Nghiên cứu phát triển sản xuất ca cao bền vững tại Tây Nguyên
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CA CAO BỀN VỮNG
TẠI TÂY NGUYÊN
Trƣơng Hồng, Đào Thị Lam Hƣơng, Lê Văn Bốn, Bùi Thị Phong Lan, Hạ Thục
Huyền, Nguyễn Thị Ngọc Hà, Phan Việt Hà, Hoàng Hải Long, Đào Thị Lan Hoa, Trần
Thị Thƣờng, Nguyễn Hồng Phong, Phan Thanh Bình, Phạm Văn Thao và ctv.
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ca cao là một trong những loại cây trồng có giá trị kinh tế cao trên thế giới,
không những là nguyên liệu để sản xuất sô cô la cho các nhà máy mà còn là nguồn
sống của 6,5 triệu nông dân của châu Phi, châu Mỹ và châu Á và đƣợc xếp vào tốp
một trong mƣời mặt hàng nông nghiệp trao đổi thƣơng mại của thế giới (www.
cacaogenomelb.org). Hiện nay nhu cầu ca cao trên trên giới ngày càng tăng do mức
sống của ngƣời dân đƣợc nâng cao và ngày càng sử dụng một lƣợng lớn sô cô la phục
vụ cho yêu cầu tái tạo nguồn năng lƣợng sống hàng ngày. Theo đánh giá của tổ chức
ca cao thế giới thì trong vòng 20 năm nữa lƣợng ca cao cung chƣa đủ đáp ứng so với
cầu, đây là cơ hội vàng cho Việt Nam để phát triển ca cao thành một ngành hàng nông
sản xuất khẩu chủ lực mang lại nguồn ngoại tệ cho đất nƣớc, góp phần khai thác lợi
thế so sánh vùng dựa vào các điều kiện đất đai, khí hậu và nguồn lao động tại địa
phƣơng. Chính phủ Việt Nam đã có chƣơng trình phát triển ca cao Việt Nam đến năm
2015 và tầm nhìn đến năm 2020. Tuy nhiên trong thời gian qua tốc độ phát triển ca
cao còn chậm so với kế hoạch, nguyên nhân của tồn tại thì có nhiều, song đứng về
mặt giải pháp khoa học công nghệ cho thấy hiện Việt Nam chƣa có bộ giống ca cao
cho năng suất cao, chất lƣợng tốt, ổn định và phù hợp cho từng vùng sinh thái. Các
biện pháp kỹ thuật nhƣ bón phân, tƣới nƣớc, tạo hình, bảo vệ thực vật... chƣa đƣợc
chuyển giao một cách đồng bộ đối với từng vùng do những nghiên cứu về các vấn đề
này còn hạn chế, chỉ mới tiến hành nghiên cứu một vài lĩnh vực nhỏ lẻ, mang tính chất
xử lý và giải quyết tình huống. Chính vì vậy phát triển ca cao ở Việt Nam nói chung
và Tây Nguyên nói riêng còn thiếu tính bền vững đƣợc thể hiện trong quá trình canh
tác nhƣ tỷ lệ cây chết năm trồng mới cao, năng suất ca cao giai đoạn đầu kinh doanh
thấp, sâu bệnh hại phá hoại nghiêm trọng, đặc biệt là bệnh thối quả, song chƣa có các
giải pháp tổng hợp quản lý hiệu quả. Trong thời gian tới để thực hiện chƣơng trình
phát triển ca cao của Việt Nam đảm bảo đúng tiến độ và hiệu quả thì việc tiến hành đề
tài: "Nghiên cứu phát triển sản xuất ca cao bền vững tại Tây Nguyên" nhằm đề xuất
đƣợc giải pháp khoa học công nghệ nâng cao năng suất, chất lƣợng và hiệu quả kinh
tế của cây ca cao là cần thiết.
Nghiên cứu của đề tài hƣớng tới mục tiêu: Đề xuất đƣợc giải pháp khoa học
công nghệ nhằm phát triển sản xuất ca cao bền vững trên cơ sở nâng cao năng suất,
chất lƣợng và hiệu quả kinh tế của cây ca cao.
