Bài giảng Nhân giống cây trồng - Nghề: Khuyến nông lâm

TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ LÀO CAI  
KHOA NÔNG LÂM NGHIỆP  
BÀI GIẢNG  
NHÂN GIỐNG CÂY TRỒNG  
SỐ GIỜ: 75  
NGHỀ KHUYẾN NÔNG LÂM  
(Lưu hành nội bộ)  
Tác giả: Vũ Thị Hồng Yến  
Lào Cai, tháng 3 năm 2015  
1
LỜI NÓI ĐẦU  
Mô đun “Nhân giống cây trồng” là một trong số những mô đun bắt buộc trong  
chương trình đào tạo hệ trung cấp nghề Khuyến nông lâm. Mô đun này trang bị cho học  
sinh những kiến thức cơ bản về kỹ thuật thu hái, chế biến hạt giống và nhân giống một số  
loài cây ăn quả bằng phương pháp vô tính, những biện pháp kỹ thuật, kỹ năng nghề quan  
trọng để người học có thể tự nhân giống cây trồng phục vụ cho gia đình và địa phương,  
nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội.  
Mô đun còn trang bị thêm cho học sinh chuyên ngành Khuyến nông lâm có những  
kiến thức bổ ích về những vấn đề liên quan đến bảo quản hạt giống, thiết kế quy hoạch  
vườn ươm và chăm sóc cây con ở vườn ươm…, giúp các em ra trường có thể tham gia  
công tác ở các lĩnh vực Khuyến nông lâm, Bảo vệ thực vật, trồng trọt, chỉ đạo, quản lý  
sản xuất ở gia đình và địa phương.  
Bố cục của giáo trình gồm có 5 bài, bao gồm những kiến thức về lý thuyết và thực  
hành. Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã tham khảo nhiều giáo trình, sách tham  
khảo của các trường đại học và của các tác giả có chuyên môn sâu về những lĩnh vực có  
liên quan. Tuy có nhiều cố gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu xót, chúng tôi rất  
mong muốn nhận được những ý kiến tham gia, đóng góp của các chuyên gia và đông đảo  
bạn đọc.  
Xin trân thành cảm ơn.  
Tác giả  
2
HƯỚNG DẪN NGHIÊN CỨU GIÁO TRÌNH  
Nhân giống cây trồng là mô đun bắt buộc trong chương trình đào tạo hệ trung cấp nghề  
Khuyến nông lâm, nhằm trang bị cho người học những kiến thức cần thiết về thu hái, chế biến,  
bảo quản hạt giống, các phương pháp nhân giống vô tính cây ăn quả và những kỹ năng nghề  
cần thiết để cây trồng cho năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt, đem lại hiệu quả kinh tế - xã  
hội và môi trường cho người sản xuất, vùng sản xuất.  
Trong quá trình học, mô đun có liên quan với các môn: Đất và phân bón, Nông lâm kết  
hợp, Trồng cây ăn quả. Mô đun này được bố trí học sau các môn học bắt buộc, giúp cho người  
học vận dụng kiến thức, kỹ năng trong việc tổ chức sản xuất, sử dụng đất đai có hiệu quả, sản  
phẩm sản xuất ra đáp ứng được nhu cầu thị trường.  
Giáo trình có 5 bài, giảng dạy 24 giờ lý thuyết, 47 giờ thực hành và 4 bài kiểm tra. Mỗi  
một bài học đều có bài thực hành. Người học được kiểm tra đánh giá 4 lần theo 2 nội dung  
chính: Đánh giá kiến thức và kỹ năng. Nội dung tập trung trong các bài 2, 3, 4, 5.  
Phương pháp giảng dạy: Sử dụng phương pháp dạy học lấy người học làm trung  
tâm. Giảng giải kết hợp làm mẫu và có ví dụ minh họa bằng hình ảnh thực tế, mô hình và  
rèn luyện kỹ năng thực hành tại vườn ươm, trang trại, vườn hộ gia đình... để củng cố kiến  
thức, nâng cao kỹ năng nghề cho học sinh.  
3
MỤC LỤC  
Trang  
2
Lời nói đầu  
Hướng dẫn nghiên cứu giáo trình  
3
Bài 1: Thu hái, chế biến và bảo quản hạt giống  
1.1. Thu hái hạt giống  
9
9
1.1.1. Chọn cây lấy giống  
9
1.1.2. Nhận biết độ chín của quả và hạt giống  
1.1.3. Các phương pháp thu hái quả và hạt  
1.1.3.1. Xác định thời điểm thu hái  
1.1.3.2. Phương pháp thu hái trên cây  
1.1.3.3. Phương pháp thu nhặt trên mặt đất  
1.2. Chế biến quả lấy hạt  
9
11  
11  
11  
12  
13  
14  
14  
15  
15  
16  
16  
17  
17  
17  
17  
17  
18  
19  
19  
19  
19  
20  
20  
20  
21  
21  
21  
22  
1.2.1. mục đích  
1.2.2. Các phương pháp chế biến  
1.2.2.1. Ủ quả  
1.2.2.2. Tách hạt khỏi quả  
1.2.2.3. Làm sạch hạt  
1.2.2.4. Hàm lượng nước của hạt  
1.3. Kiểm tra phẩm chất hạt giống  
1.3.1. Mục đích  
1.3.2. Phương pháp kiểm tra  
1.3.2.1. Phương pháp cảm quan  
1.3.2.2. Kiểm tra độ thuần  
1.3.2.3. Kiểm tra tỷ lệ nảy mầm của hạt  
1.4. Bảo quản hạt giống  
1.4.1. Mục đích  
1..4.1.1. Nhiệt độ  
