Phát triển chuỗi giá trị mãng cầu ta trong xây dựng nông thôn mới (Nghiên cứu trường hợp các hộ dân tộc Khmer tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng)
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ MÃNG CẦU TA
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC HỘ DÂN TỘC KHMER
TẠI THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG)
Huỳnh Trường Huya
Vũ Thị Thanh Minhb
a Trường Đại học Cần Thơ
Email: [email protected]
b Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc
Email: vuthanhminh@cema.gov.vn
ục đích của nghiên cứu là phân tích thực trạng sản xuất
và tiêu thụ mãng cầu ta của hộ Khmer tại thị xã Vĩnh
M
Châu, tỉnh Sóc Trăng, dựa trên cuộc khảo sát các tác nhân thị
trường bao gồm hộ sản xuất, thương lái, người bán lẻ trong và
ngoài địa phương. Kết quả phân tích về thực trạng sản xuất cho
thấy, hộ Khmer trồng mãng cầu có kinh nghiệm canh tác hơn 20
năm, nhưng khả năng tiếp nhận và ứng dụng khoa học kỹ thuật rất
hạn chế. Điều này dẫn đến năng suất và chất lượng thấp. Sự hạn
chế về chất lượng và sản lượng còn khiến phần lớn sản phẩm được
tiêu thụ mang tính riêng lẻ thông qua người thu gom hoặc thương
lái tại địa phương. Nhìn chung, hiệu quả sản xuất mãng cầu ta của
những hộ Khmer hiện tại khá thấp so với một số loại cây trồng
khác như nhãn, xoài, rau màu. Vì vậy, những chương trình, hoạt
động can thiệp về chuyển giao kỹ thuật sản xuất, thay đổi giống
cây, áp dụng phân bón hữu cơ để cải tạo đất sẽ kỳ vọng từng bước
cải thiện năng suất và chất lượng mãng cầu ta trong tương lai.
Ngày nhận bài:
13/01/2021
Ngày phản biện: 12/3/2021
Ngày tác giả sửa: 16/3/2021
Ngày duyệt đăng: 18/3/2021
Ngày phát hành: 30/3/2021
DOI:
Từ khóa: Hộ dân tộc Khmer; Mãng cầu ta; Sản xuất; Tiêu thụ;
Thị xã Vĩnh Châu; Tỉnh Sóc Trăng.
1. Đặt vấn đề
dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
giai đoạn 2018 - 2020. Căn cứ vào danh mục dự án
phát triển sản xuất liên kết chuỗi giá trị theo Quyết
định số 864/QĐ-UBND, thị xã Vĩnh Châu có 4 sản
phẩm trong danh mục dự án phát triển sản xuất, bao
gồm: chuỗi giá trị mãng cầu ta, chuỗi giá trị hành
tím, chuỗi giá trị rau an toàn trong nhà lưới và chuỗi
giá trị Artemia, được đề xuất tiến hành nghiên cứu,
phân tích và xây dựng dự án phát triển theo hướng
chuỗi giá trị gắn với liên kết tiêu thụ.
Sóc Trăng là một trong ba địa phương trong
vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có
đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống, với hơn
400.000 người, chiếm khoảng 30% dân số của tỉnh,
chiếm 30,3% người dân tộc Khmer toàn vùng (Ủy
ban Dân tộc & Tổng cục Thống kê, 2020). Trong
đó, thị xã Vĩnh Châu có số dân 184.000 người; đồng
bào Khmer chiếm 53% (dân tộc Kinh: 29%; Hoa:
18%) với 30.000 hộ. Đồng bào dân tộc Khmer ở
Sóc Trăng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất tỉnh (chiếm
gần 50% số hộ nghèo của tỉnh). Đồng thời, sinh
sống chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện phát
triển kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, đời sống
kinh tế phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp,
phần đông không có đất, mất đất hoặc ít đất sản xuất
nên phải làm thuê kiếm sống, việc làm không ổn
định, trình độ học vấn thấp.
Sản phẩm mãng cầu ta của thị xã Vĩnh Châu,
tỉnh Sóc Trăng được biết đến và khá nổi tiếng từ
những năm 80 của thế kỷ trước với những ưu điểm
nổi trội về hương thơm, vị ngọt, độ cát và dai của
sản phẩm. Thị trường tiêu thụ rộng khắp tại các
tỉnh lân cận và được người tiêu dùng ưa chuộng do
những đặc điểm trên. Tuy nhiên, diện tích canh tác
cây mãng cầu ta trên địa bàn thị xã khoảng 1-2 thập
niên gần đây giảm dần do năng suất (trái nhỏ đi và
chất lượng - trái bị méo mó, vỏ trái bị đen và trái có
nhiều hạt) thấp hơn so với trước đây. Ngoài ra, khâu
bảo quản mãng cầu ta hầu như bị bỏ ngỏ do lượng
cung tại địa phương thấp (do diện tích nhỏ). Diện
Ngày 11 tháng 4 năm 2018, UBND tỉnh Sóc
Trăng đã ban hành Quyết định số 864/QĐ-UBND
về việc ban hành danh mục dự án phát triển sản
xuất liên kết theo chuỗi giá trị gắn với tiêu thụ sản
phẩm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây
Volume 10, Issue 1
39
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
tích trồng mãng cầu ta của thị xã hiện nay chủ yếu được khai thác phân tích, bao gồm những chính
tập trung tại 2 xã Vĩnh Tân và Lai Hòa, với khoảng sách, chương trình hỗ trợ sản xuất (như giống, vật
trên dưới 30ha.
tư nông nghiệp, tiếp cận tín dụng, kỹ thuật sản xuất,
thông tin thị trường, thiết bị sản xuất). Đồng thời,
những rào cản về chính sách và qui ước thị trường
đối với nhà sản xuất cũng được xác định thông qua
phân tích chuỗi giá trị hoặc kênh tiêu thụ sản phẩm.
