trong các làng nghề như Đồng Kỵ, Vạn Điểm.  
3.4. Quản lý nhà nước đối với làng nghề gỗ  
Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về việc phát triển ngành nghề nông thôn quy định Bộ  
NN và PTNT mà trực tiếp là Cục Chế biến, Thương mại Nông lâm thủy sản và Nghề muối thống nhất quản lý nhà nước  
đối với làng nghề nói chung và làng nghề chế biến gỗ nói riêng. Cục này có nhiệm vụ xây dựng các văn bản quy phạm  
pháp luật về phát triển làng nghề, hướng dẫn, chỉ đạo việc thực hiện cơ chế chính sách của Nhà nước trong bảo tồn  
6 Hoàng Cầm, 2011; McElwee, 2004; Tô Xuân Phúc và Thomas Sikor, 2011  
5
       
và phát triển làng nghề, cũng như các cơ chế, chính sách phát triển chế biến gỗ. Bên cạnh đó, Cục cũng làm nhiệm vụ  
xúc tiến thương mại sản phẩm chế biến ở làng nghề trong khu vực nông thôn.  
Việc theo dõi, đánh giá và quản lý nguyên liệu gỗ dùng trong chế biến gỗ ở cả khu vực làng nghề lẫn trong chế biến  
công nghiệp thuộc trách nhiệm của Tổng cục lâm nghiệp, trực thuộc Bộ NN và PTNT.  
Bộ Công Thương là cơ quan quản lý nhà nước về thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ chế biến nói chung và sản phẩm  
của các làng nghề chế biến gỗ nói riêng. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước về đào tạo  
nghề, xây dựng và thực hiện các chính sách về nghệ nhân của các làng nghề.  
Hiện tại hầu như chưa có được sự phối hợp thống nhất giữa các cơ quan quản lý nhà nước đối với sự tồn tại và phát  
triển của các làng nghề nói chung và làng nghề chế biến gỗ nói riêng.  
Hầu hết tại các địa phương đều có các tổ chức xã hội nghề nghiệp, với chức năng chính là cầu nối thông tin giữa các  
cơ sở sản xuất và các cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên, hầu hết các cơ sở sản xuất, đặc biệt là các cơ sở quy mô  
hộ gia đình đều không trực thuộc các tổ chức này, với 2 lý do. Thứ nhất, hoạt động thực tế của các tổ chức này còn  
hết sức hạn chế, và chưa được cập nhật cho các cơ sở. Thứ 2, một số cơ sở cũng chưa thấy được vai trò của các tổ  
chức này trong việc giúp các cơ sở đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh.  
Cho đến nay tại các địa phương hầu như chưa có sự thống nhất về quản lý nhà nước đối với khu vực làng nghề nói  
chung và làng nghề gỗ nói riêng. Hiện tại có đến 2/3 số tỉnh, thành trong cả nước giao việc quản lý nhà nước về làng  
nghề cho Sở NN và PTNT mà trực tiếp là các chi cục phát triển nông thôn trực thuộc Sở. Một số địa phương giao việc  
quản lý làng nghề cho Sở Công thương. Hình 2 mô tả mối quan hệ của làng nghề với các bên liên quan.  
Hình 2. Quan hệ của làng nghề gỗ với các bên liên quan  
UBND  
Chỉ đạo thực hiện quy  
hoạch ngành nghề, chỉ  
đạo sản xuất theo  
đúng quy hoạch, cơ  
chế chính sách hỗ trợ  
Cơ sở sản  
xuất kinh  
doanh trong  
làng nghề  
Các tổ chức xã hội  
nghề nghiệp  
Các cơ quan  
quản lý Nhà nước  
Liên kết các thành viên,  
cung cấp thông tin, kết  
nối giữa cơ sở sản xuất và  
cơ quan quản lý  
Thực hiện chức năng thu  
thuế, kiểm tra, giám sát  
môi trường, tính hợp  
pháp của gỗ...  
3.5. Một số chính sách liên quan đến phát triển làng gỗ ở Việt Nam  
Làng nghề chế biến gỗ đóng vai trò quan trọng trong đời sống của cư dân nông thôn. Trong những năm vừa qua,  
Chính phủ đã ban hành một số cơ chế chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các làng nghề này phát triển,  
trong đó phải kể đến một số chính sách quan trọng sau:  
•
Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Chính phủ về một số chính sách phát triển ngành  
nghề nông thôn. Quyết định này quy định về chủ trương phát triển ngành nghề nông thôn, trong đó có làng  
nghề chế biến gỗ. Quyết định này đề cập đến các những ưu đãi về đất đai, và về nguyên liệu nhằm tạo điều  
kiện thuận lợi cho sự phát triển của làng nghề  
6
 
•
Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về việc phát triển ngành nghề nông thôn. Nghị  
định quy định một số chính sách về bảo tồn và phát triển làng nghề nói chung và làng nghề gỗ nói riêng.  
