Giáo trình mô đun Phòng, trị bệnh ngoại khoa thú y - Nghề: Thú y
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI
GIÁO TRÌNH
MÔ ĐUN: PHÒNG, TRỊ BỆNH NGOẠI KHOA THÚ Y
NGHỀ: THÚ Y
TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP
(Ban hành kèm theo Quyết định số:
ngày…….tháng….năm ........
/QĐ-CĐLC
của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Lào Cai)
1
Lào Cai, năm 2020
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép
dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu
lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm
2
LỜI GIỚI THIỆU
Giáo trình Phòng, trị bệnh ngoại khoa cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ
bản về chứng viêm, hiện tượng nhiễm trùng, tổn thương. Các nguyên nhân triệu chứng
cách phòng và điều trị các bệnh ngoại khoa thông thường.
Giáo trình bao gồm 4 bài trong đó:
Bài 1: Viêm
Bài 2: Nhiễm trùng ngoại khoa
Bài 3: Tổn thương
Bài 4: Một số bệnh ngoại khoa thường gặp
Trong mỗi bài của mô đun bao gồm 2 phần: Phần 1: kiến thức lý thuyết; Phần 2:
hướng dẫn thực hành.
Giáo trình được biên soạn trên cơ sở tham khảo các giáo trình, tài liệu của các tác
giả trong nước và nước ngoài để cập nhật, bổ sung các kiến thức mới, làm cho giáo trình
luôn đảm bảo tính khoa học, tính hiện đại, tính thực tiễn, phù hợp với chăn nuôi Việt
Nam.
Trong quá trình biên soạn tôi có sử dụng tư liệu của các tác giả đã viết về bệnh
ngoại khoa. Xin chân thành cảm ơn các tác giả.
Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn, song giáo trình không tránh
khỏi những thiếu sót, hạn chế. Tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung của
các đồng nghiêp, các nhà chuyên môn và tất cả bạn đọc để cuốn giáo trình được hoàn
thiện hơn.
Trân trọng cảm ơn !
Lào Cai, ngày 26 tháng 03 năm 2020
Tác giả
3
MỤC LỤC
Lời giới thiệu.............................................................................................................3
1.2.1. Nguyên nhân cơ giới...............................................................................5
2.2. Phân loại viêm...............................................................................................7
4.2.3. Điều trị bằng vật lý liệu phap..................................................................9
1.1. Khái niệm về nhiếm trùng ngoại khoa..........................................................14
2. Nhân tố thúc đẩy nhiễm trùng ngoại khoa phát triển....................................................16
4
3.2. Mụn..............................................................................................................18
1. Khái niệm............................................................................................................31
2. Nguyên nhân........................................................................................................31
4. Tổn thương kín tổ chức mềm ( chấn thương)......................................................31
4.4. Điều trị..........................................................................................................33
5
5.7. Điều trị..........................................................................................................38
3. Loét.....................................................................................................................47
3.4. Điều trị..........................................................................................................47
4. Lỗ dò...................................................................................................................48
4.4. Điều trị..........................................................................................................49
5. Hà móng..............................................................................................................49
5.3. Điều trị..........................................................................................................50
6
GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN
Tên mô đun: Phòng, trị bệnh ngoại khoa
Mã MĐ: MĐ 18
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của mô đun
- Vị trí: Phòng, trị bệnh ngoại khoa thú y là mô đun chuyên ngành nằm trong
chương trình đào tạo nghề thú y. Mô đun được bố trí học sau khi học xong các môn học
cơ sở và các mô đun chuyên ngành về Chẩn đoán lâm sàng thú y
- Tính chất: Là mô đun bắt buộc thuộc khối các mô đun chuyên ngành
- Ý nghĩa và vai trò của mô đun: Trong lĩnh vực khoa học thú y thì phòn trị bệnh
ngoại khoa là mô đun lâm sàng có ý nghĩa rất lớn. Mô đun phòng, trị bệnh ngoại khoa thú
y sẽ giúp cho học sinh ngành thú y những hiểu biết cơ bản về nguyên nhân, triệu chứng
và phương pháp điều trị các bệnh ngoại khoa giúp cho học sinh sau khi ra trường có thể
chẩn đoán và điều trị một số bệnh ngoại khoa ở gia súc để hạn chế đến mức thấp nhất
những thiệt hại do bệnh ngoại khoa gây nên. Ngoài ra mô đun còn trang bị cho học sinh
thú y những kỹ năng về điều trị bệnh cho gia súc bằng phương pháp phẫu thuật. Học sinh
nắm vững được phương pháp phẫu thuật trong điều trị bệnh sẽ giúp cho họ vững vàng và
tự tin hơn trong nghề nghiệp.
Mục tiêu mô đun
- Về kiến thức: Trình bày được các khái niệm về chứng viêm, hiện tượng nhiễm
trùng, tổn thương. Trình bày được các nguyên nhân triệu chứng cách phòng và điều trị
các bệnh ngoại khoa
- Về kỹ năng: Chẩn đoán đúng các bệnh ngoại khoa. Phòng và điều trị bệnh ngoại
khoa đạt kết quả cao
- Về năng lực tự chủ và trác nhiệm: Phòng và điều trị bệnh ngoại khoa trong thực
tiễn sản xuất. An toàn lao động và vệ sinh thú y
8
BÀI 1: VIÊM
MỤC TIÊU CỦA BÀI
- Trình bày được khái niệm viêm, nguyên nhân, phân loại và triệu chứng của viêm
- Điều trị viêm bằng các phương pháp: lý học, hóa học và sinh vật học
- Rèn luyện tính nghiêm túc, cẩn thận trong khi học tập
Phần 1: KIẾN THỨC LÝ THUYẾT
1. Viêm và nguyên nhân gây viêm
1.1. Khái niệm về viêm
Viêm là một triệu chứng thường thấy nhất đối với bệnh ngoại khoa, hầu như tất cả
các bệnh ngoại khoa đều phát sinh triệu chứng viêm.
