Đề tài Tài nguyên đa dạng sinh học và tình hình sử dụng các vùng đất ngập nước tự nhiên của Vườn quốc gia Yok Đôn

Đại học Quốc Gia TP.HCM  
Đại học Khoa Học Tự Nhiên  
Vườn Quốc Gia Yok Đôn  
Đại học Tâ y Nguyên  
TÀI NGUYÊN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ TÌNH HÌNH SỬ  
DỤNG CÁC VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC TỰ NHIÊN CỦA VƯỜN  
QUỐC GIA YOK ĐÔN  
Tháng 12 năm 2009  
ii  
DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU  
TT  
Họ và tên  
Cơ quan  
Trách nhiệm  
Trưởng nhóm  
nghiên cứu  
1. PGS.TS. Bảo Huy  
Đại học Tây Nguyên  
2. TS. Trần Triết  
Đại học khoa học Tự nhiên Đồng  
trưởng  
Tp. HCM  
nhóm  
nghiên  
cứu  
3. TS. Võ Hùng  
Đại học Tây Nguyên  
Đại học Tây Nguyên  
Đại học Tây Nguyên  
Thành viên  
Thành viên  
Thành viên  
4. TS. Cao Thị Lý  
5. Th.S. Nguyễn Đức Định  
6. HVCH: Phan Thị Bảo Chi  
Đại học khoa học Tự nhiên Thành viên  
Tp. HCM  
7. KS. Hoàng Trọng Khánh  
8. KS. Phạm Đoàn Phú Quốc  
9. KS. Nguyễn Công Tài Anh  
10. KS. Hồ Đình Bảo  
Đại học Tây Nguyên  
Đại học Tây Nguyên  
Đại học Tây Nguyên  
Đại học Tây Nguyên  
Đại học Tây Nguyên  
Thành viên  
Thành viên  
Thành viên  
Thành viên  
Thành viên  
11. KS. Trịnh Ngọc Trọng  
12. HVCH: Mạch Nguyễn Đan Trường  
Đại học Khoa học Tự Thành viên  
nhiên Tp. HCM  
13. Nhóm sinh viên làm đề tài tốt nghiệp Đại học Tây Nguyên  
ngành Quản lý tài nguyên rừng môi  
trường năm 2008  
Thành viên  
14. Cộng đồng 3 buôn: Drăng Pok, Trí B Xã Krông Na, Ea Huar, Thành viên  
và N’Drêch B huyện Buôn Đôn  
iii  
iv  
MỤC LỤC  
v
DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU  
DANH SÁCH CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ  
vi  
1 ĐẶT VẤN ĐỀ  
Với diện tích 115.545 ha, Vườn quốc gia Yok Đôn (VQGYD) hiện là vườn quốc gia lớn nhất  
của Việt Nam. VQGYD bảo tồn nhiều kiểu hệ sinh thái trong đó hệ sinh thái rừng khô cây họ  
Dầu, hay còn gọi là rừng Khộp, chiếm diện tích lớn nhất. VQGYD là nơi ở của rất nhiều loài  
động, thực vật, trong đó có nhiều loài quý hiếm, nằm trong sách đỏ của Việt Nam và thế giới.  
Trong hệ sinh thái rừng khộp, có những vùng đất ngập nước nhỏ phân bổ dày đặc, có nước  
hai mùa hoặc một mùa; đây là những noi có tiểu hoàn cảnh đặc biệt có vai trò quan trọng  
trong tạo nên các nơi cư trú, cung cấp thức ăn, nước uống và phân bố của nhiều loài động  
thực vật (Habitat), đồng thời cũng là nơi cung cấp các sản phẩm trong đời sống cộng đồng  
dân tộc thiểu số bản địa trong vùng đệm.  
Tuy chiếm một diện tích nhỏ nhưng đất ngập nước là một kiểu hệ sinh thái rất đặc sắc và có  
tầm quan trọng to lớn trong VQGYD. Các kiểu hệ sinh thái đất ngập nước chính hiện diện ở  
VQGYD bao gồm: sông, suối, bàu và trảng. Các kiểu chính này có thể được chia thành nhiều  
kiểu phụ dựa trên các yếu tố thủy chế, thổ nhưỡng và thảm thực vật. Theo thống kê của  
Nguyễn Thọ (2004), VQGYD có 65,9 km sông, 1145,7 km suối, 16,81 ha bàu và 180 ha  
trảng. Nguyễn Hoài Bảo (2006) trong một khảo sát chi tiết hơn về các bàu nước đã ghi nhận  
181 bàu, trong đó có 116 bàu được đo đạc ngoài thực địa với tổng diện tích 57,5 ha. Như vậy  
tổng diện tích các bàu nước bên trong VQGYD có thể xấp xỉ 100 ha.  
Các bàu này điều có diện tích nhỏ nhưng phân bố rải rác khắp nơi trong khu vực rừng Khộp.  
