Tập bài giảng Cây công nghiệp - Nguyễn Thị Lan Anh

TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG LÀO CAI  
KHOA NÔNG LÂM  
NGUYỄN THỊ LAN ANH  
TẬP BÀI GIẢNG  
CÂY CÔNG NGHIỆP  
LÀO CAI, 2012  
LỜI NÓI ĐẦU  
Cây công nghiệp là môn học chuyên ngành được dạy ở các Trường có đào tạo Nông-  
Lâm nghiệp.  
Bài giảng cây công nghiệp được viết cho học sinh hệ Cao đẳng và Trung cấp ngành  
Nông Lâm Trường Cao đẳng Cộng đồng Lào Cai. Nội dung cuốn bài giảng cung cấp cho  
học sinh một số kiến thức cơ bản về đặc điểm thực vật học, kỹ thuật trồng và chăm sóc, thu  
hoạch và bảo quản của một số cây công nghiệp phổ biến.  
Bài giảng gồm các cây được trồng chủ yếu tại tỉnh Lào Cai  
Chương 1: Cây lạc  
Chương 2: Cây chè  
Chương 3: Cây cao su  
Chương 4: Cây thuốc lá  
Trong đó, hệ Trung học sẽ học các chương 1, 2, 3. Hệ Cao đẳng học cả 4 chương và  
học chuyên sâu hơn một số nội dung về cây Cao su.  
Trong quá trình biên soạn khó tránh khỏi thiếu sót. Tôi mong nhận được ý kiến đóng  
góp của bạn đọc, đồng nghiệp để lần xuất bản kế tiếp sẽ hoàn chỉnh hơn.  
Tác giả  
Nguyễn Thị Lan Anh  
BÀI MỞ ĐẦU  
Nước ta nằm ở vùng nhiệt đới nóng ẩm, lại có nhiều loại đất thích hợp với nhiều loại  
cây công nghiệp, trong đó có những sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao. Việc phát triển cây  
công nghiệp có ý nghĩa to lớn trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên, sử dụng lao động nông  
thôn, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và nguồn hàng cho xuất khẩu, nâng cao đời  
sống của nhân dân. Nước ta có nhiều cây công nghiệp lâu năm như chè, cà phê, cao su, hồ  
tiêu, dừa, hồi, sơn, quế, mía, bông, đậu tương, lạc...  
Chè là loại cây công nghiệp quan trọng có giá trị xuất khẩu cao. Bên cạnh đó chè còn  
là cây trồng nông nghiệp có tác dụng bảo vệ đất, chống xói mòn rửa trôi. Cây chè khỏe,  
không kén đất nên có thể trồng ở khắp nơi, từ đồng bằng đến miền núi, từ miền Bắc tới  
miền Nam. Các vùng chuyên canh chè tâp trung ở các tỉnh Yên Bái, Sơn La, Hà Giang,  
Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Gia Lai, Kon Tum,  
Đắc Lắc, Lâm Đồng. Đối với tỉnh Lào Cai, tình hình sản xuất, kinh doanh chè không ngừng  
tăng cả về diện tích, năng suất, sản lượng mà còn có những chuyển biến tích cực về giống,  
kỹ thuật canh tác, thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.  
Tính đến đầu năm 2010, diện tích chè của toàn tỉnh này là 4.067 ha, trong đó có  
3.603 ha chè kinh doanh. Diện tích chè của tỉnh Lào Cai phân bổ chủ yếu ở các huyện: Bảo  
Thắng, Mường Khương, Bát Xát, Bảo Yên, Bắc Hà và thành phố Lào Cai. Cơ cấu giống chè  
đã có nhiều thay đổi, từng bước đáp ứng với nhu cầu của thị trường như: Chè Shan chiếm  
42% diện tích, chè lai chiếm 32,3%, chè chất lượng cao 1,9% và chè trung du chiếm 23,2%.  
