Tích tụ và tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh Đắk Nông

Vietnam J. Agri. Sci. 2021, Vol. 19, No. 7: 987-996  
Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2021, 19(7): 987-996  
TÍCH TỤ VÀ TẬP TRUNG ĐẤT ĐAI CHO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA  
Ở TỈNH ĐẮK NÔNG  
Nguyễn Anh Đức, Nguyễn Tuấn Sơn*  
Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
*Tác giả liên hệ: [email protected]  
Ngày nhận bài: 17.05.2021  
Ngày chấp nhận đăng: 03.06.2021  
TÓM TẮT  
Quá trình tích tụ và tập trung đất đai đã và đang diễn ra ở tỉnh Đắk Nông. Tuy nhiên, quá trình này vẫn còn bộc  
lộ nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển nông nghiệp hàng hóa của tỉnh. Trên cơ sở đánh giá  
thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng và khó khăn trong quá trình tích tụ và tập trung đất đai thời gian qua, nghiên cứu  
đề xuất các giải pháp đẩy mạnh tích tụ và tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Đắk Nông trong  
thời gian tới. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận có sự tham gia để thu thập thông tin sơ cấp, kết hợp cả  
phân tích định tính và phân tích định lượng trong xử lý thông tin thu được. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng với nhóm  
đối tượng trang trại thì hình thức tích tụ đất chủ yếu là mua và thuê đất của các hộ nông dân khác, trong khi với  
nhóm hợp tác xã thì hình thức tập trung đất đai thông qua nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất là chủ yếu. Yếu tố  
biến động thị trường quyền sử dụng đất và nguồn lực của chủ thể tham gia tích tụ và tập trung đất đai có ảnh hưởng  
lớn nhất đến quá trình tích tụ và tập trung đất đai hiện nay.  
Từ khóa: Tích tụ và tập trung đất đai; phát triển nông nghiệp hàng hóa; Đắk Nông.  
Land Accumulation and Concentration  
for Commodity-oriented Agricultural Development in Dak Nong Province  
ABSTRACT  
The process of land accumulation and concentration has occurred in Dak Nong province. However, this process  
still reveals many limitations and has not met the needs of the province's commodity agriculture development. Based  
on assessing the current situation and analyzing factors affecting the process of land accumulation and concentration  
over time, this study proposed solutions to accelerate the process of land accumulation and concentration for  
commodity-oriented agricultural development in Dak Nong province. This study applied the participatory approach  
method to collect primary data, combined both qualitative and quantitative methods in data analysis. Our results  
showed that for the farm group, land accumulation took place in the form of buying and renting land from other  
farmers, while for the cooperatives, land concentration in the form of sharing land rights between farmers and  
entrepreneurs was dominant. The fluctuation of the land market and the resources of the actors involved in land  
accumulation and concentration were key factors influencing the process of land accumulation and concentration.  
Keywords: Land accumulation and concentration; commodity-oriented agricultural development; Dak Nong.  
khẩu nông sản ước khoảng 190,32 tỷ USD (thứ  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
15 thế giới), thu nhập bình quân của cư dân  
nông thôn năm 2020 đạt 43 triệu đồng/người  
(bằng 1,92 lần thu nhập năm 2015). Bên cạnh  
những thành công trên, ngành nông nghiệp  
cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách  
thức như: những hạn chế, yếu kém của một nền  
sản xuất nhỏ, chưa tập trung, các nguồn lực cho  
Giai đoạn 2016-2020, nông nghiệp Việt  
Nam đã đạt được nhiều thành tựu với 15/15 chỉ  
tiêu chủ yếu của ngành đều đạt hoặc vượt mục  
tiêu đề ra (Nguyễn Xuân Cường, 2021). Cụ thể,  
trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng GDP của  
ngành đạt 2,71%/năm, tổng kim ngạch xuất  
987  
Tích tụ và tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh Đắk Nông  
tăng trưởng (đất đai, nước...) khan hiếm và đắt  
đỏ, các vấn đề ô nhiễm trong sản xuất nông  
nghiệp hàng hóa qui mô lớn (Nguyễn Xuân  
Cường, 2021; Nguyễn Tuấn Sơn, 2019). Để giải  
quyết các vấn đề thách thức cho nông nghiệp  
Việt Nam, cần phải có giải pháp phát triển nông  
nghiệp hàng hóa mang tính bền vững.  
đất vào các tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp  
(Nguyễn Tuấn Sơn, 2019). Tích tụ ruộng đất là  
kết quả của quá trình tích lũy đất đai thông qua  
cơ chế thị trường, được thừa kế, hoặc được cho  
tặng đất nông nghiệp, trong đó cơ chế thị trường  
là phương thức tích tụ phổ biến nhất (Đỗ Kim  
Chung, 2018).  
Các nghiên cứu tổng quan đã chỉ ra tích tụ  
và tập trung đất đai là điều kiện để phát triển  
sản xuất nông nghiệp hàng hóa qui mô lớn ở Việt  
Nam (Đỗ Kim Chung, 2018; Lê Du Phong & Lê  
Huỳnh Mai, 2017; Nguyễn Đình Bồng & Nguyễn  
Thị Thu Hồng, 2017; Nguyễn Quang Thuấn,  
2017) và trên thế giới (Binswanger & cs., 1995;  
Henderson & cs., 2015). Thông qua quá trình  
tích tụ và tập trung đất đai theo hình thức thị  
trường mà người sản xuất có thể tận dụng tối đa  
nguồn lực sẵn có, chuyên môn hóa và chuyển đổi  
từ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún sang sản xuất  
hàng hóa, tạo ra tích lũy của cải cho xã hội  
(Nguyễn Tuấn Sơn, 2019). Tuy nhiên, quá trình  
tích tụ và tập trung đất đai ở Việt Nam vẫn đang  
gặp phải nhiều vấn đề cả về mặt lý thuyết và  
thực tiễn. Lê Du Phong & Lê Huỳnh Mai (2017)  
đã chỉ ra rằng chính sách đất đai hiện nay vẫn  
còn một khoảng cách đáng kể so với thể chế kinh  
tế thị trường, cụ thể ở các khía cạnh như chế độ  
sở hữu, chính sách hạn điền. Theo Nguyễn  
Quang Thuấn (2017), mặc dù tích tụ và tập trung  
đất đai là xu hướng tất yếu của quá trình đô thị  
hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,  
nó vẫn cần được kiểm soát để quá trình này diễn  
ra phù hợp với tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế  
và lao động ở các địa phương.  
