Ứng dụng tiến bộ thử nghiệm sản xuất giống và nuôi thương phẩm lươn đồng (Monopterus albus) tại Quảng Ngãi

KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
ỨNG DỤNG TIẾN BỘ THỬ NGHIỆM SẢN XUẤT GIỐNG  
VÀ NUÔI THƯƠNG PHẨM LƯƠN ĐỒNG  
(MONOPTERUS ALBUS) TẠI QUẢNG NGÃI  
Chủ nhiệm dự án: KS. Võ Thành Nhân  
Cơ quan chủ trì: Trung tâm Giống tỉnh Quảng Ngãi  
Năm nghiệm thu: 2019  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Lươn đồng có giá trị dinh dưỡng, nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu cao nên nguồn lợi  
lươn đồng trong tự nhiên ngày càng suy giảm do bị khai thác quá mức.  
Do vậy, để phát triển nuôi lươn đồng thành đối tượng nuôi mới, chủ lực trong nuôi  
thủy sản nước ngọt tại địa phương, Trung tâm Giống tỉnh Quảng Ngãi thực hiện nhiệm vụ  
KHCN: “Ứng dụng tiến bộ thử nghiệm sản xuất giống và nuôi thương phẩm lươn đồng tại  
Quảng Ngãi” nhằm tạo ra nguồn giống lươn đồng tại chỗ đảm bảo chất lượng, cung cấp cho  
người nuôi, góp phần phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho người dân nhất là vùng nông  
thôn, miền núi và góp phần bảo vệ được nguồn lươn giống trong tự nhiên.  
II. MỤC TIÊU  
Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và khoa học để sản xuất thử nghiệm giống lươn đồng tại  
Quảng Ngãi nhằm chủ động tổ chức sản xuất giống tại địa phương để cung ứng cho người  
nuôi, hạn chế khai thác lươn trong tự nhiên, góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản.  
III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN  
1. Tiếp nhận công nghệ: Cán bộ kỹ thuật của dự án tiếp nhận đầy đủ nội dung 05  
chuyên đề kỹ thuật của quy trình sản xuất giống lươn đồng do Chi cục Thủy sản Vĩnh Long  
chuyển giao, gồm:  
- Chuyên đề 1: Kỹ thuật nuôi vỗ thành thục sinh dục, sinh sản áp dụng tại Quảng Ngãi.  
- Chuyên đề 2: Kỹ thuật thu trứng, ấp trứng áp dụng tại Quảng Ngãi.  
- Chuyên đề 3: Kỹ thuật nuôi lươn bột lên lươn hương áp dụng tại Quảng Ngãi.  
- Chuyên đề 4: Kỹ thuật nuôi lươn hương lên lươn giống áp dụng tại Quảng Ngãi.  
- Chuyên đề 5: Các giải pháp về quản lý chất lượng nước, phòng trị bệnh áp dụng tại  
Quảng Ngãi.  
Trên cơ sở tiếp nhận công nghệ và áp dụng vào thực tế sản xuất, Ban chủ nhiệm dự án  
dần hoàn chỉnh 05 chuyên đề áp dụng tại Quảng Ngãi có sự hiệu chỉnh, hoàn thiện lại cho  
phù hợp với điều kiện tự nhiên và khí hậu tại Quảng Ngãi.  
2. Kết quả sản xuất thử nghiệm giống Lươn đồng  
2.1. Địa điểm thực hiện  
Tại Trại Thực nghiệm sản xuất giống thủy sản Đức Phổ thuộc Trung tâm Giống tỉnh  
Quảng Ngãi. Địa chỉ: Xã Phổ Hòa, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.  
96  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
Quy trình kỹ thuật sản xuất áp dụng  
2.2. Công tác chuẩn bị  
2.2.1. Xây dựng bể nuôi lươn bố mẹ:  
Khu nuôi lươn bố mẹ được thiết kế nổi trên mặt  
đất, tổng diện tích xây dựng là: 200 m2, bao gồm 05  
bể nuôi, mỗi bể nuôi có diện tích 36 m2.  