Viêm là phản ứng của toàn thân chống lại mọi vật kích thích có hại đối với cơ thể,
nó thể hiện tại cục bộ các mô bào. Bản thân của viêm là một quá trình bệnh lý lấy phòng
vệ là chủ yếu nhằm duy trì sự cân bằng trong cơ thể. Phản ứng này được hình thành
trong quá trình tiến hoá của sinh vật và được thể hiện ở phản ứng tổng hợp toàn thân
bao gồm những biến đổi về mạch máu, mô bào và dịch thể.
Triệu chứng của viêm xuất hiện nặng hay nhẹ, tiên lượng tốt hay xấu đều có liên
quan chặt chẽ đối với tính chất của vật kích thích, cường độ và thời gian kích thích dài
hay ngắn. Nhưng điều quan trọng nhất là khả năng phản ứng của cơ thể đối với vật kích
thích, đặc biệt là trạng thái thần kinh của con vật. Vì vậy mà cùng một nhân tố kích thích,
với một thời gian và cường độ kích thích như nhau và đối với cơ thể này thì phản ứng
viêm xuất hiện rất nặng còn đối với cơ thể khác thì phản ứng viêm xuất hiện rất nhẹ hoặc
không có. Như vậy có thể nói trạng thái thần kinh của cơ thể động vật có ý nghĩa rất lớn
đối với quá trình phát sinh và phát triển của viêm mà trong đó tình trạng dinh dưàng và
điều kiện sống của con vật lại có ảnh hưởng đến trạng thái thần kinh của cơ thể chúng.
Toàn bộ quá trình viêm một mặt là sự kích thích có hại đối với cơ thể, mặt khác là sự
phản ứng của cơ thể chống lại nhân tố có hại do tác nhân kích thích gây ra, giúp cho cơ
thể chóng hồi phục, những tác động đó chủ yếu dựa vào sự hoạt động của hệ thống thần
kinh. Do đó muốn tìm hiểu bản chất của chứng viêm phải thấy rằng nó là phản ứng thích
nghi để tự vệ của cơ thể khi bị các nhân tố kích thích tác động đến nó, khả năng này sinh
vật thu được trong quá trình tiến hoá của chúng, nhờ có khả năng này mà cơ thể sinh vật
có thể đối phó với những kích thích có hại bằng những phản ứng về sinh lý và cũng như
bệnh lý. Khi có phản ứng viêm xảy ra đối với cơ thể thường có hai mặt lợi và hại.
1.2. Nguyên nhân gây viêm
1.2.1. Nguyên nhân cơ học
Do những chấn thương về cơ giới như gia súc bị đánh đập, trượt ngã, gia súc húc,
cắn xé lẫn nhau gây tổn thương bên ngoài cơ thể dẫn đến viêm.
9
1.2.2. Nguyên nhân vật lý
Gia súc bị các nhân tố như nhiệt độ, điện, phóng xạ tác động lên cơ thể gây viêm.
Với nhiệt độ cao gây bỏng, nhiệt độ thấp phát cước, hoại thư.
Các loại tia X quang, tia phóng xạ, tia cực tím cũng gây viêm cho cơ thể gia súc.
1.2.3. Nguyên nhân hoá học
Do các loại hoá chất có tác dụng phân huỷ tế bào tổ chức cơ thể gia súc gây nên
như các loại axit, kiềm mạnh, các chất photpho, thuỷ ngân v.v...
1.2.4. Nguyên nhân sinh vật
Các loại vi khuẩn, virut, ký sinh trùng, các loại côn trùng đều có thể gây viêm cho
cơ thể gia súc do độc lực cũng như sự tác động cơ giới của chúng. Vi khuẩn gây viêm
thường có 3 loại:
- Loại vi khuẩn hoá mủ: Loại này thường gây viêm hoá mủ đối với tế bào tổ chức
cơ thể gia súc. Thường thấy nhất là loại Staphylococcus và Streptococcus thường kết hợp
gây nhiễm.
- Loại vi khuẩn gây thối rữa: Thường chúng gây quá trình thối rữa đối với tế bào tổ
chức và gây nhiễm trùng toàn thân như các trực khuẩn gây hoại thư sinh hơi.
- Vi khuẩn gây nhiễm trùng đặc biệt: Chủ yếu là vi khuẩn gây hiện tượng truyền
nhiễm từ các vết thương như vi khuẩn uốn ván, vi khuẩn nhiệt thán, tỵ thư . Ngoài ra các
loại nấm gây bệnh như: Actinomyces, Botriomyces cũng gây viêm cho cơ thể gia súc.
2. Triệu trứng và phân loại viêm
2.1. Triệu chứng viêm
Căn cứ vào sự biểu hiện bên ngoài của viêm người ta mô tả chứng viêm có những
biểu hiện sau:
- Sưng: Ban đầu tác nhân kích thích tác động lên cơ thể làm hưng phấn thần kinh
co mạch gây xung huyết chủ động. Nếu tác nhân kích thích vẫn tiếp tục tác động thì thần
kinh co mạch bị tê liệt, các yếu tố gây dãn mạch tại ổ viêm tăng lên tiếp tục tác động lên
thành mạch làm thành mạch dãn ra, tính thẩm thấu thành mạch tăng lên tạo điều kiện cho
nước và các thành phần hữu hình của máu như các loại bạch cầu và đôi khi cả hồng cầu
từ trong mạch máu thoát ra ngoài chèn ép tổ chức gây hiện tượng sưng cục bộ vùng tổ
chức bị viêm.
- Đỏ: Màu sắc trên bề mặt của ổ viêm thay đổi tuỳ theo sự phát triển của nó. Giai
đoạn đầu vật gây viêm kích thích làm hưng phấn thần kinh co mạch các mạch máu co lại
máu được dồn đến trong các huyết quản làm cho vùng viêm có màu đỏ. Sau đó mạch
máu bị dãn ra máu ứ lại, lưu lượng máu chậm, tổ chức thiếu oxy vùng viêm chuyển sang
màu tím bầm.