Diện tích mãng cầu ta giảm một mặt do nông
dân không tiếp tục đầu tư sản xuất, hoặc chuyển đổi
sang cây trồng khác (chủ yếu rau màu), đồng thời
với sự sụt giảm về năng suất, chất lượng của mãng
cầu ta cũng bị sụt giảm, điển hình như hạt nhiều, trái
Kết quả phân tích từ một vài nghiên cứu về sản
nhỏ (so với mãng cầu ta ở các địa phương khác), vỏ xuất và tiêu thụ sản phẩm cây ăn trái tại các địa
trái thường bị nấm đen do mắc bệnh nấm đen, rệp phương trong vùng ĐBSCL đã thể hiện được một
sáp, bọ vàng. Đáng chú ý là thời gian bảo quản sau số nội dung nổi bật sau đây: (i) Qui mô sản xuất
khi thu hoạch ngắn, do vậy một mặt phải nhập sản nhỏ, riêng lẻ dẫn đến khả năng áp dụng tiêu chuẩn
phẩm từ các tỉnh khác để đáp ứng tiêu dùng tại thị sản xuất (GAP) thiếu khả thi về khía cạnh kỹ thuật
xã, một mặt khó mở rộng thị trường ra khỏi địa bàn cũng như kinh tế (Vương et al., 2015). Điều này dẫn
thị xã.
đến thực trạng chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng
yêu cầu để tham gia chuỗi cung ứng hiện đại (phạm
vi vùng, toàn quốc). Một số trường hợp hộ sản xuất
xoài tại tỉnh An Giang có qui mô nhỏ sẽ định hướng
sản phẩm gắn với thị trường du lịch nông nghiệp tại
địa phương, thay vì tiêu thụ qua thương lái để xuất
khẩu (Trang & Tú, 2019). (ii) Một số rào cản thị
trường đối với nhà sản xuất cây ăn trái được phát
hiện, đó là: hiểu biết về thị trường (như liên kết,
định giá sản phẩm, hình thức thanh toán) của nhà
sản xuất còn hạn chế (Huy, 2020), thiếu thông tin về
thực trạng và dự báo thị trường ngành hàng (Trịnh,
Em & Lâm, 2019).
Xuất phát từ hiện trạng sản xuất mãng cầu tại
địa phương và cơ hội tiếp cận chính sách để thúc
đẩy phát triển những sản phẩm nông nghiệp có lợi
thế cạnh tranh, nghiên cứu này nhằm mục đích: (i)
mô tả thực trạng sản xuất mãng cầu ta của các hộ
dân tộc Khmer, (ii) phân tích tình hình tiêu thụ sản
phẩm mãng cầu ta của hộ dân tộc khmer tại thị xã
Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
2. Tổng quan nghiên cứu
Với điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu) phù
hợp cho canh tác các loại cây trồng, trong đó cây ăn
trái được xem là nhóm cây trồng chủ lực của vùng
ĐBSCL, dẫn đến sự quan tâm nghiên cứu của các
nhà khoa học không chỉ trong lĩnh vực khoa học kỹ
thuật cây trồng, mà còn với nhà khoa học kinh tế
và kinh doanh. Điển hình như nghiên cứu về chuỗi
giá trị Thanh Long tại huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền
Giang (Vương, Lộc, Tiến, & Kiệt, 2015), chuỗi giá
trị chôm chôm tại thành phố Cần Thơ (Nghi, 2018);
và gần đây, nghiên cứu về chuỗi giá trị ngành xoài
tại tỉnh An Giang (Trang & Tú, 2019).
Nghiên cứu về thực trạng sản xuất và tiêu thụ
mãng cầu ta tại vùng ĐBSCL và thị xã Vĩnh Châu,
tỉnh Sóc Trăng còn thiếu vắng, chủ yếu nghiên
cứu về khía cạnh kỹ thuật sản xuất. Điển hình như
nghiên cứu của Trần Văn Hâu và cộng sự (2019),
nghiên cứu các đặc điểm ra hoa và phát triển quả
của cây mãng cầu ta tại huyện Tịnh Biên, tỉnh An
Giang. Bởi vì, loại cây ăn trái chỉ được canh tác ở
một vài địa phương như Tịnh Biên (tỉnh An Giang)
và thị xã Vĩnh Châu (tỉnh Sóc Trăng). Vì vậy, kết
quả từ nghiên cứu kỳ vọng cung cấp bằng chứng
khoa học và thực tiễn về khía cạnh thị trường của
sản phẩm đặc trưng này, đặc biệt đối với đồng bào
dân tộc Khmer tại địa bàn nghiên cứu.
Hầu hết, các nghiên cứu nêu trên tiếp cận phương
pháp phân tích chuỗi giá trị để đánh giá, phân tích
sản xuất và tiêu thụ của ngành hàng, sản phẩm; cụ
thể, xuất phát phân tích chuỗi giá trị sản phẩm từ
khâu sản xuất (bao gồm hộ, cơ sở, doanh nghiệp), từ
đó theo dòng chảy của sản phẩm, các tác nhân tiếp
theo (kể cả đầu vào và đầu ra) của chuỗi giá trị sẽ
được tiếp cận và phân tích. Ở khâu nhà sản xuất, các
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Số liệu phân tích
- Thông tin thứ cấp: Báo cáo tổng kết công tác
nhà nghiên cứu kinh tế hoặc thị trường thường tập hàng năm, đề án dự án phát triển nông nghiệp, cây
trung đánh giá khả năng tham gia thị trường của nhà ăn trái của cơ quan ban ngành nông nghiệp cấp tỉnh,
sản xuất thông qua các chỉ tiêu về nguồn lực: đặc thị xã Vĩnh Châu.
