Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất trà túi lọc từ diệp hạ châu trồng tại tỉnh Phú Yên

80  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH SẢN XUẤT TRÀ TÚI LỌC  
TỪ DIỆP HẠ CHÂU TRỒNG TẠI TỈNH PHÚ YÊN  
Nguyễn Tiến Toàn1*  
Nguyễn Xuân Duy2  
1Trường Cao Đẳng Công Thương Miền Trung  
2Trường Đại học Nha Trang  
Tóm tắt  
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sản phẩm trà túi lọc diệp hạ châu (DHC) sản xuất  
có chất lượng cảm quan tốt hơn sản phẩm tương tự trên thị trường. Hàm lượng flavonoid  
trong trà túi lọc sản xuất cao hơn đáng kể so với sản phẩm cùng loại trên thị trường (p <  
0,05). Hoạt tính chống oxi hóa của nó cũng cao hơn so với sản phẩm tương tự (p < 0,05).  
Những kết quả đạt được trong nghiên cứu này cho thấy tiềm năng sử dụng DHC như một  
nguồn nguyên liệu chính để sản xuất sản phẩm chức năng Trà túi lọc, phục vụ trong việc  
phòng và điều trị một số bệnh tật.  
Từ khóa: Diệp hạ châu, trà túi lọc, qui trình công nghệ, hoạt tính chống oxi hóa,  
flavonoid.  
Abstract  
Study on processing tea bags from diep ha chau cultivated in Phu Yen province  
Research results show that the diep ha chau (DHC) tea produced is of better quality  
than the similar products on the market. The content of flavonoids in DHC tea bags is  
significantly higher than that of the same product on the market (p < 0.05). Its antioxidant  
activity is also higher than that of the similar product (p < 0.05). The results obtained in  
this study show the potential of using DHC as a major source for the production of  
functional products for the prevention and treatment of some diseases.  
Key words: Diep ha chau, tea bags, processing technology, antioxidant activity,  
flavonoid.  
1. Đặt vấn đề  
Từ lâu thực vật đã trở thành nguồn thực phẩm, nguồn dược liệu chủ yếu trong dân  
gian. Từ thực tiễn cuộc sống, con người đã biết lựa chọn những loại thực vật vừa có tác  
dụng dinh dưỡng vừa có tác dụng điều trị một số bệnh tật. Thực vật cũng là một nguồn  
tuyệt vời chứa các chất chống oxi hóa (Huda-Faujan và cộng sự, 2009). Các hợp chất  
phenolics, là những chất chống oxi hóa tự nhiên, được phát hiện phổ biến trong các loại  
thực vật. Chúng đã được báo cáo là có nhiều chức năng sinh học quý bởi vì chúng có khả  
năng trì hoãn hiệu quả quá trình oxi hóa chất béo và do đó góp phần cải thiện chất lượng và  
dinh dưỡng của thực phẩm (Marja và cộng sự, 1999; Jin và Rusell, 2010). Nhiều nghiên cứu  
đã được thực hiện cho thấy trong các phần của thực vật chứa nhiều chất chống oxi hóa như:  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019  
81  
Phenolics, flavonoids, tannins, vitamins, quinines, coumarins, lignans, ligin (Cai và cộng  
sự, 2004; Amarowicz và cộng sự, 2004). Vì vậy, thực vật sẽ là một nguồn nguyên liệu tốt  
để thu nhận và ứng dụng các chất có hoạt tính sinh học.  
Hiện nay, tại tỉnh Phú Yên, cây diệp hạ châu được chọn là một trong những cây dược  
liệu đầy tiềm năng, được trồng ở qui mô sản xuất lớn tại một số địa phương, trong đó đáng  
kể nhất phải kể đến đó là xã Hòa An, huyện Phú Hòa. Với những điều kiện đất đai, thổ  
nhưỡng thuận lợi, DHC trồng tại Phú Yên có những đặc tính quý, có chất lượng cao giúp  
cho nguồn dược liệu này có chất lượng khá tốt để phục vụ làm nguyên liệu sản xuất các sản  
phẩm thực phẩm, thực phẩm chức năng.  