Năng suất bình quân chè kinh doanh đạt 42 tạ/ha/năm. Toàn tỉnh Lào Cai hiện có 7 cơ sở  
chế biến chè với tổng công suất đạt 100 tấn chè búp tươi/ngày.  
Cao su là cây ưa trồng ở vùng đất đỏ ba-dan, là cây cho nhựa có giá trị kinh tế cao.  
Theo các chuyên gia ở Tập đoàn cao su Việt Nam, vào năm 2010, diện tích cao su có thể đạt  
mức 700.000 ha; trong đó diện tích khai thác từ 420.000 đến 450.000 ha và cho sản lượng  
trên 600.000 tấn; kim ngạch xuất khẩu vẫn giữ được ở mức trên 1 tỷ USD. Đến năm 2015,  
diện tích khai thác đạt 520.000 đến 530.000 ha và sản lượng ước đạt 750.000 - 800.000 tấn,  
đạt kim ngạch xuất khẩu 1,5 - 1,6 tỷ USD vị thế của ngành cao su Việt Nam trên thế giới  
ngày càng được khẳng định. Trước năm 2005, Việt Nam là nước sản xuất cao su thiên nhiên  
đứng thứ 6 trên thế giới (sau các nước Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, và Trung  
Quốc). Một số tỉnh miền Nam là nơi có điều kiện thuận lợi cho việc trồng cao su, đặc biệt là  
vùng Đông Nam Bộ với diện tích trồng cao su chiếm 80% diện tích toàn quốc. Ngày nay  
cây cao su đã được đưa vào trồng tại tỉnh Lào Cai với quy mô 15.000 ha cao su trong giai  
đoạn 2010-2020. Phát triển cây cao su nhằm mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng tạo sản  
phẩm hàng hoá ổn định, lâu dài, góp phần xây dựng nông thôn mới bền vững.  
Cây công nghiệp hàng năm (chủ yếu là đay, cói, dâu tằm, bông, mía, lạc, đậu tương,  
thuốc lá...), thường được trồng ở vùng đồng bằng, một số cây trồng xen trên đất lúa. Đậu  
tương, lạc, thuốc lá được trồng nhiều trên đất bạc màu. Đậu tương được trồng nhiều nhất ở  
miền núi, vùng trung du phía Bắc (Cao Bằng, Sơn La, Bắc Giang), chiếm hơn 40% diện tích  
đậu tương cả nước, ngoài ra còn được trồng nhiều ở các tỉnh Hà Tây, Đồng Nai, Đắc Lắc và  
Đồng Tháp. Cây lạc phù hợp trên đất phù sa cổ ở các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, trên đất  
cát pha các đồng bằng duyên hải miền Trung, nhất là ở Bắc Trung Bộ và ở trung du Bắc Bộ.  
Cây thuốc lá được trồng nhiều nhất ở vùng Đông Nam Bộ, duyên hải miền Trung và miền  
núi, vùng trung du phía Bắc.  
Theo quyết định số 2495 /QĐ-UBND ngày 26 tháng 9 năm 2012 của UBND tỉnh Lào  
Cai Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp tỉnh Lào Cai đến năm 2020 và  
định hướng đến năm 2030:  
- Cây thuốc lá: Đến năm 2015, diện tích vùng trồng thuốc đạt 1.500 ha, năng suất đạt  
trên 1,7 tấn/ha, phẩm cấp loại cao là chủ yếu. Đến 2020 mở rộng diện tích trồng thuốc lá  
nguyên liệu đạt trên 2.000 ha.  
- Cây chè: Đến năm 2015 trồng mới 1.500 ha bằng các giống có chất lượng cao, năng  
suất chè kinh doanh đạt 8-10 tấn/ha, áp dụng sản xuất chè theo tiêu chuẩn VIETGAP để nâng  
cao chất lượng các vùng chè. Giai đoạn 2016 - 2020 mở rộng vùng nguyên liệu thêm khoảng  
1.000 ha để ổn định vùng chè của tỉnh đạt khoảng 6.000 ha, năng suất đạt trên 10 tấn/ha.  