điểm nhân khẩu học, kinh nghiệm sản xuất, quan hệ
xã hội tổ chức tại địa phương, quan hệ kinh doanh
với các đối tác cung cấp yếu tố đầu vào, yếu tố tài
chính. Liên quan đến khâu tiêu thụ, các nhà nghiên
cứu chủ yếu làm rõ các nội dung: bán sản phẩm cho
ai, tiêu chí phân loại và định giá sản phẩm, hình
thức thanh toán, tính thời vụ… Bên cạnh đó, một
số yếu tố về môi trường sản xuất kinh doanh cũng
- Số liệu sơ cấp: được thu thập từ các nhóm tác
nhân thị trường sau đây: (i) chuyên gia (công, tư),
(ii) nhà sản xuất, (iii) tác nhân kinh doanh. Trong
đó, tham vấn chuyên gia các vấn đề liên quan đến
chính sách sản xuất và hoạt động hỗ trợ tiêu thụ sản
phẩm mãng cầu ta. Hội thảo tham vấn ý kiến các
bên liên quan để thu thập thông tin, số liệu về hiện
trạng sản xuất, kênh thị trường tiêu thụ mãng cầu
40
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
ta của hộ sản xuất Khmer. Cụ thể, tìm hiểu những
Sơ đồ Phân tích hệ thống thị trường có sự tham
điểm nghẽn trong kênh thị trường; các chức năng gia (Sơ đồ 1) trình bày những nội dung sau: (i) mô
hỗ trợ thị trường bao gồm các khâu sản xuất, sơ chế tả kênh thị trường sản phẩm từ nhà sản xuất đến thị
chế biến, thương mại.
trường tiêu dùng, trong đó bao gồm các tác nhân
trung gian như nhà thu gom, sơ chế, chế biến với
qui mô nhỏ, lớn; nhà kinh doanh thương mại (bán
sỉ, bán lẻ); kể cả thị trường “ngách” và tổ chức mua
sản phẩm; (ii) phân tích môi trường sản xuất kinh
doanh (SXKD) hiện tại có ảnh hưởng như thế nào
đến sự vận hành của kênh thị trường sản phẩm,
bao gồm những qui định về thuế, phí, lệ phí, tiêu
chuẩn qui định đối với hoạt động sản xuất, sơ - chế
biến, kinh doanh sản phẩm, luật và lệ kinh doanh,
xu hướng thị hiếu tiêu dùng trong và ngoài nước;
(iii) phân tích những chức năng hỗ trợ thị trường
từ lĩnh vực công, tư, quốc tế, bao gồm các dịch vụ:
tiêu chuẩn sản xuất, phát triển sản phẩm, liên kết
thị trường, cung cấp thông tin thị trường và dịch vụ
tài chính.
- Khảo sát thực địa: phỏng vấn tất cả hộ sản xuất
mãng cầu ta tại thị xã Vĩnh Châu với số lượng 60 hộ
trong năm 2019. Hộ sản xuất mục tiêu được chọn
có những đặc điểm sau: đã trồng trước đây và gián
đoạn; đang trồng với mục đích kinh doanh; đang
trồng với mục đích tự tiêu dùng, thăm dò tính thích
ứng đất đai và thị trường. Quá trình khảo sát với sự
hướng dẫn, giới thiệu của lãnh đạo xã hoặc cán bộ
khuyến nông xã.
3.2. Phương pháp phân tích
Công cụ phân tích thống kê mô tả được sử dụng
nhằm đánh giá các chỉ tiêu về hiện trạng sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm mãng cầu ta Vĩnh Châu, bao
gồm: đặc điểm hộ sản xuất, qui mô sản xuất, năng
suất, giá bán.
Sơ đồ 1: Phân tích hệ thống thị trường có sự tham gia
4. Kết quả nghiên cứu
sản phẩm mãng cầu ta khoảng 10 năm gần đây bị
giảm sút về năng suất và chất lượng. Chính vì thế,
việc khôi phục diện tích sản xuất mãng cầu ta trên
cơ sở áp dụng quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn
(như VietGAP) trong thời gian tới sẽ góp phần cải
thiện năng suất và chất lượng sản phẩm.
4.1 Thực trạng sản xuất mãng cầu ta của hộ
dân tộc Khmer
Qua thông tin thảo luận nhóm cộng đồng và kết
quả khảo sát hộ sản xuất tại thị xã Vĩnh Châu cho
thấy, diện tích sản xuất mãng cầu ta hiện tại chỉ
còn khoảng 30ha, sản phẩm thu hoạch được 2 - 4
đợt (bình quân thu hoạch 2 đợt/năm). Đa số các hộ
trồng mãng cầu – hộ Khmer - đã sản xuất mãng cầu
ta từ những năm 1980, tuy nhiên do ảnh hưởng của
nước mặn từ nuôi tôm thẻ tự phát tại địa phương,
Kết quả khảo sát cho thấy, hiện tại hầu hết hộ
trồng mãng cầu ta sản xuất theo hình thức riêng lẻ,
với qui mô khá đa dạng từ 1.000 – 8.000m2. Theo
định hướng của thị xã, từ năm 2019 trở đi sẽ tuyên
truyền, vận động các hộ sản xuất mãng cầu ta tham
gia thành lập Hợp tác xã (HTX), hoặc Tổ hợp tác
Volume 10, Issue 1
41
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
(THT) nhằm tạo cơ sở để tiếp cận nguồn lực đầu tư thu hoạch kéo dài 10-15 ngày, khoảng 2-3 ngày sẽ
khôi phục sản xuất sản phẩm đặc trưng này.
thu hoạch 1 lần. Hiện tại, hộ có thể chủ động xử
lý ra hoa và thu hoạch vào bất kỳ thời điểm nào
trong năm nhằm tránh rủi ro về tính thời vụ. Năng
suất mãng cầu dao động khá lớn, phụ thuộc vào kỹ
thuật chăm sóc, thời tiết, sâu bệnh, xâm nhập mặn.