Nhiều bàu hoàn toàn bị khô trong mùa khô, tuy nhiên một số bàu có diện tích lớn hơn vẫn còn  
ngập nước trong suốt mùa khô. Các bàu nước tuy có diện tích nhỏ nhưng lại đóng vai trò quan  
trọng trong hệ sinh thái rừng Khộp. Trong mùa khô khắc nghiệt của rừng Khộp, các bàu nước  
chính là nơi mà nhiều loài thú rừng có thể tìm được nước uống và thức ăn. Tháng 11/2004 các  
nhà khoa học của Trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên, Đại học Quốc Gia TPHCM đã phát  
hiện tổ sếu và sếu non tại một số bàu trong VQGYD. Đây là những bằng chứng đầu tiên về  
việc sếu đầu đỏ sinh sản tại Việt Nam.  
Các bàu nước này cũng được sử dụng bởi các cư dân sinh sống trong vùng lõi và một số buôn  
làng trong vùng đệm của VQGYD. Các hình thức sử dụng chủ yếu là đánh bắt cá, săn thú,  
chăn thả gia súc, thu hái rau xanh hay cây thuốc, trồng trọt. Phần lớn người dân ở đây là đồng  
bào các đân tộc ít người, chủ yếu là các dân tộc Mơ Nông, Ê Đê, Gia Rai và Lào (Bảo Huy  
2003). Việc sử dụng của con người có khả năng gây ra những ảnh hưởng đến các vùng đất  
ngập nước và đến các loài động thực vật đang sinh sống ở đó. Tuy vậy, hiện nay chưa có một  
công trình nào đánh giá một cách định lượng các hình thức và quy mô sử dụng các vùng đất  
ngập nước làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nhằm làm giảm thiểu tác động và chia sẻ  
trách nhiệm và lợi ích trong bảo tồn giữa cộng đồng và vườn quốc gia.  
Đề tài sẽ được thực hiện với sự hợp tác của 3 cơ quan:  
• Trung tâm Nghiên Cứu Đất Ngập Nước, Đại học Khoa Học Tự Nhiên TPHCM  
• Bộ môn Quản lý Tài Nguyên Rừng và Môi Trường, Đại Học Tây Nguyên  
• Vườn Quốc Gia Yok Đôn.  
 
Đồng chủ nhiệm đề tài:  
• TS . Trần Triết, Đại học Khoa Học Tự Nhiên TP. HCM  
• PGS. TS Bảo Huy, Đại học Tây Nguyên  
Thời gian thực hiện: 15 tháng, từ tháng 3/2008 đến tháng 6/2009.  
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU  
Đề tài có hai mục tiêu chính:  
i.  
Đánh giá được sự đa dạng sinh học và các hình thức, mức độ sử dụng các vùng đất  
ngập nước tự nhiên của VQGYD bởi cư dân sống bên trong và xung quanh vườn.  
Đề xuất các biện pháp nhằm làm giảm thiểu tác động của việc sử dụng đến đa dạng  
sinh học của các vùng đất ngập nước và hài hòa sinh kế của cộng đồng vùng đệm  
ii.  
Kết quả của đề tài này sẽ cung cấp các thông tin cần thiết cho việc thiết kế các chương trình  
đầu tư lớn hơn nhằm tăng cường việc bảo tồn tài nguyên đất ngập nước của VQGYD và cải  
thiện sinh kế của người dân địa phương hiện đang sử dụng các vùng đất ngập nước.  
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
3.1 Đối tượng nghiên cứu  
Đề tài nhắm vào các đối tượng nghiên cứu chính sau:  
-
Đất ngập nước trong vườn quốc gia Yok Đôn: Đây là các bàu, trảng ngập nước theo  
mùa hoặc cả năm, phân bố trong hệ sinh thai rừng khộp. Không nghiên cứu đất ngập  
nước là sông suối.  
-
Cộng đồng dân tộc bản địa sống phụ thuộc vào tài nguyên đất ngập nước ở vườn quốc  
gia Yok Dôn  
3.2 Phương pháp nghiên cứu  
3.2.1 Chọn vùng nghiên cứu  
Chọn thôn buôn nghiên cứu: Trong phạm vi giới hạn về thời gian cũng như nguồn lực, đề tài  
chọn 3 buôn ở vùng lõi và đệm để nghiên cứu mức độ ảnh hưởng và phụ thuộc của cộng đồng  
đến tài nguyên đất ngập nước. Ba buôn được lựa cọn ở 3 mức phụ thuộc và tác động đến bảo  
tồn: Cao, trung bình và thấp theo các tiêu chí sau:  
-
-
-
-
Là nơi cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số bản địa  
Trong đời sống có mối quan hệ chặt chẻ với tài nguyên rừng bảo tồn  
Ở 3 mức độ tác động phụ thuộc  
Có thể tiếp cận và hợp tác cùng nghiên cứu  
Kết qủa đã lựa chọn 3 buôn nghiên cứu là:  
-
-
Buôn Drăng Phok thuộc xã Krông Na, ở vũng lõi của vườn, có mức tác động và phụ  
thuộc cao vào tài nguyên bảo tồn  
Buôn Trí B thuộc xã Krông Na, ở vùng đệm, có mức tác động và phụ thuộc trung bình  
2
         
-
Buôn N’Drech B thuộc xã Ea Huar, có mức tác động ít đến bảo tồn  
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp luận/cá ch tiếp cận  
Nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng được áp dụng để phát hiện các khu vực tài nguyên  
đất ngập nước mà cộng đồng tiếp cận và các mức độ sử dụng của họ, đồng thời phát hiện kiến  
thức bản địa của cộng đồng trong sử dụng tài nguyên, trên cơ sở đó thảo luận để tìm kiếm giải  
pháp hài hòa, thay thế để quản lý bền vững hệ sinh thái đất ngập nước và bảo đảm sinh kế cho  
cộng đồng.  