1.4.1.2. Ẩm độ  
1.4.1.3. Điều kiện thoáng khí  
1.4.2. Các phương pháp bảo quản  
1.4.2.1. Bảo quản khô  
1.4.2.2. Bảo quản ẩm  
1.5. Nhận biết hạt giống cây rừng  
1.5.1. Trong phòng thí nghiệm  
1.5.2. Phương pháp xác định tại rừng  
4
1.5.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thọ của hạt giống  
Bài 2: Các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất cây con từ hạt ở vườn ươm  
2.1. Xây dựng vườn ươm  
22  
25  
25  
25  
25  
27  
27  
27  
29  
31  
34  
34  
37  
38  
39  
39  
39  
39  
40  
41  
44  
44  
44  
44  
44  
44  
45  
45  
45  
45  
45  
46  
46  
46  
46  
46  
2.1.1. Khái niêm  
2.1.1.1. Phân loại vườn ươm  
2.1.2. Chọn địa điểm lập vườn ươm  
2.1.2.1. Điều kiện tự nhiên  
2.1.2.2. Điều kiện kinh doanh  
2.1.3. Quy hoạch vườn ươm  
2.1.3.1. Bố trí các khu ươm hạt, ươm cây mạ, giâm hom cây  
2.1.3.2. Khu vực cấy cây, huấn luyện cây con  
2.1.3.3. Hệ thống tưới tiêu  
2.1.3.4. Khu nhà kho, đường đi  
2.1.3.5. Hàng rào  
2.2. Làm đất gieo ươm  
2.2.1. Mục đích  
2.2.2. Nội dung  
2.2.2.1. Cày bừa đất  
2.2.2.2. Lên luống  
2.2.2.3. Đóng bầu ươm cây  
2.3. Xử lý hạt giống  
2.3.1. Mục đích  
2.3.2. Một số phương pháp xử lý hạt giống  
2.3.2.1. Xử lý bằng nhiệt độ  
2.3.2.2. Xử lý bằng phương pháp cơ học  
2.3.2.3. Xử lý bằng phương pháp hóa học  
2.4. Gieo hạt  
2.4.1. Thời vụ gieo hạt  
2.4.2. Mật độ gieo hạt  
2.4.3. Các phương pháp gieo hạt  
2.4.3.1. Gieo vãi trên luống  
2.4.3.2. Gieo hạt theo hàng  
2.4.3.3. Gieo hạt vào bầu  
2.5. Cấy cây  
2.5.1. Mục đích  
2.5.2. Tiêu chuẩn cây cấy  
5
2.5.3. Phương pháp cây  
2.5.3.1. Cấy cây mầm vào bầu  
2.5.3.2. Cấy cây con trên luống đất  
2.6. Chăm sóc cây con ở vườn ươm  
2.6.1. Tưới nước  
47  
47  
47  
47  
47  
48  
48  
49  
40  
49  
49  
51  
51  
51  
51  
51  
51  
52  
52  
60  
60  
60  
61  
61  
62  
63  
64  
65  
71  
71  
71  
71  
71  
71  
72  
72  
2.6.2. Che nắng, che mưavà chống rét cho cây  
2.6.3. Làm cỏ, phá váng  
2.6.4. Bón thúc  
2.6.5. Phòng trừ sâu, bệnh hại  
2.6.5.1. Phòng trừ sâu hại  
2.6.5.2. Phòng trừ bệnh hại  
2.7. Hãm cây  
2.7.1. Mục đích  
2.7.2. Biện pháp  
2.7.2.1. Hạn chế tưới nước và bón thúc  
2.7.2.2. Dịch chuyển bầu, cắt rễ, phân cấp  
2.8. Điều tra, phân loại cây con  
2.8.1. Mục đích  
2.8.2. Phương pháp điều tra  
Bài 3 : Nhân giống cây bằng phương pháp chiết cành  
3.1. Thời vụ chiết cành  
3.2. Đối tượng chiết cành  
3.3. Kỹ thuật chiết cành  
3.3.1. Chuẩn bị dụng cụ, nguyên liệu và hỗn hợp bó bầu  
3.3.2. Chọn cành chiết  
3.3.3. Khoanh, bóc vỏ  
3.3.4. Bó bầu  
3.3.5. Cắt và giâm cành chiết  
Bài 4 : Nhân giống cây bằng phương pháp ghép  
4.1. Khái niệm  
4.2. Nguyên lý ghép cây  
4.3. Một số phương pháp ghép cây  
4.3.1. Ghép nêm  
4.3.1.1. Thời vụ ghép  
4.3.1.2. Đối tượng áp dụng  
4.3.1.3. Các bước ghép nêm  
6
4.3.2. Ghép mắt nhỏ có gỗ  
4.3.2.1. Tạo gốc ghép  
76  
76  
77  
77  
77  
77  
77  
77  
84  
84  
84  
85  
85  
85  
86  
86  
86  
86  
87  
87  
87  
87  
88  
88  
4.3.2.2. Cắt cành lấy mắt ghép  
4.3.2.3. Mở miệng gốc ghép  
4.3.2.4. Cắt mắt ghép  
4.3.2.5. Đặt mắt ghép vào gốc ghép  
4.3.2.6. Buộc cố định vào gốc ghép  
4.3.2.7. Chăm sóc cây sau khi ghép  
Bài 5 : Nhân giống cây bằng phương pháp giâm hom  
5.1. Các điều kiện về trang thiết bị và hóa chất phục vụ giâm hom  
5.1.1. Các điều kiện về trang thiết bị  
5.1.2.Các hóa chất phục vụ giâm hom  
5.2. Một số nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom  
5.2.1. Nhân tố nội tại  
5.2.2. Nhân tố môi trường  
5.2.3. Yếu tố kỹ thuật  
5.3. Kỹ thuật giâm hom  
5.3.1. Cắt cành hom  
5.3.2. Cắt hom  
5.3.3. Khử trùng hom  
5.3.4. Xử lý thuốc kích thích ra rễ  
5.3.5 Cắm hom  
5.3.6. Chăm sóc luống hom  
5.3.7. Huấn luyện cây  
7
BÀI 1: THU HÁI, CHẾ BIẾN VÀ BẢO QUẢN HẠT GIỐNG  
Thời gian 9 giờ ( Lý thuyết 6 giờ, thực hành 3 giờ )  
I. MỤC TIÊU  
- Trình bày được tầm quan trọng của hạt giống cây rừng, thời vụ thu hái, kỹ thuật  
thu hái, chế biến, bảo quản hạt giống cây rừng và phương pháp kiểm tra phẩm chất hạt  
giống.  