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định các chính sách ưu đãi về mặt bằng sản xuất, tín dụng đầu tư, xúc tiến  
thương mại, khoa học công nghệ, đào tạo nhân lực cho phát triển làng nghề.  
•
•
•
•
Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04/6/2010 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu  
tư vào nông nghiệp, nông thôn, trong đó chế biến nông, lâm thủy sản và sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ là  
những nhóm ngành nghề thuộc danh mục khuyến khích đầu tư với những ưu đãi về đất đai, thuế, đầu tư.  
Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ NN và PTNT hướng dẫn thực hiện Nghị định số 66/2006/NĐ-CP của  
Chính phủ về việc phát triển ngành nghề nông thôn. Thông tư quy định trình tự, thủ tục công nhận làng  
nghề, làng nghề truyền thống, nghề truyền thống, quy hoạch làng nghề  
Thông tư số 01/2012/TT-BNNPTNT của Bộ NN và PTNT quy định về hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra  
nguồn gố lâm sản. Theo thông tư này các làng nghề chế biến gỗ phải có trách nhiệm về hồ sơ hợp pháp đối  
với nguồn nguyên liệu của mình và chịu sự kiếm tra về tính hợp pháp này của các cơ quan có thẩm quyền.  
Đề án xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ giai đoạn 2010-2015 của Bộ NN và PTNT định hướng phát triển và  
xuất khẩu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam, trong đó có các sản phẩm được chế biến từ gỗ quý.  
Đề án định hướng phát triển cho các làng nghề trong đó có làng nghề gỗ.  
Phần bên dưới của báo cáo đi sâu mô tả thực tế tình hình sản xuất kinh doanh của 5 làng nghề nhóm nghiên cứu tiến  
hành điều tra.  
4. Thực trạng của 5 làng nghề nghiên cứu  
4.1. Một số đặc điểm chính  
Các làng nghề khảo sát được hình thành từ đã lâu (trên 50 năm). Cả 5 làng nghề điều tra đã đáp ứng được các tiêu chí  
của Bộ NN và PTNT đưa ra về làng nghề truyền thống và đã được chính quyền địa phương công nhận. Đa phần các  
làng nghề khảo sát đều có quy mô sản xuất nhỏ, chủ yếu là hộ gia đình. Thông thường, các làng nghề này đều có liên  
kết chặt chẽ với các làng khác ở xung quanh, hay còn gọi là làng nghề vệ tinh. Làng nghề vệ tinh có vai trò đảm nhận 1  
hoặc 1 số khâu nào đó trong quá trình gia công tạo sản phẩm cuối cùng cho làng nghề.  
Bảng 3: Tỷ lệ hộ tham gia sản xuất sản phẩm gỗ  
Tên làng nghề  
Sốhộ tham gia sản xuất sản  
phẩm gỗ (hộ)  
Tổng số hộtrong làng nghề  
(hộ)  
Tỷ lệ (%)  
Đồng Kỵ  
Vạn Điểm  
La Xuyên  
Hữu Bằng  
Liên Hà  
2.100  
3.500  
60  
590  
800  
600  
1.000  
3.500  
1.800  
10.400  
98  
80  
80  
72  
73  
2.800  
1.300  
7.590  
Tổng số  
Nguồn: Chính quyền xã tại điểm khảo sát  
Các làng Đồng Kỵ, Vạn Điểm, La Xuyên tập trung vào sản xuất các sản phẩm truyền thống như bàn thờ, bàn ghế, sập,  
tủ áo. Các hộ sản xuất sử dụng các loại gỗ rừng tự nhiên, thuộc nhóm gỗ quý hiếm như trắc, gụ, hương có nguồn gốc  
nhập khẩu, chủ yếu từ các nước lân cận như Lào, Cam-pu-chia và trong nước.  
7
   
La Xuyên và Hữu Bằng chuyên sản xuất các sản phẩm gỗ có kiểu dáng tân thời. Các làng này sử dụng ván nhân tạo  
hoặc kết hợp ván nhân tạo với gỗ tự nhiên, thuộc các nhóm gỗ có giá trị thấp hơn các loại gỗ sử dụng ở Đồng Kỵ, Vạn  
Điểm hoặc La Xuyên.  