Phương pháp lượng hóa trong đánh giá có sự tham gia cũng được áp dụng để có thể phân tích  
định lượng như áp dụng phương pháp cho điểm, phân hạng, phân tích kinh tế hộ và ứng dụng  
mô hình phân tích hồi quy đa biến để phát hiện các nhân tố ảnh hưởng chủ đạo đến sự phụ  
thuộc của cộng đồng đối với tài nguyên đất ngập nước.  
Phương pháp nghiên cứu cụ thể  
Hệ thống các phương pháp nghiên cứu cụ thể được thể hiện trong sơ đồ tiếp cận nghiên cứu.  
Các bảng biểu, công cụ thu thập dữ liệu hiẹn trường được ghi nhận trong phụ lục.  
3
 
Phương pháp nghiên cứu  
Chọn 3 buôn ở 3 mức tác động  
Thu thập số liệu thứ cấp  
Đánh giá có sự tham gia của cộng  
đồng về sự phụ thuộc sinh kế với đất  
ngập nước  
Điều tra hiện trường sự đa dạng sinh học  
đất ngập nước có sự tham gia của cộng  
đồng  
Thảo luận nhóm 3 buô n: 5W  
+ 1H: Vai trò đất ngập nước  
trong đời sống và bảo tồn  
Lập danh lục các loài cộng  
đồng sử dụng từ đất ngập  
Cộng đồng vẽ bản đồ các  
bàu trảng họ tiếp cận: 3 cộng  
Điều tra đa dạng sinh học  
các bàu trảng:  
nước: 3 cộng đồng  
đồng  
- Ô 10x10m: Thực vật  
- Tuyến 10x20m: Dấu  
động vật  
- Chỉ tiêu điều tra: Loài,  
công dụng, mức phong  
phú, sử dụng, thời gian,  
bộ phận, vai trò của bàu,  
..  
Ma trận về tầm quan trong và  
mức độ sử dụng tài nguyên  
đất ngấp nước: 3 cộng đồng  
Mức độ sử dụng tài nguyên  
đất ngập nước của buôn: 3  
buô n  
Phân tích kinh tế hộ của 25  
hộ/3 buô n: Thu nhập từ đất  
ngập nước của hộ  
Phân loại sản phẩm đất ngập  
nước: Thay thế và Không thể  
thay thế. Giải pháp. 3 cộng  
đồng  
- Lấy tọa độ và yếu tố  
sinh thá i, nhâ n tá c  
Mô hình đa biến: Thu nhập hộ từ ngập nước với  
các nhân tố kinh tế, tài nguyên đất ngập nước, ….  
y = f(xi)  
Bản đồ phân bố bàu  
trảng 3 buôn tiếp cận.  
Cơ sở dữ liệu  
Giải pháp thay thế, hài hòa trong quản lý,  
sử dụng đất ngập nước  
Đa dạng sinh học và mức độ sử dụng của  
cộng đồng ở đất ngập nước  
Mục tiêu nghiên cứu  
Hình 1: Sơ đồ phương pháp nghiên cứu  
Thảo luận nhó m về vai trò đất ngập  
nước ở buô n  
4
 
Sắp xếp ma trận cá c loài quan  
trọng và mức độ sử dụng sản  
phẩm đất ngập nước bởi cộng  
đồng.  
Đánh giá mức độ sử dụng sản  
phẩm đất ngập nước của buô n  
Phỏng vấn thu thập chỉ tiêu kinh tế  
hộ  
Cộng đồng vẽ bản đồ vị trí cá c  
vùng đất ngập nước  
Điều tra đa dạng sinh học ở cá c  
vùng đất ngập nước  
Thảo luận trong cộng đồng về giải  
phá p thay thế đối với sản phẩm đất  
ngập nước  
4 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI CỦA CÁC THÔN BUÔN NGHIÊN  
CỨU  
Vườn quốc gia Yok Đôn có 7 xã vùng đệm, nằm quanh Vườn, bao gồm có 53 thôn buôn. Mật  
5
 
độ dân số trung bình là 35 người/km2. Dân cư chủ yếu là người Êđê, Jarai, M’Nông, Lào,  
Kinh, Nùng, Tày, và Mường... Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trung bình trong vùng là khá cao từ  
7 - 9%.  
Đa phần các cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ sống trong các buôn nằm gần các nguồn nước  
ổn định thường là sông Serepok và các suối lớn. Trong khi đó người Kinh sống dọc theo các  
trục đường giao thông chính và thị trấn.  
Nguồn thu nhập chính của của người dân trong vùng đệm là từ lúa rẫy, lúa ruộng, trồng hoa  
màu, chăn nuôi trâu bò, thu hái lâm sản, chai cục, săn bắt động vật dã và đánh bắt cá sông.  
Thu nhập từ các loại cây hàng hoá như cà phê, tiêu, điều, ngô lai, sắn thường thấp và không  
ổn định. Trong nhiều năm qua, chương trình giao khoán quản lý bảo vệ rừng của vườn quốc  
gia đã giúp người dân vùng đệm tăng được thu nhập và góp phần cải thiện cuộc sống.  
