Tài liệu Kỹ thuật tái canh cây cà phê
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG QUỐC GIA
KỸ THUẬT TÁI CANH
CÂY CÀ PHÊ
TS. Trần Danh Sửu (Chủ biên), ThS. Nguyễn Thị Thanh Mai,
TS. Trương Hồng, ThS. Phạm Thị Xuân
Hà Nội, 2017
LỜI NÓI ĐẦU
Cà phê là cây công nghiệp lâu năm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông
dân các tỉnh vùng Tây Nguyên và là nguồn cung ngoại tệ lớn cho Việt Nam.
Tuy nhiên, cây cà phê Tây Nguyên đang đối mặt với những khó khăn do
diện tích cà phê già cỗi khá lớn, đòi hỏi phải sớm tái canh để duy trì sản
lượng và chất lượng. Nếu không kịp thời tái canh thì trong một vài năm tới
sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất và chất lượng của cà phê Việt Nam.
Cuốn sách “Kỹ thuật tái canh cây cà phê” được xuất bản nhằm giúp cho
người đọc dễ dàng tiếp nhận những kiến thức cơ bản về trồng và chăm sóc
cây cà phê vối tái canh. Đồng thời, cuốn sách cung cấp cho cán bộ kỹ thuật,
người trồng cà phê nắm được các kỹ thuật tái canh, chăm sóc và phòng trừ
sâu bệnh hại nhằm tăng hiệu quả sản xuất cà phê.
Mặc dù nhóm tác giả đã cố gắng tổng hợp và biên soạn tài liệu nhưng không
thể tránh khỏi những thiếu sót. Nhóm tác giả rất mong nhận được các góp
ý của độc giả để hoàn thiện và hy vọng cuốn sách sẽ là tài liệu hữu ích cho
phát triển cây cà phê ở Việt Nam.
Nhóm tác giả
3
I. KỸ THUẬT TÁI CANH
CÀ PHÊ VỐI
1.1. ĐIỀU KIỆN VƯỜN CÀ PHÊ TÁI CANH
Vườn cà phê cần tái canh khi có các điều kiện sau:
- Diện tích cà phê già cỗi nằm trong vùng quy hoạch trồng cà phê được
cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Vườn cà phê trên 20 năm tuổi, sinh trưởng kém và năng suất bình
quân nhiều năm liền dưới 2,0 tấn nhân/ha, không thể áp dụng biện
pháp cưa đốn phục hồi hoặc ghép cải tạo được.
Thực hiện tái canh theo phương pháp cuốn chiếu, mỗi năm, từ 30 - 50%
diện tích cà phê già cỗi cần tái canh tùy thuộc vào khả năng đầu tư của
người trồng (Bảng 1).
1.2. KỸ THUẬT LÀM ĐẤT
a) Vườn tái canh ngay
Vườn tái canh ngay là vườn cà phê có tuổi vườn cây trước thanh lý >20
năm tuổi, sinh trưởng kém, bộ rễ bình thường hoặc có một vài vết thâm
đen ở đầu rễ nhưng không bị vàng lá, chết cây do tuyến trùng và nấm gây
hại. Năng suất thấp <1,5 tấn nhân/ha. Mật độ tuyến trùng ký sinh tổng số
trong 100 g đất hoặc trong 5 g rễ cà phê < 250 con.
Nhổ cây: Nhổ bỏ cây cà phê ngay sau khi thu hoạch (tháng 12, tháng 1).
Thu gom và đưa toàn bộ thân, cành, rễ ra khỏi lô.
Hình 1. Một số biện pháp nhổ cây
Cày và xử lý đất: Thời gian cày đất ngay sau khi kết thúc mùa mưa. Cày đất
2 lần ở độ sâu 30 - 40 cm theo chiều ngang và chiều dọc của lô. Sau 1,5 - 2
tháng phơi đất, tiến hành bừa ở độ sâu 20 - 30 cm theo chiều ngang và
Kỹ thuật tái canh cây cà phê
6
chiều dọc lô. Trong quá trình cày bừa tiếp tục gom nhặt rễ còn sót lại và
đốt để tiêu hủy nguồn bệnh, trước khi bừa lần 1, bón rãi đều trên bề mặt
đất 1.000 kg vôi bột/ha.
a
b
Hình 2. Cày đất lần 1 (a) và lần 2 (b)
b) Vườn luân canh, cải tạo đất
Vườn cần phải luân canh 1 năm: Tuổi vườn cây trên hoặc dưới 20 năm tuổi,
sinh trưởng kém, bộ rễ có nhiều vết thâm đen hoặc u sưng ở đầu rễ, tỷ lệ
cây chết và vàng lá trước khi thanh lý <10%, năng suất thấp <1,5 tấn nhân/
ha. Mật độ tuyến trùng ký sinh tổng số trong 100 g đất và trong 5 g rễ cà
phê từ 250 - 350 con.
