Tích tụ và tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh Đắk Nông
Vietnam J. Agri. Sci. 2021, Vol. 19, No. 7: 987-996
Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2021, 19(7): 987-996
TÍCH TỤ VÀ TẬP TRUNG ĐẤT ĐAI CHO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA
Ở TỈNH ĐẮK NÔNG
Nguyễn Anh Đức, Nguyễn Tuấn Sơn*
Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
*Tác giả liên hệ: [email protected]
Ngày nhận bài: 17.05.2021
Ngày chấp nhận đăng: 03.06.2021
TÓM TẮT
Quá trình tích tụ và tập trung đất đai đã và đang diễn ra ở tỉnh Đắk Nông. Tuy nhiên, quá trình này vẫn còn bộc
lộ nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển nông nghiệp hàng hóa của tỉnh. Trên cơ sở đánh giá
thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng và khó khăn trong quá trình tích tụ và tập trung đất đai thời gian qua, nghiên cứu
đề xuất các giải pháp đẩy mạnh tích tụ và tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Đắk Nông trong
thời gian tới. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận có sự tham gia để thu thập thông tin sơ cấp, kết hợp cả
phân tích định tính và phân tích định lượng trong xử lý thông tin thu được. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng với nhóm
đối tượng trang trại thì hình thức tích tụ đất chủ yếu là mua và thuê đất của các hộ nông dân khác, trong khi với
nhóm hợp tác xã thì hình thức tập trung đất đai thông qua nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất là chủ yếu. Yếu tố
biến động thị trường quyền sử dụng đất và nguồn lực của chủ thể tham gia tích tụ và tập trung đất đai có ảnh hưởng
lớn nhất đến quá trình tích tụ và tập trung đất đai hiện nay.
Từ khóa: Tích tụ và tập trung đất đai; phát triển nông nghiệp hàng hóa; Đắk Nông.
Land Accumulation and Concentration
for Commodity-oriented Agricultural Development in Dak Nong Province
ABSTRACT
The process of land accumulation and concentration has occurred in Dak Nong province. However, this process
still reveals many limitations and has not met the needs of the province's commodity agriculture development. Based
on assessing the current situation and analyzing factors affecting the process of land accumulation and concentration
over time, this study proposed solutions to accelerate the process of land accumulation and concentration for
commodity-oriented agricultural development in Dak Nong province. This study applied the participatory approach
method to collect primary data, combined both qualitative and quantitative methods in data analysis. Our results
showed that for the farm group, land accumulation took place in the form of buying and renting land from other
farmers, while for the cooperatives, land concentration in the form of sharing land rights between farmers and
entrepreneurs was dominant. The fluctuation of the land market and the resources of the actors involved in land
accumulation and concentration were key factors influencing the process of land accumulation and concentration.
Keywords: Land accumulation and concentration; commodity-oriented agricultural development; Dak Nong.
khẩu nông sản ước khoảng 190,32 tỷ USD (thứ
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
15 thế giới), thu nhập bình quân của cư dân
nông thôn năm 2020 đạt 43 triệu đồng/người
(bằng 1,92 lần thu nhập năm 2015). Bên cạnh
những thành công trên, ngành nông nghiệp
cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách
thức như: những hạn chế, yếu kém của một nền
sản xuất nhỏ, chưa tập trung, các nguồn lực cho
Giai đoạn 2016-2020, nông nghiệp Việt
Nam đã đạt được nhiều thành tựu với 15/15 chỉ
tiêu chủ yếu của ngành đều đạt hoặc vượt mục
tiêu đề ra (Nguyễn Xuân Cường, 2021). Cụ thể,
trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng GDP của
ngành đạt 2,71%/năm, tổng kim ngạch xuất
987
Tích tụ và tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh Đắk Nông
tăng trưởng (đất đai, nước...) khan hiếm và đắt
đỏ, các vấn đề ô nhiễm trong sản xuất nông
nghiệp hàng hóa qui mô lớn (Nguyễn Xuân
Cường, 2021; Nguyễn Tuấn Sơn, 2019). Để giải
quyết các vấn đề thách thức cho nông nghiệp
Việt Nam, cần phải có giải pháp phát triển nông
nghiệp hàng hóa mang tính bền vững.
đất vào các tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp
(Nguyễn Tuấn Sơn, 2019). Tích tụ ruộng đất là
kết quả của quá trình tích lũy đất đai thông qua
cơ chế thị trường, được thừa kế, hoặc được cho
tặng đất nông nghiệp, trong đó cơ chế thị trường
là phương thức tích tụ phổ biến nhất (Đỗ Kim
Chung, 2018).
Các nghiên cứu tổng quan đã chỉ ra tích tụ
và tập trung đất đai là điều kiện để phát triển
sản xuất nông nghiệp hàng hóa qui mô lớn ở Việt
Nam (Đỗ Kim Chung, 2018; Lê Du Phong & Lê
Huỳnh Mai, 2017; Nguyễn Đình Bồng & Nguyễn
Thị Thu Hồng, 2017; Nguyễn Quang Thuấn,
2017) và trên thế giới (Binswanger & cs., 1995;
Henderson & cs., 2015). Thông qua quá trình
tích tụ và tập trung đất đai theo hình thức thị
trường mà người sản xuất có thể tận dụng tối đa
nguồn lực sẵn có, chuyên môn hóa và chuyển đổi
từ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún sang sản xuất
hàng hóa, tạo ra tích lũy của cải cho xã hội
(Nguyễn Tuấn Sơn, 2019). Tuy nhiên, quá trình
tích tụ và tập trung đất đai ở Việt Nam vẫn đang
gặp phải nhiều vấn đề cả về mặt lý thuyết và
thực tiễn. Lê Du Phong & Lê Huỳnh Mai (2017)
đã chỉ ra rằng chính sách đất đai hiện nay vẫn
còn một khoảng cách đáng kể so với thể chế kinh
tế thị trường, cụ thể ở các khía cạnh như chế độ
sở hữu, chính sách hạn điền. Theo Nguyễn
Quang Thuấn (2017), mặc dù tích tụ và tập trung
đất đai là xu hướng tất yếu của quá trình đô thị
hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nó vẫn cần được kiểm soát để quá trình này diễn
ra phù hợp với tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và lao động ở các địa phương.