Bể nuôi lươn có khung bể được làm bằng tre,  
đáy và thành bể lót bạt ny lông để giữ nước. Kích  
thước bể: 2,5m x 14,4m x 0,8m (Rộng x dài x cao).  
Đáy bể được đầm chặt, xung quanh thành bể dựng  
bao đất để giữ lớp môi trường bên trong nuôi lươn  
bố mẹ.  
Môi trường nuôi lươn bố mẹ trong bể là đất sắt  
pha bùn được bố trí thành 02 khối dọc theo 2 bên  
thành chiều dài bể nuôi có chiều cao 45-50 cm, rộng  
0,8 m, chính giữa là mương nước để ổn định nhiệt độ  
môi trường bể nuôi và nơi cho lươn ăn. Mỗi bể bố trí  
03 sàng ăn cho lươn bố mẹ.  
2.2.2. Xây dựng khu ấp trứng, ương nuôi bột và chuẩn bị công cụ, dụng cụ:  
Khu ấp trứng được tận dụng trong khu ương bột lên hương và các bể composite. Hệ  
thống bể ấp được bố trí trong nhà bao gồm hệ thống thiết bị ấp như máy sục khí và các phụ  
kiện kèm theo (ống dây dẫn khí, đá bọt, sục khí…), thau ấp, thùng lắng nước ấp trứng, …  
Bố trí nhà ương lươn bột có diện tích là 264m2.  
Thiết bị, công cụ, dụng cụ: Bể composite, test môi trường, các loại vợt, pipet, dây nylon  
làm giá thể, thau nhựa có đường kính từ 30 - 80 cm.  
2.2.3. Cải tạo bể nuôi:  
Trước khi đưa lươn bố mẹ vào nuôi vỗ, xử lý môi trường bể nuôi: Bón vôi canxi với  
liều lượng 3 kg/m3 đất, cấp nước vào bể ngâm từ 2 - 3 ngày, tháo xả nước (lập lại 3 lần). Sau  
đó cấp nước mới, ổn định môi trường và thả lươn, lương nước cấp vào bể nuôi thấp hơn mặt  
lớp đất trong bể 5 cm.  
Trên bề mặt bể nuôi bố trí lớp lá dừa để giữ độ ẩm và thả bèo trên mương nước để lươn  
trú ẩn khi ra khỏi hang kiếm ăn.  
Toàn bộ khu nuôi lươn bố mẹ che mát bằng lưới phong lan để giữ ổn định nhiệt độ môi  
trường và hạn chế ánh sáng.  
2.3. Tuyển chọn lươn bố mẹ, nuôi vỗ  
2.3.1. Tuyển chọn lươn bố mẹ, nuôi vỗ thành thục sinh dục:  
Trung tâm Giống tỉnh Quảng Ngãi đã phối hợp với Chi cục Thủy sản Vĩnh Long chọn  
mua 200 kg lươn bố mẹ từ các hộ nuôi thương phẩm, có quy cỡ: Lươn cái từ 70 – 100gr/con,  
lươn đực >150gr/con. Lươn có ngoại hình đẹp, cân đối, không dị tật, kiểm tra cơ quan sinh  
sản thấy buồng trứng phát triển tốt, kịp thời cho mùa vụ sinh sản.  
97  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
2.3.2. Chăm sóc và quản lý bể nuôi:  
Nuôi vỗ: Sử dụng thức ăn tươi sống là cá tạp các loại và thức ăn công nghiệp (>30%  
đạm), khẩu phần cho ăn: 3-5% trọng lượng thân.  
Thời điểm cho ăn: Cho ăn ngày 01 lần (4 - 5 giờ chiều), sau 2 giờ kiểm tra sàn ăn và  
vớt bỏ thức ăn thừa. Sàn ăn đặt nổi trên mặt nước để hạn chế thức ăn thừa.  
Bổ sung thêm men tiêu hóa, khoáng vi lượng, các loại vitamin vào thức ăn nuôi vỗ để  
tăng sức đề kháng, giúp cho lươn thành thục tốt. Định kỳ sử dụng chế phẩm sinh học để ổn  
định môi trường bể nuôi. Định kỳ 7 – 10 ngày thay nước bể nuôi bố mẹ. Thay đổi môi trường  
bể nuôi theo hướng kích thích điều kiện sinh thái thuận lợi bằng cách bơm phun nước tạo  
mưa giả, nâng cao mức nước trong bể nuôi 3 - 4 lần trong tháng để kích thích lươn sinh sản.  