Vườn cần phải luân canh 2 năm: Tuổi vườn cây trên hoặc dưới 20 năm tuổi,
sinh trưởng kém, bị nhiễm bệnh ở mức trung bình, tỷ lệ cây chết, cây vàng
lá trước khi thanh lý 10 - < 20%. Năng suất thấp < 1,5 tấn nhân/ha. Mật
độ tuyến trùng ký sinh tổng số trong 100 g đất và trong 5 g rễ cà phê từ
>350 - 450 con.
Vườn cần phải luân canh ≥3 năm: Tuổi vườn cây trên hoặc dưới 20 năm tuổi,
sinh trưởng kém, bị nhiễm bệnh nặng, tỷ lệ cây chết, cây vàng lá trước khi
thanh lý > 20%. Năng suất thấp < 1,5 tấn nhân/ha. Mật độ tuyến trùng ký
sinh tổng số trong 100 g đất và trong 5 g rễ cà phê > 450 con.
Các biện pháp nhổ cây, cày đất và xử lý đất thực hiện tương tự như kỹ thuật
chuẩn bị đất trồng cho tái canh ngay.
Luân canh: Cây trồng được sử dụng để luân canh là cây không phải là ký chủ
của tuyến trùng. Một số loại cây có thể luân canh như đậu đỗ, ngô, lúa cạn,
bông vải... hoặc cây phân xanh họ đậu. Sau mỗi vụ luân canh, đất cần được
cày phơi vào mùa nắng hàng năm, tiếp tục gom nhặt rễ cà phê còn sót lại
và tiêu hủy để loại bỏ nguồn bệnh.
7
Kỹ thuật tái canh cây cà phê
8
1.3. CHUẨN BỊ CÂY GIỐNG
Giống cà phê: Sử dụng các giống cà phê có năng suất, chất lượng cao như
TR4, TR5, TR6, TR7, TR8, TR9, TR11, TR12, TR13 và giống cà phê vối
lai TRS1.
Cây giống thực sinh: Cà phê vối lai tổng hợp TRS1. Trong thực tế sản xuất,
trên 80% diện tích cà phê đều trồng cây giống thực sinh, chỉ có tỷ lệ nhỏ
diện tích trồng bằng cây ghép. Do đó cây thực sinh vẫn là cây chủ lực được
sử dụng để trồng tái canh.
Khi đem trồng cây con phải đạt các tiêu chuẩn sau: Kích thước bầu đất:
13 - 14 cm x 23 - 24 cm; tuổi cây: 6 - 8 tháng; chiều cao thân kể từ mặt
bầu: 25 - 30 cm; số cặp lá thật: 5 - 6 cặp lá; đường kính gốc: 3 - 4 mm, có
một rễ mọc thẳng; cây giống không bị sâu bệnh hại, đặc biệt là không bị
cong rễ, thối rễ.
Đất ươm cây giống lấy tầng đất mặt từ 0 - 30 cm, tơi xốp, sạch nguồn bệnh,
hàm lượng hữu cơ cao (> 3%). Không được lấy đất ươm cây giống ở những
vùng đã trồng cà phê, hồ tiêu, cây họ cà, họ dưa, họ đậu, rau... bị nhiễm
tuyến trùng. Đất đã được xử lý bằng phơi nắng và tủ PE thấu quang trong
mùa khô từ tháng 11 đến tháng 1, sau đó giở PE và cho vào bầu. Sau khi
cắm cây cần phải tiếp tục xử lý bằng các loại chế phẩm sinh học, thuốc hóa
học để loại bỏ triệt để tuyến trùng và nấm gây hại trước khi đem trồng.
Không để bầu cây tiếp xúc với nền đất đã bị nhiễm nguồn tuyến trùng và
bệnh hại.