Trong giai đoạn 2016-2020, giá trị gia tăng
ngành nông nghiệp của tỉnh Đắk Nông tăng từ
6.032 tỷ đồng lên 7.526 tỷ đồng, tốc độ tăng
trưởng bình quân 4,64%/năm, cao hơn bình quân
chung của ngành nông nghiệp cả nước cùng kỳ là
2,5-3%/năm (Sở NN&PTNT Đắk Nông, 2020).
Kết quả này đạt được trên cơ sở tăng trưởng quy
mô về diện tích, chuyển dịch cơ cấu sản xuất
nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa và
ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật. Tuy
nhiên, việc mở rộng diện tích đất canh tác nông
nghiệp lại chủ yếu đến từ diện tích đất rừng bị
mất trong giai đoạn 2014-2015 (Sở NN&PTNT
Đắk Nông, 2020) cũng là một vấn đề đáng quan
tâm vì điều đó gây ảnh hưởng đến môi trường
sinh thái tự nhiên (Lưu Văn Năng & cs., 2013).
Ngoài ra, do chưa hình thành được vùng sản
xuất tập trung qui mô lớn nên việc tiêu thụ nông
sản ở các kênh hiện đại còn gặp nhiều khó khăn
(Lê Dung, 2020). Do đó đòi hỏi cần phải có một
nghiên cứu đánh giá thực trạng tích tụ và tập
trung đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp
hàng hóa ở tỉnh Đắk Nông. Nghiên cứu này sẽ
thể hiện được thực trạng tích tụ và tập trung đất
đai, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này từ
đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy tích tụ tập
trung đất đai phát triển nông nghiệp hàng hóa
trên địa bàn tỉnh Đắk Nông.
Về mặt khái niệm, có thể phân biệt tích tụ
và tập trung đất đai như sau: Tích tụ đất đai là
quá trình tích lũy dần quyền sở hữu hoặc quyền
sử dụng đất cho các mục đích sản xuất nông
nghiệp (Henderson & cs., 2015), còn tập trung
đất đai chỉ làm tăng quy mô diện tích nhưng
không thay đổi quyền sở hữu hay quyền sử dụng
đất (Đỗ Kim Chung, 2018). Ở nước ta, tập trung
đất nông nghiệp là việc các hộ dân thực hiện
việc chuyển đổi các mảnh đất cho nhau một
cách tự nguyện và hình thức này tương đối phổ
biến ở nhiều địa phương thông qua các chương
trình dồn điền đổi thửa, cánh đồng lớn, hoặc góp
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp tiếp
cận có sự tham gia, tương tự với nghiên cứu của
Nguyễn Tuấn Sơn & cs. (2019). Các loại nông
sản được lựa chọn nghiên cứu bao gồm: hồ tiêu,
cà phê, cây ăn quả, rau và hoa và sản phẩm
chăn nuôi (lợn và bò). Các loại nông sản này có
diện tích canh tác tăng lên trong giai đoạn
2016-2020 và là những mặt hàng nông sản chủ
lực đã được xác định trong đề án tái cơ cấu nông
988
Nguyễn Anh Đức, Nguyễn Tuấn Sơn
nghiệp của tỉnh giai đoạn 2016-2020 (UBND
tỉnh Đắk Nông, 2018).
bộ Phòng NN, TN&MT, Hội Nông dân huyện,
cán bộ xã và đại diện các hộ trang trại và hộ
nông dân để lấy ý kiến về các vấn đề khó khăn
trong quá trình tích tụ tập trung đất đai, các
yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này và kiến
nghị của các nhóm.
Việc xác định các điểm nghiên cứu (các
huyện và xã) trên cơ sở nghiên cứu các vùng
sản xuất trong đề án tái cơ cấu ngành nông
nghiệp, trong đề án sản xuất nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao của tỉnh và thảo luận với
các cán bộ Văn phòng điều phối NTM của tỉnh,
các huyện và Phòng Nông nghiệp (NN), Phòng
Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) các huyện
(Bảng 1). Sau đó tiến hành chọn mẫu điều tra
(bao gồm các trang trại, hộ dân đã chuyển
nhượng đất nông nghiệp) theo phương pháp
chọn ngẫu nhiên trong từng xã được chọn.
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu đã điều tra các hợp
tác xã trên cùng địa bàn. Đồng thời nhóm
nghiên cứu tiến hành 13 cuộc tọa đàm với cán
Số liệu điều tra sau khi làm sạch thu được
mẫu bao gồm 118 trang trại và 36 cán bộ hợp
tác xã đã tích tụ, tập trung đất đai và 139 hộ
nông dân đã chuyển nhượng đất cho hộ khác.
Dữ liệu sau đó đã được mã hóa và xử lý bằng
phần mềm thống kê STATA version 16. Các
phương pháp thống kê được sử dụng để phân
tích thực trạng tích tụ, nguyên nhân và các yếu
tố ảnh hưởng kết hợp với kết quả nghiên cứu
định tính để đề xuất các giải pháp đẩy mạnh
việc tích tụ đất đai ở Đắk Nông.