Trong giai đoạn 2016-2020, giá trị gia tăng  
ngành nông nghiệp của tỉnh Đắk Nông tăng từ  
6.032 tỷ đồng lên 7.526 tỷ đồng, tốc độ tăng  
trưởng bình quân 4,64%/năm, cao hơn bình quân  
chung của ngành nông nghiệp cả nước cùng kỳ là  
2,5-3%/năm (Sở NN&PTNT Đắk Nông, 2020).  
Kết quả này đạt được trên cơ sở tăng trưởng quy  
mô về diện tích, chuyển dịch cơ cấu sản xuất  
nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa và  
ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật. Tuy  
nhiên, việc mở rộng diện tích đất canh tác nông  
nghiệp lại chủ yếu đến từ diện tích đất rừng bị  
mất trong giai đoạn 2014-2015 (Sở NN&PTNT  
Đắk Nông, 2020) cũng là một vấn đề đáng quan  
tâm vì điều đó gây ảnh hưởng đến môi trường  
sinh thái tự nhiên (Lưu Văn Năng & cs., 2013).  
Ngoài ra, do chưa hình thành được vùng sản  
xuất tập trung qui mô lớn nên việc tiêu thụ nông  
sản ở các kênh hiện đại còn gặp nhiều khó khăn  
(Lê Dung, 2020). Do đó đòi hỏi cần phải có một  
nghiên cứu đánh giá thực trạng tích tụ và tập  
trung đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp  
hàng hóa ở tỉnh Đắk Nông. Nghiên cứu này sẽ  
thể hiện được thực trạng tích tụ và tập trung đất  
đai, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này từ  
đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy tích tụ tập  
trung đất đai phát triển nông nghiệp hàng hóa  
trên địa bàn tỉnh Đắk Nông.  
Về mặt khái niệm, có thể phân biệt tích tụ  
và tập trung đất đai như sau: Tích tụ đất đai là  
quá trình tích lũy dần quyền sở hữu hoặc quyền  
sử dụng đất cho các mục đích sản xuất nông  
nghiệp (Henderson & cs., 2015), còn tập trung  
đất đai chỉ làm tăng quy mô diện tích nhưng  
không thay đổi quyền sở hữu hay quyền sử dụng  
đất (Đỗ Kim Chung, 2018). Ở nước ta, tập trung  
đất nông nghiệp là việc các hộ dân thực hiện  
việc chuyển đổi các mảnh đất cho nhau một  
cách tự nguyện và hình thức này tương đối phổ  
biến ở nhiều địa phương thông qua các chương  
trình dồn điền đổi thửa, cánh đồng lớn, hoặc góp  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp tiếp  
cận có sự tham gia, tương tự với nghiên cứu của  
Nguyễn Tuấn Sơn & cs. (2019). Các loại nông  
sản được lựa chọn nghiên cứu bao gồm: hồ tiêu,  
cà phê, cây ăn quả, rau và hoa và sản phẩm  
chăn nuôi (lợn và bò). Các loại nông sản này có  
diện tích canh tác tăng lên trong giai đoạn  
2016-2020 và là những mặt hàng nông sản chủ  
lực đã được xác định trong đề án tái cơ cấu nông  
988  
Nguyễn Anh Đức, Nguyễn Tuấn Sơn  
nghiệp của tỉnh giai đoạn 2016-2020 (UBND  
tỉnh Đắk Nông, 2018).  
bộ Phòng NN, TN&MT, Hội Nông dân huyện,  
cán bộ xã và đại diện các hộ trang trại và hộ  
nông dân để lấy ý kiến về các vấn đề khó khăn  
trong quá trình tích tụ tập trung đất đai, các  
yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này và kiến  
nghị của các nhóm.  
Việc xác định các điểm nghiên cứu (các  
huyện và xã) trên cơ sở nghiên cứu các vùng  
sản xuất trong đề án tái cơ cấu ngành nông  
nghiệp, trong đề án sản xuất nông nghiệp ứng  
dụng công nghệ cao của tỉnh và thảo luận với  
các cán bộ Văn phòng điều phối NTM của tỉnh,  
các huyện và Phòng Nông nghiệp (NN), Phòng  
Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) các huyện  
(Bảng 1). Sau đó tiến hành chọn mẫu điều tra  
(bao gồm các trang trại, hộ dân đã chuyển  
nhượng đất nông nghiệp) theo phương pháp  
chọn ngẫu nhiên trong từng xã được chọn.  
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu đã điều tra các hợp  
tác xã trên cùng địa bàn. Đồng thời nhóm  
nghiên cứu tiến hành 13 cuộc tọa đàm với cán  
Số liệu điều tra sau khi làm sạch thu được  
mẫu bao gồm 118 trang trại và 36 cán bộ hợp  
tác xã đã tích tụ, tập trung đất đai và 139 hộ  
nông dân đã chuyển nhượng đất cho hộ khác.  
Dữ liệu sau đó đã được mã hóa và xử lý bằng  
phần mềm thống kê STATA version 16. Các  
phương pháp thống kê được sử dụng để phân  
tích thực trạng tích tụ, nguyên nhân và các yếu  
tố ảnh hưởng kết hợp với kết quả nghiên cứu  
định tính để đề xuất các giải pháp đẩy mạnh  
việc tích tụ đất đai ở Đắk Nông.  
