Khảo sát hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của loài ké hoa đào (Urena lobata L.)
No.21_June 2021 |p.183-189
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO
ISSN: 2354 - 1431
THE INVESTIGATION OF ANTIBACTERIAL ACTIVITY
OF URENA LOBATA L.
Truong Thi Thu Huong1, Tran Thi Hoai Van1,*, Tran Thi Thuy Duong2, Chu Quynh Mai3, Nguyen Thi Nguyet3
1VietNam University Of Traditional Medicine, Vietnam
2Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry, Vietnam
3Tan Trao University, Vietnam
*Email address: [email protected]om
Abstract:
Article info
The n-hexane and ethyl acetate extracts and two isolated compounds, 5-
hydroxy-6,7-dimetoxyflavanon và 3β-hydroxy-urs-12-en-28-oic from Urena
lobata shows that the antibacterial activity are good of Gram-positive
(Bacillus subtillis and Staphylococcus aureus), Gram-negative (Escherichia
coli and Pseudomonas aeruginosa, Filamentous fungi (Aspergillus niger and
Fusarium oxysporum), yeast (Candida albicans and Saccharomyces cerevisiae)
with diameter of the zone of inhibition from 8 to 28mm.
Recieved:
19/3/2021
Accepted:
3/5/2021
Keywords:
Urena lobata L., Urena,
Antibacterial activity.
183
No.21_June 2021 |p.183-189
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO
ISSN: 2354 - 1431
KHẢO SÁT HOẠT TꢀNH KHÁNG VI SINH VẬT KIỂM ĐỊNH
CỦA LOÀI KÉ HOA ĐÀO (URENA LOBATA L.)
Trương Thị Thu Hương1, Trần Thị Hoài Vân1,*, Trần Thị Thùy Dương2, Chu Quỳnh Mai3, Nguyễn Thị Nguyệt3
1 Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam, Việt Nam
2 Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Việt Nam
3Trường Đại học Tân Trào, Việt Nam
Thông tin bài viết
Tóm tắt
Các cặn chiết ethanol tổng, n-hexane, ethyl acetate và 2 hợp chất 5-hydroxy-
6,7-dimetoxyflavanon và 3β-hydroxy-urs-12-en-28-oic phân lập được từ loài
Ké hoa đào (Urena lobata) thể hiện hoạt tính kháng tốt đối với 2 chủng vi
khuẩn Gram (–) (Escherichia coli và Pseudomonas aeruginosa), 2 chủng Gram
(+) (Bacillus subtillis và Staphylococcus aureus), 02 chủng nấm sợi
(Aspergillus niger và Fusarium oxysporum), 2 chủng nấm men (Candida
albicans và Saccharomyces cerevisiae) với đường kính vòng kháng khuẩn từ 8
đến 28 mm.
Ngày nhận bài:
19/3/2021
Ngày duyệt đăng:
3/5/2021
Từ khóa: Urena lobata L.,
Urena, Ké hoa đào, hoạt tính
kháng vi sinh vật kiểm định.
khí hư, bạch đới, lỵ, tiêu hóa kém, cảm cúm, amidan,
sốt rét, hen, bướu giáp. Hoa chữa thủy đậu, sốt, và rối
1. Mở đầu
Urena lobata L. thuộc họ bông Malvaceae có tên là
Ké hoa đào (hay ké hoa đỏ) còn gọi là phan thiên hoa,
tiêu phan thiên hoa, nha khac mòn, bái lương, bái cúc,
vái, địa đào hoa, niêm du tử, thổ đỗ trọng, hồng hài nhi,
dã mai hoa, dã miên hoa, dã đào hoa [1, 2, 3]. Trên thế
giới, Urena lobata có vùng phân bố rộng rãi khắp các
nước nhiệt đới ở Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á. Cây
này còn được trồng hạn chế ở Braxin, Cộng hòa Trung
Phi, Zaire, Gabon để lấy vỏ làm sợi [4, 5]. Ở nước ta,
Urena lobata mọc ở nhiều nơi như Lạng Sơn, Tuyên
Quang, Cao Bằng…[2, 3].
loạn trí não. Cành lá hoặc toàn cây dùng ngoài chữa
chấn thương bầm dập, thấp khớp, viêm vú, rắn cắn [1,
2, 4].
