Khảo sát hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của loài ké hoa đào (Urena lobata L.)

No.21_June 2021 |p.183-189  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
THE INVESTIGATION OF ANTIBACTERIAL ACTIVITY  
OF URENA LOBATA L.  
Truong Thi Thu Huong1, Tran Thi Hoai Van1,*, Tran Thi Thuy Duong2, Chu Quynh Mai3, Nguyen Thi Nguyet3  
1VietNam University Of Traditional Medicine, Vietnam  
2Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry, Vietnam  
3Tan Trao University, Vietnam  
*Email address: [email protected]om  
Abstract:  
Article info  
The n-hexane and ethyl acetate extracts and two isolated compounds, 5-  
hydroxy-6,7-dimetoxyflavanon và 3β-hydroxy-urs-12-en-28-oic from Urena  
lobata shows that the antibacterial activity are good of Gram-positive  
(Bacillus subtillis and Staphylococcus aureus), Gram-negative (Escherichia  
coli and Pseudomonas aeruginosa, Filamentous fungi (Aspergillus niger and  
Fusarium oxysporum), yeast (Candida albicans and Saccharomyces cerevisiae)  
with diameter of the zone of inhibition from 8 to 28mm.  
Recieved:  
19/3/2021  
Accepted:  
3/5/2021  
Keywords:  
Urena lobata L., Urena,  
Antibacterial activity.  
183  
No.21_June 2021 |p.183-189  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
KHẢO SÁT HOẠT TꢀNH KHÁNG VI SINH VẬT KIỂM ĐỊNH  
CỦA LOÀI KÉ HOA ĐÀO (URENA LOBATA L.)  
Trương Thị Thu Hương1, Trần Thị Hoài Vân1,*, Trần Thị Thùy Dương2, Chu Quỳnh Mai3, Nguyễn Thị Nguyệt3  
1 Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam, Việt Nam  
2 Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Việt Nam  
3Trường Đại học Tân Trào, Việt Nam  
* Địa chỉ email: hoaivantt@gmail.com  
Thông tin bài viết  
Tóm tắt  
Các cặn chiết ethanol tổng, n-hexane, ethyl acetate và 2 hợp chất 5-hydroxy-  
6,7-dimetoxyflavanon và 3β-hydroxy-urs-12-en-28-oic phân lập được từ loài  
Ké hoa đào (Urena lobata) thể hiện hoạt tính kháng tốt đối với 2 chủng vi  
khuẩn Gram (–) (Escherichia coli và Pseudomonas aeruginosa), 2 chủng Gram  
(+) (Bacillus subtillis và Staphylococcus aureus), 02 chủng nấm sợi  
(Aspergillus niger và Fusarium oxysporum), 2 chủng nấm men (Candida  
albicans và Saccharomyces cerevisiae) với đường kính vòng kháng khuẩn từ 8  
đến 28 mm.  
Ngày nhận bài:  
19/3/2021  
Ngày duyệt đăng:  
3/5/2021  
Từ khóa: Urena lobata L.,  
Urena, Ké hoa đào, hoạt tính  
kháng vi sinh vật kiểm định.  
khí hư, bạch đới, lỵ, tiêu hóa kém, cảm cúm, amidan,  
sốt rét, hen, bướu giáp. Hoa chữa thủy đậu, sốt, và rối  
1. Mở đầu  
Urena lobata L. thuộc họ bông Malvaceae có tên là  
Ké hoa đào (hay ké hoa đỏ) còn gọi là phan thiên hoa,  
tiêu phan thiên hoa, nha khac mòn, bái lương, bái cúc,  
vái, địa đào hoa, niêm du tử, thổ đỗ trọng, hồng hài nhi,  
dã mai hoa, dã miên hoa, dã đào hoa [1, 2, 3]. Trên thế  
giới, Urena lobata có vùng phân bố rộng rãi khắp các  
nước nhiệt đới ở Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á. Cây  
này còn được trồng hạn chế ở Braxin, Cộng hòa Trung  
Phi, Zaire, Gabon để lấy vỏ làm sợi [4, 5]. Ở nước ta,  
Urena lobata mọc ở nhiều nơi như Lạng Sơn, Tuyên  
Quang, Cao Bằng…[2, 3].  
loạn trí não. Cành lá hoặc toàn cây dùng ngoài chữa  
chấn thương bầm dập, thấp khớp, viêm vú, rắn cắn [1,  
2, 4].  