- Nhận biết được độ chín của quả và hạt, thực hiện được kỹ thuật tách quả lấy hạt  
đối với quả khô, quả thịt. Có kỹ năng kiểm tra phẩm chất hạt và bảo quản hạt giống bằng  
phương pháp cất khô, cất ẩm đúng kỹ thuật.  
- Đảm bảo vệ sinh, an toàn, tiết kiệm hạt giống.  
II. NỘI DUNG BÀI HỌC  
1.1. Thu hái hạt giống  
1.1.1. Chọn cây lấy giống  
Tại mỗi địa phương cần có rừng giống hoặc vườn giống chuyên doanh để phục vụ  
công tác trồng rừng ở nơi đó. Nhưng trong thực tế sản xuất hiện nay thường phải lấy hạt  
giống ở những khu rừng tự nhiên hay rừng trồng kinh tế sẵn có để phục vụ trồng rừng.  
8
Muốn hạt giống có chất lượng cao thì khi tiến hành lấy giống ở những khu rừng này cần  
phải biết cách chọn cây lấy giống. Nguyên tắc và các bước làm như sau:  
- Nên lấy giống trong vùng phân bố của loài cây đó vì ở đó cây sinh trưởng tốt, có  
sản lượng cao. Nếu cây giống của địa phương không đủ phải đưa từ nơi khác đến, nên lấy  
ở vùng xung quanh gần nhất, gần giống nhau về biên độ sinh thái, khí hậu, đất đai...  
- Chọn những khu rừng có sức sinh sản cao, chưa bị dịch sâu bệnh hoặc lửa rừng  
phá hoại lần nào. Tuổi của rừng lấy giống nên ở giai đoạn thành thục, không nên ở giai  
đoạn già cỗi.  
- Trong những khu rừng đó tiến hành lấy giống ở những cây tuổi còn trẻ, gần  
thành thục và đầu thời kỳ thành thục có đường kính, chiều cao từ trung bình trở lên, thân  
cây thẳng, tròn đều, tán lá cân đối, không bị sâu bệnh, tỉa cành tự nhiên tốt. Không được  
lấy giống ở những cây sinh trưởng kém, cong queo, sâu bệnh hoặc bị chèn ép, lệch tán, bị  
trích nhựa.  
1.1.2. Nhận biết độ chín của quả và hạt giống  
Nhận biết hạt chín để thu hái đúng lúc. Nếu thu hoạch hạt còn non, chất dự trữ  
chưa tích luỹ được đầy đủ, lượng nước trong hạt còn nhiều, hạt sẽ khó bảo quản, chóng  
mất sức nảy mầm. Nếu thu hoạch quá muộn hạt có thể rơi rụng hoặc bị gió đưa đi xa,  
hoặc chim thú ăn hại. Trên thực tế thu hoạch hạt giống bắt đầu từ việc thu hái quả, cho  
nên trước hết cần phải nhận biết quả chín.  
* Nhận biết quả chín  
Thông thường người ta căn cứ vào hình thái, màu sắc vỏ quả để nhận biết độ chín  
của nó.  
- Loại quả khô: Khi chín vỏ quả thường chuyển màu như chuyển từ màu xanh  
sang màu vàng (quả phi lao) hoặc sang màu canh dán (quả thông) hoặc sang màu xám có  
mốc trắng (quả xà cừ), vỏ quả nhăn hoặc có vết nứt...thường các loại quả khô này khi quả  
chín nếu không thu hái kịp thời hạt sẽ rơi rụng và bị gió đưa đi như thông, phi lao, bạch  
đàn.  
- Loại quả thịt, quả mọng: Căn cứ vào màu sắc và độ cứng của vỏ quả. Khi chín  
vỏ quả chuyển sang màu đỏ, màu đen hoặc màu vàng sẫm, phần vỏ thịt mềm. Các loại  
quả này khi chín thường bị chim thú ăn hại.  
* Nhận biết hạt chín  
Đa số các loài cây hạt chín có liên hệ với quả chín. Thông thường là khi quả chín  
thì hạt cũng chín. Nhưng để xác định chắc chắn và loại trừ những ngoại lệ thì chúng ta có  
thể nhận biết hạt chín bằng cách:  
- Căn cứ vào màu sắc, mùi vị và hình thái của vỏ hạt, nhân: Mỗi loại hạt khi chín  
vỏ hạt, nhân của nó có màu sắc, mùi vị, hình thái đặc trưng riêng.  
- Xác định tỷ trọng: thường khi chín tỷ trọng của hạt thay đổi, do vậy phải biết tỷ  
trọng tiêu chuẩn của mỗi loại hạt khi chín.  
- Thí nghiệm nảy mầm: Khi tỷ lệ nảy mầm cao nhất là lúc hạt chín đều. Cách này  
chỉ có giá trị trong công tác nghiên cứu.  
9
- Phải theo dõi sát tình hình thực tế của từng nơi và từng loài cây để kịp thời tổ  
chức thu hái hạt giống.  
Bảng 01: Thời vụ thu hoạch hạt giống một số loại cây.  
Loài cây  
Thông nhựa  
Thông đuôi ngựa  
Tếch  
Mùa ra hoa (tháng)  
Mùa quả chín (tháng)  
8 - 9  
5 - 6  
4 - 5  
5 - 6  
6 - 7  
2 - 3  
3 - 4  
2 - 4  
3 - 4  
5 - 6  
2 - 3  
9 - 10  
10 - 11  
1 - 2 năm sau  
10 - 11  
Bạch đàn liễu  
Bạch đàn trắng  
Phi lao  
8 - 9  
8 - 9  
Mỡ  
8 - 9  
Bồ đề  
9 - 10  
Long não  
Trám trắng  
Quế  
11 - 12  
9 - 10  
2 - 3 năm sau  
1.1.3. Các phương pháp thu hái quả và hạt  
1.1.3.1. Xác định thời điểm thu hái  
- Xác định thời điểm thu hoạch khi hạt chín vì nếu thu hoạch sớm ảnh hưởng đến  
năng suất, chất lượng hạt giống, thu hoạch muộn tổn thất hạt lớn do hạt chín quả vỡ mất  
hạt hoặc hư hỏng hạt ngay trên cây. Cần đảm bảo nguyên lý chung sau:  
+ Chất lượng hạt giống, đặc biệt sức sống và khả năng nảy mầm của hạt.  