Bảng 1. Danh sách các xã được khảo sát theo loại nông sản
Nông sản
Xã (Huyện)
Hồ tiêu
Thuận Hà (Đắk Song), Đắk Wer (Đắk R’lấp), Quảng Sơn (Đắk Glong)
Đức Minh (Đắk Mil), Quảng Tín (Đắk R’lấp), Quảng Sơn (Đắk Glong)
Đức Mạnh và Đắk Gằn (Đắk Mil), Đắk R moan (Tp. Gia Nghĩa), Quảng Khê (Đăk G’long)
Thuận Hạnh (Đăk Song), Nghĩa Phú (Tp. Gia Nghĩa)
Cà phê
Cây ăn quả
Rau Hoa
Bò, Heo
Đắk D'rông (Cư Jut), Đắk Sin (Đắk R’lấp)
Ghi chú: Tổng hợp số liệu điều tra (2019-2020).
Nguồn: Sở NN&PTNT Đắk Nông (2021).
Hình 1. Biến động diện tích của các cây trồng chính
của tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2016-2020
989
Tích tụ và tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh Đắk Nông
Bảng 2. Thông tin cơ bản về các trang trại được điều tra năm 2019-2020
Hồ tiêu
(n = 30)
Cà phê
(n = 30)
CAQ
(n = 30)
Rau & Hoa
(n = 18)
Chăn nuôi
(n = 10)
Chỉ tiêu
ĐVT
Thông tin về chủ trang trại
Tỷ lệ % là nam giới
%
90
86,67
48,67
26,67
25,53
90
46,03
30
61,11
48,5
80
42,7
10
Tuổi BQ
Năm
%
50,7
Tốt nghiệp THPT trở lên
Số năm làm nông nghiệp
Thông tin về trang trại
Số khẩu BQ/trang trại
Số lao động BQ/trang trại
Tỷ lệ % TT có vay vốn
Tỷ lệ % bán có hợp đồng
33,33
24,07
38,89
22,94
Năm
21,83
16,3
Người
Người
%
4,56
3,2
5
4,5
2,9
76,7
0
4,44
2,77
3,6
2,6
30
0
3.23
73,3
6,67
80
55,56
5,56
%
13,33
trong việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật. Số
liệu về lao động và tình hình sử dụng lao động
cũng cho thấy các trang trại này không gặp phải
khó khăn với quy mô sản xuất như hiện nay
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thực trạng tích tụ và tập trung đất đai
ở tỉnh Đắk Nông
Tình hình vay vốn và sử dụng vốn vay của
các trang trại có sự khác biệt giữa nhóm cây
công nghiệp, cây ăn quả với nhóm rau hoa và
chăn nuôi (Bảng 2). Cụ thể, các trang trại trồng
cây công nghiệp, cây ăn quả có tỷ lệ đi vay cao
hơn (trên 70%), số vốn vay cũng nhiều hơn
nhóm trang trại rau hoa và chăn nuôi. Mục đích
vay vốn của các trang trại chủ yếu là để đầu tư
vào khâu giống và các loại vật tư đầu vào nông
nghiệp và chỉ có khoảng một phần ba số trang
trại đi vay để mở rộng diện tích (cây công
nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi). Ngân hàng
thương mại vẫn là nguồn vay vốn chủ yếu (trên
70% lượng vốn vay), tuy nhiên với nhu cầu lớn
về vốn thì các trang trại cũng buộc phải đi vay
từ các nguồn phi chính thức với lãi suất cao hơn
và nhiều rủi ro hơn.
3.1.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp
trên địa bàn tỉnh Đắk Nông
Trong giai đoạn 2016-2020, diện tích của
các loại cây trồng như hồ tiêu, cà phê, cây ăn
quả (bơ, sầu riêng, xoài, mít, cây có múi) có xu
hướng tăng lên trong khi diện tích của các loại
cây trồng khác như sắn, ngô, cao su, rau xanh có
xu hướng giảm (Hình 1). Cũng trong giai đoạn
này, diện tích đất cho chăn nuôi cũng có xu
hướng tăng lên do tổng đàn lợn và bò tăng bình
quân 13-14%/năm.
3.1.2. Thực trạng tích tụ và tập trung đất
đai của các trang trại điều tra
Theo số liệu thống kê, năm 2019 tỉnh Đắk
Nông có 1.213 trang trại trong đó có 1.072 trang
trại trồng trọt và tổng hợp, 141 trang trại chăn
nuôi với tổng diện tích sản xuất gần 7.000ha
(Niên giám thống kê tỉnh Đắk Nông, 2019).
Nghiên cứu đã tiến hành điều tra 118 trang trại
với cơ cấu là 108 trang trại trồng trọt và 10
trang trại chăn nuôi (Bảng 2).
Về các kênh tiêu thụ nông sản thì chủ yếu
các trang trại vẫn bán trực tiếp cho thương lái
(trên 80%). Tỷ lệ trang trại có bán cho doanh
nghiệp rất thấp (dưới 10%) và còn lại là bán trực
tiếp cho người tiêu dùng (chủ yếu là với rau,
hoa). Hiện nay việc tiêu thụ nông sản chưa ổn
định, mới chỉ có một số ít trang trại (hồ tiêu, cà
phê, rau hoa) đã ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm
với thương lái (Bảng 2). Do hiện nay quy mô sản
xuất và nguồn lực của các trang trại chưa đáp
Số liệu bảng 2 cho thấy đa phần chủ các
trang trại là nam giới, thuộc độ tuổi trung niên
và có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông
nghiệp. Tuy nhiên, đa phần chủ trang trại có
trình độ dưới trung học phổ thông nên hạn chế
990
Nguyễn Anh Đức, Nguyễn Tuấn Sơn
ứng được yêu cầu về số lượng và chất lượng
hàng hóa của doanh nghiệp và các kênh bán lẻ
hiện đại như siêu thị, cửa hàng nông sản nên
việc tiếp cận kênh tiêu thụ này còn gặp nhiều
khó khăn.
các trang trại đều có qui mô nhỏ hơn nhiều (dưới
5ha). Với các trang trại chăn nuôi, diện tích đất
nông nghiệp đất cũng không cần quá lớn.
