Tài liệu đào tạo Sản xuất phân bón hữu cơ

HIỆP HỘI NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ VIỆT NAM  
TÀI LIỆU ĐÀO TẠO  
SẢN XUẤT PHÂN BÓN HỮU CƠ  
MÃ TÀI LIỆU: TL 04  
HÀ NỘI, 2017  
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN  
Bản quyền tác giả của các Tài liệu đào tạo về sản xuất nông nghiệp hữu cơ này  
thuộc về Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam.  
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể đƣợc phép  
dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.  
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh  
thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.  
MÃ TÀI LIỆU: TL 04  
BAN BIÊN TẬP:  
1. TSKH. Hà Phúc Mịch;  
2. PGS.TS. Lê Văn Hƣng;  
3. Ông Trần Ngọc Thanh;  
4. Bà Từ Thị Tuyết Nhung;  
5. Bà Đặng Thị Hƣờng.  
LỜI NÓI ĐẦU  
Bộ Tài liệu Đào tạo về sản xuất nông nghiệp hữu cơ này đƣợc biên soạn gồm 6 tài liệu  
với mục đích đào tạo giảng viên nông dân và ngƣời sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam.  
Bộ tài liệu đƣợc thực hiện do Ban quản lý Dự án MOAP “Dự án tăng cường cơ cấu sản xuất  
& Marketing sản phẩm nông nghiệp hữu cơ tại miền Bắc Việt Nam” do tổ chức Phát triển  
Nông nghiệp Châu Á-Đan Mạch (ADDA) tài trợ giai đoạn 2016-2019, thuộc Hiệp hội Nông  
nghiệp hữu cơ Việt Nam.  
Bộ Tài liệu do TS. Trần Thị Thanh Bình (trƣởng nhóm) cùng một số giảng viên thuộc  
Trƣờng cao đẳng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc bộ, Trƣờng Đại học Lâm nghiệp  
Xuân Mai biên soạn. Các giảng viên là những cán bộ đã đƣợc đào tạo từ dự án ADDA, trong  
giai đoạn 2005-2012.  
Bộ tài liệu gồm: 1. Trồng trọt hữu cơ;  
2. Chăn nuôi hữu cơ;  
3. Nuôi Thủy sản hữu cơ;  
4. Sản xuất phân bón hữu cơ;  
5. Ứng dụng chế phẩm sinh học và thuốc thảo mộc trong sản xuất hữu cơ;  
6. Marketing sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.  
Trong quá trình hoàn thiện Bộ Tài liệu này Ban Quản lý dự án đã nhận đƣợc các ý  
kiến góp ý quý báu của các chuyên gia: GS.TS. Phạm Tiến Dũng, Học viện Nông nghiệp Việt  
Nam; GS.TS. Phạm Thị Mỹ Dung, Học viện Nông nghiệp Việt Nam; GS.TS. Phạm Văn Lầm,  
Viện Bảo vệ thực vật; TS. Nguyễn Thị Ái Nghĩa, Học viện Nông nghiệp Việt Nam; PGS.TS.  
Đào Châu Thu, Học viện Nông nghiệp Việt Nam; PGS.TS. Bùi Thị Tho, Học viện Nông  
nghiệp Việt Nam; TS. Ngô Phú Thỏa, Viện Nuôi trồng thủy sản; PGS.TS. Trần Thị Nắng  
Thu, Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho việc hoàn thiện bộ tài liệu này.  
Để hoàn thiện Bộ Tài liệu này có sự tham gia đóng góp rất quan trọng của các thành  
viên, các chuyên gia của Ban quản lý Dự án MOAP thuộc Hiệp hội Nông nghiệp Việt Nam  
gồm: Ông TSKH. Hà Phúc Mịch; Ông PGS.TS. Lê Văn Hƣng; Ông Trần Ngọc Thanh; Bà Từ  
Thị Tuyết Nhung; Bà Đặng Thị Hƣờng.  
Thay mặt Ban quản lý dự án MOAP tôi xin gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo ADDA: Bà  
Arafa Ayoub Khatib và Ông Nguyễn Ngọc Hƣng đã luôn tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình  
thực hiện dự án và biên soạn Bộ Tài liệu này.  
Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các giảng viên, các chuyên gia đã  
giành thời gian và tâm huyết cho việc biên soạn và góp ý cho việc hoàn thành bộ Tài liệu Đào  
tạo sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam này.  
Đây là Bộ tài liệu của Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam lần đầu tiên đƣợc xuất  
bản cho việc đào tạo giảng viên nông dân và ngƣời sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam.  
Mặc dù, với sự cố gắng rất cao cho việc hoàn thiện bộ tài liệu của các tác giả, cùng các  
chuyên gia; nhƣng không tránh khỏi các thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận đƣợc các ý kiến  
góp ý của các chuyên gia và bạn đọc để tài liệu này đƣợc hoàn thiện trong lần xuất bản sau.  
Các ý kiến góp ý của các quý vị xin gửi về hộp thƣ: [email protected].  
Xin trân trọng cảm ơn./.  
CHỦ TỊCH HIỆP HỘI  
TM. BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN MOAP  
GIÁM ĐỐC DỰ ÁN  
TSKH. Hà Phúc Mịch  
GIỚI THIỆU VỀ TÀI LIỆU  
Phát triển tài liệu Sản xuất phân bón hữu cơ nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và  
kinh doanh sản phẩm hữu cơ. Đối tƣợng sử dụng là ngƣời nông dân, chủ các trang trại  
và học sinh nghề. Vì vậy, tài liệu cần kết hợp một cách khoa học giữa việc cung cấp  
những kiến thức lý thuyết với kỹ năng, thái độ nghề nghiệp. Trong đó, chú trọng xây  
dựng năng lực và các kỹ năng thực hiện công việc theo phƣơng châm dựa trên năng  
lực thực hiện.  
Tài liệu Sản xuất phân bón hữu cơ đƣợc phát triển dựa trên cơ sở nhu cầu sản  
xuất thực tế và đƣợc thiết kế theo cấu trúc của sơ đồ phân tích nghề. Tài liệu đƣợc kết  
cấu thành 5 chƣơng và sắp xếp theo trật tự lô-gíc nhằm cung cấp những kiến thức và  
kỹ năng từ cơ bản về Sản xuất phân bón hữu cơ.  
Sau khi đào tạo, ngƣời học có khả năng tự sản xuất đƣợc phân bón hữu cơ tại  
các THT/HTX, trang trại chăn nuôi, nhóm hộ gia đình, các chƣơng trình và dự án liên  
quan đến lĩnh vực liên quan đến sản xuất hữu cơ.  