Cây giống ghép: Sử dụng cây giống ghép 10 - 12 hoặc 18 - 20 tháng tuổi
của các dòng cà phê vối đã được công nhận: TR4, TR5, TR6, TR7, TR8, TR9,
TR11, TR12, TR13.
Cây giống ghép phải đảm
bảo đạt tiêu chuẩn cây
giống để trồng: Đối với
cây giống ghép 10 - 12
tháng tuổi, ngoài các
tiêu chuẩn như cây thực
sinh, chồi ghép phải có
chiều cao >10 cm tính
từ vị trí ghép và có ít
Hình 3. Cây giống đủ tiêu chuẩn trồng
nhất 1 cặp lá phát triển
9
hoàn chỉnh, chồi được ghép tối thiểu 02 tháng trước khi trồng. Kích thước
bầu đất tối thiểu là 15 x 25 cm. Đối với cây giống ghép 18 - 20 tháng tuổi,
kích thước bầu đất tối thiểu là 20 x 30 cm; bầu càng lớn càng tốt cho sinh
trưởng của cây, tuy nhiên sẽ gặp khó khăn trong quá trình vận chuyển.
Cây giống có từ 3 - 5 cặp cành, sinh trưởng bình thường, không bị bó rễ.
Cây giống phải được huấn luyện ngoài ánh sáng hoàn toàn từ 10 - 15 ngày
trước khi trồng và không bị sâu bệnh hại.
Kiểm tra rễ cây trong bầu ươm trước khi đem trồng, loại bỏ những lô cây
giống bị bệnh thối rễ hoặc rễ bị biến dạng.
1.4. CHUẨN BỊ HỐ TRỒNG
a) Đào hố
Có thể sử dụng máy múc, máy khoan hoặc đào hố thủ công.
Thời gian đào hố: Đào hố trong mùa khô để phơi ải trước khi trồng nhằm cải
tạo đất và làm giảm mật độ tuyến trùng trong đất. Công việc đào hố phải
được hoàn tất trước khi trồng ít nhất 1 tháng.
Kích thước hố: 80 x 80 x 80 cm (dài x rộng x sâu), hố trồng tái canh cà phê
không trùng với hố cà phê đã thanh lý. Khi đào thủ công thì lớp đất mặt
để riêng một phía, sau này trộn với phân hữu cơ, phân lân để đưa xuống
hố trồng.
Khoảng cách: 3 x 3 m (mật độ 1.111 cây/ha)
Hình 4. Đào hố bằng máy
b) Xử lý hố
Tiến hành xử lý tuyến trùng trong hố trồng trước khi trồng 15 ngày bằng
một trong các loại thuốc sau:
Kỹ thuật tái canh cây cà phê
10
- Thuốc hóa học: Clinoptilolite, Ethoprophos, Carbosulfan, Benfuracarb,
liều lượng và cách sử dụng theo hướng dẫn trên bao bì.
- Chế phẩm sinh học: Trichoderma, Bacillus, Peacilomyces,
Streptomyces..., ưu tiên sử dụng các loại chế phẩm sinh học để bảo
vệ môi trường.
c) Bón lót
Sử dụng phân chuồng hoai mục, phân lân, vôi trộn đều với lớp đất mặt với
tỷ lệ 15 - 20 kg phân chuồng + 0,5 kg phân lân nung chảy + 1 kg vôi/1 hố.
Nếu không có đủ phân chuồng thì bón 10 kg phân chuồng + 3 kg phân
hữu cơ vi sinh + 0,5 kg phân lân nung chảy + 1 kg vôi/1 hố. Lấp đất mặt
xuống hố.
Tiến hành xử lý tuyến trùng trong hố trồng trước khi trồng 15 ngày bằng
một trong các loại thuốc có thành phần sau:
- Thuốc hóa học: Clinoptilolite, Ethoprophos, Carbosulfan, Benfuracarb,
liều lượng và cách sử dụng theo hướng dẫn trên bao bì.
- Chế phẩm sinh học: Trichoderma, Bacillus, Peacilomyces,
Streptomyces..., ưu tiên sử dụng các loại chế phẩm sinh học để bảo
vệ môi trường.
Lưu ý: Việc bón lót phải được thực hiện ít nhất 1 tháng trước khi trồng.