+ Năng suất hạt giống.  
+ Thuận tiện cho phơi sấy, chế biến (trời nắng, khô).  
- Một số loài cây thu hoạch muộn dẫn đến tổn thất hạt như: Hạt thông, hạt Sa mộc  
thu khi quả mầu xanh chuyển dần sang màu vàng nếu không quả sẽ tách ra và rơi hết.  
Độ ẩm hạt khi thu hoạch cũng là một yêu cầu đối với hạt giống, nó phụ thuộc vào  
loài cây trồng, thời tiết và môi trường thu hoạch. Những căn cứ chủ yếu là: Màu sắc vỏ  
quả, màu sắc hạt, độ tàn của cây.  
* Nguyên tắc khi thu hái.  
Để đảm bảo chất lượng hạt giống và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình chế  
biến, bảo quản, đồng thời bảo vệ cây giống phục vụ sản xuất lâu dài và sản lượng vụ sau,  
khi thu hái cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:  
- Chỉ thu hái những quả đã già, mẩy, không sâu bệnh.  
- Quả non, xanh và hoa quả của vụ sau cần được bảo vệ.  
10  
- Không bẻ cành, chặt ngọn cây giống. Chỉ hái từng quả (quả to), hoặc chùm quả  
trên những nhánh nhỏ.  
Việc áp dụng các phương pháp thu hái giống và sử dụng các công cụ thích hợp  
phụ thuộc vào một số yếu tố sau:  
- Đặc điểm của quả: Kích thước, số lượng, vị trí, sự phân bố của quả, độ dẻo dai  
của cuống quả, thời gian từ khi quả chín đến lúc vỏ quả nứt ra (hạt phát tán).  
- Đặc điểm cây giống: Đường kính, chiều cao, độ thon thân cây, độ dày vỏ, đường  
kính và độ dày tán lá, số lượng cành, góc phân cành và sức chịu đựng của cành.  
- Đặc điểm của quần thụ: Mật độ, sự phân bố của cây rừng và lớp thảm tươi, thảm  
mục rừng.  
- Điều kiện địa hình trong khu vực: Độ dốc, độ cao.  
1.1.3.2. Phương pháp thu hái trên cây  
- Thường áp dụng đối với những loài cây khi chín hạt rơi rụng ngay hoặc dẽ bị gió  
đưa đi xa như phi lao, bạch đàn, thông...  
- Một số loài cây sau khi chín quả còn treo trên cây tương đối lâu (xoan) cũng áp  
dụng phương pháp thu hái trên cây nhưng không cần thu hoạch gấp.  
- Cách tiến hành: Có thể trèo lên cây để hái quả, đứng dưới đất dùng dụng cụ để  
thu hái hoặc có thể kết hợp khi khai thác chặt cây lấy quả. Loại quả to thì thu hái từng  
quả, loại quả nhỏ thu hái từng chùm quả. Chú ý hạn chế bẻ cành nhất là cây lá kim, vì  
mầm hoa ở đầu cành hình thành ngay trong năm thu quả. Trên cùng một cây quả có thể  
chín sớm muộn khác nhau nhưng không chênh lệch nhiều lắm, cần thu hái cây nào hết  
cây ấy, thu hái từ trên xuống dưới, từ trái sang phải hoặc ngược lại để tránh leo trèo nhiều  
lần, lẵng phí sức lao động năng suất thấp.  
Hạt thu hái về cần để nguyên từng lô theo nguồn gốc khác nhau và phải vào sổ  
đăng ký. Một lô hạt giống gồm những hạt giống cùng một loài, thu hái cùng một thời  
gian trên những cây mẹ sinh trưởng trong cùng một điều kiện lập địa (hay trong các điều  
kiện lập địa tương tự), tuổi cây mẹ chênh lệch không quá hai cấp tuổi và cùng một điều  
kiện bảo quản.  
11  
Hình 01: Thu hái trên cây  
1.1.3.3. Phương pháp thu nhặt trên mặt đất  
Thường áp dụng với những cây có hạt to, nặng, khi chín rơi rụng xuống đất như:  
lim, trẩu, dẻ...Cần thu hoạch nhiều lần kịp thời để đảm bảo chất lượng hạt và tránh chim,  
sóc ăn hại.  
- Cách tiến hành: Trước thời gian quả rụng một đến hai tuần phát xung quanh gốc,  
quét sạch cành khô lá rụng, có thể rải vải bạt hoặc nilon xung quanh gốc cây rồi rung  
cành, cây cho quả hạt chín rụng xuống để thu nhặt. Khi nhặt hạt chú ý phân biệt quả, hạt  
chín của những vụ trước, hạt mọt, sâu bệnh...Tuyệt đối không được chặt cành, làm cây  
mẹ bị chết ảnh hưởng đến mùa ra hoa quả năm sau.  
12  
Hình 02: thu nhặt trên mặt đất  
- Sau khi thu hái quả cần được đóng gói để vận chuyển về nơi chế biến bảo quản,  
kèm theo phiếu ghi chép nội dung sau:  
- Loài cây.......................................Địa điểm lấy giống................................  
- Ngày lấy .....................................Người thu hái.........................................  
- Phẩm chất cây mẹ.......................................................................................  
- Hướng dốc....................................Độ dốc...................................................  
- Cách bảo quản quả......................................................................................  
- Đơn vị lấy giống.........................................................................................  
- Số bao đựng...............................................Ký hiệu bao..............................  
- Người đóng bao gói....................................................................................  
* Loại bao bì để đựng quả.  
13  
- Các loại bao bì đựng quả nên thông thoáng, không khí dễ lưu thông. Không nên  
xếp quả quá dày và chồng thành đống quá cao tránh sự bí ngạt và nhiệt độ tăng cao do  
hoạt động của quá trình hô hấp yếm khí làm quả lên men, thối rữa và nấm bệnh xâm  
nhập.  