Kiểm tra buồng trứng lươn mẹ: Sau thời gian nuôi 01 tháng, bắt lươn mẹ kiểm tra  
buồng trứng nhận thấy da bụng lươn cái mỏng, bụng hơi phình to do buồng trứng phát triển,  
lỗ sinh dục hơi dẹt và hồng. Khi nắm chặt thân lươn làm cho da bụng căng lên có thể nhìn  
thấy buồng trứng trong xoang bụng. Tiến hành mổ bụng lươn kiểm tra thấy buồng trứng phát  
triển ở nhiều giai đoạn khác nhau: Có trứng ở giai đoạn IV (trứng sắp đẻ), có trứng ở giai  
đoạn II - III.  
* Đánh giá kết quả nuôi vỗ:  
Đợt nuôi vỗ, sinh sản thứ 1 (Từ tháng 10/2016 – tháng 01/2017): Sau thời gian nuôi  
vỗ hơn 01 tháng, lươn bố mẹ thành thục sinh dục và tham gia sinh sản (tỉ lệ thành thục sinh  
dục đạt hơn 80%), lươn tham gia sinh sản; tiến hành thu trứng và thực hiện các công đoạn  
tiếp theo. Sau khi kết thúc đợt sinh sản thứ 1, chăm sóc đàn lươn theo chế độ nghỉ giữa 02  
đợt sinh sản. Sau đó đưa đàn lươn bố mẹ vào tiến hành nuôi vỗ thành thục sinh dục lần 2.  
Đợt nuôi vỗ, sinh sản thứ 2 (tháng 4 – 7/2017): Trại tiếp tục chăm sóc, quản lý đàn lươn  
bố mẹ theo kỹ thuật được thực hiện như đợt 1. Trong quá trình nuôi vỗ, áp dụng các giải  
pháp kích thích nước như tạo mưa giả, lươn bố mẹ thành thục sinh dục và sinh sản tốt hơn  
đợt 2 (tỉ lệ thành thục sinh dục đạt hơn 90%), lươn tham gia sinh sản.  
So sánh kết quả thành thục sinh dục của đàn lươn bố mẹ trong 02 đợt sản xuất, nhận  
thấy ở đợt sản xuất lần 2, tỷ lệ thành thục sinh dục của đàn lươn tốt hơn nhiều, nhờ nhiệt độ  
môi trường trong bể nuôi vỗ trong đợt thứ 2 cao hơn hơn đợt thứ 1 (bình quân 3-40C).  
2.4. Kết quả thu trứng, ấp trứng  
2.4.1. Thu trứng:  
Sau khi lươn mẹ bắt đầu đẻ trứng trong những tổ bọt, tiến hành dùng vợt thu trứng.  
Trứng sau khi được lươn mẹ đẻ ra môi trường ngoài, trứng bám vào những đám bọt do lươn  
đực tạo sẵn và trứng được thụ tinh tại đó.  
Phương pháp thu trứng: Dùng vợt nhỏ có mắt lưới mịn vớt những đám bọt có trứng,  
thao tác nhẹ tay để tránh làm vỡ trứng, vớt sát đáy của ổ trứng để thu tất cả trứng và ấu trùng  
mới nở nằm dưới đáy.  
Trứng sau khi thu được rửa với nước sạch, dùng vợt có mắt lưới mịn để rửa trứng, thao  
tác nhẹ nhàng. Rửa trứng xong, nhúng qua dung dịch nước muối 2% trong thời gian khoảng  
30 giây để sát khuẩn và rửa lại bằng nước sạch trước khi đưa vào ấp.  
98  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
2.4.2. Ấp trứng:  
Dụng cụ dùng để ấp trứng: Bể composite, thau chậu loại lớn có đường kính 80-100 cm.  