Việc hình thành các vùng kinh tế mới ở tỉnh Đăk Lăk và di cư tự do từ các tỉnh khác đến làm  
gia tăng mật độ dân số và tạo ra áp lực lớn hơn đối với Vườn quốc gia, trong đó huyện Ea  
Soup có tốc độ tăng dân số cao nhất vào những năm cuối 90. Vùng kinh tế mới của các đơn vị  
quốc phòng mới được thành lập ở các xã như Ea Bung, Ya Lôp, Ea R’Vê… đã làm tăng thêm  
áp lực dân số lên nguồn tài nguyên của vườn quốc gia.  
Ở các xã vùng đệm đều có hệ thống đường đến các thôn buôn, chủ yếu là đường cấp phối.  
Trong đó quan trọng nhất là Tỉnh lộ 1A từ Buôn Ma Thuột đi Ea Soúp và có các đường nhánh  
đến các đồn biên phòng. Trong vùng có một hồ chứa có diện tích 276,6 ha phục vụ thuỷ lợi,  
một số hồ nhỏ tự nhiên khác để nuôi cá và cung cấp nước tưới, ngoài ra còn nhiều các đập  
thủy lợi nhỏ khác.  
Về y tế và giáo dục, hiện nay các xã vùng đệm đều có trường THCS, trường tiểu học, và mẫu  
giáo mầm non. Mỗi xã đều có trạm y tế, có đội ngũ y bác sĩ. Cơ sở vật chất và y tế đã bước  
đầu đảm bảo được việc khám và chữa bệnh cơ bản cho người dân trong vùng. Tất cả các thôn  
buôn đều đã có điện lưới, tuy nhiên chủ yếu điện chỉ để sinh hoạt, sử dụng điện cho sản xuất  
còn hạn chế.  
Sự gia tăng dân số, nhu cầu của con người ngày càng cao về số lượng, chất lượng và thị hiếu  
đa dạng trong việc sử dụng các sản phẩm khai thác, chế biến từ nguồn tài nguyên, phương  
thức khai thác, sử dụng chưa thật hợp lý dẫn đến nguồn tài nguyên ngày càng suy giảm và  
cạn kiệt, nhất là các nguồn tài nguyên rừng, đất đai... Hiện tại, cuộc sống của cộng đồng dân  
cư trong các xã vùng đệm còn phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là  
vào nguồn tài nguyên VQG Yok Đôn. Các hoạt động khai thác tài nguyên trái phép như săn  
bắt động vật hoang dã, thu hái lâm sản ngoài gỗ, chai cục, và khai thác gỗ vẫn xảy ra. Tình  
trạng lấn chiếm đất rừng để sản xuất nông nghiệp, chăn thả gia súc ...vẫn diễn ra trong vườn  
VQG. Nhìn chung, các hoạt động sử dụng tài nguyên trong vùng đệm chưa bền vững và kém  
hiệu quả.  
Nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu, đề tài đã lựa chọn 3 thôn buôn để nghiên cứu, đó là buôn  
Đrăng Phôk, buôn Trí B của xã Krông Na và Buôn N’Drêch B của xã Ea Huar. Sau đây là  
6
bảng tổng hợp về đặc điểm tình hình kinh tế xã hội và sử dụng tài nguyên của 3 buôn được  
khảo sát nghiên cứu.  
Bảng 1: Tổng hợp tình hình kinh tế xã hộ của 3 thôn buôn nghiên cứu.  
Thô ng tin  
Buôn Đrăng Phôk  
Buô n Trí B  
Buô n N’Drếch B  
Số hộ  
87  
345  
43  
130  
32  
Số khẩu  
Số hộ nghè o  
Thành phần dâ n tộc 9 hộ kinh + 78 hộ dâ n  
tộc thiểu số  
614  
171  
27  
45  
Ê Đê 37 hộ, M’Nông 79  
hộ, Jrai 7 hộ, Lào 5 hộ,  
Kinh 2 hộ  
8 hộ kinh, 2 hộ Eđe, 22  
hộ M’Nông  
Số hộ dâ n tộc thiểu  
số  
Số hộ dâ n tộc thiểu  
số nghè o  
Diện tí ch tự nhiên  
(ha)  
Tổng diện tí ch canh  
tá c (ha)  
Đất nô ng nghiệp  
78  
128  
24  
22  
42 hộ M’Nông+Êđê,  
1 hộ dâ n tộc Nùng  
45  
240  
45  
288  
26  
Tổng dt gieo trồng năm  
2007: 31,8ha  
Lúa 2 vụ: 1,2ha; 1 vụ:  
10ha  
- Câ y ngắn ngày  
Lúa nước 1 vụ: 46 ha;  
Rẫy (bắp, lang): 139ha  
(46 ha khô ng làm), hiện  
cò n 93 ha đang làm)  
Hoa mùa: 16 ha  
Lúa 1 vụ: 2,5 ha  
Lúa 2 vụ: 0,7 ha  
- Câ y dài ngày  
Điều: vườn hộ khoảng 3 Điều: 10ha  
Điều: 5 ha  
ha  
- Đất khá c  
Đất rừng VQG giao  
khó an QLBV  
Chăn nuôi  
- Diện tích chăn  
thả  
Rẫy: 13ha  
30 ha/hộ x 84 hộ =  
2520ha  
20 ha x 127 hộ =  
24 hộ x 30ha = 720ha  
Thả tự nhiên trong VQG  
2540ha  
Thả tự nhiên vào trong  
vùng lõ i của vườn quốc  
gia YoK Đôn  
Không có đất chăn thả  
riêng. Một số hộ nuô i  
trâ u bò thả tự do vào  
trong vùng lõ i VQG  
150 trâ u  
- Số lượng cá c  
loại  
Trâ u 117 con  
Bò 163 con  
13 trâ u  
70 bò  
300 bò  
Heo 96 con  
Gia cầm khoảng 1000  
con – cá c hộ nuôi để ăn  
Gia cầm 316 con  
Cá c loại sản phẩm  
từ rừng (Mô tả loại,  
mức độ thu nhập, …  
địa điểm)  
Chai cục, măng, nấm,  
cá, săn bắt thú nhỏ  
Chai cục, măng, rau,  
...cá ,  
Gỗ làm nhà hiện khô ng  
được cho phé p, chỉ lấy  
để dùng  
Chai cục, măng, nấm,  
cá, săn bắt thú nhỏ  
(thỉnh thoảng mới đi, ở  
suối Ea Klô , Ea Kên)  
Thu nhập bì nh quâ n  
đầu người/thá ng –  
năm  
Dưới  
200.000/người/thá ng  
Cá c dự á n liên  
quan: (Mô tả, thời  
gian, kết quả, tá c  
động, ….)  