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Điều tra hiện trạng canh tác ca cao tại Tây Nguyên để đề xuất giải pháp
khắc phục những hạn chế, phát huy những lợi thế nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và
phát triển sản xuất ca cao bền vững;
2.2. Nghiên cứu tuyển chọn giống: khảo nghiệm, so sánh, tuyển chọn các giống
ca cao năng suất cao ≥ 2 tấn hạt khô/ha, phù hợp cho từng tiểu vùng sinh thái;
2.3. Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật: bón phân, tƣới nƣớc, tạo hình, bảo vệ
thực vật, lên men, phơi sấy để thiết lập các luận cứ khoa học nhằm làm cơ sở cho việc
xây dựng quy trình sản xuất ca cao theo hƣớng bền vững;
2.4. Xây dựng mô hình sản xuất ca cao bền vững, tăng năng suất, chất lƣợng và
hiệu quả kinh tế nhằm kiểm định lại các kết quả nghiên cứu và là mô hình để chuyển
giao nhanh, kịp thời tiến bộ kỹ thuật cho nông dân, các tổ chức trồng ca cao trên địa
bàn Tây Nguyên và các vùng có điều kiện tƣơng tự.
- Thời gian thực hiện: Từ tháng 01/2011 - 06/2016.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Kết quả điều tra hiện trạng canh tác ca cao
Năng suất ca cao trung bình ở vùng Tây Nguyên nhìn chung còn thấp, chỉ đạt
0,90 tấn hạt khô/ha. Giống ca cao trồng chủ yếu là TD3, TD5, TD10 với tỷ lệ diện tích
là 30,22 và 18%.Phƣơng thức trồng chính là trồng thuần, mật độ trồng thuần từ 1.000 -
1.111 cây/ha. Các diện tích trồng xen, mật độ trồng từ 500 - 800 cây/ha.Lƣợng phân
bón cho mỗi cây ca cao trung bình 218,5 g N, 261,4 g P2O5 và 157,3 g K2O, có xu
hƣớng thiếu kali và thừa lân rất nhiều, số lần bón chủ yếu là 3 lần với 67,7% số hộ bón
phân rãi trên mặt. Có 43 % số hộ bón phân hữu cơ cho ca cao. Trung bình có 94,9% số
hộ áp dụng kỹ thuật tỉa cành cho ca cao; 50 % số hộ tƣới nƣớc cho ca cao với lƣợng
200 lít/cây/lần, tƣới 4 - 5 lần/năm. Tỷ lệ diện tích ca cao bị bọ xít muỗi gây hại nặng
29,7%; có 85% số hộ dùng thuốc phòng trừ đối tƣợng gây hại này, song chỉ có 43,5%
số hộ đạt hiệu quả trong việc quản lý bọ xít muỗi gây hại. Tỷ lệ diện tích bị bệnh thối
quả do nấm Phytophthora gây hại mức độ nặng 32,6%; có 89% số hộ sử dụng thuốc
phòng trừ, song chỉ có 43% số hộ đạt hiệu quả mong muốn 80,2 % số hộ bảo quản quả
ca cao từ 2 - 10 ngày trƣớc khi lên men; dụng cụ ủ len mên chủ yếu là thùng gỗ
(70,2% số hộ); 52,7% số hộ lên men hạt ca cao trong vòng 6 ngày; hạt ca cao phơi
nắng là chủ yếu với 74,8% số hộ. Tỷ lệ hạt ca cao hạt khô bán cho đại lý và công ty
xuất khẩu chiểm 84%. Lợi nhuận trung bình cho 1 ha trồngca cao (năm 2011) là 12,8
triệu đồng/ha. Chất lƣợng thử nếm ca cao chƣa đƣợc tốt so với các vùng trồng khác
nhƣ ở Tây Nam Bộ.
3.2. Kết quả khảo nghiệm các giống ca cao
Bảng 1. Năng suất của 3 giống ca cao trồng tại Đắk Lắk.