Vệ sinh, chà rửa dụng cụ ấp trứng bằng nước sạch, sau đó khử trùng bằng Iodin hoặc Formol  
nồng độ 30 ppm, trước khi cấp nước đưa trứng vào ấp.  
Mức nước trong bể ấp trứng từ 5 – 7 cm, bố trí sục khí để đảm bảo Oxy cho phôi phát  
triển. Mật độ ấp 50 - 100 trứng/l, chế độ thay nước 1 lần/ngày, tỷ lệ nở 70 - 90% tùy thuộc  
vào giai đoạn trứng thu được.  
Nước dùng để ấp trứng được lọc qua lưới không để các loại sinh vật có hại lọt vào bể  
ấp. Nguồn nước trước khi đưa vào sử dụng để ấp trứng và ương lươn giống được xử lý bằng  
hóa chất diệt khuẩn như Iodin, thuốc tím, Formol…, sau 48 – 72 giờ kể từ khi xử lý mới cấp  
vào dụng cụ ấp trứng. Quá trình ấp trứng cần quản lý môi trường nước bể ấp ổn định (nhiệt  
độ thích hợp nhất từ 28 - 300C; pH: 6,5 – 7,5; NH3: 0,0; - 0,05 mg/l; O2: 3 – 5 mg/l). Thường  
xuyên quan sát và vớt trứng ung (trứng có màu trắng đục) để nước ấp không bị ô nhiễm và  
làm hỏng những trứng khác. Thời gian từ khi trứng đẻ ra, thụ tinh đến khi nở ra lươn bột  
thông thường từ 6 - 7 ngày (với nhiệt độ bể ấp 28 – 300C). Tỷ lệ trứng nở dao động từ 70 -  
90% tùy thuộc nhiệt độ môi trường, chất lượng thu trứng. Sau khi nở, lươn bột ít vận động,  
nằm chìm dưới đáy. Chúng dinh dưỡng bằng khối noãn hoàn trong cơ thể, sau 01 tuần noãn  
hoàn tiêu hết, lươn bột có chiều dài 2 - 3 cm, bắt đầu di chuyển chủ động tìm bắt mồi xung  
quanh.  
* Đánh giá kết quả ấp trứng:  
- Đợt ấp trứng thứ 1: Số lượng trứng thu được qua các lần là: 150.000 trứng. Tuy nhiên  
do nhiệt độ trong bể ấp thấp, phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường bên ngoài nên ảnh hưởng  
đến tỉ lệ nở của trứng, chỉ đạt 70%. Trại thực hiện giải pháp che chắn kín khu bể ấp nhưng  
chỉ ổn định nền nhiệt độ dao động trong khoảng 22 - 250C. Số lượng lươn bột sau khi ấp đạt  
106.300 con.  
- Đợt ấp trứng thứ II: Số lượng trứng thu được qua các lần là: 121.615 trứng. Nhiệt  
độ trong bể ấp tại thời điểm này phù hợp, dao động từ 25 - 270C, tỉ lệ nở đạt 85%. Số lượng  
lươn bột sau khi ấp đạt 103.372 con.  
- So sánh qua 2 đợt thu và ấp trứng:  
+ Ở đợt thu trứng lần thứ 1, lượng trứng thu được khá nhiều ( khoảng 150.000 trứng)  
nhưng với nền nhiệt độ thấp ảnh hưởng nhiều đến tỷ lệ nở của trứng vì theo yêu cầu nhiệt  
độ phù hợp trong quá trình ấp trứng là: 28 - 300C, nhưng trong giai đoạn này, nền nhiệt dao  
động trong khoảng từ 22 - 250C nên làm trứng hư nhiều và thời gian ấp kéo dài hơn so với  
đợt thứ 2.  