Bảng 1. Danh sách các xã được khảo sát theo loại nông sản  
Nông sản  
Xã (Huyện)  
Hồ tiêu  
Thuận Hà (Đắk Song), Đắk Wer (Đắk R’lấp), Quảng Sơn (Đắk Glong)  
Đức Minh (Đắk Mil), Quảng Tín (Đắk R’lấp), Quảng Sơn (Đắk Glong)  
Đức Mạnh và Đắk Gằn (Đắk Mil), Đắk R moan (Tp. Gia Nghĩa), Quảng Khê (Đăk G’long)  
Thuận Hạnh (Đăk Song), Nghĩa Phú (Tp. Gia Nghĩa)  
Cà phê  
Cây ăn quả  
Rau Hoa  
Bò, Heo  
Đắk D'rông (Cư Jut), Đắk Sin (Đắk R’lấp)  
Ghi chú: Tổng hợp số liệu điều tra (2019-2020).  
Nguồn: Sở NN&PTNT Đắk Nông (2021).  
Hình 1. Biến động diện tích của các cây trồng chính  
của tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2016-2020  
989  
Tích tụ và tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh Đắk Nông  
Bảng 2. Thông tin cơ bản về các trang trại được điều tra năm 2019-2020  
Hồ tiêu  
(n = 30)  
Cà phê  
(n = 30)  
CAQ  
(n = 30)  
Rau & Hoa  
(n = 18)  
Chăn nuôi  
(n = 10)  
Chỉ tiêu  
ĐVT  
Thông tin về chủ trang trại  
Tỷ lệ % là nam giới  
%
90  
86,67  
48,67  
26,67  
25,53  
90  
46,03  
30  
61,11  
48,5  
80  
42,7  
10  
Tuổi BQ  
Năm  
%
50,7  
Tốt nghiệp THPT trở lên  
Số năm làm nông nghiệp  
Thông tin về trang trại  
Số khẩu BQ/trang trại  
Số lao động BQ/trang trại  
Tỷ lệ % TT có vay vốn  
Tỷ lệ % bán có hợp đồng  
33,33  
24,07  
38,89  
22,94  
Năm  
21,83  
16,3  
Người  
Người  
%
4,56  
3,2  
5
4,5  
2,9  
76,7  
0
4,44  
2,77  
3,6  
2,6  
30  
0
3.23  
73,3  
6,67  
80  
55,56  
5,56  
%
13,33  
trong việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật. Số  
liệu về lao động và tình hình sử dụng lao động  
cũng cho thấy các trang trại này không gặp phải  
khó khăn với quy mô sản xuất như hiện nay  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Thực trạng tích tụ và tập trung đất đai  
ở tỉnh Đắk Nông  
Tình hình vay vốn và sử dụng vốn vay của  
các trang trại có sự khác biệt giữa nhóm cây  
công nghiệp, cây ăn quả với nhóm rau hoa và  
chăn nuôi (Bảng 2). Cụ thể, các trang trại trồng  
cây công nghiệp, cây ăn quả có tỷ lệ đi vay cao  
hơn (trên 70%), số vốn vay cũng nhiều hơn  
nhóm trang trại rau hoa và chăn nuôi. Mục đích  
vay vốn của các trang trại chủ yếu là để đầu tư  
vào khâu giống và các loại vật tư đầu vào nông  
nghiệp và chỉ có khoảng một phần ba số trang  
trại đi vay để mở rộng diện tích (cây công  
nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi). Ngân hàng  
thương mại vẫn là nguồn vay vốn chủ yếu (trên  
70% lượng vốn vay), tuy nhiên với nhu cầu lớn  
về vốn thì các trang trại cũng buộc phải đi vay  
từ các nguồn phi chính thức với lãi suất cao hơn  
và nhiều rủi ro hơn.  
3.1.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp  
trên địa bàn tỉnh Đắk Nông  
Trong giai đoạn 2016-2020, diện tích của  
các loại cây trồng như hồ tiêu, cà phê, cây ăn  
quả (bơ, sầu riêng, xoài, mít, cây có múi) có xu  
hướng tăng lên trong khi diện tích của các loại  
cây trồng khác như sắn, ngô, cao su, rau xanh có  
xu hướng giảm (Hình 1). Cũng trong giai đoạn  
này, diện tích đất cho chăn nuôi cũng có xu  
hướng tăng lên do tổng đàn lợn và bò tăng bình  
quân 13-14%/năm.  
3.1.2. Thực trạng tích tụ và tập trung đất  
đai của các trang trại điều tra  
Theo số liệu thống kê, năm 2019 tỉnh Đắk  
Nông có 1.213 trang trại trong đó có 1.072 trang  
trại trồng trọt và tổng hợp, 141 trang trại chăn  
nuôi với tổng diện tích sản xuất gần 7.000ha  
(Niên giám thống kê tỉnh Đắk Nông, 2019).  
Nghiên cứu đã tiến hành điều tra 118 trang trại  
với cơ cấu là 108 trang trại trồng trọt và 10  
trang trại chăn nuôi (Bảng 2).  
Về các kênh tiêu thụ nông sản thì chủ yếu  
các trang trại vẫn bán trực tiếp cho thương lái  
(trên 80%). Tỷ lệ trang trại có bán cho doanh  
nghiệp rất thấp (dưới 10%) và còn lại là bán trực  
tiếp cho người tiêu dùng (chủ yếu là với rau,  
hoa). Hiện nay việc tiêu thụ nông sản chưa ổn  
định, mới chỉ có một số ít trang trại (hồ tiêu, cà  
phê, rau hoa) đã ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm  
với thương lái (Bảng 2). Do hiện nay quy mô sản  
xuất và nguồn lực của các trang trại chưa đáp  
Số liệu bảng 2 cho thấy đa phần chủ các  
trang trại là nam giới, thuộc độ tuổi trung niên  
và có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông  
nghiệp. Tuy nhiên, đa phần chủ trang trại có  
trình độ dưới trung học phổ thông nên hạn chế  
990  
Nguyễn Anh Đức, Nguyễn Tuấn Sơn  
ứng được yêu cầu về số lượng và chất lượng  
hàng hóa của doanh nghiệp và các kênh bán lẻ  
hiện đại như siêu thị, cửa hàng nông sản nên  
việc tiếp cận kênh tiêu thụ này còn gặp nhiều  
khó khăn.  
các trang trại đều có qui mô nhỏ hơn nhiều (dưới  
5ha). Với các trang trại chăn nuôi, diện tích đất  
nông nghiệp đất cũng không cần quá lớn.  