- Nóng: Do có hiện tượng xung huyết cục bộ, sự trao đổi chất ở vùng viêm tăng lên
nhiệt lượng sản sinh ra mạnh làm cho tổ chức vùng bệnh nóng hơn bình thường.
- Đau: Do dịch rỉ viêm (trong dịch rỉ viêm có nhiều chất như Histamin, H+, K+)
kích thích các đầu mút thần kinh cảm giác, chèn ép tế bào tổ chức cục bộ vùng viêm gây
10
nên. Mức độ đau không giống nhau, nó phụ thuộc vào tính chất các tế bào tổ chức, sự
phân bố của thần kinh cảm giác đến vùng viêm. Viêm ở da, ở màng xương cảm giác đau
rõ hơn viêm các tổ chức khác, khi viêm ở cục bộ nghiêm trọng cảm giác đau kịch liệt sẽ
làm cho con vật bị rối loạn thần kinh, trạng thái toàn thân gia súc không ổn định, con vật
sẽ sốt cao, ăn uống kém hoặc bỏ ăn, tinh thần mệt mỏi ủ rũ, sức chống đỡ của cơ thể giảm
thấp.
- Cơ năng trở ngại: Khi bị viêm thường làm cho cơ năng của vùng viêm bị trở
ngại như viêm khớp, viêm cơ, viêm gân, viêm móng làm cho con vật bị què, đi đứng khó
khăn. Viêm giác mạc, viêm kết mạc mắt, con vật sợ ánh sáng, mắt nhắm lại. Nhưng cũng
có trường hợp tổ chức bị viêm nhưng hoạt động cơ năng của nó lại tăng mạnh lên như
viêm tuyến nước bọt, nước bọt lại tiết ra nhiều hơn bình thường.
2.2. Phân loại viêm
* Căn cứ vào tổ chức bị viêm
- Viêm khớp, viêm cơ, viêm gân....
* Căn cứ vào thời gian tiến triển của viêm
- Viêm quá cấp tính : Quá trình viêm xảy ra rất nhanh, có khi chỉ trong vài giờ
vùng viêm đã xuất hiện những triệu chứng : tổ chức sưng to, thủy thũng nghiêm trọng,
đau đớn kịch liệt, sốt cao, đôi khi nguy hiểm đến tính mạng gia súc
- Viêm cấp tính : Quá trình viêm xảy ra nhanh, các biểu hiện cục bộ như sưng,
nóng, đỏ, đau rõ. Tổ chức vùng viêm bị phù nề nặng, các thành phần tế bào xâm nhập
vào ổ viêm nhiều, nhất là bạch cầu đa nhân trung tính chiếm ưu thế. Quá trình viêm kéo
dài thường 24 giờ dến vài ba tuần lễ.
- Viêm mãn tính : Thường do viêm cấp tính kéo dài gây nên, quá trình viêm xảy ra
chậm, thời gian kéo dài từ 3 tuần trở lên, có khi hàng tháng hoặc hàng năm. Loại viêm
này không có triệu chứng rõ ràng hoặc không xuất hiện đầy đủ các triệu chứng của viêm
hoặc có lúc rõ, lúc không rõ tùy thuộc vào sức đề kháng của cơ thể gia súc và tính chất
của nguyên nhân gây bệnh
- Viêm á cấp tính : Có những đặc điểm trung gian giữa viêm cấp tính và mạn tính.
Quá trình viêm kéo dài hơn viêm cấp tính trung bình từ vài ngày đến vài tuần lễ. Đặc
điểm của loại viêm này là những phản ứng của huyết quản (xung huyết, phù) giảm.
* Căn cứ vào tính chất và thành phần của dịch rỉ viêm
- Viêm thanh dịch : Viêm có nhiều huyết tương tràn ra ngoài mạch máu, nếu có
nhiều bạch cầu thì dịch viêm có màu trắng đục. Thường gặp trong các trường hợp do côn
trùng đốt, bỏng hóa chất, viêm khớp, viêm bao khớp...
- Viêm hóa mủ : Dịch viêm thành phần chủ yếu là bạch cầu đa nhân trung tính kết
hợp với tổ chức hoại tử, huyết thanh, tơ huyết và một số tế bào như lympho bào, đại thực
bào. Viêm hóa mủ phần lớn là do vi khuẩn, ngoài ra các loại hóa chất có kích thích mạnh
đối với tổ chức như tinh dầu thông, canxi clorua cũng gây viêm hóa mủ.
- Viêm tăng sinh : Là quá trình viêm trong đó sự tăng sinh của tế bào tổ chức cục
bộ chiếm ưu thế còn hiện tượng hoại tử, sung huyết, dịch rỉ viêm xuất hiện là thứ yếu.
11
Hậu quả của viêm tăng sinh thường làm cho tế bào tổ chức bị xơ hóa, cứng lại. Nếu trong
các xoang bị viêm tăng sinh sẽ làm cho xoang hẹp lại, thậm chí bị tắc như viêm ống dẫn
sữa gây tắc tia sữa, viêm tăng sinh bao dương vật gây hẹp bao dương vật...
3. Tiên lượng của viêm
Viêm cấp tính thường có tiên lượng tốt, trong một thời gian ngắn viêm sẽ tiêu tan
và bị hấp thu nhanh, tổ chức bị tổn thương được tái sinh và bù đắp, cơ năng chóng hồi
phục trở loại bình thường. Trong trường hợp viêm tổ chức bị ứ máu ở tĩnh mạch lâu,
nguyên nhân gây bệnh tiếp tục kích thích tế bào tổ chức thì viêm cấp tính sẽ chuyển
thành viêm mãn tính. Nếu dịch rỉ viêm không được cơ thể hấp thu hoàn toàn hoặc không
thải hết ra ngoài nó tiếp tục kích thích làm cho tế bào tổ chức bị hoại tử, gây lở loét.
Trường hợp viêm nhiễm trùng nặng dẫn đến bệnh lan tràn gây bại huyết toàn thân có thể
gây nguy hiểm đến tính mạng gia súc.