(năng suất trung bình ở 2 niên vụ thu hoạch 2015 - 2016)
Giống
TC21
TD28
TD31
Đ/C
Năng suất (tấn/ha)
1,98
1,87
1,75
1,48
Tăng so với đối chứng (%)
33,78
26,35
18,24
-
Các giống ca cao đƣa vào khảo nghiệm sản xuất trong năm 2011, gồm có:
TC21, TD28, TD31, đây là các giống có nguồn gốc trong nƣớc đã qua đánh giá, chọn
lọc trên vƣờn tập đoàn và khảo nghiệm cơ bản, đạt năng suất bình quân ≥ 2 tấn hạt
khô/cây/năm vào thời kỳ kinh doanh ổn định, hàm lƣợng bơ ≥ 55%, có khả năng
chống chịu cao với bệnh thối quả. Giống đối chứng TD3 là giống ca cao đƣợc công
nhận vào năm 2006.Quy mô khảo nghiệm 12 ha trên 3 vùng trồng chính (Tây Nguyên,
Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ).
Tại Đắk Lắk, sau 5 năm trồng khảo nghiệm 3 giống TC21, TD28 và TD31 đạt
năng suất bình quân từ 1,75 - 1,98 tấn hạt ca cao khô (năng suất bình quân của 2 năm
đầu thời kỳ kinh doanh), năng suất tăng vƣợt giống đối chứng 18,24% ở giống TD31;
23,56% ở giống TD28 và33,78%ở giống TC21 (bảng 1).
Hình 1. Giống ca cao TC21
Hình 2. Giống ca cao TD31
Điểm khác biệt rõ giữa các giống trồng khảo nghiệm so với dòng đối chứng là
chất lƣợng quả đƣợc nâng lên rõ rệt, thể hiện là các giống đều có số hạt/quả cao hơn
rất nhiều so với giống đối chứng tại các điểm trồng. TC21, TD28 và TD31 là những
giống có ƣu thế về số hạt/quả đạt cao tại các điểm, trung bình đạt 42,2; 42,3 và 40,6
hạt/quả; trong khi đó giống đối chứng có số hạt/quả trung bình là 31,8 hạt/quả.
Mức độ nhiễm sâu hại: Các giống ca cao khảo nghiệm đều bị bọ xít muỗi và
bệnh do nấm Phytophthora gây hại trên quả nhƣng đều ở mức độ nhiễm nhẹ.
3.3. Kết quả nghiên cứu về kỹ thuật canh tác
3.3.1. Nghiên cứu về N, P, K và phân hữu cơ cho cây ca cao
Thí nghiệm thực hiện tại xã Hòa Thắng, TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk,
trên vƣờn ca cao trong thời kỳ kinh doanh (trồng thuần). Năng suất của các công thức
bón N, P, K trên nền có bón phân hữu cơ đều cao hơn các công thức không bón phân
hữu cơ, sai khác này là có ý nghĩa trong thống kê. Công thức bón phân 180g N/gốc +
82g P2O5 và 270g K2O/gốc trên nền có bón phân hữu cơ (11 tấn/ha) cho năng suất hạt
khô đạt cao nhất (1,11 tấn/ha). Công thức bón lƣợng (90g N - 82g P2O5 - 90g K2O)/gốc
năng suất hạt khô thu đƣợc thấp nhất trong thí nghiệm (0,67 tấn/ha).
3.3.2. Nghiên cứu về phân bón vi lƣợng cho cây ca cao
Giữa các công thức bón và không bón bổ sung vi lƣợng có sự khác biệt nhau rõ
về năng suất, công thức không bón bổ sung phân vi lƣợng đạt năng suất hạt khô thấp
nhất (1,68 tấn/ha) trong khi đó công thức bón bổ sung 30 kg ZnSO4 (23 % Zn) và 15
kg Borax năng suất thu đƣợc cao hơn hẳn, đạt 2,01 tấn hạt khô/ha.
Nhƣ vậy, việ c bón b ổ sung thêm Bo, Zn có tác dụng tốt trong việc làm tăng
năng suất ca cao trồng tại Đắk Lắk.