Xu hướng tích tụ đất đai được thể hiện rõ ở  
nhóm trang trại trồng trọt, nhất là với cây ăn  
quả, rau hoa (Bảng 3). Với các cây hồ tiêu và cà  
phê, có xu hướng dồn đổi đất giữa trang trại với  
các hộ nông dân xung quanh, tương tự như hình  
thức dồn điền đổi thửa với các cây ngắn ngày.  
Đây là một hình thức tập trung đất đai nhằm  
tối giản chi phí chăm sóc vườn và nâng cao hiệu  
quả sản xuất. Với nhóm trang trại chăn nuôi thì  
xu hướng tích tụ đất đai không phổ biến là do  
qui mô sản xuất hiện nay phù hợp với năng lực  
của các trang trại này, cộng thêm với tình hình  
dịch bệnh diễn biến phức tạp trong thời gian  
qua dẫn đến việc tái đàn gặp nhiều khó khăn  
(Hồng Thoan, 2020).  
Diện tích bình quân và biến động diện tích  
đất sản xuất của các trang trại trong giai đoạn  
2015-2019 được trình bày ở bảng 3. Kết quả  
điều tra cho thấy diện tích bình quân của các  
trang trại trồng trọt là tương đối lớn (từ 3 đến  
5,5ha), gấp hai đến ba lần diện tích bình quân  
của các trang trại chăn nuôi (1,55ha). Chênh  
lệch diện tích giữa trang trại có diện tích nhỏ  
nhất và lớn nhất cũng rất lớn, có thể gấp vài  
chục lần (cây ăn quả, hồ tiêu, rau hoa). Điều  
này cho thấy có một số ít các trang trại trồng  
trọt đã tích tụ được một diện tích đất nông  
nghiệp đủ lớn (vài chục ha), tuy nhiên đa phần  
Bảng 3. Biến động diện tích đất giai đoạn 2015-2019 của các trang trại điều tra  
Hồ tiêu  
(n = 30)  
Cà phê  
(n = 30)  
CAQ  
(n = 30)  
Rau & Hoa  
(n = 18)  
Chăn nuôi  
(n = 10)  
Chỉ tiêu  
ĐVT  
Diện tích của trang trại  
Diện tích BQ/trang trại  
Diện tích lớn nhất  
ha  
ha  
ha  
3,03  
9,5  
3,79  
13  
5,49  
60  
1
3,36  
16  
1
1,55  
5
Diện tích nhỏ nhất  
0,5  
1,3  
0,3  
Biến động diện tích giai đoạn 2015-2019  
Tăng lên  
%
%
83,33  
16,67  
86,67  
13,33  
100  
0
100  
0
30  
70  
Không thay đổi  
Ghi chú: Tổng hợp số liệu điều tra (2019-2020).  
Bảng 4. Thực trạng tích tụ và tập trung đất giai đoạn 2015-2019 của các trang trại điều tra  
Hồ tiêu  
(n = 30)  
Cà phê  
(n = 30)  
CAQ  
(n = 30)  
Rau & Hoa  
(n = 18)  
Chăn nuôi  
(n = 10)  
Chỉ tiêu  
ĐVT  
Tỷ lệ trang trại mua đất  
DT mua BQ/trang trại*  
Giá mua bình quân  
%
83,33  
83,33  
2,01  
96,67  
1,53  
83,33  
1,43  
10,00  
2,40  
ha  
1,61  
Triệu đồng/ha  
393,84  
333,98  
44,00  
6,67  
404,58  
75,86  
3,33  
279,43  
80,00  
38,89  
3,42  
280,06  
100  
Có xác nhận chính quyền**  
Tỷ lệ trang trại thuê đất  
DT thuê BQ/trang trại*  
Giá thuê BQ/năm  
%
48,00  
%
0
-
20,00  
0,75  
ha  
0,75  
39,00  
40,00  
100  
Triệu đồng/ha  
%
-
25,00  
0
16,33  
33,33  
10,00  
100  
Có xác nhận chính quyền**  
-
*
Ghi chú: Tính trên trang trại có mua/thuê đất; **Các giao dịch về đất đai giữa các bên có thông qua và có xác  
nhận của chính quyền các cấp;  
Tổng hợp số liệu điều tra (2019-2020).  
991  
Tích tụ và tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh Đắk Nông  
Thực trạng tích tụ đất của 118 trang trại  
điều tra được trình bày ở bảng 4. Hiện nay trên  
địa bàn tỉnh Đắk Nông, chỉ có hai hình thức  
tích tụ chính là mua và thuê thêm đất. Các chỉ  
tiêu thể hiện thực trạng tích tụ đất của trang  
trại bao gồm tỷ lệ hộ mua/thuê đất, diện tích  
mua/thuê bình quân, giá giao dịch khi thực  
hiện từng hình thức mua/thuê và tỷ lệ hộ  
mua/thuê đất đã có xác nhận của chính quyền  
địa phương.  
cũng dẫn đến việc trang trại không thể thế chấp  
đất sản xuất để vay vốn ngân hàng được.  