+ Trong đợt sản xuất thứ 1, cán bộ kỹ thuật của dự án còn thiếu kinh nghiệm nên  
thường xuyên kiểm tra trứng, thấy tổ có trứng là tiến hành vớt trứng, số lượng trứng vớt thì  
nhiều nhưng vì trứng mới đẻ nên tổ trứng có màu trắng (trứng mới đẻ, trứng còn non), thời  
gian ấp kéo dài, tỷ lệ hư của trứng cũng cao hơn so với đợt 2. Trong đợt thứ 2, tiến hành lên  
lịch định kỳ từ 7 – 10 ngày, tiến hành vớt trứng nên số tổ trứng có màu trắng ít, phần lớn là  
những tổ trứng có màu vàng đậm, thời gian ấp ngắn hơn và tỷ lệ nở của đợt sản thu, ấp trứng  
đợt 2 cũng cao hơn nhiều so với đợt thứ 1.  
99  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
2.5. Ương từ lươn bột lên lươn hương  
Gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 (Từ tháng 12/2016-2/2017), mật độ ương 2.000 -3.000  
con/m2; Giai đoạn ương 2 (Thời gian từ 30-35 ngày), mật độ ương 1.500 -2.000 con/m2  
Triển khai ương trong 02 đợt, kết quả cụ thể như sau:  
Bảng 1: Kết quả ương nuôi từ lươn bột lên lươn hương.  
Chỉ tiêu theo thuyết  
Số lượng  
minh  
dự án  
Số lượng  
lươn hương  
thu được  
(con)  
Kết quả thực hiện  
lươn bột  
đưa vào  
ương  
Đợt ương nuôi  
Tỷ lệ  
sống  
(%)  
Trọng  
lượng thân  
(con/kg)  
Tỷ lệ  
sống  
(%)  
Trọng  
lượng thân  
(con/kg)  
(con)  
Đợt I  
(Tháng 12/2016  
– tháng 02/2017)  
40.470  
38,1  
5.000-6.000  
106.300  
50-60 5.000-6.000  
Đợt II  
(Tháng 6/2017  
tháng 7/2017)  
65.850  
63,7  
103.372  
5.000-6.000 50-60 5.000-6.000  
5.000-6.000  
Cộng  
209.672  
106.320  
50,9  
50-60 5.000-6.000  
Yếu tố thời tiết, nhiệt độ môi trường quyết định đến kết quả ương nuôi trong giai đoạn  
từ lươn bột lên lươn hương. Tại đợt ương nuôi thứ 1 nhiệt độ môi trường xuống thấp, dao  
động từ 22 ± 300C, lươn ăn ít, sức đề kháng yếu và tỷ lệ sống của đợt ương nuôi chỉ đạt  
38,1%, thấp hơn so với thuyết minh dự án (50-60%). Vì đối với lươn nhiệt độ phù hợp để  
sinh trưởng và phát triển ở khoảng 28 - 320C, nhưng trong đợt ương thứ 1, nền nhiệt độ thấp  
nên tỷ lệ sống thấp. Trong đợt ương nuôi thứ 2 nền nhiệt độ 28 ± 300C phù hợp với đặc điểm  
sinh trưởng của lươn, công tác ương nuôi thuận lợi, tỷ lệ sống đạt 63,7%.  
2.6. Ương nuôi lươn hương lên lươn giống  
Sau khi ương lươn bột lên lươn hương đạt chiều dài thân 5 – 7cm là kết thúc giai đoạn  
ương từ bột lên hương, chuyển sang giai đoạn ương từ hương lên giống.  
Ở đợt sản xuất thứ 1: Khi chuyển từ lươn hương sang ương lên lươn giống các yếu tố  
về môi trường sống phù hợp với điều kiện sinh thái cho lươn giống phát triển và phù hợp với  
qui trình trong chuyên đề 4 của đơn vị chuyển giao. Tỷ lệ sống trong giai đoạn ương nuôi  
này của đàn lươn đạt 61%.  
Ở đợt sản xuất thứ 2: Khi ương lươn hương lên lươn giống này bắt đầu vào mùa mưa  
nhưng nhiệt độ nước ương trong bể chứa xử lý và ương trong nhà có mái che nên không bị  
ảnh hưởng nhiều đến tốc độ sinh trưởng, phát triển của đàn lươn giống vì lươn đã lớn bên  
cạnh đó các yếu tố môi trường không có sự sai khác như nhiệt độ, pH, NH3 … so với giai  
đoạn ương trước đó.  