Xu hướng tích tụ đất đai được thể hiện rõ ở
nhóm trang trại trồng trọt, nhất là với cây ăn
quả, rau hoa (Bảng 3). Với các cây hồ tiêu và cà
phê, có xu hướng dồn đổi đất giữa trang trại với
các hộ nông dân xung quanh, tương tự như hình
thức dồn điền đổi thửa với các cây ngắn ngày.
Đây là một hình thức tập trung đất đai nhằm
tối giản chi phí chăm sóc vườn và nâng cao hiệu
quả sản xuất. Với nhóm trang trại chăn nuôi thì
xu hướng tích tụ đất đai không phổ biến là do
qui mô sản xuất hiện nay phù hợp với năng lực
của các trang trại này, cộng thêm với tình hình
dịch bệnh diễn biến phức tạp trong thời gian
qua dẫn đến việc tái đàn gặp nhiều khó khăn
(Hồng Thoan, 2020).
Diện tích bình quân và biến động diện tích
đất sản xuất của các trang trại trong giai đoạn
2015-2019 được trình bày ở bảng 3. Kết quả
điều tra cho thấy diện tích bình quân của các
trang trại trồng trọt là tương đối lớn (từ 3 đến
5,5ha), gấp hai đến ba lần diện tích bình quân
của các trang trại chăn nuôi (1,55ha). Chênh
lệch diện tích giữa trang trại có diện tích nhỏ
nhất và lớn nhất cũng rất lớn, có thể gấp vài
chục lần (cây ăn quả, hồ tiêu, rau hoa). Điều
này cho thấy có một số ít các trang trại trồng
trọt đã tích tụ được một diện tích đất nông
nghiệp đủ lớn (vài chục ha), tuy nhiên đa phần
Bảng 3. Biến động diện tích đất giai đoạn 2015-2019 của các trang trại điều tra
Hồ tiêu
(n = 30)
Cà phê
(n = 30)
CAQ
(n = 30)
Rau & Hoa
(n = 18)
Chăn nuôi
(n = 10)
Chỉ tiêu
ĐVT
Diện tích của trang trại
Diện tích BQ/trang trại
Diện tích lớn nhất
ha
ha
ha
3,03
9,5
3,79
13
5,49
60
1
3,36
16
1
1,55
5
Diện tích nhỏ nhất
0,5
1,3
0,3
Biến động diện tích giai đoạn 2015-2019
Tăng lên
%
%
83,33
16,67
86,67
13,33
100
0
100
0
30
70
Không thay đổi
Ghi chú: Tổng hợp số liệu điều tra (2019-2020).
Bảng 4. Thực trạng tích tụ và tập trung đất giai đoạn 2015-2019 của các trang trại điều tra
Hồ tiêu
(n = 30)
Cà phê
(n = 30)
CAQ
(n = 30)
Rau & Hoa
(n = 18)
Chăn nuôi
(n = 10)
Chỉ tiêu
ĐVT
Tỷ lệ trang trại mua đất
DT mua BQ/trang trại*
Giá mua bình quân
%
83,33
83,33
2,01
96,67
1,53
83,33
1,43
10,00
2,40
ha
1,61
Triệu đồng/ha
393,84
333,98
44,00
6,67
404,58
75,86
3,33
279,43
80,00
38,89
3,42
280,06
100
Có xác nhận chính quyền**
Tỷ lệ trang trại thuê đất
DT thuê BQ/trang trại*
Giá thuê BQ/năm
%
48,00
%
0
-
20,00
0,75
ha
0,75
39,00
40,00
100
Triệu đồng/ha
%
-
25,00
0
16,33
33,33
10,00
100
Có xác nhận chính quyền**
-
*
Ghi chú: Tính trên trang trại có mua/thuê đất; **Các giao dịch về đất đai giữa các bên có thông qua và có xác
nhận của chính quyền các cấp;
Tổng hợp số liệu điều tra (2019-2020).
991
Tích tụ và tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh Đắk Nông
Thực trạng tích tụ đất của 118 trang trại
điều tra được trình bày ở bảng 4. Hiện nay trên
địa bàn tỉnh Đắk Nông, chỉ có hai hình thức
tích tụ chính là mua và thuê thêm đất. Các chỉ
tiêu thể hiện thực trạng tích tụ đất của trang
trại bao gồm tỷ lệ hộ mua/thuê đất, diện tích
mua/thuê bình quân, giá giao dịch khi thực
hiện từng hình thức mua/thuê và tỷ lệ hộ
mua/thuê đất đã có xác nhận của chính quyền
địa phương.
cũng dẫn đến việc trang trại không thể thế chấp
đất sản xuất để vay vốn ngân hàng được.