3.1.3. Thực trạng tích tụ và tập trung đất  
đai của các hợp tác xã  
Đặc điểm chung của người trả lời phỏng  
vấn đại diện cho hợp tác xã có tích tụ đất cho  
thấy họ có trình độ học vấn tương đối tốt (67%  
có trình độ cao đẳng/đại học trở lên), đang ở độ  
tuổi trung niên, tuy nhiên thời gian làm việc  
tại hợp tác xã chưa lâu (bình quân là dưới 3  
năm kinh nghiệm). Thông tin về hợp tác xã cho  
thấy trên 90% có số vốn đăng ký kinh doanh  
nhỏ (từ 1-3 tỷ đồng) và 33% trong số đó đang  
gặp khó khăn trong vay vốn do không thể thế  
chấp tài sản để vay, thủ tục vay vốn phức tạp  
và lượng tiền vay chưa đáp ứng nhu cầu. Qui  
mô về lao động của các hợp tác xã này cũng  
tương đối nhỏ (20-50 người) và chỉ có dưới 30%  
là gặp khó khăn về lao động do không có lao  
động có chuyên môn tay nghề, hoặc lao động  
chưa có ý thức làm việc chuyên nghiệp (tự bỏ  
việc). Về thị trường của hợp tác xã chủ yếu là  
trong tỉnh và một số tỉnh lân cận (Đăk Lăk,  
Lâm Đồng, Bình Phước) chưa tiếp cận các  
thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh,  
Bình Dương, Đồng Nai. Đây là thị trường tiềm  
năng cho nông sản Đắk Nông, tuy nhiên, việc  
tiếp cận thị trường này là không dễ với khả  
năng của các hợp tác xã địa phương.  
Kết quả điều tra cho thấy hình thức mua  
thêm đất là hình thức tích tụ chủ yếu của đa số  
trang trại trồng trọt (Bảng 4). Diện tích đất  
mua thêm bình quân của một trang trại cũng  
tương đối lớn so với quy mô về diện tích hiện  
nay của trang trại (khoảng 50% diện tích của  
trang trại hồ tiêu, cà phê được mua thêm trong  
giai đoạn 2015-2019). Giá mua đất bình quân  
cũng tương đối đồng đều giữa các nhóm cây  
trồng khác nhau (cao nhất là cây ăn quả và thấp  
nhất là rau hoa). Chỉ có duy nhất một trang trại  
có mua đất và diện tích đất mua thêm cũng  
tương đối lớn (2,4ha) cho thấy xu hướng mua  
thêm đất với các trang trại chăn nuôi là không  
phổ biến.  
Hình thức thuê thêm đất không quá phổ  
biến như hình thức mua thêm đất (Bảng 4). Tuy  
nhiên, với các trang trại rau hoa có diện tích  
không quá lớn thì đây là một hình thức tích tụ  
phù hợp. Như trang trại cây ăn quả của ông  
Trần Văn Khuông ở xã Đăk Gằn có diện tích  
60ha với 39ha đất đi thuê trong vòng 10 năm.  
Về qui mô sản xuất đất nông nghiệp của  
các hợp tác xã thì có thể thấy nhóm trồng trọt  
có qui mô lớn hơn (diện tích bình quân là  
41,25ha) so với nhóm chăn nuôi (6,2ha). Tuy  
nhiên, biến thiên diện tích của nhóm trồng trọt  
là rất lớn (từ 3ha đến 400ha) cho thấy mức độ  
tập trung đất có sự khác biệt rõ rệt. Với các hợp  
tác xã thì hình thức tập trung đất chủ yếu là  
nhận góp vốn bằng đất của các hộ nông dân (tỷ  
lệ chia lợi nhuận là 50%) với diện tích đất góp  
bình quân là 47,54ha (lớn nhất là 300ha và nhỏ  
nhất là 3ha). Tiếp theo là hình thức thuê đất  
của các hộ nông dân không sản xuất với diện  
tích đất thuê bình quân là 6,2ha và tiền thuê  
đất bình quân là 283 triệu đồng/ha, với thời  
gian thuê là 5 năm.  
Tỷ lệ trang trại mua/thuê thêm đất có xác  
nhận chính quyền địa phương là không đều  
nhau giữa các nhóm sản phẩm (Bảng 4). Với các  
trang trại hồ tiêu và cà phê, hơn 50% số giao  
dịch mua đất giữa hai bên chưa có xác nhận của  
chính quyền địa phương. Với các trang trại rau  
hoa thì 67% số giao dịch thuê đất chưa có xác  
nhận của chính quyền địa phương. Điều này  
tiềm ẩn nhiều rủi ro cho người mua/thuê đất và  
trong thực tế đã từng xảy ra việc mua đất của  
người dân nhưng không có giấy chứng nhận  
quyền sử dụng đất và trên bản đồ sử dụng đất  
của xã thì diện tích đất đó thuộc đất rừng. Việc  
không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  
992  
Nguyễn Anh Đức, Nguyễn Tuấn Sơn  
địa phương trong hướng dẫn hỗ trợ thủ tục, giải  
quyết các vấn đề tranh chấp liên quan đến đất  
đai sẽ đóng vai trò thúc đẩy quá trình tích tụ  
thông qua biện pháp thị trường.  
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng và khó khăn  
trong tích tụ và tập trung đất đai ở tỉnh  
Đắk Nông  
3.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tích tụ  
và tập trung đất đai trên địa bàn tỉnh  
Đắk Nông  
Với nhóm hợp tác xã thì các yếu tố tâm lý và  
nguồn lực của chủ thể tham gia quá trình tích tụ  
và tập trung đất đai, biến động của thị trường  
đất nông nghiệp, vai trò của chính quyền địa  
phương lại có ảnh hưởng lớn nhất đến quá trình  
tích tụ và tập trung đất đai. Như vậy có thể thấy  
với điều kiện hiện nay của tỉnh Đắk Nông, quá  
trình tích tụ và tập trung đất đai đã và đang diễn  
ra rất mạnh mẽ theo hình thức thị trường. Các  
chủ thể tham gia vào quá trình tích tụ và tập  
trung đất đai như trang trại và hợp tác xã ý thức  
được vai trò của mình và xác định nếu có được  
nguồn lực tốt thì họ hoàn toàn có thể chuyển đổi  
sang sản xuất hàng hóa qui mô lớn. Vai trò của  
chính quyền địa phương và định hướng chính  
sách của tỉnh sẽ góp phần thúc đẩy quá trình này  
diễn ra mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 nhóm yếu  
tố có ảnh hưởng đến quá trình tích tụ và tập  
trung đất đai ở Đắk Nông bao gồm (i) Thể chế,  
pháp luật và các chính sách của Nhà nước có  
liên quan đến đất đai; (ii) Các chính sách của  
tỉnh Đắk Nông về đất đai, khuyến khích tích tụ  
và tập trung đất đai; (iii) Vai trò của chính  
quyền địa phương trong việc hướng dẫn, hỗ trợ  
thủ tục, giải quyết các vấn đề tranh chấp liên  
quan đến đất đai; (iv) Tâm lý của người dân và  
chủ thể tham gia tích tụ và tập trung đất đai về  
chuyển nhượng, chuyển đổi đất nông nghiệp; (v)  
Biến động của thị trường đất nông nghiệp tại  
địa phương; và (vi) Nguồn lực của chủ thể tham  
gia vào quá trình tích tụ và tập trung đất đai  
(vốn, lao động, khoa học công nghệ).  