Qua 02 đợt sản xuất, tỷ lệ sống của lươn hương khi ương lên giống đảm bảo được yêu  
cầu. Trong quá trình ương, định kỳ 20 ngày tiến hành san thưa, phân đàn lươn để lươn phát  
100  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
triển đồng đều và ổn định, tránh trường hợp lươn lớn tranh ăn và nơi trú ẩn với lươn nhỏ làm  
cho lươn nhỏ không phát triển.  
Cần bổ sung Vitamin tổng hợp với liều dùng 5g/kg thức ăn, các loại chất khoáng và  
men tiêu hóa để kích thích lươn bắt mồi và tăng sức đề kháng cho lươn.  
2.7. Kết quả phòng và trị bệnh  
2.7.1. Phòng bệnh: Để tăng sức đề kháng và giảm nguy cơ phát sinh bệnh cho lươn  
giống, nhất là trong thời tiết bất lợi, cần thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh tổng hợp  
cụ thể như sau:  
- Áp dụng các giải pháp kỹ thuật về quản lý chất lượng nước  
+ Nước được bơm vào bể chứa, diệt khuẩn bằng Iodine hàm lượng (3-5ppm) và bố trí  
sục khí mạnh để giải phóng các khí độc NH3, H2S …  
+ Sau khi xử lý diệt khuẩn 24 giờ, bón vôi canxi (3-5ppm), dolomite (3-5ppm), khoáng  
vi lượng (5-10gam/m3) để tăng độ kiềm và độ pH trong nước, thực hiện trong 2 ngày liên  
tiếp để đạt ngưỡng thích hợp (pH: 7-8, kiềm: 70-80). Liều sử dụng điều chỉnh sau khi test  
kiểm tra các yếu tố môi trường cho phù hợp.  
+ Sử dụng EDTA hàm lượng 5 ppm để trung hòa nguồn nước.  
+ Bơm nước đã xử lý vào bể dự trữ dùng cho ương nuôi, tiếp tục lấy nước giếng khoan  
đưa vào bể xử lý, thực hiện các bước xử lý như trên.  
- Sử dụng đàn lươn bố mẹ cho sinh sản khỏe mạnh, không nhiễm mầm bệnh. Bằng con  
đường lây nhiễm theo trục dọc, những đàn bố mẹ mang mầm bệnh có thể tạo ra các đàn ấu  
trùng mang các mầm bệnh nguy hiểm đó, các loại mầm bệnh này có hoặc không gây bệnh ở  
giai đoạn ấu trùng nhưng có thể gây bệnh nghiêm trọng trong hồ nuôi sau này.  
- Sử dụng nguồn thức ăn tươi sống đảm bảo dinh dưỡng, không mang mầm bệnh. Cho  
ăn đúng liều lượng và đảm bảo đủ chất dinh dưỡng. Xác định chính xác khẩu phần thức ăn  
và cho ăn nhiều bữa trong ngày là biện pháp cần thiết để giảm chất thải hữu cơ trong ao nuôi  
thông qua giảm lượng thức ăn dư thừa và thức ăn bị phân giải ngoài môi trường nước ao.  
- Nâng cao sức đề kháng của vật nuôi phải đảm bảo đầy đủ các thành phần dinh dưỡng  
trong khẩu phần thức ăn: Vitamin, khoáng chất, các axit béo không no… Đặc biệt là trong  
quá trình ương nuôi ấu trùng lên con giống và các hình thức nuôi thâm canh. Xác định mật  
độ ương nuôi phù hợp. Hạn chế dùng kháng sinh và hóa chất trong sản xuất.  
2.7.2. Trị bệnh  
Trong suốt thời gian triển khai dự án, cán bộ kỹ thuật thực hiện tốt công tác phòng bệnh  
và quản lý tốt chất lượng nước ương nuôi, chăm sóc cho ăn đảm bảo dinh dưỡng nên lươn  
ương nuôi qua các giai đoạn không bị nhiễm các bệnh.  