Tài liệu Sản xuất phân bón hữu cơ gồm có 5 chƣơng.  
Chƣơng 1: Nguyên lý sử dụng phân bón trong nông nghiệp hữu cơ  
Chƣơng 2: Sản xuất phân hữu cơ bằng phƣơng pháp ủ -compost (Phân ủ)  
Chƣơng 3: Sản xuất phân trùn quế  
Chƣơng 4: Sản xuất phân hữu cơ từ thực vật (Phân xanh)  
Chƣơng 5: Sản xuất dung dịch dinh dƣỡng  
Việc phát triển tài liệu Sản xuất phân bón hữu cơ ở nƣớc ta là mới, vì vậy tài  
liệu còn nhiều hạn chế và thiếu sót. Nhóm phát triển tài liệu và tập thể các tác giả  
mong muốn nhận đƣợc sự đóng góp của các nhà khoa học, các nhà quản lý và các bạn  
đồng nghiệp để tài liệu đƣợc hoàn thiện hơn.  
Xin chân thành cảm ơn!  
Nhóm biên soạn  
1. Bùi Thị Cúc  
Giảng viên, Viện Quản lý đất đai và Phát triển nông thôn  
– Trƣờng Đại học Lâm nghiệp  
2. Trần Bình Đà  
Giảng viên, Viện Quản lý đất đai và Phát triển nông thôn  
– Trƣờng Đại học Lâm nghiệp  
3. Trần Thị Thanh Bình  
Giảng viên, Viện Quản lý đất đai và Phát triển nông thôn  
– Trƣờng Đại học Lâm nghiệp  
4. Lê Trung Hƣng  
Giảng viên, Trƣờng Cao đẳng Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn Bắc Bộ  
Cách trích dẫn tài liệu: Bùi Thị Cúc, Trần Bình Đà, Trần Thị Thanh Bình, Lê Trung  
Hƣng, (2017). Tài liệu sản xuất phân bón hữu cơ. Dự án Tăng cƣờng cơ cấu sản xuất  
& marketing sản phẩm nông nghiệp hữu cơ tại miền Bắc Việt Nam. ADDA và Hiệp  
hội Nông nghiệp hữu cơ.  
MỤC LỤC  
GIỚI THIỆU TÀI LIỆU SẢN XUẤT PHÂN BÓN HỮU CƠ  
Mã tài liệu: TL 04  
Tài liệu: “Sản xuất phân bón hữu cơ” có thời gian học tập là 60 tiết trong đó có  
30 tiết lý thuyết; 27 tiết thực hành và 3 tiết kiểm tra. Học phần này trang bị cho ngƣời  
học các kiến thức và kỹ năng nghề để thực hiện các công việc sản xuất phân bón hữu cơ.  
Học phần này đƣợc giảng dạy theo phƣơng pháp dạy học tích hợp giữa lý thuyết và  
thực hành, kết thúc học phần đƣợc đánh giá bằng phƣơng pháp trắc nghiệm và làm bài  
tập thực hành.  
CHƢƠNG 1. NGUYÊN LÝ SỬ DỤNG PHÂN BÓN  
TRONG NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ  
1.1. Khái niệm và lƣợc sử về phân bón và sử dụng phân bón  
1.1.1. Khái niệm  
Phân bón là "thức ăn" do con ngƣời bổ sung cho cây trồng. Trong phân bón  
chứa nhiều chất dinh dƣỡng cần thiết cho cây. Các chất dinh dƣỡng chính trong phân  
là: đạm (N), lân(P), và kali (K). Ngoài các chất trên, còn có các nhóm nguyên tố vi  
Phân bón đƣợc chia làm 3 nhóm chính: phân hữu cơ, phân hóa học (phân vô cơ)  
và phân vi sinh, với sự khác biệt lớn giữa chúng là nguồn gốc, chứ không phải là  
những sự khác biệt trong thành phần dinh dƣỡng.  
Khái niệm một số loại phân bón: Hiện nay theo phân loại phân bón của Bộ  
NN&PTNT có các loại phân bón nhƣ sau: Phân bón vô cơ, phân bón hữu cơ và phân  
bón khác.  
- Phân bón vô cơ: là loại phân đƣợc sản xuất từ khoáng thiên nhiên hoặc từ hoá  
học, trong thành phần có chứa một hoặc nhiều yếu tố dinh dƣỡng đa lƣợng, trung  
lƣợng, vi lƣợng, có các chỉ tiêu chất lƣợng đạt quy định quy chuẩn quốc gia. Trong đó:  
Dinh dưỡng đa lượng: các chất bao gồm đạm tổng số (Nts) hoặc P2O5 hữu hiệu  
hoặc K2O hữu hiệu ở dạng cây trồng có thể dễ dàng hấp thu đƣợc.  
Dinh dƣỡng trung lƣợng: bao gồm các chất Canxi (Ca), Lƣu huỳnh, Magie,  
Silic hữu hiệu ở dạng cây trồng có thể hấp thu đƣợc  
Dinh dƣỡng vi lƣợng bao gồm Bo, Coban, Đồng, Kẽm, Molipden, Sắt, Magan  
hữu hiệu để cây trồng có thể dễ dàng hấp thu đƣợc.  
- Phân hữu cơ là loại phân bón đƣợc sản xuất từ nguồn nguyên liệu hữu cơ, có  
các chỉ tiêu chất lƣợng đạt quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.  
- Phân bón khác là hỗn hợp của phân hữu cơ và phân vô cơ và các loại phân  
bón khác không thuộc hai loại trên bao gồm:  
Phân bón hữu cơ khoáng là loại phân bón đƣợc sản xuất ra từ nguyên liệu hữu  
cơ đƣợc bổ sung các yếu tố dinh dƣỡng khoáng có nguồn gốc hữu cơ.  
Phân bón hữu cơ vi sinh là loại phân bón hữu cơ đƣợc bổ sung ít nhất một loại  
vi sinh vật có ích.  
Phân bón sinh học là loại phân bón đƣợc sản xuất bằng công nghệ sinh học  
hoặc có nguồn gốc tự nhiên có chứa ít nhất một trong các chất có nguồn gốc sinh học  
sau: axít humic, axít fulvic, axít amin, vitamin hoặc các chất sinh học khác.  
Phân bón vi sinh vật là loại phân bón có ít nhất một loại vi sinh vật có ích.  
Phân bón có chất giữ ẩm là loại phân bón hữu cơ hoặc phân bón khác ở trên  
đƣợc phối trộn với chất giữ ẩm.  