Ở Philippines, rễ cây được dùng làm thuốc giải  
nhiệt và hoạt nhuận, còn ở Malaysia thì được dùng làm  
thuốc trị kiết lỵ. Theo y học cổ truyền Ấn độ, rễ cây làm  
thuốc đắp ngoài trị tê thấp, sẩy thai [3]. Trong y học cổ  
truyền Trung Quốc, Urena lobata điều trị cảm lạnh, sốt,  
đau, hoặc bị tê do thấp khớp, kiết lỵ, phù nề, bệnh lậu,  
leucorrhea, nôn ra máu, xe buncle, chấn thương chảy  
máu,…[4].  
Urena lobata có vị nhạt, hơi ngọt, dịu, tính mát,  
không độc, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, trừ thấp,  
lợi tiêu. Rễ Urena lobata được dùng chữa thấp khớp,  
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy thành  
phần hóa học của Urena lobata chủ yếu là các hợp  
184  
T.T.T.Huong/ No.21_Jun 2021|p.185-189  
chất flavonoid và dẫn xuất của chúng với nhiều  
Sắc ký cột (CC): Sắc ký cột thường với pha tĩnh  
là silica gel 60, cỡ hạt 0,040 - 0,063 mm (230 - 400  
mesh) của Merck, dung môi rửa giải chủ yếu là loại  
phân tích, công nghiệp.  
hoạt tính sinh học phong phú như chống oxy hóa,  
chống lao, kháng viêm, chữa bệnh tiêu hoá và  
đường ruột, chống ung thư…[5, 6, 7]. Tuy nhiên,  
các nghiên cứu về hoạt tính sinh học của loài này  
còn hạn chế. Vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu này là  
khảo sát hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của  
các cặn chiết và chất sạch từ loài Urena lobata, làm  
rõ hơn bản chất sinh học và là cơ sở cho các nghiên  
cứu sâu tiếp theo về hoạt tính sinh học.  
2.4. Phương pháp khảo sát cấu trúc các chất  
Các chất phân lập được ở dạng tinh khiết là đối  
tượng để khảo sát các đặc trưng vật lý: màu sắc,  
dạng thù hình, Rf, điểm nóng chảy, ... Khi các chất  
đủ sạch sẽ tiến hành ghi các phổ khối lượng (MS),  
phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) một chiều:  
proton (1H-NMR), cacbon-13 (13C-NMR), phổ  
DEPT và phổ cộng hưởng từ hạt nhân hai chiều:  
HSQC và HMBC với các kỹ thuật khác nhau tuỳ  
theo đối tượng cụ thể.  
2. Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Nguyên liệu  
Mẫu thân rễ cây Ké hoa đào thu ở Tuần Giáo  
Điện Biên vào tháng 6 năm 2020 và được TS.  
Nguyễn Quốc Bình (Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam  
- Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam)  
xác định tên khoa học Urena lobata L., mẫu lưu tại  
Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam.  
Phương pháp xác định cấu trúc hóa học các hợp  
chất được sử dụng các thiết bị hiện đại. Các thiết bị  
và phương pháp sử dụng gồm:  
Điểm nóng chảy (mp): Đo trên máy Kofler  
micro-hotstage của Viện Hóa học các Hợp chất  
thiên nhiên - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ  
Việt Nam.  
2.2. Phương pháp xử lý và chiết mẫu  
Mẫu nghiên cứu sau khi thu hái được thái nhỏ,  
o
phơi trong bóng mát, sấy khô ở nhiệt độ 60 C đến  
Phổ cộng hưởng từ nhân (NMR): Đo trên máy  
Bruckker avance 500 MHz (Chất chuẩn nội là TMS),  
tại Viện Hoá học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công  
nghệ Việt Nam. Các kỹ thuật phổ cộng hưởng từ hạt  
nhân được sử dụng:  
khối lượng không đổi, sau đó đem nghiền nhỏ.  
Mẫu được ngâm chiết 3 lần metanol trong thiết bị  
siêu âm ở nhiệt độ phòng. Dịch tổng thu được cất  
o
kiệt dung môi dưới áp suất giảm, nhiệt độ < 50 C  
thu được cặn metanol. Cặn metanol được thêm  
nước và chiết lần lượt với các dung môi có độ  
phân cực tăng dần n-hexan và etyl axetat. Sau đuổi  
dung môi thu được cặn n-hexan, etyl axetat và  
metanol tương ứng.  