Số hộ gia đình trong các làng nghề tham gia vào các hoạt động này chiếm tỉ lệ rất cao (60-100%). Bảng 3 mô tả tỉ lệ hộ  
gia tham sản xuất sản phẩm gỗ tại địa bàn nghiên cứu.  
Trong các điểm nghiên cứu thì Vạn Điểm là nơi có hầu hết các hộ tham gia sản xuất kinh doanh sản phẩm gỗ (gần  
100% số hộ). Tại Đồng kỵ, có khoảng 60% số hộ tham gia.  
Đồng Kỵ, La Xuyên, Vạn Điểm là 3 làng nghề tập trung sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ theo mẫu mã truyền thống. Mặt hàng  
chủ yếu là bàn ghế, sập, tủ áo, tủ thờ, giường và bàn phấn. Nguyên liệu của các làng nghề này chủ yếu là gỗ quý hiếm  
nhóm I, nhóm II được nhập khẩu từ Lào, Nam Phi, và châu Âu.  
Liên Hà và Hữu Bằng là nơi tập trung sản xuất các mặt hàng thông dụng có kiểu dáng hiện đại, bao gồm giường, tủ áo,  
bàn phấn, kệ ti vi, bàn ghế văn phòng, bàn ăn. Các làng này sử dụng rất nhiều gỗ tự nhiên, tuy nhiên thông thường  
không phải là các loại gỗ quý. Các loại gỗ được sử dụng bao gồm xoan đào, gội, lát và các loại gỗ tạp khác. Nguồn gỗ  
này có nguồn gốc từ trong nước; một số được nhập khẩu từ Lào, Châu Phi hoặc châu Âu. Ngoài ra, Liên Hà và Hữu  
Bằng cũng thường sử dụng gỗ tự nhiên kết hợp với gỗ rừng trồng và ván nhân tạo với lượng tương đối lớn.  
Trong tất cả các làng nghề đều tồn tại 3 hình thức sản xuất, bao gồm Công ty, hợp tác xã (HTX) và hộ gia đình. Tuy  
nhiên, về số lượng hình thức hộ gia đình vẫn là hình thức chủ đạo trong các làng nghề khảo sát, chiếm tới trên 90%  
trong tổng cơ sở sản xuất. Về đặc điểm sản xuất giữa các mô hình này không có gì khác nhau nhiều. Thông thường tại  
mỗi làng nghề, Các công ty, HTX và hộ gia đình thường sử dụng cùng chủng loại nguyên liệu gỗ, hình thức tổ chức sản  
xuất tương đồng nhau, và tạo ra các sản phẩm tương đối giống nhau, và có thể có cùng kênh tiêu thụ sản phẩm do  
mình làm ra.  
Công ty và hợp tác xã có tư cách pháp nhân và được sử dụng con dấu hợp pháp do Nhà nước cấp. Khi thực hiện  
các giao dịch thương mại (mua, bán hàng) các cơ này này có thể xuất hóa đơn chứng từ cần thiết, đặc biệt là hóa đơn  
giá trị gia tăng, khi có yêu cầu. So với các cơ sở là hộ gia đình, điều này là một lợi thế bởi công ty và HTX có thể bán  
hàng cho người mua là các cơ quan, mua nhiều sản phẩm, và cần có hóa đơn bán hàng.  
Tuy nhiên, không phải cơ sở chế biến nào cũng có thể đăng ký thành lập công ty hay HTX. Để có thể trở thành công ty  
hay hợp tác xã, các cơ sở sản xuất phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định về trình độ quản lý. Mặt khác, thiết  
lập mô hình công ty hay HTX cần đỏi hỏi chi phí cho bộ máy tổ chức và các thủ tục pháp lý khác. Hơn nữa, chế tài  
quản lý của các cơ quan có thẩm quyền đối với công ty và HTX thường chặt chẽ hơn so với các quy định áp dụng cho  
các cơ sở sản xuất là hộ gia đình.Trong các làng nghề khảo sát, các cơ sở sản xuất ở Đồng Kỵ, La Xuyên, Vạn Điểm  
thường sản xuất ra hàng loạt sản phẩm theo đơn đặt hàng. Tuy nhiên, các sơ sở tại các làng này không trực tiếp phụ  
trách tất cả các công đoạn của quá trình sản xuất tạo sản phẩm, mà họ thường phân ra từng công đoạn khác nhau,  
sau đó họ thuê các nhóm thợ hoặc hộ gia đình ở nơi các làm gia công, phụ trách một vài công đoạn rất cụ thể (ví dụ  
làm chân ghế, làm tay ghế, chạm khắc cánh tủ…). Hình thức này thường được gọi là gia công thuê.  