Nhìn chung, hộ trồng mãng cầu ta thu hoạch 2 vụ
chính trong năm: Thời điểm thu hoạch của vụ 1 là
từ tháng 4 đến tháng 5, thời điểm thu hoạch của vụ
2 là từ tháng 10 đến tháng 11.
Hộ dân tộc Khmer trồng mãng cầu chủ yếu sản
xuất trên đất của hộ, không thuê mướn đất để sản
xuất. Do mới khôi phục lại cây trồng này nên đa số
hộ thực hiện canh tác trồng xen canh điển hình như
mãng cầu ta, xoài, nhãn hoặc mãng cầu ta, rau màu
(củ cải trắng, cà chua, ớt) nhằm mục đích đa dạng
hóa sinh kế, đồng thời sản xuất mang tính thăm dò
đối với sản phẩm mãng cầu ta.
Về hiệu quả sản xuất:
Về kinh nghiệm sản xuất: Hộ trồng mãng cầu
hiện tại - theo hình thức kinh doanh hoặc tự tiêu
Năng suất: Do phần lớn hộ trồng mãng cầu ta tại
dùng - cũng đã từng trồng mãng cầu ta trước đây, địa phương chưa có sự đầu tư hoàn chỉnh (sản xuất
vào những năm 80 của thế kỷ trước. Hay nói cách mang tính thăm dò thị trường) và chưa áp dụng khoa
khác, hộ trồng mãng cầu có kinh nghiệm trong học kỹ thuật, nên năng suất mãng cầu ta hiện tại dao
khâu chọn giống, chăm sóc. Tuy nhiên, với sự ảnh động rất lớn, thấp nhất là 600kg/công (1 công tầm
hưởng của biến đổi khí hậu - xâm nhập mặn, nắng lớn khoảng 1.200m2) và cao nhất là 4.500kg/công.
nóng kéo dài, sâu bệnh,… đòi hỏi hộ trồng mãng Hơn nữa, sự chênh lệch về năng suất giữa các hộ
cầu ta phải cập nhật kiến thức, trau dồi kinh nghiệm sản xuất còn phụ thuộc vào độ tuổi của cây; điển
về quy trình sản xuất cải tiến và xử lý bệnh trên hình như hộ ở ấp Hòa Hiệp thu hoạch được 4 tấn/
cây. Minh chứng cho điều này là hiện tại nông dân công/năm đối với cây mãng cầu ta được 3 năm tuổi
không thể biết nguyên nhân tại sao trái mãng cầu và 4,5-5 tấn vào những năm tiếp theo. Tuy nhiên
ta đang phát triển thường bị rệp sáp, đen hoặc bị cũng có trường hợp hộ chỉ thu được 400 – 500kg/
méo mó. Đồng thời, họ cũng không biết cách xử lý, công đối với cây mãng cầu ta có cùng độ tuổi.
phòng ngừa thế nào.
Kết quả khảo sát về năng suất của mãng cầu ta
Khâu tổ chức sản xuất: Đối với cây giống, các tại 2 xã dự án chuỗi giá trị mãng cầu ta cho thấy, có
hộ được khảo sát cho biết từ trước đến nay họ thực nhiều tiềm năng để gia tăng năng suất của sản phẩm
hiện chọn giống mãng cầu ta để trồng theo hình này nếu như hộ sản xuất được chuyển giao khoa học
thức sau: mua mãng cầu ngoài chợ - trái to, tròn, kỹ thuật sản xuất và đầu tư cải tạo vườn, hệ thống
đẹp - về ăn nếu thấy thịt ngọt và dai thì sẽ để hạt thủy lợi-thoát nước (do cây mãng cầu ta không chịu
lại để gieo trồng. Mặt khác, việc chọn giống như được điều kiện ngập úng); đặc biệt là khâu chọn
vậy dẫn đến hiện trạng: (i) không thể xác định được giống và phương pháp canh tác ở năm thứ 1 (gieo
chính xác tên/loại giống mãng cầu ta, (ii) thiếu quy trồng bằng hạt hay ghép cành, ghép bo).
trình chọn giống chuẩn, (iii) thời gian phát triển và
cho thu hoạch mất nhiều năm (khoảng 3 năm). Hộ
trồng mãng cầu với mật độ bình quân 2,5-3m/cây,
tương đương 400 cây/1.200m2.