1
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều: H-  
NMR, 13C-NMR và DEPT.  
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân hai chiều: HSQC,  
HMBC, COSY và NOESY.  
2.3. Phương pháp phân tích, phân lập các hợp  
chất từ dịch chiết  
Dung môi được sử dụng bao gồm các dung môi  
DMSO-d6, CD3OD và CDCl3. Lựa chọn dung môi  
đo phụ thuộc vào bản chất của từng mẫu, theo  
nguyên tắc dung môi phải hòa tan hoàn toàn mẫu  
đo.  
Việc phân tích, phân tách các phần dịch chiết  
của cây được thực hiện bằng các phương pháp sắc  
ký khác nhau như sắc ký lớp mỏng (TLC), sắc ký  
cột thường (CC) với pha tĩnh là silica gel (Merck).  
2.5. Phương pháp thử hoạt tính kháng vi sinh  
vật kiểm định  
Sắc ký lớp mỏng (TLC): Dùng để khảo sát thành  
phần được thực hiện trên bản mỏng tráng sẵn DC-  
Alufolien 60 F254 (0,25 mm; Merck) và RP-18  
F254S (0,25 mm; Merck). Phát hiện chất bằng đèn  
tử ngoại ở hai bước sóng 254 nm và 365 nm hoặc  
dùng thuốc thử là dung dịch vanilin - H2SO4 5%  
trong metanol.  
Hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định được tiến  
hành để đánh giá hoạt tính kháng sinh của các mẫu  
nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp  
khuếch tán qua giếng thạch của Irobi và cộng sự  
(1996). Các chủng vi sinh vật kiểm định dự kiến:  
chủng vi khuẩn Gram (–) (Escherichia coli ATCC  
185  
T.T.T.Huong/ No.21_Jun 2021|p.185-189  
Sắc ký lớp mỏng (SKLM): Sử dụng bản mỏng  
25922, Pseudomonas aeruginosa ATCC 25923),  
chủng Gram (+) (Bacillus subtillis ATCC 27212,  
Staphylococcus aureus ATCC 11632), chủng nấm  
sợi (Aspergillus niger 439, Fusarium oxysporum  
M42), chủng nấm men (Candida albicans ATCC  
7754, Saccharomyces cerevisiae SH20).  
nhôm tráng sẵn Silica gel 60 F254 (Merck) độ dày  
0,2 mm.  
Sắc ký cột: Sử dụng silica gel Merck 60, cỡ hạt  
0,063 – 0,200 mm và cỡ hạt 0,04 – 0,063 mm (230  
- 400 mesh).  
Dung môi chiết tách: Dung môi được sử dụng  
để chiết tách là loại sản xuất công nghiệp, gồm n-  
hexan, ethyl acetate, acetone, dichloromethane,  
chloroform, methanol.  
Môi trường nuôi cấy vi sinh vật  
+ Môi trường duy trì và bảo tồn giống:  
Saboraud Dextrose Borth (SDB – Sigma) cho nấm  
men và nấm mốc. Trypcase Soya Broth (TSB –  
Sigma) cho vi khuẩn.  
Phát hiện vết chất: đèn UV 254 nm và 366 nm,  
thuốc hiện màu H2SO4 10% trong ethanol.  
2.3.2. Thiết bị  
+ Môi trường thí nghiệm: Eugon Broth (Difco,  
Mỹ) cho vi khuẩn, Mycophil (Difco, Mỹ) cho nấm.  
Bình tam giác, cốc đong, bình cầu cô quay, bình  
triển khai bản mỏng, phễu chiết quả lê, cột sắc ký  
các đường kính khác nhau.  
Tiến hành thí nghiệm  
Nhỏ dịch mẫu nghiên cứu (nồng độ 20 mg/ml  
đối với cặn chiết thô và 2 mg/ml đối với hợp chất  
tinh) vào các lỗ thạch trên đĩa petri đã cấy vi sinh  
Máy siêu âm gia nhiệt Memmert GmbH +  
Co.KG D-91126 Schwabach FRG (Đức).  
Máy cất quay Rotavapor R-114, Buchi (Đức)  
được sử dụng để cất loại dung môi.  
o
vật kiểm định, giữ 4 C trong 8 giờ, sau đó đặt các  
o
Máy BOTIUS (Heiztisch Mikroskop) - Đức sử  
dụng để đo điểm nóng chảy.  