Phân bón có chất tăng hiệu suất sử dụng là loại phân bón hữu cơ hoặc phân bón  
khác đƣợc phối trộn với chất làm tăng hiệu suất sử dụng, có tác dụng tiết kiệm lƣợng  
phân bón sử dụng ít nhất là hai mƣơi phần trăm.  
Phân bón có khả năng tăng miễn dịch cây trồng là loại phân bón hữu cơ hoặc  
phân bón khác có chứa chất làm tăng miễn dịch của cây trồng đối với các điều kiện  
ngoại cảnh bất thuận hoặc với các loại sâu bệnh hại.  
Phân bón cải tạo đất là loại phân bón chứa những chất có tác dụng cải thiện tính  
chất lý, hóa, sinh học của đất tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng sinh trƣởng, phát  
triển.  
Phân bón hữu cơ truyền thống là phân bón sản xuất ra có nguyên liệu nguồn  
gốc hữu cơ nhƣ: Phân của trâu bò, lợn, gà; các chế phẩm từ trang trại hữu cơ và các  
loại phân xanh.  
1.1.2. Lược sử về phân bón và sử dụng phân bón  
Các loại phân bón hữu cơ và một số loại phân bón khai thác vô cơ đã đƣợc sử  
dụng trong nhiều thế kỷ, trong khi các loại phân bón hoá học tổng hợp vô cơ chỉ đƣợc  
phát triển mạnh từ thời cách mạng công nghiệp. Sự hiểu biết và sử dụng tốt các loại  
phân bón là những thành phần quan trọng của cuộc Cách mạng Nông nghiệp Anh tiền  
công nghiệp và cuộc cách mạng xanh công nghiệp ở thế kỷ 20.  
Việc quản lý độ phì của đất đã đƣợc ngƣời dân quan tâm từ hàng ngàn năm  
trƣớc đây. Ai Cập, La Mã, Babylon và Đức là những quốc gia đầu tiên đƣợc ghi nhận  
là sử dụng khoáng sản và hoặc phân để nâng cao năng suất của các trang trại của  
họ. Việc sử dụng tro gỗ trên đồng ruộng nhƣ là một nguyên liệu sản xuất đã trở thành  
phổ biến.  
Phân bón đã đƣợc loài ngƣời sử dụng từ rất lâu đời (khoảng 3000 năm trƣớc).  
Loại phân mà loài ngƣời sử dụng khi đó là các phân hữu cơ động vật (phân chuồng)  
rồi sau mở rộng các loại phân hữu cơ khác (phân xanh và tàn tích hữu cơ).  
Đến khoảng 400 năm trƣớc công nguyên loài ngƣời biết vùi tàn thể thực vật để  
làm tốt đất.  
Théophrast (372 – 287 TCN) đã nêu biện pháp độn chuồng để giữ và nâng cao  
chất lƣợng phân chuồng. Théophrast đã sắp xếp phân chuồng theo thứ tự chất lƣợng  
giảm dần nhƣ sau: Ngƣời - Lợn - Dê - Cừu – Bò đực - Ngựa.  
Sang thế kỷ 18, nhà hóa học Justus von Liebig (1803-1873) đã góp phần rất lớn  
vào sự tiến bộ trong sự hiểu biết về dinh dƣỡng thực vật. Ông cũng là ngƣời đầu tiên  
đƣa ra thuyết dinh dƣỡng khoáng của thực vật vào năm 1840, thuyết này cho rằng:  
“Toàn bộ giới thực vật đều được nuôi dưỡng bằng các nguyên tố vô cơ hay nguyên tố  
khoáng. Phân hữu cơ không tác động trực tiếp đến cây qua các chất hữu cơ trong  
phân bón mà gián tiếp qua sản phẩm phân giải của chất hữu cơ”.  
Sau đó các nhà khoa học trên thế giới đã tham gia vào nghiên cứu và sản xuất ra  
các loại phân bón vô cơ từ các loại quặng thiên nhiên, từ các quá trình hóa học... và  
nền phân bón hóa học ra đời.  
Trên thế giới vào những năm 50 – 70 của thế kỷ XX nhiều nƣớc châu Âu không  
sử dụng phân hữu cơ vì chi phí vận chuyển cao, dinh dƣỡng ít. Còn ở Việt Nam thì do  
chi phí cho loại phân vô cơ quá cao nên chủ yếu vẫn là sử dụng phân hữu cơ.  
Tuy nhiên sau những năm 70 giá phân hóa học tăng cao, tác hại của phân hóa  
học với đất và môi trƣờng bắt đầu xuất hiện thì xu hƣớng sử dụng phân hữu cơ trong  
sản xuất nông nghiệp bắt đầu tăng lên. Ngƣời dân đã sử dụng phân hữu cơ nhiều hơn,  
hiệu quả hơn.  
Việc sử dụng phân hữu cơ trong sản xuất vẫn đƣợc ngƣời dân quan tâm và  
thƣờng sử dụng để bón lót. Loại phân sử dụng là các loại phân hữu cơ truyền thống  
nhƣ phân chuồng, của trâu, bò, lợn, gà,...  
Hiên nay,ngoài phân hữu cơ truyền thống,nhiều loại phân hữu cơ chế biến khác  
cũng đƣợc nghiên cứu và sản xuất nhiều hơn. Theo thống kê của Cục trồng trọt thì số  
lƣợng phân hữu cơ chế biến gồm phân hữu cơ khoáng, phân hữu cơ + hữu cơ sinh  
học, phân hữu cơ vi sinh và phân hữu cơ sinh vật. Hàng năm trung bình có từ 50 – 70  
loại phân hữu cơ chế biến đƣợc đƣa vào danh mục phân bón đƣợc phép sản xuất và  
kinh doanh tại Việt Nam.  
Thực tế sản xuất nông nghiệp hiện nay và những ảnh hƣởng đến chất lƣợng của  
nông sản, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, ảnh hƣởng của nền nông nghiệp thâm  
canh với môi trƣờng đất, nƣớc... thì xu thế tất yếu phải làm nông nghiệp an toàn, nông  
nghiệp xanh hay nền nông nghiệp thân thiện với môi trƣờng. Và nông nghiệp hữu cơ  
là xu thế và cũng là giải pháp cho sản xuất nông nghiệp bền vững hiện nay và tƣơng  
lai.  