Lao động: Hộ trồng mãng cầu ta chủ yếu sử
dụng lao động gia đình trong suốt quá trình canh tác
và thu hoạch sản phẩm. Bên cạnh đó, một số hộ sản
xuất đa canh với qui mô lớn thường thuê lao động
Đối với vật tư nông nghiệp: Hiện tại hộ trồng để thực hiện khâu chăm sóc như phun xịt thuốc, làm
mãng cầu phần lớn sử dụng phân bón hóa học cho cỏ và kể cả thu hoạch. Trong đó, chi phí thuê lao
cây mãng cầu ta, bao gồm NPK, DAP, Kali; bình động đối với hoạt động phun xịt thuốc được trả theo
quân khoảng 10 bao/vụ (cho diện tích 5.000m2), sản phẩm (bình xịt); tiền công là 25.000 đồng/bình,
ngoài ra còn sử dụng các loại nông dược để phòng khoảng 3 bình/công; tương đương 75 - 100 đồng/
ngừa, trị sâu bệnh trên cây, khoảng 9 lần/vụ (xịt lần phun xịt thuốc/ngày. Tiền công thu hoạch cũng
thuốc mỗi 2 tuần/lần). Các loại vật tư nông nghiệp được trả khoảng 120-150.000 đồng/ngày.
và nông dược được hộ mua tại các cửa hàng vật tư
nông nghiệp tại địa phương, với hình thức thanh
toán tiền mặt và tự vận chuyển về hộ bởi vì số lượng
mua mỗi lần không nhiều. Về lao động, hộ sản xuất
sử dụng lao động gia đình (2-3 người/hộ) cho các
khâu chăm sóc và thu hoạch. Hơn nữa, lực lượng
lao động này cũng thực hiện các hoạt động đối với
các loại cây trồng, vật nuôi khác của hộ.
Kết quả tính toán hiệu quả sản xuất của hộ trồng
mãng cầu ta điển hình – cây trồng được 4 năm tuổi
đã thu hoạch được 3 vụ cho thấy trong 2 năm đầu
tiên hộ phải đầu tư từ 8 – 12 triệu đồng/năm chủ
yếu cho các khoản mục chi phí phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật (BVTV) và thuê lao động chăm sóc.
Trong trường hợp hộ thu hoạch vào năm thứ 3, 2
đợt thu hoạch/năm, thu nhập của hộ trồng mãng cầu
Về lịch thời vụ: Bình quân hộ thu hoạch 2 đợt/ ta tích lũy được sau 4 năm sản xuất hơn 60 triệu
năm, thời gian bắt đầu xử lý ra hoa cho đến thu đồng/1.000m2 (sau khi trừ chi phí đầu tư sản xuất
hoạch thường dao động 135-145 ngày; thời gian trong suốt 4 năm). Với mức thu nhập này, bình quân
42
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
Bảng 1. Hiệu quả sản xuất mãng cầu ta đối với cây 4 năm tuổi
Chỉ tiêu
Chi phí SX (1.000 đ)
Mục
Năm 1
8000
Năm 2
10.650
Năm 3
11.650
Năm 4
11.650
Tổng
1
2
41.950
102.204
60.254
Doanh thu (1.000 đ)
0
0
51.102
39.452
51.102
39.452
Thu nhập (chưa tính lao động gia
đình) (1.000đ)
3 =2-1
(8.000)
(10.650)
Hiệu quả đầu tư (lần)
Tỷ suất sinh lợi (%)
4=2/1
5=3/1
0
0
0
0
0
0
4,38
338,6
4,38
338,6
-
-
-
Thu nhập/lao động (1000đ/người/
năm)
6=3/(3
lao động/
hộ)
13.150
13.150
mỗi lao động gia đình tham gia sản xuất kiếm được
Sau khi thu mua từ hộ sản xuất, thương lái sẽ phân
hơn 13 triệu đồng/năm. Thật ra, hộ sản xuất đa canh phối lại cho các người bán lẻ tại các chợ địa phương
cho nên tổng thu nhập của hộ hoặc lao động gia hoặc giao cho các thương lái ở địa phương lận cận
đình sẽ cao hơn. Hơn nữa, thu nhập của hộ được (như tỉnh Bạc Liêu) đến mua. Hình thức thanh toán
đánh giá mang tính ổn định hơn khi thực hiện đa chủ yếu là tiền mặt và thanh toán ngay sau khi phân
dạng hóa sản xuất.
loại và cân sản phẩm. Ngoài ra, sản phẩm mãng cầu
ta còn được tiêu thụ thông qua các cơ quan, tổ chức
nghiên cứu của ngành nông nghiệp.
4.2 Thực trạng tiêu thụ mãng cầu ta của hộ
dân tộc Khmer
Thực ra, nhóm khách hàng “ngách” này mua sản
phẩm chủ yếu phục vụ cho hoạt động nghiên cứu về
sâu bệnh trên cây, lá, và quả mãng cầu ta; nghiên
cứu phương pháp bảo quản trước và sau thu hoạch
mãng cầu ta,… Tuy nhiên, hiện tại tỷ lệ khối lượng
sản phẩm tiêu thụ qua nhóm khách hàng đặc trưng
này không lớn (khoảng 2-3%). Về dài hạn, nhóm
khách hàng kỳ vọng có đóng góp về mặt chuyển
giao khoa học kỹ thuật sản xuất, chế biến, bảo quản
sau thu hoạch đối với vùng sản xuất mãng cầu ta
của địa phương.
4.2.1. Kênh thị trường
Do qui mô sản xuất nhỏ và không tập trung như
hiện nay, nên kênh thị trường của sản phẩm mãng
cầu ta của thị xã Vĩnh Châu (tỉnh Sóc Trăng) khá
đơn giản. Qua khảo sát hộ sản xuất tại 2 xã dự án
được biết, sản phẩm được bán chủ yếu cho thương
lái trái cây tại địa phương theo hình thức liên hệ
(qua điện thoại) vào thời điểm thu hoạch. Thông
thường hộ sản xuất mãng cầu ta có thể liên hệ 2-3
thương lái thu mua trái cây để hỏi giá, nếu thấy giá
phù hợp thì hộ và thương lái sẽ xác định giá và ngày
thu hoạch.
Nhìn chung, so với một kênh thị trường nông
sản phổ biến như trình bày ở Hình 1; kênh thị
trường mãng cầu ta tại thị xã Vĩnh Châu thiếu một
số chức năng quan trọng đóng góp tạo ra giá trị gia
tăng cho sản phẩm và đa dạng hóa thị trường, đó là
khâu sơ chế, chủ vựa, doanh nghiệp chế biến hoặc
doanh nghiệp thương mại (nội địa hoặc xuất khẩu).