Các nhóm thợ và hộ gia đình gia công thuê thường không phải là người của làng nghề mà ở các làng nằm trong bán  
kính khoảng 20-30 km từ làng nghề.  
Trước đây tại một số địa phương các công ty và HTX được ưu tiên về cơ sở hạ tầng như cấp đất sản xuất. Tuy nhiên,  
hiện nay do quỹ đất của địa phương không còn nữa do vậy các cơ sở sản xuất phải tự tìm kiếm nơi sản xuất của mình.  
Nguồn gỗ cung cấp cho làng nghề là từ cả nguồn gỗ trong nước (rừng trồng, rừng tự nhiên) và từ nguồn nhập khẩu.  
Tại các làng nghề, các cơ sở chế biến thường thuê lại các các cơ sở vệ tinh lân cận để đảm nhận những công đoạn  
nhất định trong quá trình chế biến. Sản phẩm cuối cùng được sản xuất bởi các làng nghề được tiêu thụ qua bán buôn  
hoặc bán lẻ.  
8
Hình 3. Luồng gỗ lưu thông trong các làng nghề  
Gỗnội địa  
Gỗnhập  
Muaqua  
trunggian  
Rừngtrồng, ván  
nhân tạo  
Nhập trực  
tiếp  
Gỗrừng tự  
nhiên  
Cơsởchế biến  
Cơsởvệ tinh  
Tiêu thụ nội  
địa  
Xuấtkhẩu  
Bán lẻ  
Bán buôn  
Bán lẻ  
Bán buôn  
4.2. Nguyên liệu cho các làng nghề gỗ  
Bảng 4. Lượng nguyên liệu gỗ sử dụng tại các làng nghề khảo sát  
2009  
2010  
2011  
Năm  
m3/cơ sở  
m3/cơ sở  
m3/cơ sở  
Tên làng nghề  
Công ty  
Đồng Kỵ  
150  
1.300  
110  
200  
1.350  
158  
182  
1.350  
160  
Vạn Điểm  
La Xuyên  
Liên Hà  
2.500  
6.500  
2.112  
2.500  
9.000  
2.642  
2.500  
7.000  
2.238  
Hữu Bằng  
Trung Bình  
Hộgia đình  
Đồng Kỵ  
67  
321  
31  
64  
284  
38  
57  
227  
36  
Vạn Điểm  
La Xuyên  
Liên Hà  
538  
336  
258  
577  
364  
265  
623  
385  
316  
Hữu Bằng  
Trung Bình  
9
 
Các làng nghề được khảo sát sử dụng nguồn nguyên liệu khác nhau để sản xuất các sản phẩm của mình. Làng Đồng  
Kỵ và Vạn Điểm sử dụng chủ yếu các loại gỗ quý hiếm như hương, trắc, mun, gụ để làm ra các sản phẩm có giá trị cao,  
phục vụ thị trường nội địa và xuất khẩu (chủ yếu Trung Quốc). Các cơ sở sản xuất tại La Xuyên sử dụng cả các loại gỗ  
quý hiếm như hương, gụ lại và các loại gỗ tự nhiên thông thường khác, chủ yếu để phục vụ tiêu thụ nội địa. Liên Hà  
và Hữu Bằng là các làng nghề chỉ sử dụng các loại gỗ rừng tự nhiên thông thường và các loại gỗ nhân tạo, với các sản  
phẩm tạo ra phục vụ tiêu dùng trong nước. Lượng gỗ sử dụng tại các làng nghề Liên Hà và Hữu Bằng nhiều hơn rất  
nhiều so với các làng nghề còn lại. Bảng 4 thể hiện lượng gỗ trung bình hàng năm của các làng nghề khảo sát trong vài  
năm gần đây.  
Tính bình quân, hàng năm mỗi công ty sử dụng khoảng trên 2000m3 gỗ nguyên liệu, lớn gấp khoảng 5-6 lần lượng  
nguyên liệu gỗ sử dụng của các hộ (hình 4). Các công ty tại Đồng Kỵ và La Xuyên sử dụng lượng nguyên liệu ít hơn rất  
nhiều so với các công ty tại Hữu Bằng và Liên Hà. Tương tự như vậy các hộ gia tại Liên Hà và Hữu Bằng sử dụng lượng  
nguyên liệu nhiều hơn rất nhiều so với các hộ tại Đồng Kỵ và và La Xuyên. Bình quân, mỗi hộ tại Đồng Kỵ và La Xuyên  
tiêu thụ dưới 100 m3 gỗ/năm, tuy nhiên lượng gỗ các hộ tại Hữu Bằng và Liên Hà có thể lên tới 300-500m3/năm. Tuy  
nhiên, con số chênh lệch về lượng gỗ sử dụng của các cơ sở sản xuất tại các làng nghề không nhất thiết phản ánh sự  
chênh lệch về doanh thu và lợi nhuận tại giữa các làng khảo sát, bởi các làng nghề sử dụng nguyên liệu ít về số lượng  
nhưng lại sử dụng nguồn nguyên liệu gỗ đầu vào có giá rất cao. Bên cạnh đó, các làng nghề này cũng tạo ra các sản  
phẩm có giá trị ra tăng rất cao, và lợi nhuận trên 1 đơn vị sản phẩm rất lớn.  