1.2. Vai trò của của các nguyên tố dinh dƣỡng và phân bón trong nông nghiệp  
hữu cơ  
1.2.1. Vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng với cây trồng  
Cây có thể sử dụng đƣợc rất nhiều nguyên tố dinh dƣỡng, thậm chí là tất cả các  
nguyên tố có trong bảng tuần hoàn Mendelev. Tuy nhiên có 16 nguyên tố đƣợc coi là  
thiết yếu cho cây trồng. Đây là các nguyên tố dinh dƣỡng mà thiếu nó cây không hoàn  
thành đƣợc chu trình sống. Nó tham gia trực tiếp vào quá trình chuyển hóa vật chất  
trong cơ thể và các nguyên tố dinh dƣỡng này không thể thay thế đƣợc bởi bất kì  
nguyên tố nào khác. Các dinh dƣỡng khoáng thiết yếu gồm:  
Dinh dƣỡng đa lƣợng: C, H, O, N, P, K, S, Ca, Mg.  
Dinh dƣỡng vi lƣợng: Fe Mn B Cl Zn Cu Mo.  
Dinh dƣỡng đa lƣợng là “nguồn cung cấp chủ yếu” phần lớn lƣợng dinh dƣỡng  
đã đƣợc xác định cho cây trồng. Đối với nguyên tố cacbon (C), nitơ (N) và oxy (O) thì  
nguồn cung cấp chủ yếu từ khí quyển. Hơn 90% trọng lƣợng vật chất khô (nguyên liệu  
tạo nên thực vật gồm cả nƣớc) cấu thành nên cơ thể thực vật đƣợc lấy trực tiếp hay  
gián tiếp từ khí quyển (chẳng hạn nhƣ Nitơ). Các yếu tố dinh dƣỡng này có thể di  
chuyển và biến đổi nhanh trong môi trƣờng đất (nhƣ Nitơ biến đổi nhanh và chuyển  
hóa thành nhiều dạng khác nhau). Ngƣợc lại, các yếu tố dinh dƣỡng “có nguồn gốc từ  
đất" thì chúng có nguồn cung cấp tự có ở trong đất. Những dinh dƣỡng này gồm có  
Lân (P), Kali (K), Sunphua (S), Canxi (Ca), và đa số các khoáng “vi lƣợng” hay là  
“các nguyên tố dinh dƣỡng vi lƣợng” (là các dinh dƣỡng cây trồng yêu cầu chỉ một  
lƣợng rất nhỏ để chúng sinh trƣởng).  
Tùy theo vai trò của các nguyên tố dinh dƣỡng và nhu cầu của cây trồng mà  
ngƣời ta phân chia dinh dƣỡng thành từng nhóm. Trong khuôn khổ tài liệu này, chúng  
tôi chỉ đề cập tới nhóm dinh dƣỡng đa lƣợng là nhóm dinh dƣỡng thiết yếu mà cây  
trồng cần nhiều bao gồm Đạm (N), Lân (P), Kali (K).  
N (Đạm)  
Đạm là chất dinh dƣỡng rất cần thiết và rất quan trọng đối với cây, Đạm cần  
cho cây trong suốt quá trình sinh trƣởng đặc biệt là giai đoạn cây tăng trƣởng mạnh, và  
các loại cây ăn lá. Đạm là nguyên tố chủ chốt tham gia vào thành phần chính của  
clorophin, protit, các axit amin, các enzym và nhiều loại vitamin trong cây. Đạm thúc  
đẩy cây tăng trƣởng, đâm nhiều chồi, cành lá, làm lá có kích thƣớc to, màu xanh, lá  
quang hợp mạnh giúp làm tăng năng suất.  
Khi thiếu Đạm, cây sinh trƣởng phát triển kém, cây cằn cỗi, màu sắc lá bị biến  
đổi do diệp lục không hình thành. Các lá phía dƣới chóp lá chuyển màu vàng lan rộng  
theo gân lá. Cây thiếu Đạm, đẻ nhánh và phân cành kém, hoạt động quang hợp và tích  
lũy giảm sút nghiêm trọng, dẫn tới suy giảm năng suất.  
Thừa Đạm sẽ làm cây sinh trƣởng quá mạnh, do thân lá tăng trƣởng nhanh  
nhƣng các mô cơ giới rất yếu, dễ lốp đổ, dễ bị sâu bệnh tấn công. Ngoài ra khi thừa  
Đạm, sẽ tồn dự trong sản phẩm con ngƣời ăn vào sẽ gây tác hại lớn tới sức khỏe con  
-
ngƣời. Nếu sản phẩm tồn dƣ Đạm ở dạng NO3 thì chúng sẽ vào ruột non và mạch  
máu, sẽ làm mất tế bào máu, mất khả năng vận chuyển oxy. Còn nếu tồn dƣ ở dạng  
-
NO2 , chúng sẽ kết hợp với axit amin thứ cấp tạo thành chất Nitrosamine - là một chất  
gây ung thƣ rất mạnh.  
P (Lân)  
Lân có vai trò quan trọng trong đời sống của cây trồng. Lân rất cần cho sự hình  
thành các bộ phận mới của cây. Lân kích thích sự phát triển bộ rễ, làm rễ ăn sâu vào  
trong đất và lan rộng ra chung quanh giúp cây hút đƣợc nhiều chất dinh dƣỡng, tạo  
điều kiện cho cây khỏe ít đổ ngã. Ngoài ra Lân kích thích quá trình đẻ nhánh, nảy chồi,  
thúc đẩy ra hoa và quả. Lân làm tăng đặc tính chống chịu của cây đối với các yếu tố  
không thuận lợi, chống rét, chống hạn, chịu độ chua của đất, chống một số loại sâu  
bệnh hại. Đối với cây họ đậu, Lân thúc đẩy khả năng cố định đạm của vi sinh vật cộng  
sinh.  
Khi thiếu Lân, làm chậm quá trình phát triển của cậy đặc biệt trong quá trình  
hình thành cơ quan sinh sản. Lá cây ban đầu có màu xanh đậm, sau chuyển màu vàng,  
hiện tƣợng này bắt đầu từ các lá phía dƣới trƣớc, và từ mép lá vào trong. Cây lúa thiếu  
Lân làm lá nhỏ, hẹp, đẻ nhánh ít, trỗ bông chậm, chín kéo dài, nhiều hạt xanh, hạt lép.  
Cây ngô thiếu Lân sinh trƣởng chậm, lá có màu lục rồi chuyển màu huyết dụ.  
Thừa lân không có biểu hiện gây hại nhƣ thừa Nitơ vì Lân thuộc loại nguyên tố  
linh động, nó có khả năng vận chuyển từ cơ quan già sang cơ quan còn non.  