4. Điều trị
4.1. Nguyên tắc điều trị viêm
- Loại trừ nguyên nhân : Cần chú ý đến tình hình chăn nuôi, sử dụng, chăn thả,
quản lý gia súc. Nếu có hiện tượng viêm phát sinh phải tìm nguyên nhân để loại trừ ngay.
Ví dụ : gia súc bị viêm móng do vật lạ đâm vào (đóng móng cho ngựa, bò kéo xe) phải
tháo ngay móng sắt ra. Trâu bò cày kéo bị vai cày cọ xát làm vỡ vai phải cho gia súc nghỉ
ngay để điều trị và kiểm tra lại dụng cụ, sửa chữa cho phù hợp với cơ thể gia súc, tránh
gây tổn thương cho gia súc
- Để gia súc ở trạng thái yên tĩnh : Khi gia súc bị viêm cần phải cho gia súc nghỉ ngơi
hoàn toàn, không được sử dụng, chăn dắt, giữ gia súc tại chuồng tránh những kích thích bên
ngoài đối với vùng bệnh, tạo điều kiện cho viêm chóng hồi phục. Gia súc bị iêm ở bốn chân
phải hạn chế vận động, gia súc bị viêm ở mắt phải để ở trong chuồng che kín ánh sáng.
Ngựa, bò bị viêm móng phải tháo móng sắt ra cho gia súc đứng trên nền đất mềm.
- Phải đặc biệt chú ý đến việc hộ lý chăm sóc cho gia súc : Tuy viêm là trạng thái
bệnh lý cục bộ nhưng trên thực tế ít nhiều cũng ảnh hưởng đến toàn thân. Do đó trong
điều trị viêm ngoài việc xử lý ở cục bộ cần phải chú ý đến điều trị toàn thân nhằm bổ
sung dinh dưỡng, nâng cao sức đề kháng giúp cho cơ thể chống lại một cách hiệu quả tác
nhân gây bệnh, thúc đẩy quá trình viêm chóng hồi phục
4.2. Phương pháp điều trị viêm
4.2.1. Dùng thuốc tiêu viêm
Thuốc tiêu viêm thường dùng ở giai đoạn đầu của viêm cấp tính để tiêu độc vùng
viêm, hạn chế viêm lan tràn, giúp cơ thể hấp thu dịch rỉ viêm tạo điều kiện cho bệnh
chóng hồi phục. Thường dùng dung dịch acetat chì 5% để làm thuốc tiêu viêm trên bề
mặt của tổ chức. Để điều trị viêm toàn thân người ta thường dùng các loại kháng sinh
hoặc sulphamid cho gia súc uống, tiêm tĩnh mạch, tiêm bắp có tác dụng rất quan trọng
trong điều trị viêm cho gia súc
4.2.2. Dùng thuốc kích thích
Có hai loại thuốc kích thích: Loại thuốc có kích thích nhẹ và loại thuốc kích thích mạnh.
12
Ngoài việc dùng các loại thuốc tiêu viêm ở giai đoạn đầu người ta còn dùng các
loại hoá chất, các loại thuốc có tính kích thích các đầu mút thần kinh cảm giác gây xung
huyết dẫn đến tăng cường tuần hoàn cục bộ, thúc đẩy hấp thu dịch rỉ viêm, làm cho viêm
chóng hồi phục. Thường dùng các loại thuốc này để điều trị viêm á cấp tính, viêm mãn
tính.
Thuốc có tác dụng kích thích nhẹ gồm các loại sau:
- Cồn Iod: có tác dụng tiêu độc, kích thích nhẹ, dùng để bôi vào vùng viêm.
- Hỗn hợp: 4:3:1 với các chất sau:
Dung dịch cồn - long não 10%: 4 phần
Dung dịch amoniac 10%: 3 phần
Dầu thông: 1 phần
Cách pha hỗn hợp 4:3:1. Trước tiên pha cồn long não 10% sau đó cho dầu thông
vào để hoà tan trong cồn long não rồi mới trộn dung dịch amoniac 10% vào.
Khi dùng xoa bóp mạnh lên vùng viêm. Hỗn hợp 4:3:1 có tác dụng kích thích nhẹ,
làm cho viêm á cấp tính, mãn tính chuyển thành viêm cấp tính, tăng cường tuần hoàn ở
cục bộ làm viêm chóng tiêu tan.
Trong điều trị bệnh ngoại khoa, thuốc có tính kích thích mạnh người ta hay dùng là
thuỷ ngân diiodua (HgI2) (Hydragyri diiodium) dưới dạng thuốc mà 5-20% để điều trị
viêm cơ, viêm khớp, viêm gân mãn tính. Chú ý không được dùng loại thuốc này để điều
trị cho trâu bò vì trâu bò rất mẫn cảm với Hg và dễ bị trúng độc.
4.2.3. Điều trị bằng vật lý liệu pháp
a) Thuỷ liệu pháp
Thuỷ liệu pháp là dùng nước ở các nhiệt độ khác nhau để điều trị bệnh cho gia súc.
Căn cứ vào cảm giác của da bàn tay ta khi tiếp xúc với nước có thể phân nó thành các
loại sau: nước lạnh dưới 5oC, nước mát dưới 15oC, nước ấm từ 28-30oC, nước nóng
từ 33-40oC, nước quá nóng trên 42oC.
Trong điều trị các bệnh ngoại khoa người ta thường dùng hai loại: nước lạnh và
nước nóng.
Nước lạnh được dùng để điều trị viêm ở tất cả các bộ phận trên cơ thể gia súc, dưới
tác dụng của nó sẽ làm cho các mạch máu co lại, nên có thể cầm máu, giảm tính thẩm
thấu của thành mạch máu và giảm viêm. Đặc biệt làm giảm đau trong các trường hợp
viêm cấp tính như viêm móng, viêm thấp khớp cấp tính của gia súc.