DHC là một loại dược liệu quý đã được sử dụng trong phòng và chữa trị một số bệnh  
tật trên cơ thể con người từ lâu trong dân gian. Cây DHC được sử dụng chủ yếu làm nguyên  
liệu thô để chiết xuất các dược chất phục vụ trong lĩnh vực dược và sản xuất thuốc. Một lĩnh  
vực đòi hỏi công nghệ và thiết bị cao, chi phí đầu từ đắt đỏ. Trong khi đó, những ứng dụng  
của DHC trong lĩnh vực thực phẩm vẫn còn rất hạn chế.  
Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xây dựng được quy trình công nghệ sản  
xuất một sản phẩm thực phẩm từ cây DHC trồng tại Phú Yên phục vụ trong lĩnh vực thực  
phẩm.  
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Vật liệu  
2.1.1. Diệp hạ châu  
DHC sử dụng trong nghiên cứu là loại DHC đắng (Phyllanthus amarus). Nguyên liệu  
được thu hái trực tiếp tại ruộng trồng ở xã Hòa An, huyện Phú Hòa, Tỉnh Phú Yên trong  
tháng 4/2018.  
2.1.2. Phụ liệu  
Phụ liệu sử dụng trong nghiên cứu bao gồm Nhân trần và Cam thảo mua tại địa  
phương Tuy Hòa. Phụ liệu đạt tiêu chuẩn sử dụng trong thực phẩm.  
2.1.3. Hóa chất  
NaNO2, AlCl3, NaOH, Quercetin, ethanol mua từ hãng Merk (Đức), DPPH (1,1-  
diphenyl-2-picrylhydrazyl) mua từ hãng Sigma (Mỹ). Các hóa chất sử dụng trong nghiên  
cứu đều đạt yêu cầu phân tích.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Sơ đồ quy trình công nghệ dự kiến sản xuất trà túi lọc từ nguyên liệu Diệp hạ châu  
Sơ đồ quy trình công nghệ dự kiến sản xuất trà túi lọc từ DHC được thể hiện trong  
Hình 1.  
82  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
Diệp hạ châu  
(thân và lá tươi)  
Rửa sạch  
Sấy khô  
Chế độ sấy  
(thời gian x nhiệt độ)  
Xử lý tách thu lá  
Nghiền mịn  
Phối trộn  
Lựa chọn công thức  
phối trộn  
Đóng túi lọc  
Bao gói  
Sản phẩm  
Hình 1. Sơ đồ quy trình công nghệ dự kiến sản xuất trà túi lọc từ DHC  
2.2.2. Phương pháp đánh giá cảm quan  
Sử dụng phương pháp đánh giá cảm quan theo thang điểm 9 (hedonic 9 - point scale)  
như được mô tả bởi Peryam and Pilgrim (1957). Theo đó, các mẫu thử được đánh số một  
cách ngẫu nhiên tương ứng với mỗi công thức phối trộn khác nhau (Bảng 1). 7 chuyên gia  
có kinh nghiệm trong lĩnh vực thực phẩm tiến hành đánh giá và xếp hạng chất lượng của  
các mẫu thử. 9 là mức điểm cao nhất (cực kỳ thích) và 1 là mức điểm thấp nhất (cực kỳ  
không thích) cho mỗi chỉ tiêu được đánh giá. Điểm cuối cùng là trung bình cộng điểm của  
các thành viên. Kết quả thu được từ các chuyên gia đánh giá cảm quan tại phòng thí nghiệm  
sẽ sử dụng làm cơ sở để lựa chọn công thức phối trộn tốt nhất.  