1.5. KỸ THUẬT TRỒNG CÂY CÀ PHÊ
a) Thời vụ trồng
Bắt đầu vào đầu mùa mưa và kết thúc trước khi bắt đầu mùa khô từ 1,5 - 2
tháng. Thời vụ trồng cà phê ở Tây Nguyên và Đông Nam bộ từ tháng 5 đến
tháng 8 hàng năm.
b) Kỹ thuật trồng
Tiến hành đào chính giữa hố một lỗ có đường kính lớn hơn đường kính của
bầu và chiều sâu bằng với chiều cao của bầu, sử dụng 5 - 7 gam thuốc chống
mối rải xuống đáy và xung quanh miệng lỗ; dùng dao cắt một lát cách đáy
bầu 1 - 2 cm để loại bỏ phần rễ cọc bị cong ở đáy, sau đó rạch xé bầu, chú ý
11
cẩn thận tránh làm bể bầu đất; đặt bầu vào lỗ đã được đào sao cho mặt bầu
ngang bằng với mặt hố và thấp hơn mặt đất 10 - 15 cm (trồng âm), lấp đất
và nén chặt đất xung quanh bầu. Sau khi trồng mới, tiến hành xăm xới đất
sau những trận mưa lớn và trồng dặm kịp thời những cây bị chết.
1.6. KỸ THUẬT TRỒNG CÂY CHẮN GIÓ VÀ CÂY CHE BÓNG
a) Kỹ thuật trồng cây chắn gió
Đai rừng chắn gió thẳng góc, hoặc lệch 600 so với hướng gió chính, rộng 6 -
9 m. Khoảng cách đai rừng tùy theo kích thước của khoảnh.
Có thể trồng hai hàng cây muồng đen, hàng cách hàng 2 m, cây cách cây
2 m hoặc 3 hàng cây bạch đàn, cây tràm hoa vàng, cây keo tai tượng hàng
cách hàng 1m, cây cách cây 1 - 2 m, trồng nanh sấu. Ngoài đai rừng chính
còn có các đai rừng phụ trồng thẳng góc với đai rừng chính, một hàng cây
keo tai tượng, tràm hoa vàng và một số loại cây ăn quả.
Thiết kế đai rừng kết hợp lô, khoảnh. Nếu có điều kiện thì trồng đai rừng
trước lúc trồng cà phê 1 - 2 tháng. Trên đỉnh đồi nên trồng cây rừng dày
đặc để hạn chế xói mòn.
b) Kỹ thuật trồng cây che bóng
Trồng cây che bóng tạm thời
Cây cốt khí, muồng hoa vàng, đậu công là những cây che bóng chắn gió tạm
thời, thích hợp cho cà phê kiến thiết cơ bản. Hạt gieo vào đầu mùa mưa
giữa hai hàng cà phê, khoảng cách 2 - 3 hàng cà phê gieo một hàng cây che
bóng, khi cây phát triển tốt, cành chen tán cà phê thì rong tỉa cành lá ép
xanh vào gốc. Trong thực tế sản xuất người trồng cà phê chủ yếu vẫn sử
dụng cây muồng hoa vàng để làm cây che bóng tạm thời, ở năm trồng mới
giữa mỗi hàng cà phê gieo 1 hàng muồng hoa vàng, vào mùa mưa năm sau
tỉa thưa chỉ còn lại 3 hàng cà phê 1 hàng muồng hoa vàng, thân lá của cây
được ép xanh để trả lại hữu cơ cho đất.
Trồng cây che bóng lâu dài
Cây che bóng lâu dài cho cây cà phê là muồng đen, với khoảng cách trồng
20 x 20 m/cây; cây keo dậu, cây muồng lá nhọn khoảng cách trồng 10 x 10
Kỹ thuật tái canh cây cà phê
12
m/cây; các loại cây ăn quả như sầu riêng, chôm chôm, bơ với khoảng cách
trồng 12 x 12 m, 15 x 15 m, 18 x 18 m.
Các loại cây được gieo trồng vào bầu và chăm sóc cẩn thận, đối với các loại
cây rừng khi đạt độ cao 30 - 40 cm và cây ăn quả đạt tiêu chuẩn xuất vườn
thì mới đem ra trồng. Vị trí trồng cây che bóng là ở trên hàng, giữa hai cây
cà phê. Cây che bóng được trồng đồng thời với lúc trồng cà phê.