Nước lạnh được áp dụng điều trị trong các trường hợp viêm cấp tính ở giai đoạn
đầu. Đối với viêm mãn tính nếu điều trị bằng nước lạnh kéo dài thời gian quá lâu sẽ có
hại. Vì nước lạnh làm giảm sự trao đổi chất của tế bào tổ chức cục bộ, làm tế bào dễ bị
hoại tử. Có thể điều trị viêm bằng nước lạnh theo các phương pháp sau:
- Ngâm vùng bệnh vào trong nước lạnh: Trường hợp gia súc bị viêm móng cấp tính
ta có thể cho gia súc đứng ngâm chân vào trong nước ở ao hồ, hoặc trong thùng chậu
đựng nước lạnh.
13
- Chườm nước lạnh: dùng khăn, vải nhúng vào nước lạnh hoặc túi nilông, túi cao
su đựng nước đá, chườm lên vùng bệnh cho gia súc.
Điều trị bằng nước lạnh mỗi lần 30 phút, mỗi ngày 1-3 lần.
Không được dùng nước lạnh để điều trị trong các trường hợp tổ chức bị viêm hoá
mủ, hoại tử, hoại thư, khối u hoặc cơ thể bị thiếu máu.
Dùng nước nóng để điều trị sẽ làm xung huyết, tăng cường tuần hoàn cục bộ. Do
tuần hoàn cục bộ được tăng cường nên dịch rỉ viêm sẽ khuếch tán nhanh và rộng nên
không tích tụ tại vùng viêm, làm giảm bớt sự kích thích của nó đối với tổ chức làm cho
vùng viêm bớt đau.
Người ta dùng nước nóng để điều trị viêm á cấp tính và viêm mãn tính. Không
được sử dụng nước quá nóng (trên 42oC) để điều trị vì dễ gây bỏng cho gia súc.
Không dùng nước nóng để điều trị các trường hợp sau: gia súc bị xuất huyết, khối
u ác tính, rối loạn tim mạch, hoặc gia súc mắc các bệnh ngoài da như: mụn nước, lở loét,
hoại tử, hoại thư.
Điều trị bằng nước nóng theo các cách sau:
- Chườm bằng khăn, vải gạc: Lấy khăn, vải (khăn mặt, khăn tắm vải màn) gấp
lại rồi nhúng vào nước nóng đắp lên vùng bệnh, cứ 3-5 phút thay một lần, làm trong
vòng 60 phút.
- Chườm bằng túi cao su: Túi cao su đựng nước nóng để chườm lên vùng bệnh cho
gia súc mỗi lần 20-30 phút, mỗi ngày 3-5 lần.
b) Điều trị bằng Parafin
Parafin có hai loại: Parafin ở thể lỏng (dầu parafin) được dùng để điều trị các bệnh
nội khoa, sản khoa.
Parafin thể rắn được dùng để điều trị các bệnh ngoại khoa, đặc biệt là trong chứng
viêm, vì parafin có những ưu điểm cơ bản sau:
- Nó có khả năng giữ nhiệt rất lâu sau khi được đun nóng nhưng nó lại truyền nhiệt
rất chậm. Do đó khi đun parafin nóng đến 90oC nó vẫn không gây bỏng cho gia súc.
Nhiệt độ được giữ lâu và khuếch tán sâu vào tổ chức thúc đẩy tuần hoàn cục bộ, giúp cơ
thể hấp thu nhanh dịch rỉ viêm.
- Parafin có tác dụng chèn ép cơ giới đối với tổ chức cục bộ gây xung huyết tổ
chức ở cục bộ, hạn chế viêm lan tràn.
- Parafin còn làm da ở vùng bệnh được êm dịu và tổ chức vùng bệnh giảm đau.
* Có 3 cách điều trị bằng parafin
- Phết parafin lên vùng bệnh: Phương pháp này thường dùng để điều trị cho tiểu gia
súc. Đun cho parafin nóng chảy ở nhiệt độ cần thiết rồi dùng chổi quét sơn nhúng vào
parafin quét một lớp mỏng lên vùng bệnh dày độ 1-1,5cm. Bên ngoài lớp parafin dùng
vải dầu hoặc vải gạc phủ lên rồi băng lại.
- Ngâm vùng bệnh vào trong parafin nóng chảy: Phương pháp này thường dùng để
điều trị bệnh ở 4 chân.
14
- Chườm vùng bệnh bằng vải gạc tẩm parafin: Trước tiên cắt và cạo sạch lông gia
súc trên vùng bệnh. Lấy chổi quét sơn nhúng parafin phết lên da vùng bệnh một lớp
parafin độ 0,5cm. Sau đó dùng 5-8 lớp vải gạc tẩm vào parafin nóng chảy rồi đắp lên
vùng bệnh, bên ngoài bọc một lớp bông và vải gạc để giữ nhiệt.
c) Điều trị bằng bùn
Dùng bùn để điều trị viêm bằng hai phương pháp chườm nóng và chườm lạnh vùng
viêm. Dùng bùn để chườm nóng có tác dụng làm ấm cục bộ vùng viêm, do bùn có độ
quánh lớn nên khi chườm lên vùng bệnh có tác dụng chèn ép như xoa bóp nhẹ trên da và
thúc đẩy tuần hoàn. Ngoài ra trong bùn còn có chất kháng sinh nên nó có thể sát trùng.
Khi điều trị, trước tiên phải giữ gia súc trong giá cố định. Cho bùn vào nồi xoong đun
nóng ở nhiệt độ cần thiết ở 40-45oC, sau mỗi lần điều trị có thể tăng nhiệt độ của bùn lên
từ 1-2oC nhưng không được quá 70oC. Dùng vải phết bùn đã được đun nóng lên thành
một lớp dày khoảng 3-5 cm, phủ lên một lớp vải dầu rồi đắp lên vùng bệnh, bên ngoài lót
bông rồi dùng băng cuộn băng lại. Ban đầu cách một ngày thay đổi một lần, sau đó mỗi
ngày chườm một lần, mỗi lần 30 phút, mỗi liệu trình từ 15-20 lần. Sau khi điều trị hết
liệu trình ta dùng nước ấm rửa sạch vùng bệnh.
Người ta thường dùng bùn để điều trị viêm khớp, viêm cơ, viêm gân thể mãn tính.