Hình 4. Biến động nguyên liệu gỗ sử dụng trong các cơ sở chế biến gỗ được điều tra  
3,000  
2,500  
2,000  
1,500  
Công ty  
1,000  
Hộ gia đình  
500  
0
2009  
2010  
2011  
Năm  
Tỷ lệ các loại gỗ được sử dụng năm 2011 tại hộ gia đình được thể hiện ở các Hình 5-9 (Số liệu chi tiết về gỗ nguyên  
liệu sử dụng cho các làng nghề được nêu tại phụ lục 2).  
10  
Hình 5. Tỉ lệ các loại gỗ được sử dụng tại  
Đồng Kỵ  
Hình 6. Tỉ lệ các loại gỗ được sử dụng tại Vạn  
Điểm  
Gụ  
Hương  
Trắc  
Các loại gỗ khác  
Gụ  
Hương  
Các loại gỗ khác  
12% 12%  
38%  
51%  
27%  
49%  
11%  
Hình 7. Tỉ lệ các loại gỗ được sử dụng tại La Xuyên  
Gụ  
Hương  
Trắc  
Các loại gỗ khác  
1%  
5%  
16%  
78%  
Hình 8. Tỉ lệ các loại gỗ được sử dụng tại Liên Hà Hình 9. Tỉ lệ các loại gỗ sử dụng tại Hữu Bằng  
Xoan đào  
Xoan đào  
Keo  
Các loại gỗ khác  
Ván công nghiệp  
Các loại gỗ khác  
13%  
Keo  
35%  
48%  
27%  
64%  
12%  
1%  
Các cơ sở sản xuất ở Vạn Điểm và Đồng Kỵ có khối lượng gỗ nguyên liệu sử dụng hàng năm ít biến động nhất trong số  
các địa bàn khảo sát.  
Tất cả các công ty ở La Xuyên, Hữn Bằng và Đồng Kỳ sử dụng gỗ nguyên liệu có nguồn gốc nhập khẩu. Các công ty tại  
Liên Hà chỉ sử dụng 50% lượng gỗ nhập khẩu; phần còn lại (50%) có nguồn gốc từ trong nước.  
11  
Đối với các cơ sở quy mô hộ gia đình, các hộ gia đình ở Hữu Bằng hàng năm sử dụng một lượng gỗ nguyên liệu rất  
lớn, nhưng chủ yếu là gỗ có nguồn gốc trong nước (trên 80% tổng lượng gỗ). Phần còn lại (dưới 20%) có nguồn gốc từ  
nhập khẩu. Tại 4 làng nghề còn lại, hầu hết các hộ gia đình khảo sát đều sử dụng gỗ nhập khẩu, với lượng gỗ nhập  
khẩu chiếm 90-100% tổng lượng gỗ hộ sử dụng hàng năm. Gỗ nhập khẩu có nguồn gốc từ Lào, Nga, Nam Phi.  
Đa số các hộ tại làng nghề đều mua gỗ thông qua hệ thống thương lái, những người chuyên buôn gỗ. Hình thức mua  
bán trao tay – hộ lấy gỗ và trả tiền – là hình thức phổ biến. Đôi khi, các thương lái có mối quan hệ thân thiết với các  
hộ, và hộ đồng ý cho các hộ mua gỗ chậm trả tiền trong một khoảng thời gian nhất định. Khi mua gỗ, hầu hết các hộ  
không quan tấm đến tính hợp pháp của gỗ, mà họ chỉ quan tâm đến giá gỗ và chất lượng gỗ. Thông thường các hộ  
không yêu cầu người bán gỗ cung cấp hoá đơn bán hàng và chứng từ về nguồn gốc gỗ, bởi việc yêu cầu hóa đơn bán  
hàng đồng nghĩa với việc hộ phải trả thêm 10% thuế giá trị gia tăng, và điều này sẽ làm tăng giá thành sản phẩm, giảm  
tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Bên cạnh đó, các hộ cũng không quan tâm đến việc liệu gỗ mình mua  
có phải là gỗ hợp pháp hay không, và các bằng chứng đảm bảo tính hợp pháp của gỗ.  