Ở Philippines, rễ cây được dùng làm thuốc giải
nhiệt và hoạt nhuận, còn ở Malaysia thì được dùng làm
thuốc trị kiết lỵ. Theo y học cổ truyền Ấn độ, rễ cây làm
thuốc đắp ngoài trị tê thấp, sẩy thai [3]. Trong y học cổ
truyền Trung Quốc, Urena lobata điều trị cảm lạnh, sốt,
đau, hoặc bị tê do thấp khớp, kiết lỵ, phù nề, bệnh lậu,
leucorrhea, nôn ra máu, xe buncle, chấn thương chảy
máu,…[4].
Urena lobata có vị nhạt, hơi ngọt, dịu, tính mát,
không độc, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, trừ thấp,
lợi tiêu. Rễ Urena lobata được dùng chữa thấp khớp,
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy thành
phần hóa học của Urena lobata chủ yếu là các hợp
184
T.T.T.Huong/ No.21_Jun 2021|p.185-189
chất flavonoid và dẫn xuất của chúng với nhiều
Sắc ký cột (CC): Sắc ký cột thường với pha tĩnh
là silica gel 60, cỡ hạt 0,040 - 0,063 mm (230 - 400
mesh) của Merck, dung môi rửa giải chủ yếu là loại
phân tích, công nghiệp.
hoạt tính sinh học phong phú như chống oxy hóa,
chống lao, kháng viêm, chữa bệnh tiêu hoá và
đường ruột, chống ung thư…[5, 6, 7]. Tuy nhiên,
các nghiên cứu về hoạt tính sinh học của loài này
còn hạn chế. Vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu này là
khảo sát hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của
các cặn chiết và chất sạch từ loài Urena lobata, làm
rõ hơn bản chất sinh học và là cơ sở cho các nghiên
cứu sâu tiếp theo về hoạt tính sinh học.
2.4. Phương pháp khảo sát cấu trúc các chất
Các chất phân lập được ở dạng tinh khiết là đối
tượng để khảo sát các đặc trưng vật lý: màu sắc,
dạng thù hình, Rf, điểm nóng chảy, ... Khi các chất
đủ sạch sẽ tiến hành ghi các phổ khối lượng (MS),
phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) một chiều:
proton (1H-NMR), cacbon-13 (13C-NMR), phổ
DEPT và phổ cộng hưởng từ hạt nhân hai chiều:
HSQC và HMBC với các kỹ thuật khác nhau tuỳ
theo đối tượng cụ thể.
2. Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Nguyên liệu
Mẫu thân rễ cây Ké hoa đào thu ở Tuần Giáo
Điện Biên vào tháng 6 năm 2020 và được TS.
Nguyễn Quốc Bình (Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam
- Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam)
xác định tên khoa học Urena lobata L., mẫu lưu tại
Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam.
Phương pháp xác định cấu trúc hóa học các hợp
chất được sử dụng các thiết bị hiện đại. Các thiết bị
và phương pháp sử dụng gồm:
Điểm nóng chảy (mp): Đo trên máy Kofler
micro-hotstage của Viện Hóa học các Hợp chất
thiên nhiên - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ
Việt Nam.
2.2. Phương pháp xử lý và chiết mẫu
Mẫu nghiên cứu sau khi thu hái được thái nhỏ,
o
phơi trong bóng mát, sấy khô ở nhiệt độ 60 C đến
Phổ cộng hưởng từ nhân (NMR): Đo trên máy
Bruckker avance 500 MHz (Chất chuẩn nội là TMS),
tại Viện Hoá học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công
nghệ Việt Nam. Các kỹ thuật phổ cộng hưởng từ hạt
nhân được sử dụng:
khối lượng không đổi, sau đó đem nghiền nhỏ.
Mẫu được ngâm chiết 3 lần metanol trong thiết bị
siêu âm ở nhiệt độ phòng. Dịch tổng thu được cất
o
kiệt dung môi dưới áp suất giảm, nhiệt độ < 50 C
thu được cặn metanol. Cặn metanol được thêm
nước và chiết lần lượt với các dung môi có độ
phân cực tăng dần n-hexan và etyl axetat. Sau đuổi
dung môi thu được cặn n-hexan, etyl axetat và
metanol tương ứng.