- Đối với quả nang, hạt nhỏ như hạt bạch đàn, cây họ đậu, nên sử dụng các loại  
bao vải để giữ được hạt rơi rụng khi vỏ quả tách ra trong quá trình vận chuyển.  
- Trường hợp quãng đường vận chuyển ngắn, thời tiết thuận lợi thì có thể để quả  
trực tiếp lên sàn xe, nhưng phải tránh chồng đống quá dày và làm dập nát quả.  
- Đối với loại quả mà hạt nhanh mất sức nảy mầm như: Sao đen, dầu nước...cần  
duy trì một độ ẩm nhất định tránh ánh sáng mặt trời trực xạ chiếu vào, giữ độ thông  
thoáng cần thiết, tránh nhiệt độ tăng cao. Trong thời gian vận chuyển, nên đựng quả  
trong túi Polyethylene, không đựng quá đầy, miệng túi phải được mở ra và xung quanh  
đục lỗ cho không khí dễ lưu thông.  
* An toàn lao động khi thu hái quả và hạt giống .  
Trước khi thu hái quả và hạt giống phải điều tra tình hình của quả và hạt.  
Bồi dưỡng nghiệp vụ an toàn lao động và phương pháp sử lý quả hạt sau thu hái  
cho người trực tiếp thu hái.  
- Kiểm tra dụng cụ trước khi thu hái.  
- Không uống rượu bia trước khi trèo cây.  
- Thắt dây an toàn.  
- Không trèo những cành khô, nhỏ mục và khi mưa to.  
- Trang bị đầy đủ đồ dùng bảo hộ lao động dụng cụ y tế, thuốc men để sơ cứu ban  
đầu khi xảy ra mất an toàn lao động.  
- Quả hạt thu hái về được nghiệm thu và để riêng từng lô.  
1.2. Chế biến quả lấy hạt  
1.2.1. Mục đích  
- Nhằm lấy hạt chắc, loại trừ tạp vật, hạt lép, giảm bớt trọng lượng trong bảo quản,  
kéo dài sức sống của hạt.  
1.2.2. Các phương pháp chế biến  
* Nguyên tắc chung của việc chế biến hạt giống là:  
- Tách hạt ra khỏi quả một cách nguyên vẹn  
- Làm hạt giống có độ sạch cao.  
- Duy trì một hàm lượng nước thích hợp cho hạt giống có thể kéo dài được tuổi  
thọ trong quá trình bảo quản.  
-Khi vận chuyển đến nơi chế biến, cần nhanh chóng đưa quả vào kho, tiến hành  
chọn lựa quả chín để có biện pháp xử lý kịp thời.  
14  
1.2.2.1. Ủ quả  
- Khi thu hái với số lượng lớn, không thể chỉ thu toàn quả chín mà bao gồm phần  
lớn số quả già nhưng chưa thật chín hoàn toàn. Vì vậy phải tiến hành chọn lựa quả chín  
để chế biến trước, còn quả chưa chín phải ủ một thời gian cho quả chín đều.  
- Quả được ủ thành từng đống (cao từ 30 – 40cm) trên nền nhà thông thoáng và có  
mái che, tránh nhiệt độ cao. Hàng ngày đảo trộn đều và chọn dần qảu chín để chế biến.  
Nhiệt độ trong phòng duy trì khoảng 25 - 350c, thấp hơn hoặc vượt quá giới hạn đó đều  
bất lợi cho quá trình chín của hạt.  
1.2.2.2. Tách hạt khỏi quả: Tuỳ theo từng loại quả mà áp dụng các phương pháp  
khác nhau để tách hạt ra khỏi quả.  
* Đối với loại quả khô như thông, bạch đàn, cây họ đậu  
+) Phơi nắng: Là phương pháp phổ biến nhất để tách hạt khỏi quả. Trải quả thành  
lớp mỏng trên sân (tốt nhất là trên vải, cót, nong, nia...) tuỳ theo kích thước từng loại hạt.  
Dưới tác dụng nhiệt của mặt trời và gió, quả mất dần nước, vỏ quả khô nẻ cho hạt rơi ra.  
Phương pháp này áp dụng cho hầu hết các loài cây có quả khô.  
Để đảm bảo chất lượng hạt giống và việc phơi tách hạt nhanh chóng, hiệu quả cao,  
cần chú ý một số điểm sau:  
- Hàng ngày đảo trộn nhiều lần cho các lớp quả khô đều và không khí dễ lưu  
thông.  
- Đối với loại hạt có dầu, tránh phơi khi nắng gắt và tránh trải quả trực tiếp trên  
sàn xi măng hấp thụ nhiệt quá cao.  
- Khi lượng nước trong quả còn cao thì nên hong quả dưới sàn che hoặc nắng nhẹ.  
- Hạt đã tách khỏi quả nên thu ngay để tránh ảnh hưởng của nhiệt độ cao. Những  
hạt tách ra trong một, hai nắng đầu hầu hết là hạt tốt, còn lại tách ra trong những nắng  
sau, phẩm chất kém hơn thường có nhiều hạt lép.  
- Cần bố trí đủ nhân lực và dụng cụ để khi cần thiết có thể che đậy được hoặc đưa hạt vào  
kho kịp thời, tránh mưa gió bất thường.  
+) Dùng lò sấy: dùng lò sấy có ưu điểm là có thể điều chỉnh được nhiệt độ, trên cơ  
sở đó rút ngắn được thời gian, bảo đảm an toàn cho việc chế biến, không phụ thuộc vào  
thiên nhiên, song tốn kém và khó sử dụng.  
Nguyên tắc chung của lò sấy là dẫn luồng không khí đã được sấy khô đến một  
nhiệt độ thích hợp, chi tiếp xúc với quả trong một thời gian cần thiết. Khi quả khô, nẻ,  
hạt tách ra thì đưa ra ngoài để tránh tiếp xúc quá lâu với luồng không khí nóng.  
- Tách lấy hạt bằng tay: Có một số quả, vì hạt không chịu đựng được nhiệt độ cao  
hoặc phơi nắng không tách thì sau khi hong hạt dưới bóng râm, dùng dao hoặc tay tách  
quả để lấy hạt. Phương pháp này thường sử dụng với quả bồ đề hoặc có thể áp dụng để  
tách lấy hạt Xà cừ, Giáng hương...  