Bảng 1. Công thức phối trộn sản xuất trà túi lọc DHC  
Công thức  
Thành phần  
CT1  
40  
35  
CT2  
50  
30  
CT3  
60  
25  
CT4  
70  
CT5  
80  
Diệp hạ châu  
Nhân trần  
Cam thảo  
20  
15  
25  
20  
15  
10  
5
Tổng (%)  
100  
100  
100  
100  
100  
2.2.3. Phương pháp xác định hàm lượng ẩm  
Hàm lượng ẩm được xác định bằng phương pháp cân đến khối lượng không đổi. Theo  
đó, khoảng 3 - 5g mẫu được sấy khô ở nhiệt độ 105oC đến khối lượng không đổi, cân khối  
lượng trước và sau khi sấy khô để tính được hàm lượng ẩm trong mẫu. Phương pháp này  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019  
83  
tương thích với phương pháp được mô tả bởi AOAC (1995).  
2.2.4. Phương pháp xác định hàm lượng flavonoid tổng  
Hàm lượng flavonoid tổng được xác định theo phương pháp của Lillian Barros và  
cộng sự (2007) với một vài hiệu chỉnh nhỏ. Cụ thể: Chính xác 0,25 ml dịch chiết đã pha  
loãng đến nồng độ thích hợp được trộn với nước cất để đạt thể tích cuối cùng 1,5 ml, sau đó  
thêm 0,075 ml NaNO2 5%, giữ hỗn hợp phản ứng ở nhiệt độ phòng trong 10 phút trước khi  
thêm 0,15 AlCl3 10% và tiếp tục giữ thêm 10 phút ở cùng điều kiện như trên, sau đó thêm  
0,5 ml NaOH 1M và cuối cùng thêm 0,275 ml nước cất. Hỗn hợp phản ứng được đo độ hấp  
thu quang học ở bước sóng ở 510 nm (Specphotometer, Cary 50, Varian, USA). Hàm lượng  
flavonoid tổng được tính toán từ đường chuẩn sử dụng Quercetin. Kết quả cuối cùng được  
báo cáo là mg Quercetin tương đương (QE)/g chất khô.  
2.2.5. Xác định hoạt tính chống oxi hóa  
Khả năng khử gốc tự do DPPH được xác định theo phương pháp của Fu và cộng sự  
(2002) với một vài hiệu chỉnh nhỏ. Tóm tắt: Khoảng 20 µl đến 140 µl dịch chiết đã pha  
loãng đến nồng độ thích hợp được trộn với nước cất để đạt thể tích tổng cộng 3 ml. Sau đó  
thêm 1 ml dung dịch DPPH 0,2 mM, lắc đều và để yên trong bóng tối 30 phút. Độ hấp thu  
quang học được đo ở bước sóng 517 nm (Spectrophotometer, Carry 50, Varian, Australia).  
Khả năng khử gốc tự do DPPH được xác định theo công thức sau: DPPH (%) = 100 × (ACT  
– ASP)/ACT. Trong đó: ACT: Độ hấp thu quang học của mẫu trắng không chứa dịch chiết;  
ASP: Độ hấp thu quang học của mẫu có chứa dịch chiết. Kết quả báo cáo bởi giá trị IC50 là  
nồng độ của dịch chiết khử được 50% gốc tự do DPPH ở điều kiện xác định. Giá trị IC50  
càng thấp thì hoạt tính khử gốc tự do DPPH càng cao.  
2.2.6. Phương pháp xử lý số liệu  
Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 14.0 (SPSS Inc., Chicago, IL,  
USA). Các thí nghiệm được thực hiện với độ lặp lại ít nhất hai lần để tiến hành phân tích  
ANOVA. Kiểm định Tukey được thực hiện để đánh giá sự khác biệt có ý nghĩa thống kê  
giữa các kết quả với mức ý nghĩa p < 0,05.  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Xác định điều kiện sấy khô nguyên liệu DHC  
Ảnh hưởng của thời gian và nhiệt độ sấy đến hàm lượng ẩm và chất lượng cảm quan  
của DHC được thể hiện trong Hình 2. Kết quả cho thấy nhiệt độ và thời gian là hai thông số  
chính ảnh hưởng đến lượng ẩm tách ra từ nguyên liệu thể hiện qua sự giảm khối lượng của  
mẫu trong quá trình sấy khô. Nhiệt độ càng cao thì lượng ẩm tách ra càng nhiều và nhanh  
chóng. Tương tự vậy, thời gian sấy càng dài thì lượng ẩm tách ra từ nguyên liệu càng nhiều.  