Khi các loại cây che bóng phát triển tốt, phải thường xuyên rong tỉa bớt
cành ngang. Mặt dưới tán cây che bóng khi ổn định phải cách mặt trên tán
cà phê tối thiểu từ 0,5 - 1 m.
Đối với cà phê trong vườn hộ gia đình, sử dụng một số loại cây ăn quả trồng
xen hoặc trồng xung quanh vườn để tăng thu nhập kết hợp với làm cây che
bóng thì phải bón phân đầy đủ và rong tỉa cành ngang, tạo hình thích hợp
theo từng loại cây.
Khi cây cà phê phát triển ổn định (từ năm thứ 4, 5 trở đi), ở những vùng có
khí hậu thích hợp, có khả năng thâm canh thì giảm dần mật độ cây che bóng
xuống khoảng 30 - 50%.
c) Trồng xen cây ngắn ngày
Vườn cà phê trong 3 năm đầu kiến thiết cơ bản, cây chưa giao tán nên
trồng xen cây đậu đỗ ăn hạt và cây phân xanh họ đậu giữa hai hàng cà phê
để tăng thêm thu nhập, bảo vệ, cải tạo đất và cung cấp sinh khối hữu cơ
chất lượng cao cho cây.
Các cây đậu đỗ ăn hạt như lạc, đậu hồng đào, đậu tương, đậu đen ... gieo
vào đầu hoặc giữa mùa mưa, phải bón phân và chăm sóc theo yêu cầu của
cây, sau khi thu hoạch củ, hạt xong thì tủ thân lá vào gốc cà phê hoặc đào
rãnh vùi vào đất.
Các cây phân xanh họ đậu như muồng hoa vàng, đậu công … gieo vào các
tháng trong mùa mưa, khi ra hoa thì cắt thân lá vùi vào đất, một năm có
thể cắt thân lá 2 - 3 lần. Cây trồng xen phải trồng cách gốc cà phê khoảng
70 cm.
Trên đất dốc trên 8o, trồng các loại cây như cỏ stylo, đậu lông... để chắn xói
mòn, che phủ, giữ ẩm, cải tạo đất.
13
1.7. CHĂM SÓC CÂY CÀ PHÊ SAU TÁI CANH
a) Trồng dặm
Vườn cà phê tái canh bị bệnh vàng lá, thối rễ với tỷ lệ bệnh thấp dưới 10%,
cấp 0 - 1 có thể xử lý các chế phẩm sinh học như Abamectin; Chitosan;
Cytokinin; Paecilomyces lilacinus để phục hồi bộ rễ cây bị bệnh.
Vườn cà phê tái canh có cây bị bệnh nặng cấp 3, 4, cây khó phục hồi cần nhổ
bỏ, để đất nghỉ kết hợp xử lý chế phẩm sinh học như Abamectin; Chitosan;
Cytokinin; Paecilomyces lilacinus, sau đó mới trồng dặm.
Việc trồng dặm phải được thực hiện xong trước khi kết thúc mùa mưa ít
nhất là 1 tháng. Trồng dặm kịp thời những cây bị chết, cây yếu, khi trồng
dặm chỉ cần móc đất và trồng lại trên hố cũ. Cây giống trồng dặm cũng phải
chọn cây tốt đủ tiêu chuẩn.
b) Tạo bồn
Khi cây cà phê đã sinh trưởng ổn định (khoảng 1 - 2 tháng sau khi trồng).
Thời gian tạo bồn tiến hành trước khi mùa mưa chấm dứt 1 - 2 tháng.
Trong năm đầu tiên, có thể đào bồn với đường kính 80 - 100 cm, sâu
15 - 20 cm. Những năm tiếp theo, kích thước của bồn được mở rộng theo
tán của cây cà phê cho đến khi đạt được kích thước ổn định (2 - 2,5 m).
Khi vét đất tạo bồn, cần hạn chế gây tổn thương cho rễ cây cà phê. Đối với
những nơi đất dốc, công việc tạo bồn có thể tiến hành hàng năm.
c) Làm cỏ
Làm cỏ từ 3 - 4 lần ở trên hàng cà phê; diện tích làm cỏ rộng ra ngoài tán
cây cà phê mỗi bên 0,5 m. Đối với đất dốc, chỉ làm cỏ theo băng trên hàng
cà phê, không làm cỏ toàn bộ diện tích.