15  
Bằng các biện pháp tác động trên, sau khi quả tách, một số hạt rơi ra, còn một số  
khác vẫn nằm lại trong vỏ quả. Vì vậy phải vò, chà xát hoặc đập nhẹ vào vỏ quả cho hạt  
rơi ra hết.  
* Đối với quả thịt (quả mọng và quả hạch)  
Cần nhanh chóng chế biến ngay sau khi quả chín để chống hiện tượng lên men,  
thối rữa làm hỏng hạt.  
- Dùng nước sạch ngâm cho lớp thịt quả mềm rữa ra, chà xát, rửa sạch, đãi lấy hạt.  
Sau đó hong hạt nơi râm mát, thoáng gió, đảo hạt thường xuyên rồi đem đi bảo quản  
hoặc gieo ươm. Tuỳ theo độ dai, cứng của lớp vỏ quả và thịt mà thời gian ngâm khác  
nhau.  
- Đối với loại quả kép (như hạt Mỡ), cần tách riêng quả đơn rồi mới ngâm, chà sát  
sạch lớp thịt khỏi hạt.  
1.2.2.3. Làm sạch hạt  
Sau khi hạt giống được tách khỏi quả, việc phân lập khỏi các tạp chất và các thành  
phần khác lẫn vào là việc phải làm trước tiên. Tạp chất bao gồm: hạt lép, cánh hạt (có  
một số loại hạt có cánh), mày hạt, cuống quả, mảnh lá, mảnh vỏ quả, mảnh hạt vỡ, hạt  
của các loài cây khác, sỏi, cát, xác sâu bọ vv...Mục đích của việc làm sạch hạt là để nâng  
cao độ tinh khiết (độ sạch) của hạt loại trừ mầm mống sâu, bệnh, nấm mốc thường ký  
sinh trên tạp vật.  
Tuỳ theo đặc tính của từng loại hạt, cũng như của các loại tạp chất lẫn trong đó,  
kích thước, hình dạng, trọng lượng riêng...mà áp dụng một số phương pháp sau để làm  
sạch hạt.  
- Vò xát cho cánh hạt và các tạp vật vỡ ra, có thể cho hạt vào túi vải hoặc bao gai  
rồi chà xát hoặc đập nhẹ.  
- Dùng rổ, giần, sàng để lọc.  
- Sẩy hạt bằng tay, dùng quạt hoặc gió tự nhiên.  
- Ngâm hạt trong chất lỏng (thường là nước sạch), hạt tốt thường chìm xuống  
dưới, hạt lép và tạp vật nhẹ thường nổi lên trên. Sau khi vớt hạt ra cần phải hong khô  
ngay. Phương pháp này thường áp dụng cho các loại quả thịt.  
1.2.2.4. Hàm lượng nước của hạt  
- Hàm lượng nước của hạt (độ ẩm của hạt ) là tỷ số phần trăm giữa trọng lượng  
nước chứa trong hạt và trọng lượng của hạt (khi chưa sấy).  
- Mỗi một loại hạt giống có một trị số hàm lượng nước thích hợp mà với trị số đó  
có thể duy trì được sức sống của hạt trong một thời gian dài nhất dưới dạng tiềm sinh  
(trong điều kiện nhiệt độ bảo quản thích hợp).  
- Đối với đa số các loại hạt, trị số đó trong khoảng 4-8%. Đối với các loại hạt ưa  
ẩm cần một độ ẩm cao hơn, trị số đó từ 20-50%.  
- Sau khi làm sạch, hạt được kiểm nghiệm hàm lượng nước. Nếu trị số đó cao hơn  
hoặc thấp hơn mức cần thiết thì phải điều chỉnh cho phù hợp. Nếu cao thì phải làm khô,  
16  
thông thường hạt được phơi dưới nắng, với nhiệt độ khoảng 35-400c hoặc hong hạt nơi  
thoáng gió, hoặc dùng chất hút ẩm, sẽ làm cho hàm lượng nước giảm đi. Ngược lại, nếu  
hạt quá khô, hàm lượng nước thấp hơn mức cần thiết thì phải làm ẩm hạt bằng cách phun  
sương, đảo hạt rồi hong nơi thoáng mát cho hạt hút ẩm đến giới hạn cần thiết.  
1.3. Kiểm tra phẩm chất hạt giống  
- Hạt giống có phẩm chất tốt là hạt có phẩm chất di truyền và phẩm chất gieo ươm  
tốt.  
- Phẩm chất di truyền là cơ bản, quyết định chiều hướng phát triển của cá thể thực  
vật sau này, nhưng lúc đầu phải thông qua phẩm chất gieo ươm thì mới thể hiện được.  
- Phẩm chất gieo ươm tốt mới cho sản lượng và chất lượng cây con cao. Chỉ tiêu  
quan trọng bậc nhất của phẩm chất gieo ươm là năng lực nảy mầm của hạt. Xác định  
được tỉ lệ nảy mầm chính xác chúng ta có thể định được mật độ gieo hợp lý và tạo điều  
kiện để nâng cao sản lượng và chất lượng cây con. Từ kết quả phân tích độ ẩm trong hạt,  
độ thuần của hạt, giúp ta xác định những biện pháp đúng đắn trong chuyên chở, cất trữ  
hoặc gieo ươm.  
Tóm lại, qua kiểm tra phẩm chất hạt giống giúp ta sử dụng hạt được hợp lý, chăm  
sóc ở vườn ươm được tốt hơn, cải tiến thu nhặt, cất trữ, xử lý và vận chuyển…vv. Góp ý  
kiến thiết thực cho đơn vị kinh doanh, sử dụng, tạo cơ sở vật chất tốt cho việc tăng sản  
lượng hạt giống cây rừng.  
1.3.1. Mục đích: Nhằm đánh giá chất lượng lô hạt, để có phương pháp bảo quản  
và sử dụng hợp lý.  