Tuy nhiên, xu hướng chung được quan sát đó là ở tại một nhiệt độ sấy nhất định, khi kéo  
dài thời gian sấy thì lượng ẩm tách ra tăng dần và tiệm cận đến sự cân bằng khi đó khối  
lượng mẫu sấy không giảm nữa hoặc giảm rất chậm gần như đạt được trạng thái cân bằng.  
Khi đạt trạng thái cân bằng ổn định thì hàm ẩm của mẫu gần như không giảm nữa. Kết quả  
nghiên cứu từ Hình 2 cũng chỉ ra rằng để đạt được trạng thái cân bằng khi sấy ở nhiệt độ  
40oC thì mất khoảng 20 giờ. Khi tăng nhiệt độ lên thì thời gian sấy để đạt trạng thái cân  
bằng sẽ giảm. Cụ thể: Ở nhiệt độ sấy 50oC thì thời gian sấy đạt trạng thái cân bằng là 12  
giờ, ở 60oC là 10 giờ, ở 70oC là 7 giờ và ở 80oC là 6 giờ.  
Tuy nhiên, để chọn được nhiệt độ và thời gian sấy thích hợp cần phải căn cứ vào đặc  
84  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
tính của nguyên liệu cũng như giá trị cảm quan và dinh dưỡng của sản phẩm đạt được sau  
sấy khô. Nhìn chung, các hợp chất có hoạt tính sinh học quý trong dược liệu thường rất  
nhạy cảm với nhiệt độ. Vì vậy, khi sấy ở nhiệt độ cao (thường trên 60oC) dễ gây tổn thất các  
chất dinh dưỡng, các chất có hoạt tính sinh học quý trong dược liệu.  
Do đó, dựa vào các phân tích trên, nên chọn chế độ sấy khô nguyên liệu DHC là 60oC  
và thời gian sấy 10 giờ để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo. Tại chế độ sấy này, nguyên  
liệu đạt được được độ ẩm khoảng 12%. Với độ ẩm đạt được như vậy, nguyên liệu có đặc  
tính về cảm quan phù hợp để thực hiện các bước công nghệ tiếp theo.  
Hình 2. Đường cong sấy nguyên liệu DHC  
3.2. Xác định công thức phối trộn sản phẩm trà túi lọc DHC  
Sự phối trộn giữa lá DHC với Nhân trần và Cam thảo theo 5 công thức khác nhau  
(CT1, CT2, CT3, CT4 và CT5). Kết quả đánh giá cảm quan của các chuyên gia đối với trà  
túi lọc sản xuất theo 5 công thức trên được thể hiện trong Hình 3. Kết quả cho thấy các công  
thức khác nhau cho mức độ chấp nhận khác nhau thể hiện ở điểm cảm quan chung. Trà túi  
lọc DHC được chế biến theo CT3 có điểm chấp nhận chung cao nhất, cao hơn đáng kể so  
với các mẫu còn lại (p < 0,05). Trong khi đó, điểm chấp nhận chung của mẫu trà túi lọc chế  
biến theo công thức CT1, CT2, CT4 không có sự khác biệt đáng kể (p > 0,05). Mẫu trà túi  
lọc CT2 và CT5 cũng chỉ ra không có sự khác biệt đáng kể nào (p > 0,05).  
Nguyên liệu lá DHC nếu sử dụng riêng rẽ để làm trà túi lọc thì có vị rất đắng. Điều  
này ảnh hưởng đáng kể đến sự lựa chọn sản phẩm trà túi lọc hoàn toàn từ Diệp hạ châu của  
người tiêu dùng. Vì vậy, trong nghiên cứu này, lá DHC được phối trộn với hai thành phần  
khác gồm Nhân trần và Cam thảo nhằm tạo ra hương vị cảm quan tốt hơn cho sản phẩm trà  
túi lọc.  