3.3.3. Nghiên cứu về tƣới nƣớc cho cây ca cao
Tại Đắk Lắk, kết quả sau 3 năm theo dõi cho thấy công thức tƣới với lƣợng nƣớc
100 lít/gốc, chu kỳ 15 ngày/lần đạt năng cao nhất 1,17 tấn/ha, công thức không tƣới cho
năng suất thấp nhất, chỉ đạt 0,61 tấn hạt khô/ha. Xét về hiệu quả kỹ thuật của các công
thức tƣới cho thấy công thức tƣới tiết kiệm 100 lít/gốc đạt giá trị cao nhất, tăng 91,08 %
so với đối chứng, thỏa mãn tốt điều kiện để khuyến cáo áp dụng vào sản xuất.
3.3.4. Nghiên cứu về tạo hình cho cây ca cao
Với 4 công thức triển khai trong thí nghiệm: (1). Đối chứng, không tỉa cành; (2).
Tỉa cành để 20 % ánh sáng đi qua; (3). Tỉa cành để 40% ánh sáng đi qua; (4). Tỉa cành để
60% ánh sáng đi qua, kết quả nghiên cứu tạiĐắk Lắk.cho thấy năng suất hạt khô trung
bình đạt từ 1,67 - 1,97 tấn/ha, trong đó với mức tỉa cành để 40% ánh sáng vƣờn cây cho
năng suất cao nhất (1,97 tấn/ha). Công thức đối chứng không tỉa năng suất là 1,67 tấn/ha.
Bảng 2. Ảnh hƣởng của tỉa cành đến năng suất của cây ca cao (tấn/ha)
Năm
Công thức
TB
2012
1,72 a
1,81 a
2,03 a
1,73 a
1,82
2013
1,65 c
1,86 b
2,02 a
1,83 b
1,84
2014
1,63 a
1,84 a
1,88 a
1,66 a
1,75
1
2
3
4
1,67 b
1,83 ab
1,97 a
1,74 ab
1,80
Trung bình
Các chữ cái trong cùng một cột giống nhau thì không khác biệt ở mức p<0,05
Qua phân tích, đánh giá năng suất đạt đƣợc từ các công thức thí nghiệm tại điểm
nghiên cứu, thì việc tạo hình tỉa cành có tác dụng tốt góp phần làm tăng năng suất của
vƣờn cây, với mức tỉa để 40% tại Đắk Lắk ánh sáng xuyên qua là phù hợp nhất.
3.4. Nghiên cứu phòng trừ bệnh thối quả và bọ xít muỗi
3.4.1. Phòng trừ bệnh thối quả
a) Phòng trừ hóa học
Bảng 3. Năng suất và hiệu quả kinh tế phòng trƣ̀ bệ nh thố i quả ca cao
băng biên phap hoa học tại Đắk Lắk.(2011 - 2012)
̀
̣
́
́
Lợi nhuận trung bình
2 năm (triệu đồng/ha)
Năng suất trung
bình 2 năm (tấn hạt
khô/ha)
TT
Nghiệm thức
1
2
3
4
5
Alliet 800 WG (0,3 %)
Ridomil Gold 68 WG (0,3 %)
Agri - Fos 400 (0,3 %)
Tiêm Agri - Fos 400
Đối chứng (không xử lý thuốc)
2,02 b
2,18 b
1,91 b
2,24 a
1,69 c
54,01
61,07
50,53
66,16
43,47
Các chữ cái trong cùng một cột giống nhau thì không khác biệt ở mức p<0,05
Công thƣc tiêm Agri - Fos 400 đa lam giam mƣc đô gây hai cua bênh th ối quả
ca cao tôt hơn so vơi cac công thƣc phun thuôc hoa hoc trong thí nghi ệm, cho năng
́
̃
̀
̉
́
̣
̣
̉
̣
́
́
́
́
́
́
̣
suất đạt cao nhất (2,24 tấn/ha). Xét về hiệu quả cho thấy các công thức sử dụng thuốc
hóa học có lợi nhuận trung bình trong 2 năm trên 50 triêu đông /ha và cao hơn đối
chứng,trong đo tiêm Agri - Fos 400 cho lơi nhuận cao nhât (66,16 triêu đông/ha).