1.3.2. Phương pháp kiểm tra phẩm chất hạt giống  
1.3.2.1. Phương pháp cảm quan  
Quan sát bằng cảm giác để đánh giá chất lượng hạt. Cơ sở của nó là mối tương  
quan giữa nội bộ hạt và những biểu hiện bên ngoài như màu sắc, mùi vị, độ mềm, cứng...  
- Màu sắc: Khi nội bộ bên trong của hạt thay đổi thì màu sắc bên ngoài cũng thay  
đổi theo, hạt tốt thì màu tương đối sáng, bóng, nhưng khi chất lượng hạt kém thì màu  
sẫm, xỉn.  
- Mùi vị: Mỗi loại hạt có mùi vị đặc trưng, khi chất lượng hạt thay đổi thì mùi đặc  
trưng cũng thay đổi.  
Ví dụ: Hạt thông tốt thì có mùi thơm như mùi nhựa thông, nếu hạt xấu thì có mùi  
ẩm mốc. Hạt mỡ, bồ đề khi đã hỏng thì có mùi hắc, thối.  
- Độ cứng, mềm: Đa số các loại hạt khi còn tốt thì có vỏ cứng nhưng khi mất  
phẩm chất thì vỏ mềm nhũn.  
1.3.2.2. Phương pháp kiểm tra độ thuần của hạt (độ tinh sạch)  
- Độ thuần của hạt là tỷ lệ phần trăm giữa trọng lượng hạt thuần khiết so với trọng  
lượng mẫu kiểm tra.  
17  
Trọng lượng hạt thuần khiết (g)  
Độ thuần (%) =  
x 100  
Trọng lượng mẫu kiểm nghiệm (g)  
* Các bước tiến hành như sau:  
- Cân trọng lượng của mẫu kiểm nghiệm chính xác tới phần trăm gam.  
- Trải hạt lên kính, dùng panh phân chia mẫu kiểm nghiệm ra các phần sau:  
+ Hạt tốt: Hạt phát dục bình thường, hoàn chỉnh, không bị tổn thương.  
+ Hạt bỏ đi: Hạt vỡ nát, hạt bị sâu bệnh, hạt quá nhỏ, hạt lép.  
+ Tạp vật: Sỏi, cát, mảnh vụn, hạt cây khác...  
- Các phần trên được cân riêng từng loại rồi tính độ thuần theo công thức trên.  
Độ thuần là chỉ tiêu được phân tích trước tiên, và các chỉ tiêu được kiểm nghiệm  
sau đó đều sử dụng những hạt thuần khiết.  
1.3.2.3. Kiểm tra tỷ lệ nảy mầm của hạt  
Tỷ lệ nảy mầm là tỷ lệ phần trăm giữa số hạt nảy mầm so với số hạt kiểm nghiệm.  
- Lấy mẫu kiểm nghiệm: Lấy 400 hạt thuần chia ra làm 4 tổ, mỗi tổ 100 hạt. Sau  
khi xử lý, hạt của từng tổ được gieo riêng trên các loại giá thể có độ ẩm thích hợp như  
bông, cát, giấy thấm...đặt trong điều kiện thuận lợi nhất cho hạt nảy mầm.  
+ Ẩm độ của môi trường nảy mầm: 5-60%.  
+ Nhiệt độ trong phòng: 25-300C.  
+ Thông thoáng.  
+ Vô trùng.  
Hàng ngày kiểm tra, đếm số hạt đã nảy mầm ghi vào sổ.  
- Tiêu chuẩn hạt nảy mầm: Hạt được coi là nảy mầm khi rễ mầm dài bằng 2 lần  
chiều dài hạt trở lên.  
- Kỳ hạn nảy mầm: Là số ngày kể từ khi gieo hạt đến khi kết thúc nảy mầm. Ngày  
kết thúc nảy mầm là ngày mà sau đó 5 ngày số hạt nảy mầm thêm không quá 5%.  
- Thống kê, tính toán tỷ lệ nảy mầm, hạt lép, hạt thối, hạt chắc nhưng không nảy  
mầm (bằng cách bổ hạt xem phôi).  
- Tính tỷ lệ nảy mầm:  
Số hạt nảy mầm  
Tỷ lệ nảy mầm (%) =  
x 100  
Tổng số hạt kiểm nghiệm  
Tính riêng cho từng tổ rồi lấy trị số trung bình cộng của 4 tổ.  
1.4. Bảo quản hạt giống  
18  
1.4.1. Mục đích  
Bảo quản hạt giống nhằm duy trì sức sống của hạt, xử lý mầm mống sâu bệnh có  
trong hạt đảm bảo phẩm chất và số lượng hạt giống, chủ động cung cấp giống phục vụ kế  
hoạch trồng rừng.  
* Các nhân tố ảnh hưởng đến sức sống của hạt giống trong quá trình bảo quản.  
Bảo quản hạt giống là việc duy trì sức sống của hạt từ khi thu hoạch đến lúc gieo ươm.  
Hạt giống là một loại cơ thể sống. Giữa hạt và môi trường bên ngoài luôn luôn có  
hiện tượng trao đổi chất, thể hiện qua các hoạt động sinh lý. Hoạt động sinh lý của hạt  
phụ thuộc vào bản chất cấu tạo của từng loại hạt và chịu ảnh hưởng của môi trường bảo  
quản. Sự sống của phôi trong hạt biểu hiện rõ nhất vào quá trình hô hấp, tiêu hao chất dự  
trữ bên trong. Vì vậy, sau một thời gian bảo quản, trong lượng khô của hạt giảm dần, sức  
sống của hạt cũng giảm dần theo thời gian.  
Các loại hạt khác nhau có thành phần các chất dự trữ khác nhau, nên thời gian duy  
trì được khả năng sống cũng không giống nhau. Muốn duy trì sức sống hạt giống được  
lâu dài thì điều cơ bản phải khống chế được các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến quá  
trình hô hấp, sao cho hạt tiêu hao chất dự trữ ít nhất trong thời gian dài nhất, nghĩa là tạo  
ra một môi trường buộc hạt phải kéo dài thời gian ngủ cưỡng bức với cường độ hô hấp  
giảm tới mức tối thiểu.  