- PARC  
- Nước sạch DANIDA từ - HIPHER: hỗ trợ nuô i  
- Dự á n của hội nô ng  
dâ n: nuô i bò  
2000 – nay nhưng ít  
người sử dụng do  
bò , 28 hộ nuô i; 2 con  
bò /hộ (2007)  
- Ủy Ban Dâ n Tộc trung  
ương: 3 chương trình  
hố xí khô  
nước có vô i, hiện vẫn  
dùng nước sô ng  
- Dự á n HIPHER: hỗ trợ  
hộ nghè o nuô i bò (2  
con/hộ trong 3 năm trả  
lại 2 bê để chuyển  
giao cho hộ khá c)  
7
 
Thô ng tin  
Cá c hoạt động dịch  
vụ (Thương mại, du  
lịch, …..)  
Buôn Đrăng Phôk  
Khô ng có  
Buô n Trí B  
- Khô ng có  
Buô n N’Drếch B  
Khô ng có  
- Một số hộ có con em  
làm hợp đồng ở cá c  
điểm du lịch: thá c 7  
nhá nh, khu du lịch  
Buôn Đôn (không ổn  
định)  
Thị trường cá c sản  
phẩm nô ng lâ m  
nghiệp (Mô tả địa  
điểm, loại mua bá n,  
giá cả, .. tiếp cận  
của cộng đồng, …)  
- Bắp: 1.500đ/kg,  
- Heo hơi: 30.000đ/kg,  
- Gà:50.000đ/con,  
- Trâ u: 8-9 triệu/con  
(trâu đực: 13-14  
- Người dâ n í t biết  
- Giá một số loại (2008):  
Lúa: 2500đ/kg, Bắp-  
3500đ/kg, điều 10 –  
15000đ/kg, gạo từ  
7000 – 11000đ/kg, cá  
lóc: 45000đ/kg, rùa  
khép 75000đ/kg, ếch  
6000đ/kg, măng  
1000đ/kg, chai cục  
5000đ/kg, kì đà  
130.000đ/kg, ba ba  
80.000đ/kg  
- Giá cá c sản phẩm  
giống như ở buô n Trí  
B
triệu/con).  
- Lâ m sản: chai  
cục:5.000d/kg,  
măng:1.000d/kg (năm  
2008: 3.000đ/kg), tê  
tê: 0,9-1 triệu/kg, ba  
ba: 200.000d/kg, kỳ  
đà:150.000đ/kg, rắn  
hổ mang và hổ trâ u:  
80.000-200.000đ/kg,  
thỏ: 80.000đ/con,  
mang: 80.000đ/kg, nai:  
50.000đ/kg, heo rừng:  
100.000đ/kg,  
chồn:140.000đ/kg,  
nhí m:80.000đ/kg,  
(300.000đ/bao tử  
nhí m), khỉ:50.000đ/kg,  
ếch:30.000đ/kg, tắc  
kè : 140.000đ/kg, tắc  
kè hoa:180.000đ/kg,  
cá lăng:120.000d/kg,  
cá mõ m trâ u/úc:  
80.000đ/kg, cá  
ló c:30.000đ/kg, nhồng:  
400.000đ/con, bì m bịp:  
50.000đ/con, vẹt  
lào:400.000đ/cặp, gà  
rừng:100.000đ/kg, đa  
đa: 30.000đ/kg.  
Cơ sở hạ tầng (Mô  
tả điện đường  
trường trạm, thủy  
lợi, nước sinh hoạt  
….)  