1
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều: H-
NMR, 13C-NMR và DEPT.
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân hai chiều: HSQC,
HMBC, COSY và NOESY.
2.3. Phương pháp phân tích, phân lập các hợp
chất từ dịch chiết
Dung môi được sử dụng bao gồm các dung môi
DMSO-d6, CD3OD và CDCl3. Lựa chọn dung môi
đo phụ thuộc vào bản chất của từng mẫu, theo
nguyên tắc dung môi phải hòa tan hoàn toàn mẫu
đo.
Việc phân tích, phân tách các phần dịch chiết
của cây được thực hiện bằng các phương pháp sắc
ký khác nhau như sắc ký lớp mỏng (TLC), sắc ký
cột thường (CC) với pha tĩnh là silica gel (Merck).
2.5. Phương pháp thử hoạt tính kháng vi sinh
vật kiểm định
Sắc ký lớp mỏng (TLC): Dùng để khảo sát thành
phần được thực hiện trên bản mỏng tráng sẵn DC-
Alufolien 60 F254 (0,25 mm; Merck) và RP-18
F254S (0,25 mm; Merck). Phát hiện chất bằng đèn
tử ngoại ở hai bước sóng 254 nm và 365 nm hoặc
dùng thuốc thử là dung dịch vanilin - H2SO4 5%
trong metanol.
Hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định được tiến
hành để đánh giá hoạt tính kháng sinh của các mẫu
nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp
khuếch tán qua giếng thạch của Irobi và cộng sự
(1996). Các chủng vi sinh vật kiểm định dự kiến:
chủng vi khuẩn Gram (–) (Escherichia coli ATCC
185
T.T.T.Huong/ No.21_Jun 2021|p.185-189
Sắc ký lớp mỏng (SKLM): Sử dụng bản mỏng
25922, Pseudomonas aeruginosa ATCC 25923),
chủng Gram (+) (Bacillus subtillis ATCC 27212,
Staphylococcus aureus ATCC 11632), chủng nấm
sợi (Aspergillus niger 439, Fusarium oxysporum
M42), chủng nấm men (Candida albicans ATCC
7754, Saccharomyces cerevisiae SH20).
nhôm tráng sẵn Silica gel 60 F254 (Merck) độ dày
0,2 mm.
Sắc ký cột: Sử dụng silica gel Merck 60, cỡ hạt
0,063 – 0,200 mm và cỡ hạt 0,04 – 0,063 mm (230
- 400 mesh).
Dung môi chiết tách: Dung môi được sử dụng
để chiết tách là loại sản xuất công nghiệp, gồm n-
hexan, ethyl acetate, acetone, dichloromethane,
chloroform, methanol.
Môi trường nuôi cấy vi sinh vật
+ Môi trường duy trì và bảo tồn giống:
Saboraud Dextrose Borth (SDB – Sigma) cho nấm
men và nấm mốc. Trypcase Soya Broth (TSB –
Sigma) cho vi khuẩn.
Phát hiện vết chất: đèn UV 254 nm và 366 nm,
thuốc hiện màu H2SO4 10% trong ethanol.
2.3.2. Thiết bị
+ Môi trường thí nghiệm: Eugon Broth (Difco,
Mỹ) cho vi khuẩn, Mycophil (Difco, Mỹ) cho nấm.
Bình tam giác, cốc đong, bình cầu cô quay, bình
triển khai bản mỏng, phễu chiết quả lê, cột sắc ký
các đường kính khác nhau.
Tiến hành thí nghiệm
Nhỏ dịch mẫu nghiên cứu (nồng độ 20 mg/ml
đối với cặn chiết thô và 2 mg/ml đối với hợp chất
tinh) vào các lỗ thạch trên đĩa petri đã cấy vi sinh
Máy siêu âm gia nhiệt Memmert GmbH +
Co.KG D-91126 Schwabach FRG (Đức).