Ba nhân tố sinh tồn: Nhiệt độ, ẩm độ và điều kiện thoáng khí là những yếu tố có  
ảnh hưởng nhiều nhất đến sức sống của hạt giống trong quá trình bảo quản.  
1.4.1.1. Nhiệt độ  
Hoạt động hô hấp của hạt được thể hiện bằng phản ứng hóa học với sản phẩm tạo  
thành là khí Cacbonic (C02) và hơi nước. Khi nhiệt độ tăng thì cường độ hô hấp của hạt  
cũng tăng lên. Nhiệt độ làm tăng cường sự hoạt động của các men, đẩy mạnh quá trình  
chuyển hóa các chất dự trữ ở trong phôi. Do đó, nhiệt độ càng cao, hạt hô hấp càng  
mạnh, cho đến một giới hạn nhất định thì tế bào bị phân giải và hạt chết. Ngược lại, nếu  
nhiệt độ quá thấp thì các mô và tế bào trong hạt bị đông cứng lại, hạt cũng không hô hấp  
được nữa. Vì vậy, phải tìm ra giới hạn nhiệt độ nhất định, có lợi nhất đối với sức sống  
của hạt, sao cho trong phạm vi đó hạt vẫn hô hấp được với cường độ tối thiểu để duy trì  
sự sống lâu dài. Đối với đa số các loại hạt giống ( thông, bạch đàn, xà cừ, lát hoa, các loài  
keo vv...), giới hạn nhiệt độ thích hợp để bảo quản lâu dài là 0 - 50c.  
1.4.1.2. Ẩm độ  
- Ẩm độ của môi trường bảo quản có ảnh hưởng đến hàm lượng nước của hạt. Hạt  
giống có khả năng hấp thụ nước, khả năng này một mặt phụ thuộc vào bề mặt và sự cấu  
tạo bên trong của hạt, mặt khác phụ thuộc vào ẩm độ của môi trường xung quanh. Như  
vậy, ẩm độ của môi trường bảo quản tăng hạy giảm thì sẽ có một áp lực hơi nước cao hay  
thấp khiến cho nước có thể xâm nhập vào hạt hay từ hạt thoát ra ngoài, do đó làm cho  
hàm lượng nước của hạt tăng lên hay giảm đi. Nước làm cho các tế bào, các loại men  
hoạt động mạnh, tăng cường các quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ thành các chất  
đơn giản, vì vậy làm giảm sức sống của hạt.  
19  
- Do đó, sau khi chế biến, điều chỉnh hàm lượng nước của hạt tới một giới hạn  
thích hợp, trong quá trình bảo quản cần giữ hạt không tiếp xúc với không khí xung  
quanh. Đựng hạt trong chum, vại, bình gắn kín, tránh mở nắp khi chưa thật cần thiết.  
1.4.1.3. Điều kiện thoáng khí  
- Điều kiện thoáng khí ảnh hưởng đến phương thức hô hấp của hạt giống. Sản  
phẩm của quá trình hô hấp là C02 và hơi nước (hảo khí), còn khi hạt hô hấp yếm khí sẽ  
tạo ra rượu và axít.  
- Nếu nhiệt độ, ẩm độ của môi trường bảo quản cao, đặt hạt trong tình trạng yếm  
khí sẽ nhanh chóng làm giảm sức nảy mầm. Ngược lại, khi nhiệt độ, ẩm độ của môi  
trường bảo quản hạ thấp đến một giới hạn nhất định, đặt hạt trong tình trạng yếm khí sẽ  
có lợi cho sức sống của hạt.  
- Đối với các loại hạt bảo quản khô, sau khi điều chỉnh hàm lượng nước đến mức  
thích hợp, hạt được đựng trong chum, vại gắn kín (bên trong chứa một tỷ lệ C02, Nitơ  
thích hợp, hạn chế đến mức tối thiểu tỷ lệ Oxy, phía trên phủ một lớp Silicagel, tro bếp  
hoặc vôi bột hút ẩm) để trong kho có nhiệt độ 0 - 50c.  
- Ngoài ra, để hạn chế tỷ lệ Oxy trong bảo quản kín, người ta thường đổ đầy hạt  
giống vào chum, vại rồi gắn kín miệng lại.  
- Đối với loại hạt giống bảo quản ẩm, việc khống chế nhiệt độ và ẩm độ của môi  
trường xung quanh khó thực hiện được một cách tốt nhất thì nên giữ hạt ở môi trường  
ẩm, mát thông thoáng.  
* Một số phương pháp bảo quản  
Có 2 phương pháp bảo quản chính, đó là bảo quản khô và bảo quản ẩm. Tùy theo  
mục đích, thời gian bảo quản, đặc tính từng loại hạt và điều kiện cụ thể từng nơi mà áp  
dụng phương pháp bảo quản khác nhau.  
- Bảo quản khô, mát.  
- Bảo quản khô lạnh.  
- Bảo quản ẩm mát.  
- Bảo quản ẩm lạnh.  
Trong mỗi phương pháp, có loại để hạt hở, tiếp xúc với môi trường bảo quản, có  
loại được bịt kín, cách ly với không khí của môi trường bảo quản.  
1.4.2. Các phương pháp bảo quản  
1.4.2.1. Bảo quản khô  
- Hạt giống được phơi khô, tinh sạch, có hàm lượng nước từ 4 - 8%, cho vào túi  
Polyethylene, đựng trong chum, vại, bình, lọ, bên trên trải một lớp tro bếp, vôi bột để hút  
ẩm, gắn kín, đặt trong kho.  
Có 2 loại kho, tương ứng với 2 phương pháp bảo quản.  
+ Kho thông thường (bảo quản khô mát): Xây dựng ở nơi cao ráo, mát, thông  
thoáng. Các dụng cụ chứa hạt được xếp trên giá hoặc kê cao theo từng dãy. Trong kho có  
nhiều quạt, có nhiều cửa sổ để thông gió khi cần thiết.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 104 trang yennguyen 40861 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Nhân giống cây trồng - Nghề: Khuyến nông lâm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_nhan_giong_cay_trong_nghe_khuyen_nong_lam.pdf