- Đường nhựa đến thô n - Có điện lưới,  
- Có nhà cộng đồng  
- 100% hộ sư dụng điện - Đường nhựa đến thô n, - Đường vào buô n cấp  
lưới  
có ít đoạn đường cấp  
phối ngắn,  
- Thủy lợi chưa có,  
- Nước sinh hoạt hầu  
hết dùng nước sô ng  
phối  
- Đang làm đập thủy lợi  
dẫn nước về ruộng 3  
vụ  
- Nước sinh hoạt: sô ng  
+ nước giêng đào (dân  
tự đào)  
- 2 giếng nước sạch  
- 100% đện lưới  
- Trường cấp I: từ lớp  
mẫu giáo đến lớp 5 (6  
lớp)  
Hiện nay tại 3 buôn nghiên cứu, số hộ trong mỗi buôn dao động từ 32 đến 130 hộ, với số khẩu  
thay đổi từ 171 đến 614 khẩu, thành phần dân tộc thiểu số tại chỗ chiếm trên 80%, gồm các  
8
dân tộc: Mnông, Ê đê, Lào, Kinh... Có nhiều ngôn ngữ khác nhau được sử dụng trong giao  
tiếp. Người Kinh từ các miền đất nước đến định cư và sinh sống, sự giao tiếp khách thập  
phương đi du lịch tạo sự giao lưu văn hoá, sinh hoạt trong đời sống và lao động sản xuất,  
người kinh đã mang đến các kiến thức khoa học kỹ thuật và các tập quán canh tác tiên tiến, áp  
dụng KHKT từ vùng đồng bằng đan xen với các phương thức canh tác truyền thống của bà  
con dân tộc tại chỗ.  
Phân loại kinh tế hộ dựa theo sự đánh giá của thôn buôn cho thấy, số hộ nghèo có thu nhập  
dưới 200.000đ/ người/tháng chiếm 30 – 70%, hộ nghèo chủ yếu là người đồng bào dân tộc  
thiểu số. Các nguồn thu nhập chính của người dân là từ trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt, hái  
lượm, nhận khoán QLBVR của VQG Yok Đôn, đánh bắt cá, buôn bán, cho thuê đất, ruộng  
và một ít dịch vụ du lịch...  
Diện tích đất canh tác của các thôn là tương đối thấp so với số khẩu, số liệu trung bình cho  
thấy chỉ vào khoản 0,2 ha đất canh tác/khẩu. Tình hình trồng trọt một số loại cây trồng như  
sau:  
-
Lúa 2 vụ chủ yếu sử dụng giống IR64 do trạm khuyến nông huyện cung cấp, nhưng  
do tại địa phương đất đai nghèo chất dinh dưỡng, thiếu vốn để đầu tư sản xuất,  
thường thiếu nước tưới vào mùa khô, kỹ thuật canh tác của người dân chưa cao ...  
Nên năng suất chỉ đạt từ 3,5 – 4,5 tấn/ ha.  
-
-
Ngô lai sử dụng giống DK 888, LVN10 năng suất chỉ đạt từ 0,7- 4,2 tấn/ ha. Đậu  
xanh đạt từ 0,5- 0,8 tấn/ ha.  
Cây điều chủ yếu trồng điều bằng hạt do không đủ vốn để đầu tư trồng điều ghép  
nên năng suất rất thấp và không ổn định 0,3 - 0,8tấn/ha.  
Ngoài ra còn một số nguyên nhân dẫn đến năng suất không cao là do bị mất mùa bởi điều kiện  
bất thuận lợi của thiên nhiên, sâu bệnh phá hại nhiều, thiếu lao động, thiếu vốn đầu tư, chưa  
lựa chọn được cơ cấu cây trồng phù hợp…đã hạn chế hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn.  
Năm 2008. Ước tính lương thực bình quân đầu người khoảng 600kg thóc/người/năm.  
Tình hình chăn nuôi trên địa bàn các thôn khá phát triển, đặc biệt là nuôi gia súc. Trung bình  
ở các buôn mỗi hộ có nuôi từ 1 – 1,5 con trâu và 2 – 3 con bò. Các thôn buôn đều không có  
bải chăn thả gia súc, chủ yếu là thả trâu bò vào rừng để tận dụng nguồn cỏ tự nhiên dưới tán  
rừng. Chăn nuôi là gia súc là nguồn thu nhập rất quan trọng, đặc biệt là ở 2 buôn Đrăng Phôk  
và Trí B, hiệu quả là nhờ vào việc bán trân bò tạo ra được nguồn thu nhập lớn, có được vốn  
để thực hiện các việc quan trọng như làm nhà cửa, mua xe, máy móc, cưới xin…Tình hình  
dịch bệnh gia súc cũng xảy ra khá thường xuyên trong những năm gần đây, thường gặp là các  
bệnh lở mồm, long móng, tụ huyết trùng. Địa phương cũng đã có chỉ đạo thực hiện một số đợt  
tiêm phòng các bệnh này. Ngoài ra các thôn đều có chăn nuôi heo và gia cầm, nhưng với số  
lượng không lớn, mục đích chính vẫn để sử dụng trong lễ hội và làm thức ăn trong gia đình.  