̣
̀
́
̣
́
̣
̀
b) Phòng trừ hóa học kết hợp với sinh học
Các công thức thí nghiệm đã làm giảm tỷ lệ bệnh và cho năng suất cao hơn so
i chƣng (không phun thuốc). Năng suât đat cao nhât ơ công thƣc tiêm Agri - Fos
400 + xử lý Trichoderma (đạt 2,35 tấn hạt khô/ha, cao hơn đối chứng 16,09%); kê đê
là công thức tiêm Agri - Fos 400 + xử lý Pseudomonas (cao hơn đối chứng 10,89%).
Xét về hi ệu quả cho thây công thƣc tiêm Agri - Fos 400 kêt hơp vơi xƣ ly
Trichoderma để phòng trừ bệnh thối quả ca cao đat cao nhât(lãi trên 39 triêu đông/ha).
vớ
i đô
́
́
́
̣
́
̉
́
́
́ n
́
́
́
̣
́
̉
́
̣
́
̣
̀
3.4.2. Phòng trừ bọ xít muỗi
a) Phòng trừ hóa học
Bảng 4. Hiệu quả kinh tế ở thí nghiệm phòng trừ bọ xít muỗi
bằng biện pháp hóa học
Lợi nhuận trung bình 2 năm (2012 -
2013) (triệu đồng/ha)
TT
Công thức
1
2
3
4
Fidur 220 EC(0,3%)
Actara 25 WG (0,025% )
Angun 5 WG(0,35%)
Pertox 5 EC(0,3%)
6,46
5,48
5,83
14,09
5
6
Movento 150 OD (0,125%)
Đối chứng(không xử lý thuốc)
6,33
8,80
Tổng hợp hiệu lực thuốc hóa học trong 2 năm thí nghiệm 2012 và 2013 có kết
quả tƣơng tự nhau. Cả 5 loại thuốc sử dụng trong thí nghiệm đều có hiệu lực phòng
trừ bọ xít muỗi, trong đó thuốc cho hiệu lực cao nhất là Alpha - cypermethrin (Pertox
5 EC, nồng độ 0,3%).
Công thức sử dụng thuốc Pertox 5 EC (0,3%) cho lợi nhuận cao nhất (14,09
triệu đồng/ha).
b) Phòng trừ sinh học
Các loại chế phẩm sinh học đƣa vào thí nghiệm phòng trừ bọ xít muỗi gồm có:
Bacillus thuringiensis - Bt (1 %); Beauveria bassiana - Bb (1%); Metarhizum
anisopliae - Ma (1 %); Paecilomyces - Pae (1%); Beauveria + Metarhizium +
Entomophthorales - En (1%).
Sau 2 năm thí nghiệm tại Đắk Lắk. cho thấy công thức thí nghiệm có xử lý chế
phẩm sinh học Metarhizium anisopliae (1%) và công thức Beauveria + Metarhizium +
Entomophthorales (1%) đều đạt năng suất đạt cao nhất (1,08 tấn/ha), song không
thấy có sự khác biệt có ý nghĩa so với công thức đối chứng (không xử lý).
3.5. Nghiên cứu về lên men, phơi sấy
3.5.1.Nghiên cứu hoàn thiện quy trình lên men hạt ca cao quy mô nông hộ
Thí nghiệm đƣợc thực hiện tại Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây
Nguyên (TP. Buôn Ma Thuột) cho thấy với 100 kg hạt ca cao tƣơi đem ủ trong mùa
mƣa cần tách bớt từ 10 - 12% lƣợng cơm nhầy trong hạt; mùa khô tách bớt từ 5 - 6%
lƣợng nhớt trong hạt; Bổ sung nấm men Saccharomyces cerevisiae, vi khuẩn
Acetobacter pasteurianus với tỉ lệ 100 mg/kg trên khối lƣợng hạt tƣơi đem ủ vào ngày
đầu tiên của quá trình lên men; Lên men 5 ngày, đảo trộn 2 lần vào ngày thứ 1 và ngày
thứ 3 (tƣơng đƣơng với sau 24 giờ và 72 giờ ) sau khi ủ đạt chất lƣợng hạt ca cao khô
lên men tốt nhất. Đây là các thông số kỹ thuật cơ bản để có cơ sở hoàn thiện qui trình lên
men hạt ca cao ở qui mô nông hộ.