3.1.3. Thực trạng tích tụ và tập trung đất
đai của các hợp tác xã
Đặc điểm chung của người trả lời phỏng
vấn đại diện cho hợp tác xã có tích tụ đất cho
thấy họ có trình độ học vấn tương đối tốt (67%
có trình độ cao đẳng/đại học trở lên), đang ở độ
tuổi trung niên, tuy nhiên thời gian làm việc
tại hợp tác xã chưa lâu (bình quân là dưới 3
năm kinh nghiệm). Thông tin về hợp tác xã cho
thấy trên 90% có số vốn đăng ký kinh doanh
nhỏ (từ 1-3 tỷ đồng) và 33% trong số đó đang
gặp khó khăn trong vay vốn do không thể thế
chấp tài sản để vay, thủ tục vay vốn phức tạp
và lượng tiền vay chưa đáp ứng nhu cầu. Qui
mô về lao động của các hợp tác xã này cũng
tương đối nhỏ (20-50 người) và chỉ có dưới 30%
là gặp khó khăn về lao động do không có lao
động có chuyên môn tay nghề, hoặc lao động
chưa có ý thức làm việc chuyên nghiệp (tự bỏ
việc). Về thị trường của hợp tác xã chủ yếu là
trong tỉnh và một số tỉnh lân cận (Đăk Lăk,
Lâm Đồng, Bình Phước) chưa tiếp cận các
thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh,
Bình Dương, Đồng Nai. Đây là thị trường tiềm
năng cho nông sản Đắk Nông, tuy nhiên, việc
tiếp cận thị trường này là không dễ với khả
năng của các hợp tác xã địa phương.
Kết quả điều tra cho thấy hình thức mua
thêm đất là hình thức tích tụ chủ yếu của đa số
trang trại trồng trọt (Bảng 4). Diện tích đất
mua thêm bình quân của một trang trại cũng
tương đối lớn so với quy mô về diện tích hiện
nay của trang trại (khoảng 50% diện tích của
trang trại hồ tiêu, cà phê được mua thêm trong
giai đoạn 2015-2019). Giá mua đất bình quân
cũng tương đối đồng đều giữa các nhóm cây
trồng khác nhau (cao nhất là cây ăn quả và thấp
nhất là rau hoa). Chỉ có duy nhất một trang trại
có mua đất và diện tích đất mua thêm cũng
tương đối lớn (2,4ha) cho thấy xu hướng mua
thêm đất với các trang trại chăn nuôi là không
phổ biến.
Hình thức thuê thêm đất không quá phổ
biến như hình thức mua thêm đất (Bảng 4). Tuy
nhiên, với các trang trại rau hoa có diện tích
không quá lớn thì đây là một hình thức tích tụ
phù hợp. Như trang trại cây ăn quả của ông
Trần Văn Khuông ở xã Đăk Gằn có diện tích
60ha với 39ha đất đi thuê trong vòng 10 năm.
Về qui mô sản xuất đất nông nghiệp của
các hợp tác xã thì có thể thấy nhóm trồng trọt
có qui mô lớn hơn (diện tích bình quân là
41,25ha) so với nhóm chăn nuôi (6,2ha). Tuy
nhiên, biến thiên diện tích của nhóm trồng trọt
là rất lớn (từ 3ha đến 400ha) cho thấy mức độ
tập trung đất có sự khác biệt rõ rệt. Với các hợp
tác xã thì hình thức tập trung đất chủ yếu là
nhận góp vốn bằng đất của các hộ nông dân (tỷ
lệ chia lợi nhuận là 50%) với diện tích đất góp
bình quân là 47,54ha (lớn nhất là 300ha và nhỏ
nhất là 3ha). Tiếp theo là hình thức thuê đất
của các hộ nông dân không sản xuất với diện
tích đất thuê bình quân là 6,2ha và tiền thuê
đất bình quân là 283 triệu đồng/ha, với thời
gian thuê là 5 năm.
Tỷ lệ trang trại mua/thuê thêm đất có xác
nhận chính quyền địa phương là không đều
nhau giữa các nhóm sản phẩm (Bảng 4). Với các
trang trại hồ tiêu và cà phê, hơn 50% số giao
dịch mua đất giữa hai bên chưa có xác nhận của
chính quyền địa phương. Với các trang trại rau
hoa thì 67% số giao dịch thuê đất chưa có xác
nhận của chính quyền địa phương. Điều này
tiềm ẩn nhiều rủi ro cho người mua/thuê đất và
trong thực tế đã từng xảy ra việc mua đất của
người dân nhưng không có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và trên bản đồ sử dụng đất
của xã thì diện tích đất đó thuộc đất rừng. Việc
không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
992
Nguyễn Anh Đức, Nguyễn Tuấn Sơn
địa phương trong hướng dẫn hỗ trợ thủ tục, giải
quyết các vấn đề tranh chấp liên quan đến đất
đai sẽ đóng vai trò thúc đẩy quá trình tích tụ
thông qua biện pháp thị trường.