Máy cất quay Rotavapor R-114, Buchi (Đức)
được sử dụng để cất loại dung môi.
o
vật kiểm định, giữ 4 C trong 8 giờ, sau đó đặt các
o
Máy BOTIUS (Heiztisch Mikroskop) - Đức sử
dụng để đo điểm nóng chảy.
đĩa thạch ở 37 C đối với vi khuẩn kiểm định và 30
ºC đối với nấm kiểm định. Sau 24 giờ quan sát
vòng kháng khuẩn tạo thành.
Máy Bruker Avance 500, sử dụng TMS làm chất
nội chuẩn để đo phổ cộng hưởng từ hạt nhân một
chiều 1H-NMR (500MHz) và 13C-NMR (125MHz),
DEPT, HMBC, HMQC, HSQC.
Tính kết quả
Hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của các
chủng vi khuẩn tuyển chọn được tính bằng đường
kính vòng kháng khuẩn. Tính kháng khuẩn được
biểu hiện khi vòng kháng khuẩn rộng hơn 2mm.
Hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của các
chủng vi khuẩn tuyển chọn được tính bằng đường
kính vòng kháng khuẩn (ΔD).
3. Kết quả thảo luận
3.1. Thu nhận các cặn chiết
Thân rễ cây Ké hoa đào (Urena lobata) được
sấy khô, xay nhỏ thu được 3,1 kg bột mẫu khô, đem
ngâm chiết với ethanol. Quá trình chiết được thực
hiện gián đoạn ở nhiệt độ 40 °C trong thiết bị chiết
siêu âm gia nhiệt 4 lần, mỗi lần khoảng 4-5 giờ.
ΔD = D - d (mm)
Dịch chiết được gom lại, lọc qua giấy lọc và cất
loại dung môi dưới áp suất giảm thu được cặn chiết
tổng của cây Ké hoa đào (KHV, 235 g). Cặn tổng
sau đó được tiến hành chiết phân bố lần lượt với n-
hexan, ethyl acetate, methanol thu được ba dịch
chiết tương ứng. Cất loại dung môi dưới áp suất
giảm thu được các cặn chiết tương ứng là KH (cặn
n-hexan, 50 g), KE (cặn ethyl acetate, 140 g), KM
(cặn methanol, 45 g).
Đường kính vòng kháng khuẩn < 5 mm: tính
kháng yếu
Đường kính vòng kháng khuẩn từ 5 đến 10
mm: tính kháng trung bình.
Đường kính vòng kháng khuẩn > 10 mm: tính
kháng mạnh.
2.3. Hóa chất và thiết bị nghiên cứu
2.3.1. Hóa chất
Quy trình xử lý mẫu tạo cặn chiết theo quy trình
ở sơ đồ sau:
186
T.T.T.Huong/ No.21_Jun 2021|p.185-189
Hình 1. Sơ đồ quy trình ngâm chiết cây Ké hoa đào
acetate tỷ lệ (40:1), thu được ba phân đoạn nhỏ từ
3.2. Phân lập các hợp chất từ cặn n-hexan cây
Ké hoa đào
KH2A→KH2C. Kết tinh lại phân đoạn KH2B
trong dung môi acetone ở điều kiện nhiệt độ phòng
thu được hợp chất hình kim màu vàng (KH2; 9,8
mg), Rf = 0,50 (hệ dung môi n-hexan:EtOAc (HE)=
2:1).
Cặn n-hexan (KH – 30 g) được tiến hành sắc ký
qua cột silica gel với hệ dung môi n-hexan: ethyl
acetate (HE) (50:1→1:1). Dung dịch rửa giải thu
được từ cột silica gel khoảng cách mỗi lần là 100
ml200 ml, sau đó cất lại dung môi thu được những
phân đoạn nhỏ 510 ml ta được các phân đoạn.
Kiểm tra các phân đoạn nhỏ bằng sắc ký lớp mỏng
và hiện màu bằng thuốc thử vanilin-H2SO4, sau đó
dồn những phân đoạn giống nhau lại, ta thu được 4
phân đoạn chính KH1→KH4.
Phân đoạn KH3 (3,0 g) được kết tinh lại trong
dung môi ethyl axetat ở điều kiện nhiệt độ phòng
thu được chất bột vô định hình không màu (KH3;
11,4 mg), nhiệt độ nóng chảy 159-161 oC, Rf = 0,55
(hệ dung môi chloroform:methanol (C:M)= 9:1).