3.2.2. Các khó khăn trong tích tụ và tập  
trung đất đai trên địa bàn tỉnh Đắk Nông  
Nghiên cứu sử dụng phương pháp cho điểm  
với 5 mức thang đo từ 1 là không quan trọng đến  
5 là rất quan trọng. Kết quả đánh giá của các chủ  
trang trại cho thấy yếu tố biến động thị trường  
đất nông nghiệp tại địa phương và nguồn lực của  
chủ thể tham gia vào quá trình tích tụ và tập  
trung đất đóng vai trò quan trọng nhất (Bảng 5).  
Điều này phản ánh thực trạng mua bán, chuyển  
nhượng quyền sử dụng đất của các trang trại  
đang diễn ra rất sôi động ở Đắk Nông trong thời  
gian qua. Thể chế pháp luật, các chính sách của  
Nhà nước về đất đai và vai trò của chính quyền  
Kết quả điều tra cho thấy khó khăn lớn nhất  
trong tích tụ và tập trung đất đai ở tỉnh Đắk  
Nông là các chủ thể (hợp tác xã, trang trại) chưa  
được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu/sử dụng  
đất nông nghiệp cho một phần hoặc toàn bộ diện  
tích đất sản xuất. Điều này dẫn đến việc tình  
trạng họ không thể thế chấp đất để vay vốn ngân  
hàng. Ngoài ra, khó khăn trong tiếp cận nguồn  
vốn vay do yếu tố thủ tục cho vay phức tạp cũng  
góp phần khiến cho các chủ thể này không huy  
động đủ nguồn lực để mở rộng diện tích đất.  
Bảng 5. Mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến tích tụ  
và tập trung của các trang trại (Điểm bình quân)  
Hồ tiêu  
(n = 30)  
Cà phê  
(n = 30)  
CAQ  
(n = 30)  
Rau & Hoa  
(n = 18)  
Bò & Lợn  
(n = 10)  
BQC  
(n = 118)  
Chỉ tiêu  
Thể chế pháp luật  
3,03  
3,1  
3,2  
2,5  
4,07  
2,7  
3,33  
2,94  
3,83  
3,06  
3,44  
4,39  
2,4  
2,1  
3,4  
3,7  
4
3,33  
2,74  
3,33  
3,15  
3,87  
3,75  
Chính sách của tỉnh  
Vai trò của chính quyền  
Tâm lý của chủ thể  
3,63  
2,8  
2,27  
2,93  
3,67  
2,07  
3,77  
3,6  
Biến động thị trường đất  
Nguồn lực của chủ thể  
4,13  
3,9  
4,03  
4,6  
4,6  
Ghi chú: Tổng hợp số liệu điều tra (2019-2020).  
993  
Tích tụ và tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh Đắk Nông  
người sử dụng đất mới được thực hiện các  
Quy định về mức hạn điền dưới 30ha cũng  
là một cản trở không nhỏ đến quá trình tích tụ  
đất nông nghiệp để sản xuất qui mô lớn. Mặc dù  
tỉnh Đắk Nông đã ban hành quyết định số  
22/2019/QĐ-UBND về hạn mức giao đất, công  
nhận quyền sử dụng đất, diện tích đất tối thiểu  
được phép tách thửa trên địa bàn tỉnh Đắk  
Nông, nội dung trong quyết định đề cập đến  
diện tích đất nông nghiệp của hộ nông dân sau  
tách thửa không được dưới mức qui định (500m2  
với khu vực đô thị và 1.000m2 với khu vực nông  
thôn). Điều này mới chỉ góp phần hạn chế quá  
trình phân tán đất đai ở các địa phương, chưa có  
tác dụng thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung  
đất đai của các hợp tác xã và trang trại.  
quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại,  
tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất  
(Điều 168); nghĩa là mới được tham gia vào quá  
trình tích tụ, tập trung ruộng đất. Do vậy cần  
rà soát và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng  
đất cho những khu đất đủ điều kiện nhưng  
chưa được cấp.  
Các cơ quan chuyên môn của ngành tài  
nguyên môi trường, ngành thuế cần cung cấp  
thông tin và hướng dẫn người dân các thủ tục  
cần thực hiện khi thực hiện giao dịch mua bán  
quyền sử dụng đất để có thể sang tên đổi chủ  
sau khi đã giao dịch thành công. Xây dựng một  
hệ thống thông tin đầy đủ, công khai và minh  
bạch từ cơ quan cấp đổi giấy chứng nhận quyền  
sử đụng đất (Sở Tài nguyên và Môi trường) đến  
ngân hàng, chính quyền xã để xác định mảnh  
đất này có sử dụng để thế chấp hay vay vốn  
không. Thu hồi đất của các đơn vị được UBND  
tỉnh giao đất nhưng không sản xuất để giao cho  
địa phương quản lý, khi giao đất, phải giao cả  
hồ sơ và giao trên thực địa, cắm mốc để quản lý.  