Vì vậy, CT3 được lựa chọn để sản xuất trà túi lọc DHC.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019  
85  
10  
9
c
b
8
ab  
a
7
6
5
4
3
2
1
0
a
CT1  
CT2  
CT3  
CT4  
CT5  
Công thức phối trộn  
* Ghi chú: Chữ cái trên cột khác nhau chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).  
Hình 3. Điểm đánh giá cảm quan của các công thức phối trộn trà túi lọc DHC.  
3.3. Đề xuất quy trình sản xuất trà túi lọc DHC  
Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm trà túi lọc DHC được thể hiện trong  
Hình 4.  
Giải thích quy trình:  
- Nguyên liệu: Sử dụng nguyên liệu DHC bao gồm cả thân và lá.  
- Rửa : Nhằm loại bỏ các tạp trên nguyên liệu, rửa ba lần bằng nước thường.  
- Sấy khô: Được thực hiện ở nhiệt 60oC, thời gian 10 giờ.  
- Xử lý tách lá: Sử dụng rây chà sát lên cả phần thân và lá đã được sấy khô. Phần lá sẽ  
được tách rời từ thân.  
- Nghiền mịn: Được thực trên máy nghiền, mục đích tạo kích thước đủ nhỏ để dễ  
dàng trong công đoạn phối trộn với các thành phần khác.  
- Phối trộn: Lá DHC sau khi được nghiền mịn được phối trộn với Nhân trần và Cam  
thảo theo tỉ lệ tương ứng là: 60% : 25% : 15% (tính theo khối lượng).  
- Đóng túi: Hỗn hợp sau phối trộn được đóng thành các túi lọc có khối lượng 2g/túi  
sử dụng máy đóng trà túi lọc.  
- Bao gói: 30 gói trà túi lọc được đóng vào một hộp.  
- Sản phẩm: Dạng sản phẩm hoàn thiện trà túi lọc DHC.  
86  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
Nguyên liệu  
Diệp hạ châu  
Rửa sạch  
Sấy khô ở  
50oC/6 giờ  
Xử lý tách lấy lá  
Nghiền mịn  
Phối trộn  
Đóng túi lọc  
Bao gói  
Sản phẩm  
Hình 4. Quy trình công nghệ sản xuất trà túi lọc DHC.  
3.4. So sánh chất lượng giữa trà túi lọc Diệp hạ châu sản xuất với sản phẩm tương tự  
trên thị trường  
Hình 5 là sản phẩm trà túi lọc DHC (SP-CT3) được so sánh với một sản phẩm trà túi  
lọc DHC tương tự trên thị trường (SPTM). Sản phẩm này do Trung tâm nghiên cứu Dược  
liệu Miền Trung sản xuất.  
Kết quả đánh giá cảm quan từ Hình 6 cho thấy SP-CT3 có điểm chấp nhận chung cao  
hơn đáng kể so với SPTM (p < 0,05). Điểm chấp nhận chung của sản phẩm SP-CT3 đạt  
được là 8,29. Trong khi đó, kết quả này của SPTM chỉ là 5,5 điểm. Điều đó cho thấy rằng  
sản phẩm trà túi lọc DHC sản xuất theo qui trình trên được người tiêu dùng chấp nhận cao  
hơn sản phẩm đang có sẵn trên thị trường. Điều này có thể được lý giải là do sản phẩm trên  
thị trường được làm từ 100% nguyên liệu lá DHC nên có vị rất đắng, khó uống. Ngược lại,  
trà túi lọc SP-CT3 có phối chế thêm thành phần Nhân trần và Cam thảo. Bản thân hai loại  
dược liệu này có vị ngọt dịu, hương thơm dễ chịu. Vì vậy, làm cho vị của sản phẩm trà túi  
lọc SP-CT3 có hương vị dễ chịu hơn.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019  
87  
SPTM  
SP-CT3  
Hình 5. Sản phẩm trà túi lọc sản xuất (SP-CT3) và sản phẩm thương mại (SPTM)  
10  
b
9
8
7
6
5
4
3
2
1
0
a
SP-CT3  
SPTM  
Tên sản phẩm  
* Ghi chú: Chữ cái trên cột khác nhau chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).  