Không được dùng bùn để điều trị các trường hợp gia súc bị suy tim, lao, ung thư, xuất
huyết.
Ngoài ra người ta còn dùng bột đất mịn ở nhiệt độ thấp để điều trị các trường hợp
viêm cấp tính không hoá mủ có kết quả rất tốt, vì nó có tác dụng chèn ép cơ giới nên nó
làm giảm viêm, giảm đau ở vùng bệnh.
d) Quang liệu pháp
Quang liệu pháp là ứng dụng sự chiếu sáng của các tia sáng thường, tia hồng ngoại,
tia tử ngoại để phòng và điều trị bệnh cho người và gia súc.
* Đèn hồng ngoại:
Khi điều trị phải để đèn cách 50 -70 cm, điều trị 25-60 phút, mỗi ngày
* Đèn tử ngoại:
Đối với sinh vật tia tử ngoại có những tác động đến các mặt sau:
- Tia tử ngoại ảnh hưởng đến vi sinh vật: Phần lớn các loại vi khuẩn đều bị tia tử
ngoại tiêu diệt.
- Ảnh hưởng của tia tử ngoại đối với hệ thần kinh: Tia tử ngoại ảnh hưởng đến hệ
thống thần kinh theo hai đường: một là tác động trực tiếp đến thần kinh da, hai là thông
qua những sản phẩm phân giải của tổ chức kích thích đối với hệ thống thần kinh.
- Ảnh hưởng của tia tử ngoại đối với sự hình thành vitamin D3: Dùn để điều trị
bệnh còi xương, mềm xương cho gia súc
15
Phần 2: HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH
PHIẾU HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH
1/B1/
MĐ18
CÔNG VIỆC: CHẨN ĐOÁN VÀ PHÂN LOẠI VIÊM
Bước
công
việc
Dụng cụ, trang Ghi
thiết bị chú
Nội dung
Yêu cầu kỹ thuật
- Xác định tình trạng bệnh lý của - Các loài vật nuôi bị
vật nuôi. bệnh
- Dựa vào các triệu trứng lâm - Bộ tranh ảnh các
sàng của vật nuôi như:
bệnh viêm ở vật nuôi
+ Sưng
- Sổ sách ghi chép
+ Nóng
- Trang trại chăn nuôi
hoặc hộ gia đình
+ Đỏ
1
Chẩn đoán viêm
- Bộ dụng cụ khám
bệnh thú y.
+ Đau
+ Cản trở cơ năng
- Đưa ra kết luận sơ bộ về nguyên
nhân gây bệnh và kết luận bệnh.
- Chẩn đoán phân biệt viêm với
các bệnh khác như: Bệnh truyền
nhiễm, bệnh ký sinh trùng.
- Căn cứ vào tổ cức bị viêm: - Các loài vật nuôi bị
Viêm khớp, viêm cơ.... bệnh
- Căn cứ vào thời gian tiến triển - Bộ tranh ảnh các
của viêm: Viêm quá cấp tính, cấp bệnh viêm ở vật nuôi
tính, mãn tính, á cấp tính
- Sổ sách ghi chép
2
Phân loại viêm
- Căn cứ vào tính chất và thành
phần của dịch rỉ viêm: viêm thanh
dịch, hóa mủ, tăng sinh.
- Trang trại chăn nuôi
hoặc hộ gia đình
- Bộ dụng cụ khám
bệnh thú y.
- Phân loại viêm chính xác để đạt
hiệu quả điều trị cao nhất
PHIẾU HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH
16
CÔNG VIỆC: XÁC ĐỊNH TIÊN LƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU 2/B1/
TRỊ VIÊM
MĐ18
Bước
công
việc
Dụng cụ, trang
thiết bị
Nội dung
Yêu cầu kỹ thuật
Ghi chú
- Dựa vào phân loại viêm để xác - Các loài vật nuôi bị
định tiên lượng của bệnh bệnh
- Nếu viêm ở thể cấp tính thì hồi - Bộ tranh ảnh các
phục nhanh hơn ở các thể khác. bệnh viêm ở vật nuôi
- Phụ thuôc vào nguyên nhân gây - Sổ sách ghi chép
viêm và tổ chức bị viêm
Xác định tiên
lượng của viêm
1
- Trang trại chăn nuôi
- Kết luận tương đối chính xác hoặc hộ gia đình
tiên lượng của viêm
- Loại trừ nguyên nhân gây viêm - Các loài vật nuôi bị
bệnh
- Để vật nuôi ở trạng thái yên
tĩnh, chăm sóc hộ lý tốt
- Sổ sách ghi chép
- Nếu viêm cấp tính thì có thể sử - Trang trại chăn nuôi
dụng các loại thuốc tiêu viêm hoặc hộ gia đình
như: acetat chì 5% bôi trên bề
mặt kết hợp tiêm hoặc cho uống
khán sinh như sunfamid.
- Bộ dụng cụ khám,
chữa bệnh và phẫu
thuật ngoại khoa thú y
- Dùng thuốc kích thích
- Bảo hộ lao động
- Thuốc thú y
- Điều trị bằng thủy liệu pháp :
2
Điều trị viêm
+ Chườm lạnh : Viêm ở thể cấp
tính như viêm khớp, móng
- Đèn hồng ngoại, tử
ngoại
+ Chườm nóng : Viêm ử thể mãn
tính hoặc á cấp tính.
- Nước nóng, lạnh va
túi chườm
- Điều trị bằng Parafin
- Gióng cố đinh vật
- Điêu trị bằng bùn : Viêm khớp, nuôi
viêm cơ, viêm gân thể mãn tính
- Rọ mõm các loại
- Nồi, bếp
- Quang liệu pháp bằng cách
chiếu đèn hồng ngoại, tử ngoại
vào vị trí viêm.