K (Kali)  
Kali có vai trò chủ yếu trong việc chuyển hoá năng lƣợng trong quá trình đồng  
hoá các chất trong cây về cơ quan tích lũy nhƣ quả, củ. Nó làm tăng phẩm chất nông  
sản, làm tăng lƣợng đƣờng trong quả và giúp quả có màu sắc tƣơi đẹp, hƣơng vị thơm  
ngon và tăng khả năng bảo quản. Kali cần thiết cho mọi loại cây trồng, nhƣng quan  
trọng nhất đối với nhóm cây chứa nhiều đƣờng hay tinh bột nhƣ lúa, ngô, mía, khoai  
tây ... Bón Kali sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng Nitơ và Lân.  
Điều đặc biệt là Kali có vai trò quan trọng trong việc tạo lập tính chống chịu  
của cây trồng với điều kiện bất thuận (hạn, rét), ít đổ ngã, cũng nhƣ tính kháng sâu  
bệnh, vì vậy nếu thiếu Kali sẽ làm những chức năng này suy giảm đi.  
Biểu hiện rất rõ khi thiếu Kali là lá hẹp, ngắn, xuất hiện các chấm đỏ, lá dễ héo  
rũ và khô. Cây lúa thiếu Kali sinh trƣởng kém, trỗ sớm, chín sớm, nhiều hạt lép lửng,  
mép lá về phía đỉnh biến vàng. Ngô thiếu Kali làm đốt ngắn, mép lá nhạt dần sau  
chuyển màu huyết dụ, lá có gợn sóng.  
Thừa Kali cây sinh trƣởng kém, thấp lùn, làm cho sự hình thành và chín của  
quả hạt sớm hơn nhƣng hạt quả nhỏ bé.  
Khi tất cả lƣợng phân ủ và vật liệu thực vật từ cây phân xanh không đủ đáp  
ứng, các đầu vào khác có thể đƣợc sử dụng để hỗ trợ nhƣ phân vi sinh, đá phốt phát  
(lân tự nhiên) và phân bón dung dịch. Tuy nhiên các đầu vào này không bao giờ đƣợc  
sử dụng thay thế cho phân ủ và các cây phân xanh.  
1.2.2. Vai trò của phân bón trong nông nghiệp hữu cơ  
Trong nông nghiệp hữu cơ việc sử dụng phân bón cho cây trồng cần tuân thủ  
nguyên tắc nghiêm ngặt. Các loại phân sử dụng chủ yếu là phân hữu cơ và các loại  
phân khoáng tự nhiên, dung dịch dinh dƣỡng… Do đó, nội dung này chúng tôi đề cập  
chủ yếu là vai trò của phân hữu cơ, phân khoáng tự nhiên và các dung dịch dinh dƣỡng  
đối với cây trồng, đất trồng.  
1.2.2.1. Vai trò của phân hữu cơ  
Trong nông nghiệp hữu cơ, phân hữu cơ là phân bón chính đƣợc sử dụng nên  
phân hữu cơ có ý nghĩa rất quan trọng. Phân hữu cơ có ý nghĩa với đất, môi trƣờng và  
cây trồng.  
a) Vai trò phân hữu cơ đối với đất  
- Phân hữu cơ có tác dụng cải tạo tính chất của đất.  
Do tác dụng chậm nên sau khi bón phân hữu cơ vào đất một lƣợng dinh dƣỡng  
đƣợc khoáng hóa và cung cấp cho cây và một lƣợng đáng kể đƣợc để lại trong đất, đặc  
biệt là Đạm.  
Phân hữu cơ là nguồn bổ sung mùn không thể thay thế cho đất trong khi bón  
phân khoáng không có khả năng bổ sung hoặc làm ổn định lƣợng mùn trong đất.  
Phân hữu cơ còn có tác dụng: Cải tạo hàm lƣợng chất hữu cơ cho đất do có quá  
trình mùn hoá của phân hữu cơ và các tàn dƣ do cây trồng.  
Trong quá trình phân giải của phân hữu cơ trong đất, giải phóng ra nhiều axit  
H2CO3, có khả năng hoà tan đƣợc các chất dinh dƣỡng khó tan trong đất, để cung cấp  
dinh dƣỡng cho cây.  
Chất hữu cơ do phân hữu cơ phân giải ra còn có khả năng kết hợp với các chất  
dinh dƣỡng khoáng hoà tan thành các phức hệ hữu cơ - vô cơ, có tác dụng làm giảm  
khả năng rửa trôi các chất dinh dƣỡng này. Đồng thời hạn chế việc hấp thụ các nguyên  
tố kim loại nặng vào cây, nên có tác dụng hạn chế sản phẩm nông nghiệp bị "nhiễm  
bẩn kim loại nặng". Đây cũng là một trong những căn cứ có cơ sở khoa học cho việc  
khuyến cáo sử dụng nhiều phân hữu cơ trong sản xuất rau.  
Do mùn mà phân hữu cơ tạo ra có tác dụng nhƣ chất xi măng gắn kết các hạt  
đất đồng thời làm giảm khả năng thấm ƣớt, khiến cho kết cấu đất bền vững hơn trong  
nƣớc. Bón phân hữu cơ sẽ làm tăng độ ổn định của kết cấu đất, bảo vệ đƣợc cấu trúc  
đất, chống lại sự xói mòn đất.  
Đồng thời có ảnh hƣởng tốt tới các tính chất vật lý khác của đất nhƣ: giữ ẩm  
đất, điều tiết chế độ nhiệt của đất ổn định với nhiệt độ không khí, cải thiện chế độ  
không khí trong đất  
- Phân hữu cơ cải tạo đặc tính sinh học của đất.  
Bón phân hữu cơ vào đất, tạo điều kiện cho tập đoàn vi sinh vật (VSV) đất phát  
triển mạnh, do tác dụng cung cấp thức ăn cho VSV ở thể khoáng và nguồn chất năng  
lƣợng là các chất hữu cơ. Một số phân hữu cơ nhƣ: phân chuồng gia súc, phân gia cầm  
có chứa nguồn VSV rất đa dạng và phong phú, nên khi bón các phân này vào đất còn  
có tác dụng làm tăng nhanh số lƣợng VSV, đặc biệt là các VSV có ích cho đất. Một số  
hoạt chất sinh học đƣợc hình thành trong phân hữu cơ (chất kích thích sinh trƣởng,  
kháng sinh....) cũng tác động tới sinh trƣởng và trao đổi chất của cây.  
b) Vai trò phân hữu cơ cung cấp dinh dƣỡng cho cây:  
- Cung cấp các chất dinh dƣỡng khoáng cho cây trồng: Trong thành phần của  
phân hữu cơ có chứa đa dạng về chủng loại các chất dinh dƣỡng: từ đa lƣợng, trung  
lƣợng đến vi lƣợng. Nhƣng hàm lƣợng các chất dinh dƣỡng có chứa trong phân hữu cơ  
rất thấp (<1%) đối với mỗi yếu tố dinh dƣỡng, kể cả các chất đa lƣợng. Hệ số sử dụng  
các chất dinh dƣỡng có trong phân hữu cơ của cây trồng ở vụ đầu thƣờng không cao,  
đặc biệt đối với yếu tố dinh dƣỡng N. Việc cung cấp dinh dƣỡng cho cây trồng chậm  
và bấp bênh do phụ thuộc nhiều vào sự phân giải của VSV, mà điều kiện để chúng  
hoạt động không phải lúc nào cũng thuận lợi.  