Cho đến nay nguồn thu các sản phẩm từ rừng tại 3 buôn cũng còn khá phòng phú, đặc biệt là  
buôn Đrăng Phôk, do ở sâu trong vùng lõi nên nhiều nguồn dân có thu nhập quan trọng từ  
việc đánh bắt cá trên sông Serepok, chủ yếu thực hiện vào mùa khô, có những hộ thu được  
9
hàng trăm ngàn đồng mỗi ngày từ nguồn lợi này. Ngoài ra trong năm người dân ở các buôn  
đều có thu hoạch các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ trong rừng khộp của vườn quốc gia, phổ  
biến như chai cục để bán (5.000đ/kg), nấm, măng, rau rừng chủ yếu để ăn; bẩy bắt các loại  
thú nhỏ trong rừng cũng còn phổ biến và rất khó kiểm soát, đây cũng là nguồn thu quan trọng  
của người dân buôn Đrăng Phôk, các loại thú đó là heo rừng, mang, nai, rùa, ba ba, tê tê, kỳ  
đà, rắn các loại, chồn, nhím, tắc kè, một số loài chim như nhồng, bìm bịp, vẹt, gà rừng, đa  
đa…các sản phẩm động vật này chủ yếu để bán, tạo ra nguồn thu cho các hoạt động chi tiêu  
hàng trong đời sống người dân.  
Tại 3 thôn buôn hiện nay có một số dự án được hỗ trợ nhằm mục đích phát triển kinh tế và  
cải thiện chất lượng cuộc sống người dân. Đáng kể như dự án HIPHER, hỗ trợ mỗi hộ 2 con  
bò giống để nuôi, sau khi hộ nuôi đã có được bò con thì chuyên giao các bò giống mẹ cho hộ  
khác. Ngoài ra các buôn có dự án hỗ trợ xây dựng giếng nước sạch (của DANIDA), xây dựng  
hố xí 3 ngăn của UB Dân tộc Trung ương, nhưng nhìn chung hiệu quả đạt ở mức thấp.  
Cơ sở hạ tầng của các thôn đã có sự phát triển, như 100% người dân có sử dụng điện lưới, đã  
có đường cấp phối hoặc đường nhựa đến thôn, thôn có trường mẫu giáo, một số lớp học của  
bậc tiểu học. Tuy nhiên còn thiếu các công trình nước sạch, nhiều hộ chỉ sống bằng nước sông  
không bảo đảm vệ sinh, thiếu nhà vệ sinh…  
10  
5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
5.1 Phân bố đất ngập nước nghiên cứu  
Công cụ vẽ bản đồ có sự tham gia đã được áp dụng, nhóm nông dân nòng cốt ở 3 buôn đã  
thảo luận và chỉ ra các vị trí bàu trảng mà họ tiếp cận để thu hái sản phẩm. Trên cơ sở đó đã  
cùng người dân khảo sát hiện trường các vùng đất ngập nước, lấy tọa độ các cơ sở dữ liệu về  
sinh thái nhân tác ở các khu vực này của 3 buôn  
Hình 2: Vị trí các vùng đất ngập nước cộng đồng tiếp cận được vẽ bởi cộng đồng  
buôn Đrăng Phôk  
Bảng 2: Các bàu trảng ngập nước cộng đồng 3 buôn Drăng Phok, Trí B và N’Drêch B tiếp  
cận khai thác sử dụng sản phẩm  
% tỷ lệ Cự ly  
Tổng  
bàu  
trảng  
so với  
tổng  
diện  
từ  
buôn  
đến  
bàu  
trảng  
(km)  
Diện tích  
bàu trảng  
(ha)  
diện tích  
tiếp cận  
của thôn  
buôn (ha)  
Tình hình ngập  
TT  
Tên bàu trảng  
nước  
tích  
Buôn Drăng Phok  
1
Ng'lao Tu Nam Har  
Ng'lao Lộc  
Mùa mưa (T4-T10)  
Mùa mưa (T4-T10)  
Mùa mưa (T4-T10)  
Quanh năm  
0.71  
0.69  
0.28  
0.43  
2.03  
9.2  
8.6  
7.5  
9.0  
8.4  
2
3
4
5
Ngập nước 1  
Jang Krak 3  
Jang Krak 2  
Mùa mưa (T4-T10)  
11  
       
% tỷ lệ Cự ly  
Tổng  
bàu  
trảng  
so với  
tổng  
diện  
từ  
buôn  
đến  
Diện tích  
bàu trảng  
(ha)  
diện tích  
tiếp cận  
của thôn  
buôn (ha)  
Tình hình ngập  
TT  
Tên bàu trảng  
nước  
bàu  
trảng  
(km)  
5.5  
tích  
6
Jang Krak 1  
Rlom Bung Anang  
Mùa mưa (T4-T10)  
0.52  
3.98  
1.62  
0.15  
0.58  
1.48  
1.19  
0.55  
0.09  
0.29  
0.39  
0.43  
0.32  
1.35  
0.67  
0.82  
0.08  
18.65  
7
Quanh năm  
5.3  
4.5  
4.4  
2.6  
3.0  
0.7  
1.2  
1.2  
2.2  
2.3  
2.0  
1.9  
2.6  
4.1  
3.9  
1.8  
4.2  
8
Thung lũng gần suối Két Mùa mưa (T4-T10)  
9
Dak So 2  
Quanh năm  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