đĩa thạch ở 37 C đối với vi khuẩn kiểm định và 30  
ºC đối với nấm kiểm định. Sau 24 giờ quan sát  
vòng kháng khuẩn tạo thành.  
Máy Bruker Avance 500, sử dụng TMS làm chất  
nội chuẩn để đo phổ cộng hưởng từ hạt nhân một  
chiều 1H-NMR (500MHz) và 13C-NMR (125MHz),  
DEPT, HMBC, HMQC, HSQC.  
Tính kết quả  
Hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của các  
chủng vi khuẩn tuyển chọn được tính bằng đường  
kính vòng kháng khuẩn. Tính kháng khuẩn được  
biểu hiện khi vòng kháng khuẩn rộng hơn 2mm.  
Hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của các  
chủng vi khuẩn tuyển chọn được tính bằng đường  
kính vòng kháng khuẩn (ΔD).  
3. Kết quả thảo luận  
3.1. Thu nhận các cặn chiết  
Thân rễ cây Ké hoa đào (Urena lobata) được  
sấy khô, xay nhỏ thu được 3,1 kg bột mẫu khô, đem  
ngâm chiết với ethanol. Quá trình chiết được thực  
hiện gián đoạn ở nhiệt độ 40 °C trong thiết bị chiết  
siêu âm gia nhiệt 4 lần, mỗi lần khoảng 4-5 giờ.  
ΔD = D - d (mm)  
Dịch chiết được gom lại, lọc qua giấy lọc và cất  
loại dung môi dưới áp suất giảm thu được cặn chiết  
tổng của cây Ké hoa đào (KHV, 235 g). Cặn tổng  
sau đó được tiến hành chiết phân bố lần lượt với n-  
hexan, ethyl acetate, methanol thu được ba dịch  
chiết tương ứng. Cất loại dung môi dưới áp suất  
giảm thu được các cặn chiết tương ứng là KH (cặn  
n-hexan, 50 g), KE (cặn ethyl acetate, 140 g), KM  
(cặn methanol, 45 g).  
Đường kính vòng kháng khuẩn < 5 mm: tính  
kháng yếu  
Đường kính vòng kháng khuẩn từ 5 đến 10  
mm: tính kháng trung bình.  
Đường kính vòng kháng khuẩn > 10 mm: tính  
kháng mạnh.  
2.3. Hóa chất và thiết bị nghiên cứu  
2.3.1. Hóa chất  
Quy trình xử lý mẫu tạo cặn chiết theo quy trình  
ở sơ đồ sau:  
186  
T.T.T.Huong/ No.21_Jun 2021|p.185-189  
Hình 1. Sơ đồ quy trình ngâm chiết cây Ké hoa đào  
acetate tỷ lệ (40:1), thu được ba phân đoạn nhỏ từ  
3.2. Phân lập các hợp chất từ cặn n-hexan cây  
Ké hoa đào  
KH2A→KH2C. Kết tinh lại phân đoạn KH2B  
trong dung môi acetone ở điều kiện nhiệt độ phòng  
thu được hợp chất hình kim màu vàng (KH2; 9,8  
mg), Rf = 0,50 (hệ dung môi n-hexan:EtOAc (HE)=  
2:1).  
Cặn n-hexan (KH – 30 g) được tiến hành sắc ký  
qua cột silica gel với hệ dung môi n-hexan: ethyl  
acetate (HE) (50:1→1:1). Dung dịch rửa giải thu  
được từ cột silica gel khoảng cách mỗi lần là 100  
ml200 ml, sau đó cất lại dung môi thu được những  
phân đoạn nhỏ 510 ml ta được các phân đoạn.  
Kiểm tra các phân đoạn nhỏ bằng sắc ký lớp mỏng  
và hiện màu bằng thuốc thử vanilin-H2SO4, sau đó  
dồn những phân đoạn giống nhau lại, ta thu được 4  
phân đoạn chính KH1→KH4.  
Phân đoạn KH3 (3,0 g) được kết tinh lại trong  
dung môi ethyl axetat ở điều kiện nhiệt độ phòng  
thu được chất bột vô định hình không màu (KH3;  
11,4 mg), nhiệt độ nóng chảy 159-161 oC, Rf = 0,55  
(hệ dung môi chloroform:methanol (C:M)= 9:1).  