- Bùn
17
BÀI 2: NHIỄM TRÙNG NGOẠI KHOA
MỤC TIÊU CỦA BÀI
- Trình bày được khái niệm và phân loại nhiễm trùng. Nhận biết được những bệnh
nhiễm trùng ở da và tổ chức dưới da
- Chẩn đoán chính xác các bệnh nhiễm trùng ngoại khoa
- Phòng và điều trị đúng các bệnh nhiễm trùng ngoại khoa
- Chính xác, an toàn, đảm bảo cho người và vật nuôi
Phần 1: KIẾN THỨC LÝ THUYẾT
1. Nhiễm trùng ngoại khoa và phân loại nhiễm trùng ngoại khoa
1.1. Khái niệm về nhiễm trùng ngoại khoa
Vi sinh vật gây bệnh chủ động hoặc bị động xâm nhập vào tổ chức cơ thể gia súc,
trong quá trình sinh sống và phát triển chúng sản sinh ra độc tố gây những biến đổi về
bệnh lý cho tổ chức ở cục bộ và toàn thân gọi là nhiễm trùng ngoại khoa.
Chúng ta đều biết rằng nhiễm trùng ngoại khoa không phải chỉ có từ bên ngoài mà còn
do từ bên trong (ví dụ khi gia súc mắc bệnh sẩy thai truyền nhiễm, vi khuẩn Brucella có
thể theo hệ thống mạch máu, lâm ba đến gây nhiễm trùng vết thương. Khi gia súc bị
nhiễm trùng ngoại khoa thì giữa vi khuẩn và tế bào tổ chức của cơ thể có sự tiếp xúc rất
chặt chẽ dẫn đến những phản ứng cục bộ cũng như toàn thân. Nhiễm trùng ngoại khoa
tuy độc tố vi trùng có tác dụng nhưng không phải là chủ yếu mà do tính chất vết thương
và trạng thái của cơ thể gia súc.
Ta cần phải phân biệt các khái niệm về "nhiễm trùng", "nhiễm bẩn" và "giữ trùng".
Khi gia súc bị thương, trong vết thương có vi khuẩn gây bệnh, lông gia súc, bụi đất rơi
vào trường hợp này gọi là vết thương "nhiễm bẩn". Vết thương bị nhiễm bẩn không nhất
định là bị nhiễm trùng. Bởi vì tuy vết thương bị nhiễm bẩn rất có nhiều khả năng dẫn đến
bị nhiễm trùng nhưng nếu khi bị thương máu chảy, dịch lâm ba có thể làm rửa trôi vi
khuẩn gây bệnh trong vết thương ra ngoài hoặc do cơ thể gia súc có khả năng miễn dịch
với vi khuẩn gây bệnh, sức đề kháng của cơ thể gia súc đủ mạnh để tiêu diệt số vi khuẩn
còn lại trong vết thương thì vết thương sẽ không bị nhiễm trùng. Nhưng nếu khi bị
thương và trong vết thương có quá nhiều vật lạ, số lượng vi sinh vật nhiều ẩn náu trong
cục máu đông, độc lực của vi khuẩn mạnh, sức đề kháng của cơ thể giảm sút thì vết
thương nhiễm bẩn sẽ chuyển sang nhiễm trùng.
Trên bề mặt tổ chức thịt non và trong tổ chức sẹo của vết thương gần lành thường có
một số vi khuẩn tồn tại. Số vi khuẩn này độc lực đã bị suy giảm, chúng không thể phá
hoại các tổ chức lành. Trường hợp này gọi là vết thương "giữ trùng". Nhưng nếu tổ chức
thịt non, tổ chức sẹo trong vết thương bị tổn hại, sức đề kháng của cơ thể bị giảm thấp và
những vi khuẩn đó sẽ phát triển, độc lực tăng cường thì nó sẽ chuyển thành vết thương
nhiễm trùng (vết thương tái phát hay vết thương tái nhiễm trùng).
18
1.2. Phân loại nhiễm trùng ngoại khoa
1.2.1. Nhiễm trùng hóa mủ
Thường do các vi khuẩn hóa mủ, tụ cầu trùng (staphylococcus), liên cầu trùng
(streptylococcus), song cầu trùng (diplococcus), vi khuẩn sống trong đường ruột gia súc
(E.coli, Salmonella..) gây nên. Có hai thể nhiễm trùng hóa mủ
- Nhiễm trùng hóa mủ cục bộ : Nhiễm trùng xuất hiện trong ba ngày đầu sau khi gia
súc bị tổn thương. Quá trình làm mủ bắt đầu ở xung quanh vách vết thương, nó không lan
rộng mà chỉ giới hạn ở phần tổ chức bị tổn thương, bị hoại tử. Da xung quanh vết thương
hơi ửng đỏ, có hiện tượng thấm nhiễm và đau, khi ấn tay vào mép vết thương thì có mủ
chảy ra. Mủ có màu trắng sữa hoặc vàng chanh, mùi tanh.
- Nhiễm trùng mủ toàn thân (nhiễm trùng huyết) : Là do sự tác động qua lại rất phức
tạp giữa vi sinh vật gây bệnh và cơ thể gia súc. Nó thường xảy ra đối với những vết
thương có diện tích rộng, nhiều tổ chức bị dập nát, các vết thương xuyên thủng màng
ngực, màng bụng, gãy xương hở... Đối với những vết thương thuộc loại này nếu không
xử lý kịp thời và đúng phương pháp thì dễ dẫn đến nhiễm trùng toàn thân.
Gia súc bị nhiễm trùng toàn thân thường có trạng thái mệt mỏi, kiệt sức. Con vật sốt
thất thường, khi nhiệt độ cơ thể giảm thường toát mồ hôi. Da nhợt nhạt, trên các niêm
mạc (mắt, âm đạo) thường xuất hiện các chấm xuất huyết. Gia súc ăn uống kém hoặc bỏ
ăn hoàn toàn, nôn mửa nhiều lần, lưỡi khô và bẩn. Tim đập nhanh, gia súc bị thiếu máu,
số lượng bạch cầu tăng, gia súc bị ỉa chảy dai dẳng.
Tại vết thương hiện tượng hoại tử chiếm ưu thế, mủ chảy ra nhiều, quá trình hồi phục của
tổ chức chậm. Nếu không can thiệp kịp thời gia súc sẽ chết do kiệt sức vì trúng độc.