Một số loại phân hữu cơ có khả năng cung cấp dinh dƣỡng cho cây trồng ngay  
ở vụ đầu tốt hơn nhƣ: phân gia cầm, phân xanh (do các dạng phân này có tỷ lệ dinh  
dƣỡng khá cao đồng thời có khả năng nhanh chóng phân giải các chất dinh dƣỡng để  
cung cấp cho cây trồng).  
- Vai trò cung cấp khí CO2 cho cây của phân hữu cơ: Cây trồng trong quá trình  
quang hợp, ngoài các chất dinh dƣỡng khoáng còn hấp thụ một lƣợng khí CO2 rất lớn  
nên bón phân hữu cơ có tác dụng cung cấp CO2 cho cây trồng, càng bón nhiều càng  
tạo ra nhiều nguồn CO2 cho cây (vì dƣới tác động của VSV các loại phân hữu cơ đƣợc  
phân giải và tạo ra nhiều khí CO2, làm giàu nguồn khí này cho phần khí của đất và lớp  
không khí sát mặt đất), kết quả cải thiện nguồn dinh dƣỡng khí cho cây đặc biệt là đối  
với những cây trồng cần nhiều CO2.  
c) Vai trò phân hữu cơ trong vòng tuần hoàn vật chất tự nhiên và bảo vệ môi  
trƣờng: Bón phân hữu cơ là hình thức can thiệp tích cực của con ngƣời vào vòng tuần  
hoàn trong tự nhiên. Vì phần lớn các chất dinh dƣỡng đƣợc cây trồng hút từ đất, phân  
bón và khí quyển (thông qua cây bộ đậu). Những sản phẩm của các cây trồng ấy đƣợc  
sử dụng làm thức ăn cho chăn nuôi và ngƣời. Sau đó lại bị thải một phần khá lớn ra  
ngoài theo phân chuồng gia súc, phân gia cầm...Vì vậy cùng với việc bón phân  
khoáng, bón các loại phân hữu cơ cho cây trồng là trả lại đáng kể các chất mà cây  
trồng lấy đi từ đất, giàm việc sử dụng phân khoáng và khả năng huỷ hoại đất.  
Các loại phân hữu cơ (phân chuồng, phân gia cầm, phân rác...) còn là các chất  
phế thải của các hoạt động sống của con ngƣời. Nếu các loại phân này không đƣợc xử  
lý một cách khoa học và hợp lý sẽ gây ô nhiễm môi trƣờng. Việc sử dụng chúng thành  
phân hữu cơ trong nông nghiệp, còn là biện pháp xử lý nguồn gây ô nhiễm môi trƣờng  
rất hợp lý, hiệu quả đối với toàn xã hội.  
1.2.2.2. Vai trò của phân khoáng tự nhiên  
Nguyên tắc: Các loại khoáng tự nhiên đƣợc xử lý bằng các biện pháp cơ học vật  
lý và nhiệt độ để sản xuất thành phân bón thì đƣợc sử dụng trong sản xuất nông nghiệp  
hữu cơ  
Các loại phân khoáng tự nhiên đƣợc sử dụng trong nông nghiệp hữu cơ nhằm  
bổ sung dinh dƣỡng mà phân hữu cơ không đủ đáp ứng nhu cầu của cây. Ngoài ra một  
số loại khoáng có tác dụng cải tạo tính chất của đất nhƣ độ chua, mặn... Các loại  
khoáng đƣợc sử dụng từ các danh mục đã đƣợc phê chuẩn – những loại khoáng này  
phải đƣợc chứng nhận hữu cơ hoặc đƣợc cho phép sử dụng trong Tiêu chuẩn hữu cơ  
quốc gia Việt Nam (TCVN). Ví dụ: đá khoáng phot phát (lân) có thể sử dụng với điều  
kiện phải nghiền thật nhỏ trƣớc khi bón vào đất.  
1.2.2.3. Vai trò của dung dịch dinh dưỡng  
Bên cạnh phân hữu cơ, các chất khoáng tự nhiên thì dung dịch dinh dƣỡng hữu  
cơ là nguồn đầu vào quan trọng và cần thiết trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ.  
Dung dịch dinh dƣỡng đƣợc sử dụng để làm tăng thêm độ màu mỡ cho đất, là  
nguồn cung cấp các chất dinh dƣỡng bổ sung qua lá cho cây trồng, sử dụng trong quản  
lý các loại dịch hại cây trồng. Bên cạnh đó dung dịch dinh dƣỡng tự nhiên này cũng có  
ý nghĩa rất lớn trong chăn nuôi nhƣ khử mùi, chuyển hóa chất thải chăn nuôi thành đất  
trong chuồng trại và vật nuôi có thể vẫn có thể hoạt động trong chuồng mà không bị  
ảnh hƣởng bởi các chất thải nhƣ phân, nƣớc tiểu hay thức ăn thừa.v.v.  
Chính nhờ tác dụng này mà các dung dịch dinh dƣỡng đƣợc sử dụng phổ biến  
trong sản xuất nông nghiệp nói chung và nông nghiệp hữu cơ nói riêng ở rất nhiều  
quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.  
1.3. Nguyên tắc sử dụng phân bón trong nông nghiệp hữu cơ  
Để đạt năng suất cây trồng cao, chất lƣợng tốt, hiệu quả sản xuất cao đồng thời  
bảo vệ đƣợc đất trồng thì trong bón phân cho cây trồng cần tuân thủ các nguyên tắc  
bón phân. Đây cũng chính là những công việc rất cần phải làm để quản lý độ phì nhiêu  
đất trong các hệ thống canh tác khác nhau.  
Các nguyên tắc bón phân trong nông nghiệp hữu cơ cũng không nằm ngoài  
nguyên tắc chung của nông nghiệp hữu cơ nhƣ đã trình bày trong Tài liệu Trồng trọt  
hữu cơ, trong đó có hai nguyên tắc liên quan đến sử dụng phân bón là: Khép kín chu  
trình dinh dƣỡng, duy trì và tăng độ phì nhiêu của đất.  