Các hộ được điều tra cho rằng nếu nhà nước thắt chặt quản lý nguồn gốc gỗ, hộ cũng có thể yêu cầu người bán gỗ  
xuất hoá đơn và các bằng chứng về nguồn gốc gỗ. Tuy nhiên, hộ cũng bày tỏ yêu cầu rằng để các hộ làm điều này thì  
việc thực thi pháp luật phải được thực hiện một cách công bằng và bình đẳng giữa các cơ sở sản xuất, tránh tình trạng  
có hộ phải thực hiện, có hộ bằng cách này hoặc cách khác lại không thực hiện, và điều này tạo ra sự không bình đẳng  
trong sân chơi.  
Các công ty chế biến gỗ với lượng gỗ mua lớn thường có quan hệ rất chặt chẽ với các đối tác nhập khẩu gỗ. Một số  
công ty trực tiếp tham gia nhập khẩu nguyên liệu cho mình, nên có khả năng để hoàn thành hồ sơ đối với gỗ nhập  
khẩu. Cũng giống như hộ gia đình, các công ty thường quan tâm đến giá gỗ nguyên liệu và chất lượng chứ chưa trú  
trọng vào vấn đề tính hợp pháp của gỗ, mặc dù các công ty được khảo sát đều cho rằng họ nắm được một số quy  
định của Nhà nước liên quan đến tính hợp pháp của gỗ.  
Việc chưa quan tâm đến tính hợp pháp của gỗ đầu vào, cộng với việc thiếu thông tin về các quy định của Nhà nước có  
liên quan (ví dụ Thông tư 01 của Bộ NN và PTNT quy định về quản lý nguồn gốc hồ sơ lâm sản), và cơ chế thực thi luật  
tại rất yếu tại cấp địa phương (xem hộp 1) tạo ra thực tế là vấn đề tính hợp pháp của gỗ tại các làng nghề hiện nay  
chưa được quan tâm.  
Hộp 1. Thực trạng về tính hợp pháp của gỗ tại làng nghề Vạn Điểm  
Gỗ hợp pháp? Chẳng ai hỏi chúng tôi về điều này. Chưa có người mua nào hỏi chúng tôi là gỗ có hợp  
pháp hay không (cười). Họ [người mua] chỉ quan tâm đến sản phẩm là gỗ gì, giá bao nhiêu, màu sắc và  
vân có đẹp hay không… Họ [người mua] chẳng quan tâm, thành ra chúng tôi cũng chẳng quan tâm khi  
mua gỗ từ các chủ gỗ …Yêu cầu người bán gỗ cung cấp hóa đơn bán hàng cho chúng tôi? Được ngay,  
nhưng ai sẽ trả 10% thuế [VAT] cho chúng tôi? (phỏng vấn một chủ hộ tại Vạn Điểm)  
Tại La Xuyên, Đồng Kỵ và Hữu Bằng hầu hết các cơ sở điều tra, bao gồm cả hộ và công ty cho biết không có khả năng  
đáp ứng được các yêu cầu hiện hành của nhà nước về quản lý gỗ. Riêng ở Hữu Bằng, các hộ cho biết mặc dù sẽ có  
khó khăn nếu nhà nước thắt chặt quản lý gỗ nguyên liệu nhưng các hộ cho rằng bởi hộ chỉ sử dụng gỗ thông thường,  
các loại ván nhân tạo, gỗ có nguồn gốc từ rừng trong – đây là các sản phẩm có nguồn cung khá dồi dào cho nên các  
quy định nghiêm ngặt của nhà nước về tính hợp pháp của gỗ sẽ không có ảnh hưởng quá nhiều đến sản xuất kinh  
doanh của hộ.  
Trong quá trình điều tra, các cơ sở sản xuất bày tỏ quan ngại về việc giá gỗ nguyên liệu có thể tăng khi nhà nước ban  
hành và thực hiện các quy định về quản lý nguồn gốc gỗ thắt chặt hơn, và điều này có thể làm lợi nhuận, từ đó kìm  
hãm sự phát triển của làng nghề trong tương lai.  
12  
Kết quả điều tra cho thấy chỉ có làng nghề Đồng Kỵ là có sản phẩm tiêu thụ ở thị trường Trung Quốc, các làng nghề  
còn lại chủ yếu cung cấp cho thị trường nội địa. Không có sản phẩm nào xuất khẩu trực tiếp sang thị trường EU hoặc  
Mỹ.  