Khó khăn tiếp theo là nguồn gốc đất chồng  
chéo (đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp) nên  
địa phương rất khó quản lý: Khi giao đất cho địa  
phương, chỉ giao trên hồ sơ, không bàn giao trên  
thực địa nên xã khó quản lý, khó xác định  
nguồn gốc để cấp giấy chứng nhận quyền sử  
dụng đất. Ví dụ, một số hộ dân có diện tích đất  
lấn chiếm từ trước đây, không có nguồn gốc nên  
không thể cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng  
đất nhưng lại tự ý tiến hành giao dịch chuyển  
nhượng đất. Hoặc có tình trạng, một số diện tích  
đất được các hộ dân xin phép khai hoang trồng  
cây ngắn ngày nhưng sau đó chuyển thành đất  
trồng cây hồ tiêu, cà phê và tham gia chuyển  
nhượng, chuyển đổi quyền sử dụng đất với các  
trang trại, hợp tác xã.  
3.3.2. Thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp  
chế biến, xuất khẩu nông sản với các trang  
trại, hợp tác xã địa phương nhằm tiêu thụ  
nông sản hàng hóa  
Tỉnh Đắk Nông có tiềm năng về sản xuất  
nông nghiệp hàng hóa qui mô lớn, lại ở vị trí  
thuận lợi gần khu vực kinh tế Đông Nam Bộ  
(tam giác kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh -  
Bình Dương - Đồng Nai) nhưng hiện nay đang  
gặp khó khăn trong việc tiêu thụ nông sản  
nguyên nhân là do các hàng hóa nông sản chỉ  
mức dừng lại ở mức sơ chế hoặc bán tươi. Muốn  
phát triển kinh tế hàng hóa hiệu quả đòi hỏi  
phải xây dựng được đa dạng các hình thức liên  
kết bền vững giữa các tác nhân sản xuất với các  
doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực chế biến nông  
sản và các chủ thể khác như ngân hàng, các nhà  
cung ứng đầu vào và trường/ niện nghiên cứu.  
Phải hình thành được các chuỗi liên kết hợp lý  
có sự chia sẻ cả về trách nhiệm, nghĩa vụ, lợi ích  
và rủi ro giữa người sản xuất với doanh nghiệp  
và các chủ thể liên quan.  
3.3. Giải pháp đẩy mạnh tích tụ và tập  
trung đất đai ở tỉnh Đắk Nông thời gian tới  
3.3.1. Tăng cường vai trò quản lý của  
chính quyền các cấp trong các giao dịch  
đất nông nghiệp  
Hiện nay việc thực hiện các giao dịch  
chuyển nhượng hoặc thuê quyền sử dụng đất  
còn gặp nhiều khó khăn vì nhiều lý do như  
nhiều mảnh đất chưa được cấp giấy chứng nhận  
quyền sở hữu đất, các chủ thể tham gia tích tụ  
và tập trung đất thiếu thông tin về thị trường  
(chưa xác thực về nguồn gốc của mảnh đất,  
quyền sở hữu của người bán đất).  
Theo quy định của Luật đất đai, chỉ khi có  
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) thì  
Sở NN&PTNT và Sở Công thương cần phối  
hợp xây dựng kế hoạch quảng bá nông sản chủ  
994  
Nguyễn Anh Đức, Nguyễn Tuấn Sơn  
lực của tỉnh rộng rãi thông qua tổ chức các hội  
chợ nông sản hàng hóa, tìm kiếm sự quan tâm  
của các doanh nghiệp chế biến nông sản lớn  
trong nước và quốc tế. Tỉnh cần xây dựng cơ chế  
các doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ nông sản,  
hỗ trợ về logistic, cơ sở hạ tầng và quan trọng  
nhất là điều kiện về đất đai để xây dựng các nhà  
máy chế biến nông sản lớn tương tự như những  
điều kiện của tỉnh Sơn La hay tỉnh Đăk Lăk.  
Chính quyền địa phương chứng nhận các giao  
dịch giữa doanh nghiệp và người sản xuất để  
đảm bảo tính pháp lý cũng như tạo ra sự yên  
tâm cho phía người dân.  
đã và đang diễn ra ở tỉnh Đắk Nông với các chủ  
thể tham gia như trang trại, hợp tác xã trong  
những năm gần đây. Hai hình thức tích tụ đất  
chủ yếu với nhóm trang trại là mua và thuê thêm  
đất của các hộ nông dân khác, trong khi ở nhóm  
hợp tác xã thì hình thức tập trung đất thông qua  
góp vốn bằng quyền sử dụng đất lại là chủ yếu  
bên cạnh việc thuê đất của các hộ nông dân. Với  
đặc điểm thị trường chuyển nhượng đất của tỉnh  
rất sôi động trong giai đoạn 2015-2019, thì yếu tố  
biến động của thị trường đất nông nghiệp và  
nguồn lực của chủ thể tham gia tích tụ và tập  
trung đất đai có vai trò quan trọng nhất. Tuy  
nhiên, vẫn còn tình trạng nhiều giao dịch đất đai  
ở địa phương chưa có xác nhận của chính quyền  
địa phương dẫn đến rủi ro kinh tế và pháp lý.  
Nghiên cứu cũng đề cập đến ba nhóm giải pháp  
chính nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp sản  
xuất hàng hóa qui mô lớn và thúc đẩy quá trình  
tích tụ và tập trung đất đai ở Đắk Nông trong  
thời gian tới.  