- Các loại cây công nghiệp ngắn ngày khác: Đến năm 2015 tăng diện tích đậu tương  
lên khoảng 6.100 ha; tăng diện tích trồng lạc trên đất ruộng 1 vụ vùng cao đạt 2.200 ha. Đến  
năm 2020, diện tích đậu tương đạt 8.000 ha, sản lượng: 12.000 tấn; diện tích lạc đạt 2.350  
ha, sản lượng đạt 4.000 tấn.  
Do vậy đự 4 loại cây trồng nối trên vào giảng dạy nhằm phù hợp với quy hoạch, thực  
trạng phát triển cây công nghiệp tại Lào Cai.  
Chương 1: CÂY LẠC  
1.1. NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI  
1.1.1. Nguồn gốc  
Lạc Arachis hypogaea - còn gọi là đậu phộng và có nguồn gốc ở Nam Mỹ. Nhờ khảo cổ  
học và địa thực vật học người ta có thể xác định nguồn gốc cây lạc. Năm 1977, Skiê  
(E.O.Squler) tìm thấy những quả lạc được chôn trong các ngôi mộ cổ Ancon gần Lima, thủ  
đô Pê ru. Lạc được đựng trong các vật cùng với một số thực phẩm khác. Niên đại của các  
ngôi mộ cổ này có từ năm 1200 - 1500 trước công nguyên. Theo Engen thì lạc được trồng  
cách đây khoảng 3800 năm, thuộc thời kỳ tiền đồ gồm ở Las Haldas.  
Theo các nhà sử học, người Inca - thổ dân Nam Mỹ đã trồng lạc như một loại cây thực  
phẩm ở dọc vùng duyên hải Pêru với tên “Ynchis”. Krapovikat (1968) cho rằng, vùng  
Bolovian (Nam Bolovia - Tây Bắc Achentina) là vùng nguyên sản của loài lạc trồng.  
Tóm lại, từ vùng nguyên sản ở Nam Mỹ, bằng nhiều con đường - lạc đã được đưa đi  
khắp nơi trên thế giới và nó nhanh chóng thích ứng với các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và  
vùng có khí hậu ẩm. Đặc biệt lạc đã tìm được mảnh đất phát triển thuận lợi ở châu Phi và  
vùng nhiệt đới châu Á. Lạc được trồng rộng rãi ở châu Phi rồi từ đây, theo các thuyền buôn  
nô lệ, lạc lại được đưa trở lại châu Mỹ (cả Bắc Mỹ và Nam Mỹ) và châu Âu. Chính sự giao  
lưu chéo rộng rãi này đã hình thành nhiều vùng gen thứ cấp và làm phong phú thêm hệ gen  
của lạc.  
1.1.2. Phân loại  
Lần đầu tiên loài lạc trồng Arachis hypogaea được mô tả như một loài thực vật là do  
Linnaeus công bố năm 1753 và trong một thời gian dài người ta chưa biết một loại trong  
chi Arachis, tức là loại lạc trồng.  
Waldron dựa vào dạng cây, chia lạc làm 2 loài phụ: loài phụ Fastigrata có thân dạng  
đứng và loài phụ Procombens có thần dạng bò. Gregory (1951) dựa trên cơ sở đặc điểm  
phân cành: Thứ tự ra cành dinh dinh dưỡng và cành sinh thực, chia lạc trồng làm 2 nhóm:  
Nhóm phân cành xen kẽ và nhón phân cành liên tục với 3 dạng: Dạng Virginia thuộc nhóm  
phân cành xen kẽ; dạng Valencin và Spanish thuộc nhóm phân cành liên tục.  