- Phương pháp làm cỏ trắng: Đối với cà phê kinh doanh, làm cỏ trên
toàn bộ diện tích vườn cây cà phê.
- Phương pháp làm cỏ theo băng: Đối vối cà phê kiến thiết cơ bản, phải
làm sạch cỏ theo băng, dọc theo hàng cà phê với chiều rộng lớn hơn
tán cà phê mỗi bên 0,5 m. Mỗi năm làm cỏ 5 - 6 lần.
Để diệt trừ các loại cỏ có phương thức sinh sản vô tính như cỏ tranh,
cỏ gấu,... có thể dùng các loại thuốc diệt cỏ chứa hoạt chất glyphosate
để phun.
Kỹ thuật tái canh cây cà phê
14
Hàng năm vào đầu mùa khô phải tiến hành làm cỏ xung quanh vườn cà phê
để phòng chống cháy.
d) Tủ gốc, tưới nước
Tủ gốc: Vào cuối mùa mưa, tiến hành tủ gốc, ép xanh để giữ ẩm bằng vật
liệu hữu cơ như rơm rạ, cây phân xanh, cây đậu đỗ, tàn dư cây trồng xen và
cây muồng hoa vàng trồng xen, chắn gió tại vườn. Vật liệu tủ phải cách gốc
cà phê 10 - 15 cm. Rãnh ép xanh đào ở vị trí mép tán cà phê.
Tưới nước:
Xác định thời điểm tưới nước:
Xác định đúng thời điểm tưới lần đầu là điều kiện quan trọng để nâng cao
hiệu quả của biện pháp tưới nước cho cây cà phê ở Tây Nguyên. Thời điểm
tưới lần đầu phụ thuộc vào điều kiện thời tiết của từng năm, từng vùng,
từng loại đất... và được căn cứ vào độ ẩm đất hoặc mức độ phân hóa mầm
hoa. Khi các mầm hoa phát triển đầy đủ ở đốt ngoài cùng của các cành là
thời điểm cần tưới. Thông thường độ ẩm cần tưới được xác định cao hơn độ
ẩm cây héo vì tại độ ẩm cây héo, cây trồng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng
đến sinh trưởng và phát triển.
Độ ẩm cần tưới ở tầng 0 - 30 cm được xác định cho đất bazan là khoảng
27% so với trọng lượng đất khô.
Cây cà phê cần trải qua một thời gian khô hạn khoảng 2 tháng để ngừng
sinh trưởng và phân hóa mầm hoa đầy đủ. Trong điều kiện của Tây Nguyên,
thời điểm tưới lần đầu cho cà phê kinh doanh thường được thực hiện vào
tháng 2 hàng năm. Tưới đúng thời điểm lần đầu sẽ giúp cây ra hoa tập
trung là tiền đề để cho năng suất cao.
Tưới muộn quá thì cây bị suy kiệt, rụng lá, khô cành. Nhưng nếu tưới sớm
quá khi các mầm hoa chưa phân hóa đầy đủ, cây sẽ ra hoa ít và hoa nở lai
rai, không tập trung, làm ảnh hưởng đến năng suất và trở ngại cho công tác
thu hoạch sau này.
Tưới sớm còn làm tăng chi phí tưới và chi phí cắt
cành do một số mầm ngủ có khuynh hướng
phát triển thành cành thứ cấp thay vì
phân hóa thành mầm hoa.
15
Liều lượng: Lượng nước tưới có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát
triển của cây cà phê cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh. Do chi phí vận
chuyển, lắp đặt hệ thống tưới khá cao nên người sản xuất cà phê ở Tây
Nguyên thường chọn lựa chế độ tưới với lượng nước lớn và chu kỳ tưới dài
để giảm số lần tưới. Kết quả nghiên cứu cũng như kinh nghiệm của nông dân
cho thấy với lượng nước tưới 400 - 500 lít/gốc và chu kỳ tưới 25 - 30 ngày
sẽ bảo đảm cây ra hoa tập trung, thụ phấn tốt.