3.3.3. Triển khai thực hiện qui hoạch vùng  
sản xuất và các đề án phát triển sản xuất  
nông nghiệp của tỉnh nhằm thúc đẩy quá  
trình tích tụ và tập trung đất đai  
Các chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp  
như nâng cao hiệu quả quản lý giống và vật tư  
đầu vào nông nghiệp, tăng cường hoạt động tư  
vấn kỹ thuật (từ khâu chọn giống, trồng, chăm  
sóc, thu hoạch, bảo quản và chế biến sau thu  
hoạch), củng cố mạng lưới thú y cơ sở sẽ có ảnh  
hưởng gián tiếp thúc đẩy quá trình tích tụ và  
tập trung đất đai của các trang trại, hợp tác xã,  
doanh nghiệp. Các khu vực sản xuất chăn nuôi  
hiện nay đang gặp phải vấn đề về ô nhiễm môi  
trường đặt ra thách thức cho việc tích tụ tập  
trung đất đai của các trang trại, hợp tác xã,  
doanh nghiệp trong thời gian tới. Vì vậy việc qui  
hoạch vùng sản xuất nông nghiệp gắn với yếu tố  
môi trường là cần thiết theo đúng tinh thần của  
Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh.  
Triển khai các đề án của tỉnh như đề án tái cơ  
cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá  
trị gia tăng, thích ứng với biến đổi khí hậu và  
phát triển bền vững, đề án phát triển nông  
nghiệp ứng dụng công nghệ cao để biến kết quả  
từ chính sách thành kết quả trong thực tiễn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Binswanger H.P., Deininger K. & Feder G. (1995).  
Power, distortions, revolt and reform in  
agricultural land relations. In: Jere Behrman and  
T.N. Srinivasan (Eds.) Handbook of development  
economics. North-Holland publisher, Amsterdam,  
Nertheland. pp. 2659-2772.  
Đỗ Kim Chung (2018). Tích tụ và tập trung đất đai: Cơ  
sở lý luận và thực tiễn cho phát triển nông nghiệp  
hàng hóa ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học Nông  
nghiệp Việt Nam. 16(4): 412-424.  
Heath Henderson, Leonardo Corral, Eric Simning &  
Paul Winters (2015). Land accumulation dynamics  
in developing country agriculture. Journal of  
Development Studies. 25(6): 743-761.  
Hồng Thoan (2020). Bảo đảm chăn nuôi an toàn khi tái  
kinh-te/bao-dam-chan-nuoi-an-toan-khi-tai-dan-  
lon-79329.html, ngày 30/4/2021.  
Lê Dung (2020). Nông sản Đắk Nông chật vật khẳng  
định “tên tuổi”. Truy cập ngày 30/4/2021 tại  
nong-chat-vat-khang-dinh-ten-tuoi-79923.html  
4. KẾT LUẬN  
Kết quả nghiên cứu đã khẳng định tích tụ và  
tập trung đất đai đóng một vai trò quan trọng  
trong phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng  
hóa qui mô lớn ở Việt Nam cũng như đối với tỉnh  
Đắk Nông. Quá trình tích tụ và tập trung đất đai  
Lê Du Phong & Lê Huỳnh Mai (2017). Chính sách đất  
đai- Rào cản lớn cần tháo gỡ để thúc đẩy kinh tế-  
xã hội phát triển. Tạp chí Kinh tế & Phát triển.  
240: 2-10.  
995  
Tích tụ và tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh Đắk Nông  
Lưu Văn Năng, Nguyễn Thanh Lâm & Trần Đức Viên  
(2013). Thay đổi sản xuất nông nghiệp, đất lâm  
nghiệp ở tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2000-2012. Tạp  
chí Khoa học & Phát triển. 11(8): 1134-1141.  
K+2019.pdf/92407a17-4b6d-49ce-99f1-58e08116  
d60d, ngày 30/4/2021.  
Sở NN&PTNT Đắk Nông (2020). Quyết định 36/KH-  
SNN ngày 11/8/2020 về Kế hoạch phát triển kinh  
tế xã hội ngành nông nghiệp và phát triển nông  
thôn năm 2021.  
Nguyễn Đình Bồng & Nguyễn Thị Thu Hồng (2017).  
Một số vấn đề về tích tụ, tập trung đất đai trong  
phát triển nông nghiệp và nông thôn hiện nay. Tạp  
chí Cộng sản. 896: 39-44  
Sở NN&PTNT Đắk Nông (2021). Quyết định 86/BC-  
SNN ngày 8/2/2021 Báo cáo tổng kết giai đoạn  
2016-2020 và phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn  
2021-2025 của ngành Nông nghiệp và PTNT.  
Nguyễn Xuân Cường (2021). Những điểm sáng của  
ngành nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2016-2020.  
congsan.org.vn/kinh-te/-/2018/821042/nhung-  
diem-sang-cua-nganh-nong-nghiep-viet-nam-giai-  
doan-2016---2020.aspx, ngày 30/4/2021.  
UBND tỉnh Đắk Nông (2018). Quyết định 1635/QĐ-  
UBND ngày 16/10/2018 Về việc ban hành Kế  
hoạch thực hiện Đề án Tái cơ cấu ngành nông  
nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, thích  
ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững  
tỉnh Đắk Nông đến năm 2020, định hướng đến  
năm 2030.  
Nguyễn Tuấn Sơn, Nguyễn Anh Đức & Vũ Thị Mỹ Huệ  
(2019). Đẩy mạnh tích tụ đất đai phát triển sản xuất  
nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định. Tạp chí  
Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. 17(9): 687- 695.  
Nguyễn Quang Thuấn (2017). Tích tụ, tập trung đất đai  
cho phát triển nông nghiệp ở Việt Nam trong điều  
kiện mới. Tạp chí Xã hội học. 4(140): 3-15.  
UBND tỉnh Đắk Nông (2019). Quyết định  
22/2019/QĐ-UBND ngày 5/8/2019 Ban hành quy  
định về hạn mức giao đất, công nhận quyền sử  
dụng đất, diện tích đất tối thiểu được phép tách  
thửa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông.  
Niên giám thống kê tỉnh Đắk Nông (2019). Truy cập từ  
https://daknong.gov.vn/documents/693758/0/NGT  
.
996  
pdf 10 trang yennguyen 10980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tích tụ và tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh Đắk Nông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftich_tu_va_tap_trung_dat_dai_cho_phat_trien_nong_nghiep_hang.pdf