Hình 6. So sánh điểm chấp nhận chung giữa mẫu trà túi lọc Diệp hạ châu nghiên cứu (SP-  
CT3) với mẫu thương mại tương tự (SPTM).  
3.5. So sánh hàm lượng Flavonoid giữa mẫu trà túi lọc DHC sản xuất với mẫu thương  
mại trên thị trường  
Flavonoid là những hợp chất quan trọng được tìm thấy phổ biến trong thực vật nói  
chung và trong cây DHC nói riêng. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng các hợp chất Flavonoid có  
nhiều chức năng sinh học quan trọng như: Kháng viêm, chống oxi hóa, ngăn ngừa ung thư  
(Huafu et al., 2000).  
Kết quả từ Hình 7 hàm lượng flavonoid tổng trong mẫu trà túi lọc tự sản xuất theo  
quy trình công nghệ đã nghiên cứu (SP-CT3) là 159,28 mg QUE/g chất khô. Giá trị này đối  
với mẫu trà túi lọc DHC mua từ thị trường (SPTM) là 84,15 mg QUE/g chất khô. Kết quả  
phân tích ANOVA cho thấy hàm lượng Flavonoid tổng trong mẫu SP-CT3 cao hơn đáng kể  
so với mẫu SPTM (p < 0,05).  
88  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
Hàm lượng Flavnoid càng cao chứng tỏ sản phẩm có chất lượng về khía cạnh dược  
học tốt hơn. Sở dĩ mẫu SP-CT3 có hàm lượng Flavonoid cao hơn mẫu SPTM có thể là do  
nguyên liệu DHC được chế biến theo quy trình thích hợp, sấy nguyên liệu ở điều kiện nhiệt  
độ 60oC. Ngoài ra, còn có sự tham gia đóng góp của thành phần Nhân trần và Cam thảo.  
Đây là hai loại thảo dược cũng chứa nhiều thành phần flavonoid.  
180  
160  
140  
120  
100  
80  
b
a
60  
40  
20  
0
SP-CT3  
SPTM  
Tên sản phẩm  
* Ghi chú: Chữ cái trên cột khác nhau chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).  
Hình 7. So sánh hàm lượng Flavonoid giữa mẫu trà túi lọc DHC sản xuất (SP-CT3) với  
mẫu thương mại (SPTM).  
3.6. So sánh hoạt tính chống oxi giữa mẫu trà túi lọc DHC sản xuất với mẫu thương  
mại trên thị trường  
Hoạt tính chống oxi hóa của mẫu trà túi lọc nghiên cứu (SP-CT3) so với mẫu thương  
mại (SPTM) được thể hiện trên Hình 8. Kết quả cho thấy rằng mẫu SP-CT3 có hoạt tính  
chống oxi hóa cao hơn so với mẫu SPTM. Giá trị IC50 (thể tích mẫu khử được 50% gốc tự  
do DPPH trong điều kiện thí nghiệm) của mẫu SP-CT3 là 98 µl. Trong khi đó giá trị này  
của mẫu SPTM là 134 µl. Như vậy, có thể kết luận rằng mẫu SP-CT3 có hoạt tính chống  
oxi hóa mạnh hơn mẫu SPTM gần 1,37 lần.  