4.3. Sản phẩm và thị trường tiêu thụ của làng nghề.  
Các công ty sản xuất đồ gỗ truyền thống cao cấp ở Đồng Kỵ, La Xuyên và một số ở Vạn Điểm sản xuất các sản phẩm  
như bàn ghế, tủ áo, giường, sập, đồ thờ. Hầu hết các sản phẩm này được làm từ các nhóm gỗ quý, thuộc nhóm I và II,  
có nguồn gốc nhập khẩu. Trong số các làng này chỉ có Đồng Kỵ có sản phẩm xuất khẩu sang Trung Quốc, với lượng  
xuất khẩu chiếm khoảng 60% tổng lượng sản phẩm sản xuất ra. Các thương nhân Trung Quốc trực tiếp sang Đồng Kỳ  
để mua gom sản phẩm ngay tại làng nghề. Trắc là mặt hàng gỗ được các thương nhân Trung Quốc ưa chuộng. Ngoài  
ra, có một số khách hàng là người Việt sống ở Thái Lan, nhưng số lượng khách hàng này không nhiều và không  
thường xuyên.  
Các cơ sở tại Liên Hà và Hữu Bằng sản xuất các mặt hàng phổ thông hơn với chất lượng bình dân. Tại Liên Hà, các sản  
phẩm phổ biến bao gồm đồ dân dụng như giường, tủ áo, bàn trang điểm, kệ ti vi, hay tủ rượu. Nguyên liệu mà các cơ  
sở sử dụng là gỗ tự nhiên thông thường, không phải loại quý hiếm, hoặc các loại ván ép. Thông thường, lượng gỗ tự  
nhiên sử dụng trong mỗi sản phẩm chiếm trên 90%, phần còn lại là các loại ván dán, để sản xuất những chi tiết phụ  
trong sản phẩm.  
Tại Hữu Bằng, có khoảng 50% số hộ điều tra chỉ sử dụng các loại ván nhân tạo như MDF, ván dán có nguồn gốc trong  
nước hoặc nhập khẩu để làm sản phẩm. Phần còn lại là nguồn gỗ từ rừng tự nhiên, rừng trồng trong nước và nhập  
khẩu. Các cơ sở sản xuất tại đây thường tập trung sản xuất các sản phẩm như bàn ghế ăn, ghế văn phòng và bàn ghế  
hội trường.  
Mỗi sản phẩm cuối cùng có thể được tạo ra bởi các loại gỗ khác nhau, có nguồn gốc khác nhau, điều này làm cho việc  
xác định nguồn gốc và tính hợp pháp của gỗ nguyên liệu tạo ra sản phẩm là rất khó khăn.  
Chủ yếu các sản phẩm tạo ra bởi làng nghề được tiêu thụ tại thị trường nội địa, trong đó tập trung nhiều ở thị trường  
phía Bắc. Một số sản phẩm, thông thường là các sản phẩm có giá trị cao được đưa vào các tỉnh phía Nam như Quảng  
Trị, Đà Nẵng, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh để tiêu thụ. Tuy nhiên, lượng tiêu thụ tại các địa bàn này không  
nhiều.  
Tại Đồng Kỵ, nơi có các sản phẩm được bán sang thị trường Trung Quốc, việc xuất khẩu các sản phẩm sang Trung  
Quốc được thực hiện theo ba hình thức:  
•
•
Xuất khẩu trực tiếp cho các công ty của Trung Quốc  
Thông qua hệ thống cửa hàng bán lẻ tại vùng biên giới (trong các cơ sở được khảo sát, có 1 cơ sở có cửa  
hàng bán sản phẩm tại Pò Chài, là thị trấn của Trung Quốc, đối diện tỉnh Lạng Sơn  
•
Bán cho thương nhân Trung Quốc ngay tại làng nghề.  
Hạn chế của hình thức sản xuất của hộ là các hộ thường không có hóa đơn bán hàng.  
4.4. Doanh thu của làng nghề  
Doanh thu của các cơ sở sản xuất trong làng nghề gỗ tăng lên trong 3 năm gần đây, mặc dù tốc độ tăng đang có xu  
hướng chững lại. Bảng 5 thể hiện doanh thu của các cơ sở sản xuất được điều tra trong các làng nghề.  