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng và khó khăn
trong tích tụ và tập trung đất đai ở tỉnh
Đắk Nông
3.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tích tụ
và tập trung đất đai trên địa bàn tỉnh
Đắk Nông
Với nhóm hợp tác xã thì các yếu tố tâm lý và
nguồn lực của chủ thể tham gia quá trình tích tụ
và tập trung đất đai, biến động của thị trường
đất nông nghiệp, vai trò của chính quyền địa
phương lại có ảnh hưởng lớn nhất đến quá trình
tích tụ và tập trung đất đai. Như vậy có thể thấy
với điều kiện hiện nay của tỉnh Đắk Nông, quá
trình tích tụ và tập trung đất đai đã và đang diễn
ra rất mạnh mẽ theo hình thức thị trường. Các
chủ thể tham gia vào quá trình tích tụ và tập
trung đất đai như trang trại và hợp tác xã ý thức
được vai trò của mình và xác định nếu có được
nguồn lực tốt thì họ hoàn toàn có thể chuyển đổi
sang sản xuất hàng hóa qui mô lớn. Vai trò của
chính quyền địa phương và định hướng chính
sách của tỉnh sẽ góp phần thúc đẩy quá trình này
diễn ra mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 nhóm yếu
tố có ảnh hưởng đến quá trình tích tụ và tập
trung đất đai ở Đắk Nông bao gồm (i) Thể chế,
pháp luật và các chính sách của Nhà nước có
liên quan đến đất đai; (ii) Các chính sách của
tỉnh Đắk Nông về đất đai, khuyến khích tích tụ
và tập trung đất đai; (iii) Vai trò của chính
quyền địa phương trong việc hướng dẫn, hỗ trợ
thủ tục, giải quyết các vấn đề tranh chấp liên
quan đến đất đai; (iv) Tâm lý của người dân và
chủ thể tham gia tích tụ và tập trung đất đai về
chuyển nhượng, chuyển đổi đất nông nghiệp; (v)
Biến động của thị trường đất nông nghiệp tại
địa phương; và (vi) Nguồn lực của chủ thể tham
gia vào quá trình tích tụ và tập trung đất đai
(vốn, lao động, khoa học công nghệ).
3.2.2. Các khó khăn trong tích tụ và tập
trung đất đai trên địa bàn tỉnh Đắk Nông
Nghiên cứu sử dụng phương pháp cho điểm
với 5 mức thang đo từ 1 là không quan trọng đến
5 là rất quan trọng. Kết quả đánh giá của các chủ
trang trại cho thấy yếu tố biến động thị trường
đất nông nghiệp tại địa phương và nguồn lực của
chủ thể tham gia vào quá trình tích tụ và tập
trung đất đóng vai trò quan trọng nhất (Bảng 5).
Điều này phản ánh thực trạng mua bán, chuyển
nhượng quyền sử dụng đất của các trang trại
đang diễn ra rất sôi động ở Đắk Nông trong thời
gian qua. Thể chế pháp luật, các chính sách của
Nhà nước về đất đai và vai trò của chính quyền
Kết quả điều tra cho thấy khó khăn lớn nhất
trong tích tụ và tập trung đất đai ở tỉnh Đắk
Nông là các chủ thể (hợp tác xã, trang trại) chưa
được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu/sử dụng
đất nông nghiệp cho một phần hoặc toàn bộ diện
tích đất sản xuất. Điều này dẫn đến việc tình
trạng họ không thể thế chấp đất để vay vốn ngân
hàng. Ngoài ra, khó khăn trong tiếp cận nguồn
vốn vay do yếu tố thủ tục cho vay phức tạp cũng
góp phần khiến cho các chủ thể này không huy
động đủ nguồn lực để mở rộng diện tích đất.
Bảng 5. Mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến tích tụ
và tập trung của các trang trại (Điểm bình quân)
Hồ tiêu
(n = 30)
Cà phê
(n = 30)
CAQ
(n = 30)
Rau & Hoa
(n = 18)
Bò & Lợn
(n = 10)
BQC
(n = 118)
Chỉ tiêu
Thể chế pháp luật
3,03
3,1
3,2
2,5
4,07
2,7
3,33
2,94
3,83
3,06
3,44
4,39
2,4
2,1
3,4
3,7
4
3,33
2,74
3,33
3,15
3,87
3,75
Chính sách của tỉnh
Vai trò của chính quyền
Tâm lý của chủ thể
3,63
2,8
2,27
2,93
3,67
2,07
3,77
3,6
Biến động thị trường đất
Nguồn lực của chủ thể
4,13
3,9
4,03
4,6
4,6
Ghi chú: Tổng hợp số liệu điều tra (2019-2020).
993
Tích tụ và tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh Đắk Nông
người sử dụng đất mới được thực hiện các
Quy định về mức hạn điền dưới 30ha cũng
là một cản trở không nhỏ đến quá trình tích tụ
đất nông nghiệp để sản xuất qui mô lớn. Mặc dù
tỉnh Đắk Nông đã ban hành quyết định số
22/2019/QĐ-UBND về hạn mức giao đất, công
nhận quyền sử dụng đất, diện tích đất tối thiểu
được phép tách thửa trên địa bàn tỉnh Đắk
Nông, nội dung trong quyết định đề cập đến
diện tích đất nông nghiệp của hộ nông dân sau
tách thửa không được dưới mức qui định (500m2
với khu vực đô thị và 1.000m2 với khu vực nông
thôn). Điều này mới chỉ góp phần hạn chế quá
trình phân tán đất đai ở các địa phương, chưa có
tác dụng thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung
đất đai của các hợp tác xã và trang trại.
quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại,
tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất
(Điều 168); nghĩa là mới được tham gia vào quá
trình tích tụ, tập trung ruộng đất. Do vậy cần
rà soát và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho những khu đất đủ điều kiện nhưng
chưa được cấp.
Các cơ quan chuyên môn của ngành tài
nguyên môi trường, ngành thuế cần cung cấp
thông tin và hướng dẫn người dân các thủ tục
cần thực hiện khi thực hiện giao dịch mua bán
quyền sử dụng đất để có thể sang tên đổi chủ
sau khi đã giao dịch thành công. Xây dựng một
hệ thống thông tin đầy đủ, công khai và minh
bạch từ cơ quan cấp đổi giấy chứng nhận quyền
sử đụng đất (Sở Tài nguyên và Môi trường) đến
ngân hàng, chính quyền xã để xác định mảnh
đất này có sử dụng để thế chấp hay vay vốn
không. Thu hồi đất của các đơn vị được UBND
tỉnh giao đất nhưng không sản xuất để giao cho
địa phương quản lý, khi giao đất, phải giao cả
hồ sơ và giao trên thực địa, cắm mốc để quản lý.