Trên cơ sở phân tích các dữ liệu phổ NMR, kết
hợp so sánh dữ liệu phổ đã được công bố và điểm
nóng chảy các hợp chất cho phép khẳng định hợp
chất KH1 là β-sitosterol hay stigmast-5-en-24R-3-
ol [8], hợp chất KH2 là 5-hydroxy-6,7-
dimetoxyflavanon [9] và hợp chất KH3 là 3β-
hydroxy-urs-12en-28-oic [10], có cấu trúc hoá học
như sau:
Phân đoạn KH1 (7,0 g) được kết tinh lại trong
ethyl acetate ở điệu kiện nhiệt độ phòng đã thu
được hợp chất tinh thể hình kim, không màu (KH1;
o
1,1 g), điểm chảy 138-140 C, Rf = 0,50 (hệ dung
môi n-hexan-EtOAc (HE)= 4:1).
Phân đoạn KH2 (7,5 g) được phân tách lại trên
cột silica gel bằng hệ dung môi n-hexan:ethyl
30
29
20
21
19
12
26
18
22
17
11
OH
13
14
25
28
1
4
16
9
O
10
2
3
8
15
27
5
7
6
HO
24
23
KH1
KH2
Hình 2. Cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập từ Ké hoa đào
KH3
187
T.T.T.Huong/ No.21_Jun 2021|p.185-189
học thực nghiệm Viện Hóa học các Hợp chất Thiên
3.3. Kết quả thử hoạt tính
nhiên bằng phương pháp đục lỗ trên 8 chủng vi sinh
vật kiểm định. Kết quả thử hoạt tính kháng vi sinh
vật kiểm định được trình bày như bảng sau:
Hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của cặn
dịch chiết KHV, KH, KE, KM và hợp chất KH2,
KH3 phân lập được từ thân rễ loài Ké hoa đào
(Urena lobata) được thử nghiệm tại Phòng Sinh
Bảng 3.3. Kết quả thử hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của cặn chiết và hợp chất từ cây Ké hoa đào
(Urena lobata)
Ký
Nồng độ
mẫu đầu
(mg/ml)
Đường kính vòng kháng khuẩn (D-d, mm)
hiệu
mẫu
Vi khuẩn Gr (-)
E. P.
coli aeruginosa
Vi khuẩn Gr (+)
Nấm mốc
Nấm men
S.
cerevisiae albicans
B.
S.
A.
F.
C.
subtillis
aureus niger
oxysporum
20
20
20
20
2
28
24
12
9
17
19
15
3
18
23
9
14
16
11
6
22
28
14
4
20
20
18
8
26
20
15
7
24
28
16
4
KHV
KH
KE
10
20
19
KM
KH2
KH3
25
26
13
12
19
18
17
8
11
12
20
15
15
8
2
Kết quả cho thấy, tất cả các mẫu đều thể hiện có
hoạt tính và hoạt tính khác nhau đối với các chủng
vi khuẩn kiểm định khác nhau.
Các cặn chiết KHV, KH, KE và hợp chất KH2,
KH3 thể hiện hoạt tính tốt nhất với chủng vi khuẩn
Escherichia coli, Saccharomyces cerevisiae và
Candida albicans với giá trị ΔD từ 15 đến 28 mm.
Hoạt tính kháng khuẩn của cặn chiết thô từ cây
Ké hoa đào (Urena lobata) có hoạt tính tốt với các
chủng vi khuẩn gram âm, gram dương, vi khuẩn,
nấm mốc và nấm men. Cặn chiết tổng KHV và KH
thể hiện hoạt tính cao với các chủng vi khuẩn kiểm
định với đường kính vòng kháng khuẩn (ΔD) lớn
hơn 16mm và thấp nhất là 14 mm tương ứng với
chủng vi khuẩn gram dương Staphylococcus
aureus. Cặn chiết KE và KM thể hiện hoạt tính
kháng vi sinh vật kiểm định ở mức khá với các giá
trị đường kính vòng kháng khuẩn (ΔD) từ 3 đến 18
mm. Điều này cho thấy, hoạt tính kháng khuẩn
mạnh của cây Ké hoa đào chủ yếu tập trung ở cặn
chiết tổng (KHV) và cặn chiết phân đoạn (KH).