Khép kín chu trình dinh dưỡng  
Trong canh tác hữu cơ nhấn mạnh chu trình khép kín với việc sử dụng các  
nguồn lực bên trong hơn là các nguồn đầu tƣ bên ngoài. Việc trả lại dinh dƣỡng cho  
đất rất hạn chế sử dụng phân bón hóa học, chỉ sử dụng khi thật cần thiết ở những nơi  
đất xấu và dinh dƣỡng bị thiếu hụt quá lớn. Việc trả lại dinh dƣỡng cho đất, khôi phục  
độ phì nhiêu của đất chủ yếu bằng nguồn hữu cơ. Nguồn hữu cơ này đƣợc hình thành  
từ sinh khối của các loài thực vật và sinh vật trong hệ sinh thái .v.v…trả lại nguồn dinh  
dƣỡng cho đất.  
Trong hộ sản xuất, chu trình dinh dƣỡng đƣợc khép kín với sự hỗ trợ của ủ  
phân, che phủ đất, trồng cây phân xanh, luân canh .v.v.. Động vật nuôi trong hộ nông  
dân đóng một vai trò quan trọng trong chu trình dinh dƣỡng. Phân của chúng có giá trị  
cao và có thể sử dụng là nguồn dinh dƣỡng tái sinh với điều kiện là phải đƣợc phối  
hợp cùng với cỏ, vật liệu xanh, rơm rạ khô. Nếu quản lý cẩn thận, tổn thất dinh dƣỡng  
từ sự lắng lọc, xói mòn và bay hơi có thể giảm tới mức tối thiểu. Tái chế dinh dƣỡng  
làm giảm bớt sự phụ thuộc các đầu vào từ bên ngoài và giúp tiết kiệm chi phí. Tuy  
nhiên, nông dân cần phải tìm cách này hay cách khác để bù đắp lại lƣợng dinh dƣỡng  
bị lấy đi khỏi trang trại qua các sản phẩm đƣợc bán ra.  
Tuy nhiên các nguồn nguyên liệu hữu cơ hay khoáng tự nhiên từ bên ngoài  
trang trại, vùng sản xuất hữu cơ đƣa vào cũng cần tuân thủ các quy định nghiêm ngặt  
theo danh mục các vật tƣ cho phép tại phụ lục của Tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam  
(TCVN) hoặc theo tiêu chuẩn sản xuất hữu cơ mà nhà sản xuất cần có đƣợc chứng  
nhận sản phẩm hữu cơ của bên thứ 3, PGS, IFOAM, USDA.v.v…  
Sử dụng các nguyên liệu đầu vào cần đảm bảo các điều kiện sau:  
* Phân động vật: Về nguyên tắc là tất cả phân động vật phải đƣợc ủ nóng hoặc  
để lâu cho thật khô đi trƣớc khi sử dụng.  
Phân gà và các loại phân động vật khác lấy từ các trại nuôi thƣơng mại không  
đƣợc phép sử dụng.  
Trong gia đình hoặc trang trại của mình có chăn nuôi thì ngƣời nông dân phải  
thu gom phân động vật mà mình đang nuôi để sử dụng làm phân hữu cơ.  
Có thể sử dụng phân động vật chăn thả tự nhiên từ bên ngoài trang trại của  
mình (nếu nhƣ đã đƣợc ủ nóng hoặc để khô ngấu).  
* Tro gỗ: Chỉ đƣợc dùng tro từ gỗ (không phải than củi) để làm nguồn kali (K).  
Tốt nhất là thƣờng xuyên dùng một lƣợng nhỏ vì K ngấm xuống đất ẩm rất nhanh. Nếu  
cất trữ tro thì phải che đậy vì nếu nƣớc mƣa vào sẽ làm K tan rất nhanh. Tốt nhất là  
trộn tro với phân ủ thành phẩm để tránh làm tăng độ pH đất.  
* Phân ủ: Vật tƣ đầu vào để làm phân ủ phải đƣợc thu gom từ chính trang trại.  
Không đƣợc dùng rác thải đô thị. Có thể lấy các loại vật tƣ đầu vào từ bên ngoài nhƣ  
rơm, vỏ trấu, cây xanh, phân động vật và vỏ hạt cà phê. Phân ủ nóng có khoảng từ 10  
– 20% phân chuồng cộng với cây xanh và một ít rơm hoặc vật liệu tƣơng tự. Đống ủ  
cần đƣợc nóng lên tới > 60 °C trong 8-15 ngày và khi nó bắt đầu nguội đi thì cần phải  
đảo lên rồi ủ tiếp. Phân ủ có thể đƣa vào sử dụng khi thấy có giun xuất hiện trong hỗn  
hợp phân.  
Đƣợc phép dùng chất kích hoạt phân ủ EM (vi sinh có lợi) kể cả phƣơng pháp ủ  
phân bokashi.  
* Phân vi sinh: Chỉ những sản phẩm đƣợc cho phép sử dụng trong Tiêu chuẩn  
quốc gia sản xuất nông nghiệp hữu cơ (TCVN).  
* Phân khoáng, đá trầm tích, đá vôi đƣợc sử dụng khi cần thiết.  
* Phế phụ phẩm nông nghiệp nhƣ rơm rạ, trấu…: Đƣợc sử dụng là vật liệu phủ,  
chất độn chuồng hoặc làm vật liệu để ủ phân.  
* Dinh dƣỡng vi lƣợng bao gồm: đồng, cô ban, sulphat, selen,bo, mangan, mô  
líp đen, kẽm, i ốt, sắt.  
* Vật liệu từ các loại cây họ đậu (lá và cành) đƣợc thu gom có thể dùng để làm  
lớp phủ xung quanh gốc cây trồng và dùng ủ phân  
* Giá thể nuôi nấm: Đƣợc sử dụng với điều kiện là nó không bị xử lý bằng  
thuốc trừ nấm để diệt các bào tử.  
* Rỉ đƣờng: Đƣợc sử dụng khi ủ các vật liệu xanh nhƣ một loại thức ăn cho vi  
sinh vật.  
* Phân giun: Nuôi giun bằng chất thải có nguồn gốc thực vật thì tốt hơn nuôi  
bằng phân động vật vì phân động vật sử dụng làm phân ủ hoặc bón trực tiếp sẽ có hiệu  
quả sử dụng cao hơn. Phân động vật không đƣợc phép sử dụng trong sản xuất cây  
trồng thì cũng không đƣợc dùng để nuôi giun.  