Hiện trạng của kênh thị trường như thế được xem là
kết quả của một giai đoạn phát triển sản xuất bị gián
đoạn gần 2 thập kỷ và bị mai một dần.
Sản phẩm mãng cầu ta được chia thành 3 loại với
3 mức giá khác nhau, trong đó loại 1 có đặc điểm trái
tròn, vỏ không bị rệp sáp, đen; loại 2 có đặc điểm trái
bị méo mó (mặc dù quả to), vỏ không bị rệp sáp, đen;
loại 3: trái rất nhỏ (gọi là mãng cầu đạn).
Theo các hộ sản xuất mãng cầu ta, giá bán mãng
cầu ta khá ổn định trong những năm gần đây. Đây
được xem yếu tố quan trọng thúc đẩy một số hộ
mạnh dạn khôi phục, hoặc mở rộng diện tích trồng
mãng cầu ta tại địa phương.
4.2.2. Môi trường sản xuất, kinh doanh
Qua thông tin hội thảo, thảo luận cấp xã và khảo
sát thực địa cho thấy, môi trường sản xuất và kinh
doanh đối với sản phẩm mãng cầu ta Vĩnh Châu
hiện nay bao gồm các yếu tố sau:
Bảng 2. Đặc điểm thị trường của sản phẩm mãng
cầu ta
Phân loại
sản phẩm
Tỷ lệ thu
hoạch
Giá bán
(đ/kg)
Đặc điểm
- Thuế, phí: Do là sản phẩm nông nghiệp cho
nên trong quá trình sản xuất hộ trồng mãng cầu ta
không phải nộp bất kỳ khoản thuế hay phí nào liên
quan đến sử dụng tài nguyên (đất, nước), cơ sở hạ
tầng nông thôn,…
Tròn, vỏ không bị
rệp sáp
Méo mó, không bị
rệp sáp
Quả nhỏ (gọi là
đạn)
Loại 1
Loại 2
Loại 3
50-60
30-40
10
20 – 25.000
12 – 15.000
5 – 8.000
- Tiêu chuẩn sản xuất, chế biến, kinh doanh: Do
Volume 10, Issue 1
43
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
Sơ đồ 2. Kênh thị trường mãng cầu ta Vĩnh Châu
vùng sản xuất mãng cầu ta được khôi phục trong quan tâm hơn là sản phẩm có truy xuất nguồn gốc
2 - 3 năm gần đây, cho nên hầu hết hộ sản xuất vẫn và tiêu chuẩn chất lượng. Vì vậy, định hướng sản
chưa áp dụng tiêu chuẩn nào, từ khâu chọn giống xuất mãng cầu ta của thị xã Vĩnh Châu sẽ phải đạt
cho đến khâu chăm sóc - sử dụng phân bón và nông tiêu chuẩn theo nhu cầu thị trường nói chung và thị
dược bảo quản trước và sau thu hoạch, phổ biến hiếu tiêu dùng nói riêng.
nhất đó là bao trái như một số địa phương khác đã
và đang thực hiện. Theo định hướng sản xuất gắn
với phát triển chuỗi giá trị sản phẩm, các hộ trồng
mãng cầu ta tham gia dự án chuỗi giá trị phải thực
hiện sản xuất theo quy trình VietGAP mới nhằm tạo
ra vùng sản xuất đạt tiêu chuẩn và làm cơ sở để
liên kết thị trường, xa hơn nữa là đăng ký nhãn hiệu
tập thể và xây dựng thương hiệu mãng cầu ta Vĩnh
Châu.
4.2.3. Dịch vụ hỗ trợ thị trường
Nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp
nói chung và mãng cầu ta nói riêng, các cơ quan
ngành nông nghiệp như bảo vệ thực vật, khuyến
nông phối hợp với các địa phương tổ chức các hoạt
động tuyên truyền, vận động, triển khai thực hiện
mô hình trình diễn kỹ thuật,… Qua khảo sát thực
địa hộ sản xuất mãng cầu ta tiếp nhận được các dịch
vụ (công, tư) hỗ trợ như sau:
Trong năm 2019 và năm 2020, một số hoạt động
trong khuôn khổ của dự án chuỗi giá trị (CGT) mãng
cầu ta tại thị xã Vĩnh Châu được triển khai thực hiện
tại 2 xã dự án với 60 hộ Khmer tham gia; cụ thể là
triển khai các mô hình chuyển giao kỹ thuật canh
tác và bảo quản sản phẩm, hoạt động tập huấn kỹ
thuật canh tác và xử lý bệnh trên cây,… Với dự án
CGT mãng cầu ta được triển khai, kỳ vọng sẽ góp
phần tích cực phát triển nhanh diện tích sản xuất
mãng cầu ta tại 2 xã dự án cả về lượng và chất trong
những năm tới.
- Nâng cao năng lực sản xuất: Trạm bảo vệ
thực vật tổ chức lớp tập huấn kỹ thuật chăm sóc và
hướng dẫn cách cắt tỉa cành, nhánh mãng cầu ta tại
một số hộ sản xuất tại xã Lai Hòa. Kết quả chuyển
giao hướng dẫn kỹ thuật được hộ sản xuất đánh giá
tương đối tốt và đã góp phần tăng năng suất (cho
trái nhiều hơn) sau khi cắt tỉa. Tuy nhiên, theo kinh
nghiệm riêng thì hộ sản xuất cho rằng mức độ cắt
nhánh vừa phải - nếu cắt nhánh còn lại quá ngắn
thì sẽ cho trái ít, ngược lại nhánh dài thì sẽ thiếu
ánh sáng và sẽ cho trái ít. Trong quá trình triển khai
mô hình hướng dẫn kỹ thuật cắt tỉa nhánh, cũng có
một hộ bị thiệt hại năng suất do trái bị sâu bệnh.
Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này thì
chưa được xác định rõ - do cắt tỉa hay do các yếu tố
ảnh hưởng nào khác gây ra.
- Thị hiếu tiêu dùng: Mãng cầu ta được biết đến
như loại trái cây không những có giá trị dinh dưỡng
của thực phẩm; mà còn được đánh giá như thực
phẩm có tính dược liệu. Do có những đặc tính hữu
ích đối với sức khỏe con người liên quan đến cung
cấp vitamin C, chất xơ, chất chống oxy hóa, protein,
kẽm, kali, photphat, magie, sắt,… nên sản phẩm
này ngày càng được người tiêu dùng quan tâm và
chọn mua. Tuy nhiên, vấn đề được người tiêu dùng
- Cải thiện chất lượng sản phẩm: thông qua dự
án CGT mãng cầu ta, hộ sản xuất tham gia dự án kỳ
vọng sẽ cải thiện chất lượng sản phẩm, cụ thể là gia
tăng tỷ lệ sản phẩm đạt loại 1 - trái to hơn, tròn hơn
44
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
và không bị rệp sáp, đen. Để đạt được điều này, một đó, tài liệu hóa quy trình hướng dẫn kỹ thuật chăm
số hoạt động hỗ trợ chủ yếu đối với nhà sản xuất sóc mãng cầu ta cho hộ sản xuất.
được thực hiện trong năm 2019 và năm 2020, bao
gồm chuyển giao quy trình cải tạo đất, chăm sóc
và phòng ngừa, xử lý sâu bệnh trên cây. Đồng thời,
thực hiện mô hình chuyển giao kỹ thuật bảo quản
trước và sau thu hoạch nhằm kéo dài thời gian bảo
quản sản phẩm trong kênh thị trường.
Chuyển giao kỹ thuật canh tác bao gồm cải tạo
đất, hướng dẫn sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực
vật, cắt cành tỉa nhánh, và phương pháp bảo quản
trước và sau thu hoạch. Mục đích nhằm góp phần
cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm, đồng
thời giảm thiểu rủi ro giảm giá liên quan đến bảo
- Thúc đẩy liên kết thị trường: Nhằm phát triển quản sau thu hoạch.
đầy đủ các chức năng của hệ thống kênh thị trường
bao gồm sơ chế, chế biến, thương mại, hoạt động
hỗ trợ xây dựng các liên kết thị trường (ngang, dọc)
được quan tâm đồng thời với hoạt động chuyển giao
kỹ thuật sản xuất. Trước hết, cơ quan ban ngành
địa phương (phòng kinh tế, ủy ban nhân dân xã) tổ
chức tuyên truyền, vận động và chuẩn bị các bước
để thành lập các tổ chức kinh tế tập thể như HTX,
THT. Đây là điều kiện tiên quyết để tiến hành hoạt
động liên kết thị trường trong thời gian tới.
Cung cấp thông tin kỹ thuật sản xuất, phòng trừ
và xử lý bệnh trên cây mãng cầu ta qua các kênh đa
dạng, phù hợp (đối với đồng bào dân tộc Khmer)
nhằm tạo cơ hội cho hộ sản xuất thường tiếp nhận
thông tin kỹ thuật canh tác mãng cầu ta.
Triển khai thực hiện các mô hình trình diễn kỹ
thuật canh tác và bảo quản sản phẩm tại các hộ
được chọn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ
trồng mãng cầu ta tham quan, học hỏi kỹ thuật, kinh
nghiệm trực tiếp và có thể áp dụng đối với vườn
mãng cầu ta của chính họ.
5. Thảo luận
Dựa vào kết quả phân tích thông tin và khảo sát
hộ trồng mãng cầu ta, một số đề xuất giải pháp được
chỉ ra nhằm góp phần tháo gỡ những khó khăn trong
khâu sản xuất và tiêu thụ; đồng thời tạo điều kiện
khôi phục phát triển vùng sản xuất mãng cầu ta của
địa phương, cụ thể như sau:
Tập huấn, hội nghị phổ biến kiến thức phân tích
thị trường nông sản và lập phương án sản xuất kinh
doanh, sổ sách kế toán đối với HTX. Tổ chức hội
thảo kết nối thị trường giữa nhà sản xuất và doanh
nghiệp nhằm tạo cơ hội trao đổi thông tin, tìm kiếm
hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Về tổ chức sản xuất
6. Kết luận
Vận động các hộ trồng mãng cầu ta thành lập
tổ chức kinh tế tập thể như HTX, THT (xuất phát
từ ý kiến đề xuất của vài hộ sản xuất được khảo
sát và định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp
của địa phương, đặc biệt là chương trình xây dựng
xã nông thôn mới). Mục đích của việc phát triển
kinh tế tập thể nhằm (i) nâng cao năng lực sản xuất
và kinh doanh cho các hộ thành viên thông qua tập
huấn; (ii) tạo uy tín cho hộ sản xuất khi tham gia thị
trường; (iii) thực hiện liên kết sản xuất và tiêu thụ.