Trên cơ sở phân tích các dữ liệu phổ NMR, kết  
hợp so sánh dữ liệu phổ đã được công bố và điểm  
nóng chảy các hợp chất cho phép khẳng định hợp  
chất KH1 là β-sitosterol hay stigmast-5-en-24R-3-  
ol [8], hợp chất KH2 là 5-hydroxy-6,7-  
dimetoxyflavanon [9] và hợp chất KH3 là 3β-  
hydroxy-urs-12en-28-oic [10], có cấu trúc hoá học  
như sau:  
Phân đoạn KH1 (7,0 g) được kết tinh lại trong  
ethyl acetate ở điệu kiện nhiệt độ phòng đã thu  
được hợp chất tinh thể hình kim, không màu (KH1;  
o
1,1 g), điểm chảy 138-140 C, Rf = 0,50 (hệ dung  
môi n-hexan-EtOAc (HE)= 4:1).  
Phân đoạn KH2 (7,5 g) được phân tách lại trên  
cột silica gel bằng hệ dung môi n-hexan:ethyl  
30  
29  
20  
21  
19  
12  
26  
18  
22  
17  
11  
OH  
13  
14  
25  
28  
1
4
16  
9
O
10  
2
3
8
15  
27  
5
7
6
HO  
24  
23  
KH1  
KH2  
Hình 2. Cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập từ Ké hoa đào  
KH3  
187  
T.T.T.Huong/ No.21_Jun 2021|p.185-189  
học thực nghiệm Viện Hóa học các Hợp chất Thiên  
3.3. Kết quả thử hoạt tính  
nhiên bằng phương pháp đục lỗ trên 8 chủng vi sinh  
vật kiểm định. Kết quả thử hoạt tính kháng vi sinh  
vật kiểm định được trình bày như bảng sau:  
Hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của cặn  
dịch chiết KHV, KH, KE, KM và hợp chất KH2,  
KH3 phân lập được từ thân rễ loài Ké hoa đào  
(Urena lobata) được thử nghiệm tại Phòng Sinh  
Bảng 3.3. Kết quả thử hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của cặn chiết và hợp chất từ cây Ké hoa đào  
(Urena lobata)  
Ký  
Nồng độ  
mẫu đầu  
(mg/ml)  
Đường kính vòng kháng khuẩn (D-d, mm)  
hiệu  
mẫu  
Vi khuẩn Gr (-)  
E. P.  
coli aeruginosa  
Vi khuẩn Gr (+)  
Nấm mốc  
Nấm men  
S.  
cerevisiae albicans  
B.  
S.  
A.  
F.  
C.  
subtillis  
aureus niger  
oxysporum  
20  
20  
20  
20  
2
28  
24  
12  
9
17  
19  
15  
3
18  
23  
9
14  
16  
11  
6
22  
28  
14  
4
20  
20  
18  
8
26  
20  
15  
7
24  
28  
16  
4
KHV  
KH  
KE  
10  
20  
19  
KM  
KH2  
KH3  
25  
26  
13  
12  
19  
18  
17  
8
11  
12  
20  
15  
15  
8
2
Kết quả cho thấy, tất cả các mẫu đều thể hiện có  
hoạt tính và hoạt tính khác nhau đối với các chủng  
vi khuẩn kiểm định khác nhau.  
Các cặn chiết KHV, KH, KE và hợp chất KH2,  
KH3 thể hiện hoạt tính tốt nhất với chủng vi khuẩn  
Escherichia coli, Saccharomyces cerevisiae và  
Candida albicans với giá trị ΔD từ 15 đến 28 mm.  
Hoạt tính kháng khuẩn của cặn chiết thô từ cây  
Ké hoa đào (Urena lobata) có hoạt tính tốt với các  
chủng vi khuẩn gram âm, gram dương, vi khuẩn,  
nấm mốc và nấm men. Cặn chiết tổng KHV và KH  
thể hiện hoạt tính cao với các chủng vi khuẩn kiểm  
định với đường kính vòng kháng khuẩn (ΔD) lớn  
hơn 16mm và thấp nhất là 14 mm tương ứng với  
chủng vi khuẩn gram dương Staphylococcus  
aureus. Cặn chiết KE và KM thể hiện hoạt tính  
kháng vi sinh vật kiểm định ở mức khá với các giá  
trị đường kính vòng kháng khuẩn (ΔD) từ 3 đến 18  
mm. Điều này cho thấy, hoạt tính kháng khuẩn  
mạnh của cây Ké hoa đào chủ yếu tập trung ở cặn  
chiết tổng (KHV) và cặn chiết phân đoạn (KH).  