3.5.2. Nghiên cứu hoàn thiện qui trình phơi hạt ca cao qui mô nông hộ
Các kết quả thí nghiệm cho thấy: Phơi trên giàn phơi cách mặt đất từ 0,6 - 1,0
m; giàn phơi có hệ thống mái che có sử dụng hiệu ứng nhà kính (mái che thiết kế di
động) để che lúc trời mƣa và vào ban đêm; độ dày lớp phơi <5 cm, đảo đều 2 - 3
lần/ngày cho chất lƣợng hạt ca cao khô tốt nhất.
3.6. Xây dựng mô hình sản xuất ca cao theo hƣớng bền vững
Năng suất: Áp dụng các giải pháp kỹ thuật canh tác từ kết quả nghiên cứu của đề tài
tác động vào vƣờn cây đã làm cho năng suất tại ô mô hình cao hơn so với ô đối chứng
(theo canh tác của nông dân) 0,25 tấn/ha, hiệu quả kỹ thuật tăng so với đối chứng 11,4 %.
Bảng5. Năng suất và hiệu quả của mô hình
Năng suất hạt khô (tấn/ha)
Hiệu quả kỹ thuật
(%)
Mô hình
Đối chứng
Năm
2014
2015
TB
2,3
2,6
2,0
2,4
15,0
8,3
2,45
2,20
11,4
Số liệu tính toán hiệu quả kinh tế của mô hình so với đối chứng (tính trên 1 ha),
trung bình sau 2 năm thực hiện cho thấy mô hình cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với
đối chứng 23,52 triệu đồng/ha.
Hình 3. Trƣớc khi thực hiện mô hình
Hình 4. Sau khi thực hiện mô hình
(Mô hình ca cao thực hiện tại xã Eana, huyện Krong Ana, tỉnh Đắk Lắk)
IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
4.1. Kết luận
- Về giống: Chọn đƣợc 3 giống ca cao TC21, TD28, TD31 có triển vọng, đã
đƣợc công nhận giống cho sản xuất thử (Quyết định số 272/QĐ-BNN-TT,ngày
07/02/2017).
- Đã xây dựng đƣợc quy trình canh tác ca cao bền vững trên cơ sở các kết quả
thí nghiệm về bón phân, tƣới nƣớc, tạo hình, phòng trừ sâu bệnh hại và lên men,
phơi sấy (QĐ số 75/QĐ-VNLT-KHKH, ngày14/4/2016 của Viện Khoa học Kỹ
thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên).
- Xây dựng thành công mô hình áp dụng các kết quả nghiên cứu; Năng suất mô
hình tăng so với đối chứng 0,25 tấn/ha, hiệu quả kỹ thuật tăng 11,4% so với đối chứng;
Lợi nhuận tăng 23,52 triệu đồng/ha so với đối chứng.
- Đã giới thiệu, chuyển giao đƣợc các kết quả nghiên cứu đề tài thông qua đào
tạo 6 thạc sỹ, đăng 7 bài báo khoa học và tổ chức 4 hội thảo trong nƣớc.
4.2. Đề nghị
- Đề nghị Nhà nƣớc cần tiếp tục cấp kinh phí cho chƣơng trình nghiên cứu chọn
tạo giống ca cao.
- Đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho phép đƣợc sản xuất thử
3 giống ca cao TC21, TD28 và TD31 tại các vùng trồng Tây Nguyên và các vùng có
điều kiện tƣơng tự.
- Áp dụng quy trình sản xuất ca cao theo hƣớng bền vững tại các vùng sinh thái
Tây Nguyên và các vùng có điều kiện tƣơng tự.
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu phát triển sản xuất ca cao bền vững tại Tây Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghien_cuu_phat_trien_san_xuat_ca_cao_ben_vung_tai_tay_nguye.pdf