Trong thực vật cũng như dược liệu chứa chất chống oxi hóa. Chính điều này làm cho  
thực vật có hoạt tính chống oxi hóa. Thông thường, hoạt tính chống oxi hóa có mối liên  
quan chặt chẽ với hàm lượng chất chống oxi hóa có trong thực vật. Mẫu SP-CT3 có hàm  
lượng flavonoid ( chất chống oxi hóa mạnh) cao hơn mẫu SPTM nên hoạt tính chống oxi  
hóa của nó cao hơn.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019  
89  
80  
70  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
SP-CT3  
SPTM  
y = 0.3932x + 11.547  
R² = 0.996  
y = 0.372x + 0.093  
R² = 0.988  
30  
50  
70  
90  
110  
130  
150  
Thể tích mẫu test (ul)  
Hình 8. So sánh hoạt tính chống oxi giữa mẫu trà túi lọc DHC sản xuất với mẫu  
thương mại trên thị trường  
4. Kết luận  
Nghiên cứu đã xây dựng được quy trình công nghệ sản xuất trà túi lọc DHC. Sản  
phẩm được sản xuất từ quy trình trên có chất lượng vượt trội so với mẫu tương tự trên thị  
trường cả về chất lượng cảm quan và giá trị dược học của sản phẩm. Những kết quả đạt  
được trong nghiên cứu này cung cấp những thông tin hữu ích giúp cho các nhà trồng trọt  
cũng như chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng từ cây dược liệu DHC trồng tại Phú Yên.  
Những nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc hoàn thiện công nghệ để tiến đến sản  
xuất ở quy mô đại trà nhằm thương mại hóa sản phẩm trà túi lọc DHC  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Amarowicz, R., Peggb, R. B., Rahimi-Moghaddamc, P., Barl, B., Weil, J. A. (2004).  
“Free-radical scavenging capacity and antioxidant activity of selected plant species  
from the Canadian prairies”. Food Chemistry, 84, 551-562.  
[2] Cai, Y., Luo, Q., Sun, M., Corke, H. (2004). “Antioxidant activity and phenolic  
compounds of 112 traditional Chinese medicinal plants associated with anticancer”.  
Life Sci., 74, 2157–2184.  
[3] Fu, H., Y. and Shieh, D., E. (2002). “Antioxidant and free radical scavenging  
activities of edible mushrooms”. Journal of Food Lipid, 9, 35-46.  
[4] Huda-Faujan, N., Noriham, A., Norrakiah, A. S., Babji, A. S. (2009). “Antioxidant  
activity of plants methanolic extracts containing phenolic compounds”. African  
Journal of Biotechnology, 8(3), 484-489.  
[5] Huafu Wang, Gordon J. Provn, Keith Helliwell (2000). “Tea flavonoids: their  
functions, utilisation and analysis”. Trend in Food Science and Technology, 11, 4-5,  
pp. 152 – 160.  
[6] Jin, D. and Russell, J. M. (2010). “Plant phenolic: Extraction, analysis and  
antioxidant and anticancer properties”. Molecules, 15, 7313-7352, doi:  
90  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
10.3390/molecules15107313.  
[7] Marja, P. K., Anu, I. H., Heikki, J. V., Jussi-Pekka, R., Kalevi, P., Tytti, S. K.,  
Marina, H. (1999). “Antioxidant activity of plant extracts containing phenolic  
compounds”. J. Agric. Food Chem., 47, 3954-3961.  
[8] Lillian Barros, Paula Baptista, Leticia M. Estevinho and Isabel C. F. R. Ferreira  
(2007). “Effect of fruiting body maturity stage on chemical composition and  
antimicrobial activity of Lactarius sp. Mushroom”. J Agric Food Chem. 55, 8766-  
8771.  
[9] Oyaizu, M. (1986). “Antioxidative activity of browning products of glucosamine  
fractionated by organic solvent and thin-layer chroma-tography”. Nippon Shokuhin  
Kogyo Gakkaishi, 35, 771–775.  
[10] Peryam, D. R. and Pilgrim, F. R., (1957). “Hedinic Scale Method of Measuring Food  
Preference”, The 19th Annual Meeting of the Institute of Food Technologist,  
Pittsburgh, Pa., May 16, 1957.  
(Ngày nhận bài: 29/05/2019; ngày phản biện: 06/06/2019; ngày nhận đăng: 02/10/2019)  
pdf 11 trang yennguyen 12720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất trà túi lọc từ diệp hạ châu trồng tại tỉnh Phú Yên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_xay_dung_quy_trinh_san_xuat_tra_tui_loc_tu_diep_h.pdf