Các kết quả này phù hợp với các công trình  
công bố trước đây về hoạt tính của cặn chiết và các  
hợp chất phân lập được từ cây Ké hoa đào (Urena  
lobata) [14], [20], [24].  
KꢁT LUẬN  
Cặn chiết ethanol tổng (KHV), n-hexane (KH),  
ethyl acetate (KE) và hợp chất KH2, KH3 thể hiện  
hoạt tính ức chế ở các mức khác nhau đối với các  
chủng vi sinh vật kiểm định thử nghiệm với đường  
kính vòng kháng khuẩn lớn hơn 8 mm. Thể hiện  
hoạt tính tốt nhất với chủng vi khuẩn Escherichia  
coli, Saccharomyces cerevisiae và Candida  
albicans với giá trị ΔD từ 15 đến 28 mm. Cặn chiết  
methanol (KM) thể hiện hoạt tính ở mức trung bình  
và yếu với các giá trị giá trị ΔD từ 3 đến 10 mm.  
Các hợp chất sạch phân lập được KH2 và KH3  
có hoạt tính kháng khuẩn khác nhau chống lại các  
chủng vi khuẩn thử nghiệm. Hai hợp chất KH2 và  
KH3 thể hiện hoạt tính kháng khuẩn tố với giá trị  
ΔD từ 12 đến 28 mm. Hợp chất KH2 cho kết quả  
giá trị đường kính vòng kháng khuẩn lớn hơn KH3,  
nhưng sự khác biệt không đáng kể.  
LỜI CẢM ƠN  
Chúng tôi cảm ơn Học viện Y Dược học Cổ  
truyền Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi và hỗ  
trợ kinh phí cho nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài.  
REFERENCES  
[1] Ban, N.T. (2003). List of plant species in  
Vietnam. Agriculture Publishing House, Vietnam.  
188  
T.T.T.Huong/ No.21_Jun 2021|p.185-189  
[2] Loi, D.T. (2004). Vietnamese medicinal  
[6] Singh, D., Singh, V.S. (2016). Isolation and  
characterrization of flavonoids in Urena lobata  
Leaves. European Journal of Medicinal Plants,  
11(1):1-6.  
plants and herbs. Medicine Publishing House,  
Hanoi, Vietnam.  
[3] Xuyen, D.T. & Thin, N.N. (2004). Study on  
the diversity of cotton genera (Malvaceae) in  
Vietnam. Journal of Genetics and Applications,  
1:9-13, Vietnam.  
[7] Fagbohun, E.D., Asare, R.R., Egbebi, A.O.  
(2012). Chemical composition and antimicrobial  
activities of Urena lobata L. (Malvaceae). Journal  
of Medicinal Plants Research, 6(12):2256-2260.  
[4] Dhanapal, R., Ratna, J.V., Gupta, M.,  
Sarathchandran, I. (2012). Preliminary study on  
antifertility activity of Enicostemma axillare leaves  
and Urena lobata root used in Indian traditional folk  
medicine. Asian Pac. J. Trop. Med, 5:16-22.  
[8] Goad, L.J., Akihisa, T. (1997). Analysis of  
sterols. Chapman & Hall, 324-333  
[9] Kamperdick, C., Van, N.H., Sung, T.V.  
(2002). Constituents from Miliusa balansae  
(Annonaceae). Phytochemistry, 61(8):991-994.  
[5] Ali, S., Faruq, K.O., Rahman, A.A.,  
Hossain, M.A. (2013). Antioxidant and cytotoxic  
ativities of methanol extract of Urena lobata (L.)  
Leaves. Pharm. Innov. J, 2(2):9-14.  
[10] Jaki, B.U., Franzblau, S.G., Chadwick  
L.R., Lankin, D.C., Zhang, F., Wang, Y., Pauli,  
G.F. (2008). Puriy – Activity Relationships of  
Natural Products: The Case of Anti-TB Active  
Ursolic Acid. J.Nat.Prod, 71:1742-1748.  
189  
pdf 7 trang yennguyen 12220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định của loài ké hoa đào (Urena lobata L.)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_hoat_tinh_khang_vi_sinh_vat_kiem_dinh_cua_loai_ke_h.pdf