Bảng 2. Định lượng nước tưới cho cây cà phê
Tưới phun mưa
(m3/ha/lần)
Tưới gốc
(lít/gốc/lần)
Chu kỳ tưới
(ngày)
Loại cây
Thời kỳ kiến thiết
cơ bản
400 - 500
500 - 600
200 - 300
400 - 500
25 - 30
25 - 30
Thời kỳ kinh doanh
Phương pháp tưới:
-
Kỹ thuật tưới phun mưa
+ Hệ thống tưới gồm một máy bơm có công suất 15 - 50 mã lực và
hệ thống ống dẫn bằng kim loại nhẹ, thường được làm bằng hợp kim
nhôm để dễ di chuyển bằng thủ công và cuối cùng là những vòi phun.
Dưới tác động của áp suất trong hệ thống ống dẫn, các hạt nước
thoát ra khỏi vòi phun dưới dạng những hạt mưa nhỏ.
+ Kỹ thuật tưới phun mưa có chất lượng nước cao, nước tưới được phân
bố đều khắp tán cây và hệ thống tưới có thể hoạt động bình thường
ở những nơi có địa hình phức tạp nhiều đồi dốc; số lần tưới thấp,
bình quân tưới 3 lần trong năm. Tuy nhiên, phương pháp này tiêu tốn
nhiều nhiên liệu do đòi hỏi áp lực tại vòi phun khá cao, tổn thất nước
khá nhiều, đặc biệt là khi có gió lớn. Đầu mùa khô ở Tây Nguyên là
thời kỳ có vận tốc gió cao nhất, trên 2 m/giây.
-
Kỹ thuật tưới gốc
+ Hệ thống tưới gồm một động cơ có công suất từ 8 - 16 mã lực, máy
bơm và hệ thống ống dẫn nước bằng nhựa. Theo phương pháp này
nước được dẫn trực tiếp vào từng bồn đất được đào xung quanh mỗi
gốc cây cà phê. Ưu điểm của kỹ thuật tưới gốc là trang thiết bị rẻ tiền,
tổn thất nước ít, chi phí nhiên liệu thấp.
Kỹ thuật tái canh cây cà phê
16
a
b
Hình 5. Kỹ thuật tưới gốc (a) và tưới tiết kiệm (b)
-
-
Kỹ thuật tưới tiết kiệm
+ Khi sử dụng biện pháp kỹ thuật tưới tiết kiệm có thể tiết kiệm được từ
20 - 30% lượng nước tưới. Nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, chất
dinh dưỡng được cấp thông qua nước tưới và có chi phí vận hành thấp.
+ Tuy nhiên đối với biện pháp kỹ thuật tưới tiết kiệm, người trồng cà
phê phải đầu tư máy móc, trang thiết bị đắt tiền; đòi hỏi chất lượng
nước tưới cao; đường ống và thiết bị hay bị hư hỏng, mất mát (nếu
không bảo quản tốt).
Kỹ thuật tưới nhỏ giọt
+ Hệ thống tưới gồm có máy bơm, bể chứa phân bón, máy lọc, các đường
ống dẫn nước được lắp đặt cố định trong vườn cây, vòi nhỏ giọt và
các van phân phối nước. Nước và phân bón được cung cấp cho từng
khoảnh đất trên cánh đồng và tập trung ở phần hoạt động chủ yếu
của bộ rễ cây trồng, với lưu lượng rất nhỏ từ 2 - 6 lít/giờ nên hiệu quả
sử dụng nước và phân bón rất cao.
+ Ưu điểm: Tiết kiệm nước (30 - 50%), phân bón và công lao động. Hạn
chế: trang thiết bị đắt tiền, đòi hỏi chất lượng nước tưới cao, chu kỳ
tưới ngắn (1 - 10 ngày), hệ thống tưới được đặt cố định trên vườn cây.
e) Bón phân
Lượng phân bón: Lượng phân được tính cho năng suất 3 - 4 tấn nhân/ha đối
với đất bazan và 2,5 - 3,5 tấn nhân/ha đối với đất xám.
Khi năng suất cao hơn mức năng suất nói trên thì cần bón lượng phân bội
thu. Cứ 1 tấn cà phê nhân tăng thêm/ha cần được bón thêm 150 kg Urê +
100 kg lân nung chảy + 120 kg kali clorua.
17
Kỹ thuật tái canh cây cà phê
18
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Kỹ thuật tái canh cây cà phê", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tai_lieu_ky_thuat_tai_canh_cay_ca_phe.pdf