3. Kết quả triển khai mô hình nuôi thương phẩm Lươn đồng  
Dự án đã sử dụng 70.000 con lươn giống sản xuất từ dự án triển khai nuôi thương phẩm  
tại 03 huyện Tư Nghĩa, Nghĩa Hành và Bình Sơn, với diện tích 01 mô hình: 40 m2, mật độ  
nuôi: 70 con/m2.  
Đợt 1 (Từ tháng 4/2017-11/2017): Thả 25.000 con lươn giống sản xuất tại 09 mô hình  
101  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
KỶ YẾU NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2016 - 2020  
nuôi thương phẩm (mỗi huyện 03 mô hình), với quy mô mỗi mô hình 2.780 con giống quy  
cỡ ≥15 cm.  
Đợt 2 (Từ tháng 12/2017-7/2018): Thả 45.000 con lươn giống sản xuất tại 16 mô hình  
nuôi thương phẩm (mỗi huyện 05 mô hình) với quy mô mỗi mô hình 2.815 con giống quy  
cỡ ≥15 cm.  
Kết quả, qua 8 tháng triển khai mô hình nuôi lươn thương phẩm, lươn phát triển tốt chỉ  
tiêu tỷ lệ sống đạt 80-90% đạt và vượt so với yêu cầu. Trọng lượng lương thương phẩm bình  
quân đạt 138g/con (đạt 92,5% kế hoạch). Sản lượng mô hình: 7.656 kg lươn thương phẩm  
(đạt 92,8% kế hoạch)  
4. Về hiệu quả kinh tế, xã hội của dự án  
- Về sản xuất giống lươn đồng: Doanh thu mô hình là 287.026.000 đồng; trong đó thu  
từ 70.000 con lươn giống, giá bán 4.000 đồng con, thu về 280 triệu đồng; thu từ Lươn bố  
mẹ sau khi hết khả năng sinh sản: 7.026.000 đồng sau khi trừ chi phí, lợi nhuận thu được  
khoảng 31 triệu đồng  
- Về nuôi lươn thương phẩm (tính cho 01 mô hình): Doanh thu mô hình là 40.740.000  
đồng. Sau khi trừ chi phí, lợi nhuận thu được khoảng 11 triệu đồng  
Thành công của dự án mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội rất lớn tại địa phương, góp  
phần đa dạng hóa đối tượng nuôi. Chủ động nguồn giống cung ứng cho nuôi trồng thủy sản,  
giảm áp lực khai thác thủy sản trong tự nhiên mang tính hủy diệt làm suy thoái nguồn lợi,  
góp phần vào công tác bảo vệ môi trường, nguồn lợi thủy sản ở địa phương.  
IV. KẾT LUẬN  
Qua thực hiện Dự án “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật thử nghiệm sản xuất giống và nuôi  
thương phẩm Lươn đồng tại Quảng Ngãi”, Trung tâm Giống đã tiếp nhận và ứng dụng thành  
công quy trình công nghệ để sản xuất giống lươn đồng tại địa phương. Qua tổ chức 02 đợt  
sản xuất giống lươn đồng tại Quảng Ngãi, sản phẩm thu được 70.000 con lươn giống, quy  
cỡ giống ≥15 cm/con, con giống sản xuất có chất lượng tốt, độ đồng đều cao, sử dụng được  
thức ăn công nghiệp và thích nghi nhanh với môi trường khi đưa ra nuôi thương phẩm.  
Với điều kiện thời tiết, khí hậu tại Quảng Ngãi, mùa vụ sản xuất giống phù hợp từ tháng  
12 năm trước đến tháng 6 năm sau. Mùa vụ thả giống nuôi thương phẩm phù hợp từ tháng  
4 đến tháng 8.  
Sau khi kết thúc dự án, Trung tâm Giống tiếp tục ứng dụng kết quả nghiên cứu, tổ chức  
sản xuất, đảm bảo cung ứng giống lươn đồng cho người nuôi tại Quảng Ngãi  
102  
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  
pdf 7 trang yennguyen 18740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng tiến bộ thử nghiệm sản xuất giống và nuôi thương phẩm lươn đồng (Monopterus albus) tại Quảng Ngãi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfung_dung_tien_bo_thu_nghiem_san_xuat_giong_va_nuoi_thuong_ph.pdf