Để thương hiệu mãng cầu ta Vĩnh Châu nói riêng
và mãng cầu ta tỉnh Sóc Trăng nói chung phát triển
bền vững, đồng thời nâng cao giá trị kinh tế, mang
lại lợi ích cho bà con Khmer thì các ngành, các cấp,
các địa phương trong địa bàn tỉnh cần đẩy mạnh
công tác tuyên truyền về xây dựng, bảo vệ phát triển
thương hiệu mãng cầu ta Vĩnh Châu; nâng cao chất
lượng sản phẩm và xây dựng hệ thống phân phối,
liên kết giữa các nhà; trong đó đặc biệt cần quan tâm
đến việc sở hữu nhãn hiệu tập thể của mãng cầu…
Các cơ quan ban ngành địa phương nghiên cứu Đây là một trong những vấn đề mấu chốt nhằm giúp
các chính sách hỗ trợ kinh tế tập thể và phát triển bà con Khmer có cơ hội phát triển và nhân rộng mô
nông nghiệp, phát triển cây ăn trái đặc sản của hình trồng cây mãng cầu ta trên địa bàn thị xã Vĩnh
tỉnh để tranh thủ tiếp cận nguồn lực (về tài chính Châu và toàn tỉnh Sóc Trăng hiệu quả, góp phần
và phi tài chính) hỗ trợ cho hộ sản xuất liên quan phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của các hộ dân
đến nguồn vốn, chuyển giao kỹ thuật, vật tư nông tộc Khmer trong xây dựng nông thôn mới và xóa
nghiệp, liên kết thị trường,
đói, giảm nghèo bền vững ở địa phương trong thời
gian tới.
Về chuyển giao kỹ thuật sản xuất và thông tin
thị trường
Nghiên cứu xác định và tuyển chọn các giống
mãng cầu ta có năng suất và chất lượng nhằm làm
cơ sở đăng ký nhãn hiệu và xây dựng thương hiệu
mãng cầu ta của Vĩnh Châu trong tương lai.
Cơ quan chuyên môn về trồng trọt, bảo vệ thực
vật cần có những đề xuất nghiên cứu chuyên sâu về
các hiện tượng bệnh trên cây mãng cầu ta nhằm làm
rõ nguyên nhân và biện pháp phòng ngừa, xử lý; từ
Volume 10, Issue 1
45
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
Tài liệu tham khảo
Hâu, T. V., Hiếu, T. S., & Kiệt, H. A. (2019). Đặc
điểm ra hoa và phát triển quả mãng cầu ta
(Annona squamosa L.) tại huyện Tịnh Biên,
tỉnh An Giang. Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, tr.57-62.
Trang, N. T., & Tú, V. H. (2019). Phân tích chuỗi
giá trị ngành hàng xoài tại huyện Tịnh Biên,
tỉnh An Giang. Tạp chí Khoa học trường Đại
học Cần Thơ, 55(1D), tr.109-119.
Trịnh, B. V., Em, N. V. N., & Lâm, N. B. (2019).
Phân tích chuỗi giá trị lúa gạo Jasmine huyện
Châu Phú, tỉnh An Giang. Khoa học và Công
nghệ, số 2, tr.10-16.
Huy, H. T. (2020). Cách tiếp cận phân tích hệ
thống thị trường (Sơ đồ Donut) trong phát
triển chuỗi giá trị nông sản tại đồng bằng
sông Cửu Long. Kỷ yếu Hội thảo đầu ra
cho nông sản các tỉnh Đồng bằng sông Cửu
Long.
Ủy ban Dân tộc, & Tổng cục Thống kê. (2020).
Đặc trưng cơ bản của 53 dân tộc thiểu số
năm 2019. Hà Nội: Nxb. Thống kê.
Nghi, N. Q. (2018). Phân tích chuỗi giá trị sản
phẩm chôm chôm tại huyện Phong Điền,
Thành phố Cần Thơ. Phát triển và Hội nhập,
tr.64-72.
Vương, Đ. M., Lộc, V. T. T., Tiến, N. T., & Kiệt,
H. V. (2015). Phân tích chuỗi giá trị thanh
long tại huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang. Tạp
chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ, số
36, tr.10-22.
DEVELOPING THE VIETNAMESE CUSTARD-APPLE VALUE CHAIN
IN NEW RURAL CONSTRUCTION
(CASE STUDY ON KHMER ETHNIC HOUSEHOLDS
IN VINH CHAU TOWN, SOC TRANG PROVINCE)
Huynh Truong Huya
Vu Thi Thanh Minhb
a Can Tho University
Abstract
Email: [email protected]
The purpose of the study is to analyze the current situation of
production and consumption of Vietnamese custard-apple in Vinh
Chau town, Soc Trang province, based on a survey of market
actors including producers, traders, local and external retailers.
The analysis results on the current production situation show that
the Khmer custard-apple growing households have more than
20 years of farming experience, but the ability to receive and
apply science and technology is very limited. This results in low
productivity and quality. The limited quality and output also makes
most of the products sold separately through local collectors or
traders. In general, the production efficiency of custard apple in
current Khmer households is quite low compared to some other
crops such as longan, mango and vegetables. Therefore, programs
and activities to transfer production techniques, change varieties,
and apply organic fertilizers to soil improvement will be expected
to contribute significantly to improving productivity and quality.
custard apple in the future.
b Journal of Ethnic Minorities Research
Email: vuthanhminh@cema.gov.vn
Received:
Reviewed:
Revised:
Accepted:
Released:
13/01/2021
12/3/2021
16/3/2021
18/3/2021
30/3/2021
DOI:
Keywords
Khmer households; Vietnamese custard-apple; Manufacturing;
Consume; Vinh Chau town; Soc Trang Province.
46
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển chuỗi giá trị mãng cầu ta trong xây dựng nông thôn mới (Nghiên cứu trường hợp các hộ dân tộc Khmer tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phat_trien_chuoi_gia_tri_mang_cau_ta_trong_xay_dung_nong_tho.pdf