Doanh thu bình quân của công ty không khác nhiều với doanh thu của hộ gia đình. Tính bình quân, doanh thu của mỗi  
công ty khoảng trên 6 tỉ đồng, so với khoảng 3 tỉ đồng của mỗi hộ gia đình. Trong số các làng nghề điều tra, doanh thu  
của công ty tại Vạn Điểm là cao nhất, trong khi doanh thu của công ty tại Hữu Bằng là thấp nhất. Điều này là do các  
công ty tại Vạn Điểm thường nhập một số lượng gỗ đầu vào và sản xuất ra nhiều sản phẩm có giá trị trường cao,  
lượng sản phẩm bán nhiều. Ngược lại, các công ty tại Hữu Bằng có các sản phẩm có giá thị trường thấp hơn nhiều.  
13  
   
Doanh thu của các làng nghề gỗ là khá cao so với doanh thu từ các làng nghề khác.  
Bảng 5. Doanh thu của các cơ sở sản xuất được điều tra  
Năm  
2009  
2010  
2011  
Tên làng nghề  
Công ty  
Tỷđồng/cơ sở  
Tỷđồng/cơ sở  
Tỷđồng/cơ sở  
Đồng Kỵ  
11.3  
20.0  
3.5  
11.0  
20.0  
7.4  
11.0  
20.0  
6.7  
Vạn Điểm  
La Xuyên  
Liên Hà  
7.0  
8.0  
7.0  
Hữu Bằng  
Trung Bình  
Hộgia đình  
Đồng Kỵ  
Vạn Điểm  
La Xuyên  
Liên Hà  
3.0  
4.0  
5.5  
4.5  
6.5  
6.4  
2.7  
3.8  
1.2  
4.5  
3.6  
3.1  
2.9  
4.4  
1.4  
4.7  
3.8  
3.3  
3.1  
3.6  
1.4  
5.1  
3.8  
3.4  
Hữu Bằng  
Trung Bình  
4.5. Lao động và thu nhập tại các làng nghề  
Lao động tạo ra các sản phẩm của làng nghề tại Đồng Kỳ, La Xuyên và Vạn Điểm bao gồm 2 phần: phần lao động trực  
tiếp tại các làng nghề, và phần lao động tại các làng vệ tinh. Đa phần các cơ sở sản xuất đặt hàng cho các cơ sở vệ tinh  
sản xuất, gia công sản phẩm cho mình. Các lao động trực tiếp tại làng nghề chỉ làm nhiệm vụ sơ chế hoặc lắp ráp,  
hoàn thiện sản phẩm cuối cùng trước khi đưa các sản phẩm vào lưu thông trên thị trường. Tuy nhiên do làng nghề  
Liên Hà và Hữu Bằng sản xuất đồ gỗ tân thời, sản phẩm không đòi hỏi tính phức tạp và tay nghề cao, mà chủ yếu sử  
dụng máy móc thiết bị.  
Đồng Kỵ, La Xuyên và Vạn Điểm là các làng nghề sản xuất các sản phẩm truyền thống, có giá trị gia tăng cao, được tạo  
ra bởi lao động có tay nghề cao. Người có tay nghề cao là người thợ có thể tự chế tác hầu hết các họa tiết của sản  
phẩm, có thể lắp ghép các chi tiết để thành một sản phẩm hoàn chỉnh. Lao động phổ thông là những người chỉ thực  
hiện những công việc giản đơn như cạo nhẵn, đánh giấy giáp, xẻ phôi.  
Mức lương trung bình mà người lao động nhận được dao động trong khoảng 3-8 triệu đồng/tháng/người, tùy theo  
trình độ tay nghề của người lao động. Chủ cơ sở sản xuất cũng có thể trả công cho thợ theo ngày. Thợ tay nghề cao  
có thể được trả công từ 200.000 đồng/ngày đến 400.000 đồng/ngày, trong khi mức trả cho lao động phổ thông  
thông thường từ 80.000 đồng đến 120.000 đồng/ngày. Mức lương trả cho người lao động không khác nhau giữa  
công ty và hộ gia đình. Đôi khi, người lao động làm cho các hộ gia đình còn được trả lương cao hơn mức lương của  
công ty. Bảng 6 mô tả tình hình lao động và mức lương tại các làng nghề khảo sát.  
Hầu hết chủ cơ sở sản xuất của làng nghề, bao gồm cả hộ gia đình và công ty đều không có hợp đồng lao động với  
người lao động. Lý do chính là bởi người lao động không thích ràng buộc bởi hợp đồng, bởi theo họ hợp đồng làm  
14  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 29 trang yennguyen 22280 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề tài Làng nghề gỗ trong bối cảnh thực THI FLEGT và REDD+ tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfde_tai_lang_nghe_go_trong_boi_canh_thuc_thi_flegt_va_redd_ta.pdf