Các kết quả này phù hợp với các công trình
công bố trước đây về hoạt tính của cặn chiết và các
hợp chất phân lập được từ cây Ké hoa đào (Urena
lobata) [14], [20], [24].
KꢁT LUẬN
Cặn chiết ethanol tổng (KHV), n-hexane (KH),
ethyl acetate (KE) và hợp chất KH2, KH3 thể hiện
hoạt tính ức chế ở các mức khác nhau đối với các
chủng vi sinh vật kiểm định thử nghiệm với đường
kính vòng kháng khuẩn lớn hơn 8 mm. Thể hiện
hoạt tính tốt nhất với chủng vi khuẩn Escherichia
coli, Saccharomyces cerevisiae và Candida
albicans với giá trị ΔD từ 15 đến 28 mm. Cặn chiết
methanol (KM) thể hiện hoạt tính ở mức trung bình
và yếu với các giá trị giá trị ΔD từ 3 đến 10 mm.
Các hợp chất sạch phân lập được KH2 và KH3
có hoạt tính kháng khuẩn khác nhau chống lại các
chủng vi khuẩn thử nghiệm. Hai hợp chất KH2 và
KH3 thể hiện hoạt tính kháng khuẩn tố với giá trị
ΔD từ 12 đến 28 mm. Hợp chất KH2 cho kết quả
giá trị đường kính vòng kháng khuẩn lớn hơn KH3,
nhưng sự khác biệt không đáng kể.
LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi cảm ơn Học viện Y Dược học Cổ
truyền Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi và hỗ
trợ kinh phí cho nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài.
REFERENCES
[1] Ban, N.T. (2003). List of plant species in
Vietnam. Agriculture Publishing House, Vietnam.
188
T.T.T.Huong/ No.21_Jun 2021|p.185-189
[2] Loi, D.T. (2004). Vietnamese medicinal
[6] Singh, D., Singh, V.S. (2016). Isolation and
characterrization of flavonoids in Urena lobata
Leaves. European Journal of Medicinal Plants,
11(1):1-6.
plants and herbs. Medicine Publishing House,
Hanoi, Vietnam.
[3] Xuyen, D.T. & Thin, N.N. (2004). Study on
the diversity of cotton genera (Malvaceae) in
Vietnam. Journal of Genetics and Applications,
1:9-13, Vietnam.
[7] Fagbohun, E.D., Asare, R.R., Egbebi, A.O.
(2012). Chemical composition and antimicrobial
activities of Urena lobata L. (Malvaceae). Journal
of Medicinal Plants Research, 6(12):2256-2260.
[4] Dhanapal, R., Ratna, J.V., Gupta, M.,
Sarathchandran, I. (2012). Preliminary study on
antifertility activity of Enicostemma axillare leaves
and Urena lobata root used in Indian traditional folk
medicine. Asian Pac. J. Trop. Med, 5:16-22.
[8] Goad, L.J., Akihisa, T. (1997). Analysis of
sterols. Chapman & Hall, 324-333
[9] Kamperdick, C., Van, N.H., Sung, T.V.
(2002). Constituents from Miliusa balansae
(Annonaceae). Phytochemistry, 61(8):991-994.
[5] Ali, S., Faruq, K.O., Rahman, A.A.,
Hossain, M.A. (2013). Antioxidant and cytotoxic
ativities of methanol extract of Urena lobata (L.)
Leaves. Pharm. Innov. J, 2(2):9-14.
[10] Jaki, B.U., Franzblau, S.G., Chadwick
L.R., Lankin, D.C., Zhang, F., Wang, Y., Pauli,
G.F. (2008). Puriy – Activity Relationships of
Natural Products: The Case of Anti-TB Active
Ursolic Acid. J.Nat.Prod, 71:1742-1748.
189
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của loài ké hoa đào (Urena lobata L.)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
khao_sat_hoat_tinh_khang_vi_sinh_vat_kiem_dinh_cua_loai_ke_h.pdf