Sử dụng phân giun trực tiếp cho đất hoặc dùng nhƣ phân nƣớc bằng cách pha tỉ  
lệ 10-20 lít nƣớc/lít dịch lỏng do giun thải ra tƣới cho cây  
Hiện nay trên thị trƣờng có rất nhiều loại phân bón hữu cơ, phân vi sinh... đƣợc  
thƣơng mại hóa. Trong canh tác hữu cơ, chỉ đƣợc sử dụng các loại phân bón hữu cơ  
theo tiêu chuẩn TCVN.  
Trong khuôn khổ tài liệu chúng tôi chỉ trình bày một số phƣơng pháp sản xuất  
phân bón hữu cơ và dung dịch dinh dƣỡng mà ngƣời nông dân có thể sản xuất đƣợc tại  
hộ gia đình hoặc trang trại nhƣ phân chuồng gia súc, phân ủ, phân giun, phân xanh và  
dung dịch dinh dƣỡng tự nhiên. Phân vi sinh thì ngƣời dân không có điều kiện để sản  
xuất đƣợc nên phải sử dụng phân vi sinh do Việt Nam sản xuất và nguồn vi sinh tự  
nhiên.  
1.4. Một số loại phân khoáng tự nhiên đƣợc dùng trong canh tác hữu cơ  
Trong canh tác hữu cơ có thể đƣợc dùng bổ sung các loại phân khoáng tự nhiên  
khi cần thiết. Một số loại khoáng tự nhiên có thể đƣợc sử dụng trong canh tác hữu cơ  
bao gồm các loại nhƣ sau.  
1.4.1. Nhóm phân lân  
Đá Apatit: Thành phần: Chứa 18 - 42% P2O5 (thông thƣờng > 30%) ; 22 - 47%  
CaO (thƣờng khoảng 40%); 7,7% SiO2; F2 < 3%; R2O3  
3%. Là một loại khoáng  
phosphat có nguồn gốc phún xuất, có cấu trúc tinh thể hay vi tinh thể, rắn chắc, màu  
xám hay xám trắng, có tỷ lệ P2O5 tan trong axit yếu rất thấp (2,5 – 3,5%) nên hạn chế  
đƣợc dùng để bón trực tiếp cho cây mà chỉ dùng để chế biến phân hoá học. Bên cạnh  
đó Apatit có hàm lƣợng CaO cao nên có thể trung hòa độ chua của đất nên có thể vẫn  
đƣợc sử dụng. Tỉ lệ bón đá lân khác nhau nhƣng nhìn chung khoảng 100 kg/ sào.  
Bón phân này vào đất nhờ độ chua có trong đất mà một phần phosphat khó tiêu  
có thể chuyển thành phosphat hoà tan trong axit yếu.  
Các axit yếu đƣợc tạo ra do hoạt động của vi sinh vật và rễ cây cũng có thể  
chuyển hoá một phần phosphat khó tiêu thành phosphat hoà tan trong axit yếu cho cây  
trồng sử dụng.  
Photphorit: Là sản phẩm của quá trình kết tủa lắng, đọng phosphat qua nhiều  
thế kỷ tạo nên photphorit. Ở Việt Nam các mỏ photphorit lớn đƣợc hình thành ở Vĩnh  
Thịnh (Lạng Sơn), Yên Sơn (Tuyên Quang), Hàm Rồng (Thanh Hoá). Thành phần: 4 –  
37% P2O5 (thƣờng <30%); 15 – 38% R2O3; 8 – 22% CaO ; 15 – 21% SiO2; OM <  
10%; F2 = 0,1%. Photphorit tồn tại ở dạng vô định hình, màu nâu hay xám nâu, lẫn  
nhiều đất và chất hữu cơ nên dễ nghiền nhỏ, có thành phần thay đổi tuỳ thuộc vào điều  
kiện hình thành. Khi bón phân này vào đất cũng giống nhƣ đối với apatit nhờ độ chua  
có trong đất và các axit đƣợc tạo ra do hoạt động của vi sinh vật và rễ cây mà hoà tan  
đƣợc lân cho cây trồng sử dụng.  
Tuy nhiên giữa photphorit và apatit có những đặc điểm khác biệt cần lƣu ý sau:  
+ Tỷ lệ P2O5 trong photphorit biến đổi rất lớn ngay trong một mỏ.  
+ Tỷ lệ lân dễ tiêu tan trong axit yếu của photphorit cũng cao hơn so với apatit.  
+ Tỷ lệ Secquioxit trong photphorit cao hơn trong apatit.  
+ Trong photphorit có tỷ lệ chất hữu cơ còn trong apatit không có.  
+ Tỷ lệ SiO2 và Flo trong photphorit thấp hơn trong apatit nhiều.  
+ Tỷ lệ CaO trong photphorit thƣờng cao hơn trong apatit. Nhƣng do apatit ở  
Lao Cai của Việt Nam là loại apatit đặc biệt nên tỷ lệ CaO trong apatit Lào Cai cao  
hơn trong photphorit.  
Do những đặc điểm trên mà photphorit không dùng làm nguyên liệu để sản xuất  
phân lân mà thƣờng đƣợc sử dụng trực tiếp làm phân bón.  
Phân lèn: Khái niệm là loại phân lân tự nhiên do xác động vật chết lâu ngày  
tích tụ lại trong các hang đá nhƣ ở Hà Giang, Quảng Bình…. Phân thƣờng lẫn với chất  
hữu cơ (5,6 – 39,5%), đất bột cho nên có tỷ lệ lân rất thay đổi 3- 30%, chủ yếu ở dạng  
Ca3(PO4)2, tỷ lệ lân hòa tan trong axit yếu 2%; 5,6 – 39,5% OM; CaO có thể đạt tới  
37%. Có tính chất Nhƣ phosphorit dạng bột, tồn tại dƣới dạng nhƣ đất bột, rời rạc  
màu trắng hoặc xám, dễ khai thác, không đóng tảng nhƣ photphorit thƣờng.  
Xương động vật: Thành phần: Chứa 58 – 62% Ca3(PO4)2; 1 – 2% Mg3(PO4)2; 6  
-7% CaCO3; 1,8 - 2,0% CaF2; 25 – 30% chất hữu cơ; 4 – 5% N. Dùng làm thức ăn cho  
gia súc (cho gà công nghiệp, vịt) có lợi hơn. Bột xƣơng nghiền còn dùng trong kỹ nghệ  
lọc đƣờng  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 62 trang yennguyen 14825 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu đào tạo Sản xuất phân bón hữu cơ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_dao_tao_san_xuat_phan_bon_huu_co.pdf