Khó khăn tiếp theo là nguồn gốc đất chồng
chéo (đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp) nên
địa phương rất khó quản lý: Khi giao đất cho địa
phương, chỉ giao trên hồ sơ, không bàn giao trên
thực địa nên xã khó quản lý, khó xác định
nguồn gốc để cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Ví dụ, một số hộ dân có diện tích đất
lấn chiếm từ trước đây, không có nguồn gốc nên
không thể cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nhưng lại tự ý tiến hành giao dịch chuyển
nhượng đất. Hoặc có tình trạng, một số diện tích
đất được các hộ dân xin phép khai hoang trồng
cây ngắn ngày nhưng sau đó chuyển thành đất
trồng cây hồ tiêu, cà phê và tham gia chuyển
nhượng, chuyển đổi quyền sử dụng đất với các
trang trại, hợp tác xã.
3.3.2. Thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp
chế biến, xuất khẩu nông sản với các trang
trại, hợp tác xã địa phương nhằm tiêu thụ
nông sản hàng hóa
Tỉnh Đắk Nông có tiềm năng về sản xuất
nông nghiệp hàng hóa qui mô lớn, lại ở vị trí
thuận lợi gần khu vực kinh tế Đông Nam Bộ
(tam giác kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh -
Bình Dương - Đồng Nai) nhưng hiện nay đang
gặp khó khăn trong việc tiêu thụ nông sản
nguyên nhân là do các hàng hóa nông sản chỉ
mức dừng lại ở mức sơ chế hoặc bán tươi. Muốn
phát triển kinh tế hàng hóa hiệu quả đòi hỏi
phải xây dựng được đa dạng các hình thức liên
kết bền vững giữa các tác nhân sản xuất với các
doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực chế biến nông
sản và các chủ thể khác như ngân hàng, các nhà
cung ứng đầu vào và trường/ niện nghiên cứu.
Phải hình thành được các chuỗi liên kết hợp lý
có sự chia sẻ cả về trách nhiệm, nghĩa vụ, lợi ích
và rủi ro giữa người sản xuất với doanh nghiệp
và các chủ thể liên quan.
3.3. Giải pháp đẩy mạnh tích tụ và tập
trung đất đai ở tỉnh Đắk Nông thời gian tới
3.3.1. Tăng cường vai trò quản lý của
chính quyền các cấp trong các giao dịch
đất nông nghiệp
Hiện nay việc thực hiện các giao dịch
chuyển nhượng hoặc thuê quyền sử dụng đất
còn gặp nhiều khó khăn vì nhiều lý do như
nhiều mảnh đất chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sở hữu đất, các chủ thể tham gia tích tụ
và tập trung đất thiếu thông tin về thị trường
(chưa xác thực về nguồn gốc của mảnh đất,
quyền sở hữu của người bán đất).
Theo quy định của Luật đất đai, chỉ khi có
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) thì
Sở NN&PTNT và Sở Công thương cần phối
hợp xây dựng kế hoạch quảng bá nông sản chủ
994
Nguyễn Anh Đức, Nguyễn Tuấn Sơn
lực của tỉnh rộng rãi thông qua tổ chức các hội
chợ nông sản hàng hóa, tìm kiếm sự quan tâm
của các doanh nghiệp chế biến nông sản lớn
trong nước và quốc tế. Tỉnh cần xây dựng cơ chế
các doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ nông sản,
hỗ trợ về logistic, cơ sở hạ tầng và quan trọng
nhất là điều kiện về đất đai để xây dựng các nhà
máy chế biến nông sản lớn tương tự như những
điều kiện của tỉnh Sơn La hay tỉnh Đăk Lăk.
Chính quyền địa phương chứng nhận các giao
dịch giữa doanh nghiệp và người sản xuất để
đảm bảo tính pháp lý cũng như tạo ra sự yên
tâm cho phía người dân.
đã và đang diễn ra ở tỉnh Đắk Nông với các chủ
thể tham gia như trang trại, hợp tác xã trong
những năm gần đây. Hai hình thức tích tụ đất
chủ yếu với nhóm trang trại là mua và thuê thêm
đất của các hộ nông dân khác, trong khi ở nhóm
hợp tác xã thì hình thức tập trung đất thông qua
góp vốn bằng quyền sử dụng đất lại là chủ yếu
bên cạnh việc thuê đất của các hộ nông dân. Với
đặc điểm thị trường chuyển nhượng đất của tỉnh
rất sôi động trong giai đoạn 2015-2019, thì yếu tố
biến động của thị trường đất nông nghiệp và
nguồn lực của chủ thể tham gia tích tụ và tập
trung đất đai có vai trò quan trọng nhất. Tuy
nhiên, vẫn còn tình trạng nhiều giao dịch đất đai
ở địa phương chưa có xác nhận của chính quyền
địa phương dẫn đến rủi ro kinh tế và pháp lý.
Nghiên cứu cũng đề cập đến ba nhóm giải pháp
chính nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp sản
xuất hàng hóa qui mô lớn và thúc đẩy quá trình
tích tụ và tập trung đất đai ở Đắk Nông trong
thời gian tới.