1.2.2. Nhiễm trùng thối rữa
Loại nhiễm trùng này do các nhóm vi khuẩn gây thối rữa như : Clostridium spogenes ;
Clostridium putrificum, Bacillus pyocianous, Bacillus coli và nhiều loại khác gây nên.
Nếu trong vết thương hiện tượng viêm hóa mủ ở mức vừa phải, tổ chức hoại tử không
nhiều lắm và sức đề kháng của gia súc không bị suy giảm nghiêm trọng thì những vi
khuẩn này có khả năng đóng vai trò làm sạch vết thương. Vì những vi khuẩn này sản sinh
ra men dung giải protein của những tế bào tổ chức bị chết, làm cho những tế bào hoại tử
tan rữa biến thành nước trôi ra khỏi vết thương, vết thương được dọn sạch những tế bào
tổ chức bị hoại tử, tạo điều kiện thuận lợi cho tế bào tổ chức tái sinh.
Trong thực tế, vi khuẩn gây thối rữa thường phát sinh ở những vết thương nhiều tổ
chức hoại tử có diện tích rộng, thường phối hợp với vi khuẩn hóa mủ và vi khuẩn yếm
khí. Do vậy, tình trạng của bênh súc càng xấu đi, con vật có biểu hiện triệu chứng toàn
thân (sốt cao, các hiện tượng nhiễm độc tăng lên, cơ thể bị mất nước, rối loạn dinh
dưỡng, run cơ) vết thương có mùi hôi rất khó chịu. Trong vết thương có những ổ hoại tử
mới và chúng bị phân hủy, các hạch lâm ba cạnh vết thương bị sưng to. Da vùng gần vết
thương có vết thâm tím như bị nhiễm trùng yếm khí
19
1.2.3 Nhiễm trùng yếm khí
Nhiễm trùng yếm khí là loại nhiễm trùng cực kỳ nguy hiểm, dễ dẫn đến nhiễm trùng
huyết gây tử vong cho gia súc. Nhiễm trùng yếm khí là một quá trình rối loạn dinh dưỡng
và rối loạn thần kinh nặng do sự tác động của vi sinh vật yếm khí, trên cơ sở sức đề
kháng toàn thân và cục bộ của gia súc bị suy giảm nghiêm trọng. Vi khuẩn gây bệnh
thường do bốn loại sau:
- Trực khuẩn gây thuỷ thũng ác tính (Bacillus oedematis maligni). Khi xâm nhập vào
vết thương nó sẽ làm cho da và tổ chức dưới da có hiện tượng thuỷ thũng dạng keo nhầy.
- Trực khuẩn có giáp mô sinh hơi (Bacillus perfrigens): Loại vi khuẩn này phân bố
rất rộng trong thiên nhiên, có nhiều trong phân người và gia súc. Sau khi xâm nhập vào
vết thương vi khuẩn có thể theo hệ thống mạch máu và lâm ba lan truyền đi các nơi khác
trong cơ thể gia súc, chúng sinh hơi, sản sinh ra độc tố gây dung huyết, đầu độc thần kinh
và các bắp thịt.
- Trực khuẩn làm tan rữa tổ chức (Bacillus histolyticus): loại vi khuẩn này phân bố ít
trong thiên nhiên, khi xâm nhập vào vết thương nó làm cho tế bào tổ chức bị hoại tử và
tan rữa.
- Trực khuẩn gây thuỷ thũng (Bacillus oedematiens): Loại vi khuẩn này sau khi xâm
nhập vào vết thương sẽ gây dung huyết và gây thuỷ thũng.
Tại cục bộ vết thương khô, ít chất phân tiết, cơ bị lồi ra, lúc đầu có màu đỏ thẫm sau
chuyển sang màu xám (màu thịt luộc). Trong vết thương những quá trình hồi phục hầu
như không có. Ở thể nhiễm trùng yếm khí đơn thuần, vết thương không có mủ. Chỉ khi
có nhiễm trùng thối rữa kết hợp mới xuất hiện mùi hôi thối rất khó chịu. Da xung quanh
vết thương bị phù, bóng loáng, nhợt nhạt, lưới tĩnh mạch dãn rộng. Trong trường hợp
song song với hiện tượng hoại tử, các mô phù rõ rệt và tăng nhanh. Có trường hợp ngay
sau khi mới nhiễm trùng, hiện tượng sinh hơi xuất hiện rất rõ, ấn tay vào da quanh vết
thương phát ra tiếng lạo xạo, trong mủ có lẫn bọt khí. Mủ có màu máu cá.
2. Nhân tố thúc đẩy nhiễm trùng ngoại khoa phát triển
2.1. Tính chất của vết thương
- Vết thương ở những tổ chức có khả năng vận động càng nhiều, sự nhiễm trùng
của vết thương càng phát triển nhanh.
- Tổ chức bị thương được nhiều máu đến cung cấp thì tốc độ nhiễm trùng phát triển
càng nhanh (các tổ chức dưới da, bắp thịt bị thương thì tốc độ nhiễm trùng phát triển
nhanh hơn tổ chức dây chằng, gân, khớp).
- Vết thương càng có nhiều tổ chức bị dập nát, nhiều vật lạ, nhiều cục máu đông,
vết thương càng rộng, hình thái của vết thương càng phức tạp (có nhiều ngóc ngách, hình
thành những cái túi, dịch viêm không thoát hết ra ngoài) thì tốc độ nhiễm trùng của vết
thương càng phát triển nhanh.
2.2. Trạng thái cơ thể gia súc
Tình trạng dinh dưỡng của gia súc càng tốt thì sức đề kháng của cơ thể chống lại
hiện tượng nhiễm trùng càng cao. Trường hợp gia súc bị suy yếu nhất là cơ thể bị rối loạn
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình mô đun Phòng, trị bệnh ngoại khoa thú y - Nghề: Thú y", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_mo_dun_phong_tri_benh_ngoai_khoa_thu_y_nghe_thu_y.pdf