19  
20  
21  
22  
Ngao Một  
Dak So 1  
Mùa mưa (T4-T10)  
Quanh năm  
Orso  
Mùa mưa (T4-T10)  
Quanh năm  
Ngao Đam  
Ng'lao Đam  
Ngao Chong  
Ng'lao Kbung  
Ngao Min  
Tu Bom  
Quanh năm  
Mùa mưa (T4-T10)  
Mùa mưa (T4-T10)  
Quanh năm  
Mùa mưa (T4-T10)  
Mùa mưa (T4-T10)  
Mùa khô (T11-T3)  
Mùa mưa (T4-T10)  
Mùa mưa (T4-T10)  
Sre Tu Bum  
Ngao Nam  
Nao Nam  
Sre Bom  
Tổng/trung bình  
4245  
0.44  
Buôn N’Drêch B  
23  
24  
25  
26  
27  
28  
29  
Ng'lao Pế  
Cạn nước T3-T4  
Cạn nước T3-T4  
Cạn nước T3-T4  
Quanh năm  
0.71  
0.65  
0.19  
0.73  
0.21  
0.27  
0.19  
2.0  
3.1  
2.6  
2.9  
4.2  
4.3  
5.7  
Ng'lao Kreo  
Ng'lao Đă  
Ng'lao Đ’rách  
Ng'lao Ngo  
Ng'lao Tam  
Ng'lao Nâng  
Quanh năm  
Cạn nước T1-T3  
Quanh năm  
12  
% tỷ lệ Cự ly  
Tổng  
bàu  
trảng  
so với  
tổng  
diện  
từ  
buôn  
đến  
Diện tích  
bàu trảng  
(ha)  
diện tích  
tiếp cận  
của thôn  
buôn (ha)  
Tình hình ngập  
TT  
Tên bàu trảng  
nước  
bàu  
trảng  
(km)  
6.8  
tích  
30  
Ng'lao Tang  
Quanh năm  
0.19  
Tổng/trung bình  
3.14  
1557  
0.20  
4.0  
Trí B  
31  
32  
33  
34  
35  
36  
37  
38  
39  
40  
41  
42  
Nao Sre Jong  
Sre Chong  
Mùa mưa (T4-T10)  
Mùa mưa (T4-T10)  
Mùa mưa (T4-T10)  
Mùa mưa (T4-T10)  
Quanh năm  
0.22  
0.33  
0.14  
1.73  
0.32  
0.69  
0.17  
0.18  
0.76  
1.26  
1.06  
0.61  
0.7  
0.6  
2.2  
3.1  
2.7  
1.4  
1.6  
1.8  
2.2  
2.5  
2.5  
Nõn khoai po ngụt tai  
Nõn nà/ Thung na  
Hồ Sen  
Ngập nước 10  
Ngập nước 11  
Ngập nước 12  
Ngập nước 13  
Ngập nước 14  
Ngập nước 15  
Ngập nước 16  
Mùa mưa (T4-T10)  
Mùa mưa (T4-T10)  
Mùa mưa (T4-T10)  
Quanh năm  
Quanh năm  
Mùa mưa (T4-T10)  
2.7  
2.0  
3.4  
7.47  
1010  
6812  
0.74  
0.46  
Tổng/trung bình  
Tổng/trung bình 3 buôn  
29.11  
Kết quả cho thấy với 3 buôn, cộng đồng đã tiếp cận vào vùng lõi với diện tích 6,812  
ha, với 42 bàu trảng, tổng diện tích bàu trảng là 29.11 ha chiếm tỷ lệ 0.46% diện tích. Cự ly  
bình quân từ buôn đến các bàu trảng là 3.4km.  
Các bàu trảng này phân bổ gần như rải đều trên diện tích, hầu hết các bàu trảng người  
dân địa phương đều có tên gọi cho nó, chứng tỏ họ đã tiếp cận và sử dụng chúng từ lâu đời.  
Đặc điểm các bàu trảng trong hệ sinh thái rừng khộp có diện tích nhỏ, diện tích bình  
quân một bàu trảng là 0.18ha, ở các vùng trũng cục bộ và gần như nguyên sinh. Các bàu trảng  
này chủ yếu là ngập nước trong mùa mưa, mùa khô còn rất ít nước hoặc khô hạn; chỉ một ít  
bàu lớn, sâu còn giữ nước trong mùa khô, đây là bàu quan trọng đối với động vật hoang dã, vì  
13  
chúng cung cấp nước uống hiếm hoi trong mùa khô cho động vật ở các khu rừng khộp khô  
hạn.  
30  
25  
20  
15  
10  
5
0
Số bàu trảng  
Diện tích (ha)  
11.83  
Ngập nước quanh năm  
Ngập nước mùa mưa  
15  
27  
17.43  
Hình 3: Tổng số bàu trảng và diện tích đất ngập nước ở 3 buôn nghiên cứu  
Bàu trảng ngập nước quanh năm  
Bàu trảng ngập nước trong mùa mưa (Khô  
trong mùa khô)  
42 bàu trảng nghiên cứu được thu thập dữ liệu và quản lý trong hệ thống GIS bao gồm  
vị trí, diện tích, các đặc trưng của bàu, các nhóm loài thực động vật, mức độ tách động, phong  
phú, cư ly đến buôn, …..  
14  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 52 trang yennguyen 25220 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề tài Tài nguyên đa dạng sinh học và tình hình sử dụng các vùng đất ngập nước tự nhiên của Vườn quốc gia Yok Đôn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfde_tai_tai_nguyen_da_dang_sinh_hoc_va_tinh_hinh_su_dung_cac.pdf