3.3.3. Triển khai thực hiện qui hoạch vùng
sản xuất và các đề án phát triển sản xuất
nông nghiệp của tỉnh nhằm thúc đẩy quá
trình tích tụ và tập trung đất đai
Các chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp
như nâng cao hiệu quả quản lý giống và vật tư
đầu vào nông nghiệp, tăng cường hoạt động tư
vấn kỹ thuật (từ khâu chọn giống, trồng, chăm
sóc, thu hoạch, bảo quản và chế biến sau thu
hoạch), củng cố mạng lưới thú y cơ sở sẽ có ảnh
hưởng gián tiếp thúc đẩy quá trình tích tụ và
tập trung đất đai của các trang trại, hợp tác xã,
doanh nghiệp. Các khu vực sản xuất chăn nuôi
hiện nay đang gặp phải vấn đề về ô nhiễm môi
trường đặt ra thách thức cho việc tích tụ tập
trung đất đai của các trang trại, hợp tác xã,
doanh nghiệp trong thời gian tới. Vì vậy việc qui
hoạch vùng sản xuất nông nghiệp gắn với yếu tố
môi trường là cần thiết theo đúng tinh thần của
Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh.
Triển khai các đề án của tỉnh như đề án tái cơ
cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá
trị gia tăng, thích ứng với biến đổi khí hậu và
phát triển bền vững, đề án phát triển nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao để biến kết quả
từ chính sách thành kết quả trong thực tiễn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Binswanger H.P., Deininger K. & Feder G. (1995).
Power, distortions, revolt and reform in
agricultural land relations. In: Jere Behrman and
T.N. Srinivasan (Eds.) Handbook of development
economics. North-Holland publisher, Amsterdam,
Nertheland. pp. 2659-2772.
Đỗ Kim Chung (2018). Tích tụ và tập trung đất đai: Cơ
sở lý luận và thực tiễn cho phát triển nông nghiệp
hàng hóa ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học Nông
nghiệp Việt Nam. 16(4): 412-424.
Heath Henderson, Leonardo Corral, Eric Simning &
Paul Winters (2015). Land accumulation dynamics
in developing country agriculture. Journal of
Development Studies. 25(6): 743-761.
Hồng Thoan (2020). Bảo đảm chăn nuôi an toàn khi tái
kinh-te/bao-dam-chan-nuoi-an-toan-khi-tai-dan-
lon-79329.html, ngày 30/4/2021.
Lê Dung (2020). Nông sản Đắk Nông chật vật khẳng
định “tên tuổi”. Truy cập ngày 30/4/2021 tại
nong-chat-vat-khang-dinh-ten-tuoi-79923.html
4. KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu đã khẳng định tích tụ và
tập trung đất đai đóng một vai trò quan trọng
trong phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng
hóa qui mô lớn ở Việt Nam cũng như đối với tỉnh
Đắk Nông. Quá trình tích tụ và tập trung đất đai
Lê Du Phong & Lê Huỳnh Mai (2017). Chính sách đất
đai- Rào cản lớn cần tháo gỡ để thúc đẩy kinh tế-
xã hội phát triển. Tạp chí Kinh tế & Phát triển.
240: 2-10.
995
Tích tụ và tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh Đắk Nông
Lưu Văn Năng, Nguyễn Thanh Lâm & Trần Đức Viên
(2013). Thay đổi sản xuất nông nghiệp, đất lâm
nghiệp ở tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2000-2012. Tạp
chí Khoa học & Phát triển. 11(8): 1134-1141.
K+2019.pdf/92407a17-4b6d-49ce-99f1-58e08116
d60d, ngày 30/4/2021.
Sở NN&PTNT Đắk Nông (2020). Quyết định 36/KH-
SNN ngày 11/8/2020 về Kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội ngành nông nghiệp và phát triển nông
thôn năm 2021.
Nguyễn Đình Bồng & Nguyễn Thị Thu Hồng (2017).
Một số vấn đề về tích tụ, tập trung đất đai trong
phát triển nông nghiệp và nông thôn hiện nay. Tạp
chí Cộng sản. 896: 39-44
Sở NN&PTNT Đắk Nông (2021). Quyết định 86/BC-
SNN ngày 8/2/2021 Báo cáo tổng kết giai đoạn
2016-2020 và phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn
2021-2025 của ngành Nông nghiệp và PTNT.
Nguyễn Xuân Cường (2021). Những điểm sáng của
ngành nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2016-2020.
congsan.org.vn/kinh-te/-/2018/821042/nhung-
diem-sang-cua-nganh-nong-nghiep-viet-nam-giai-
doan-2016---2020.aspx, ngày 30/4/2021.
UBND tỉnh Đắk Nông (2018). Quyết định 1635/QĐ-
UBND ngày 16/10/2018 Về việc ban hành Kế
hoạch thực hiện Đề án Tái cơ cấu ngành nông
nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, thích
ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững
tỉnh Đắk Nông đến năm 2020, định hướng đến
năm 2030.
Nguyễn Tuấn Sơn, Nguyễn Anh Đức & Vũ Thị Mỹ Huệ
(2019). Đẩy mạnh tích tụ đất đai phát triển sản xuất
nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định. Tạp chí
Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. 17(9): 687- 695.
Nguyễn Quang Thuấn (2017). Tích tụ, tập trung đất đai
cho phát triển nông nghiệp ở Việt Nam trong điều
kiện mới. Tạp chí Xã hội học. 4(140): 3-15.
UBND tỉnh Đắk Nông (2019). Quyết định
22/2019/QĐ-UBND ngày 5/8/2019 Ban hành quy
định về hạn mức giao đất, công nhận quyền sử
dụng đất, diện tích đất tối thiểu được phép tách
thửa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông.
Niên giám thống kê tỉnh Đắk Nông (2019). Truy cập từ
https://daknong.gov.vn/documents/693758/0/NGT
.
996
Bạn đang xem tài liệu "Tích tụ và tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh Đắk Nông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tich_tu_va_tap_trung_dat_dai_cho_phat_trien_nong_nghiep_hang.pdf