Gần đây kết hợp các phương pháp phân loại trên, các tác giả Krapovikat (1958) và  
Gregory (1980) đã mô tả 4 dạng thực vật của loài lạc trồng và xếp thành 2 loài phụ với 4  
thứ như sau:  
Loài lạc trồng Arachis hypogaea gồm 2 loài phụ:  
- Loài phụ Hypogaea gồm 2 thứ:  
+ Thứ Hypogae: Dạng Vlrginia (Bolivlan, Amszonla")  
+ Thứ Hirsuta (Peruvian)  
- Loài phụ Fastigiata gồm 2 thứ:  
+ Thứ Vulgaris: Dạng Spanish (Gregoryl 1951) (Ouaranlan, Golas và Minas  
Gerais.Peruvian)  
+ Thứ Vulgarls: Dạng Spanith (Guaranian, Goiaa và Minas Gerais: Tây Bắc Braxin)  
Hệ thống phân loại dựa trên cơ sở tập phân cành của Gregory (1951) được phổ biến  
rộng rãi hơn cả. Theo hệ thống phân loại này thì loại phụ Hypogaea có thứ Hypogae thuộc  
dạng Virginia - phân nhánh xen kẽ. Loài phụ Fastigiata có đặc điểm phân nhánh liền hoa  
với 2 dạng: Valencia và Spanish.  
1.2. GIÁ TRỊ KINH TẾ  
Bộ phận sử dụng chủ yếu của cây lạc là hạt. Hạt lạc từ lâu đã được sử dụng làm thực  
phẩm cho người. Với hàm lượng dầu cao, hạt lạc là loại hạt có dầu quan trọng. Thành phần  
sinh hóa của hạt lạc như sau: Nước 8 - 10%, Dầu thô 40 - 60%, Protein thô 26 - 34%, Gluxit  
6 - 22%, Xenlulo 2 - 4,5%.  
Như vậy, giá trị dinh dưỡng chủ yếu của hạt lạc là lipit và protein. Trong công nghiệp  
ép dầu, người ta thu được hai sản phẩm chính là dầu thô và khô dầu - toàn bộ protein của  
hạt nằm ở khô dầu.  
1.2.1. Dầu lạc là dầu thực phẩm  
Thành phần dầu lạc chủ yếu là axit béo chưa no chiếm khoảng 80%, còn lại khoảng  
20% là axit béo no.  
Trong dầu lạc người ta quan tâm đến tỷ lệ axit oleic/axit linoleic. Tỷ lệ này biến động  
trong khoảng 1,2 - 1,5 có thể lên đến 2. Tỷ lệ này càng cao dầu càng dễ bảo quản.  
Ngoài ra trong thành phần của dầu lạc còn có cacbua thơm với hàm lượng khoảng  
1,8mg/1 tấn dầu, gây mùi thơm đặc trưng của lạc.  
Với thành phần và tính chất như trên, dầu lạc là loại dầu thực phẩm tốt, dầu lạc tinh  
luyện có màu trong, hơi vàng có thể được hấp thu tốt.  
1.2.2. Protein của lạc  
90 - 95% protein của lạc là 2 loại globulin: Arachin chiếm 2/3, conarachin chiếm 1/3  
hợp thành. Protein của lạc có đủ 8 axit amin không thay thế.  
Về mặt cung cấp năng lượng: Do hạt lạc có hàm lượng dầu cao, nên năng lượng cung  
cấp rất lớn. Trong 100g hạt lạc cung cấp 590cal. Trong khi trị số này ở hạt đậu tương là 411,  
gạo tẻ là 353 và thịt lợn nạc là 286.  
Do giá trị dinh dưỡng của lạc, từ lâu loài người đã sử dụng lạc như một nguồn thực  
phẩm quan trọng: sử dụng trực tiếp, ép dầu làm dầu ăn, khô dầu để chế biến nước chấm và  
các mặt hàng thực phẩm khác. Gần đây, nhờ công nghiệp thực phẩm phát triển, người ta đã  
chế biến nhiều mặt hàng thực phẩm có giá trị từ lạc như bơ lạc, pho mát lạc, sữa lạc...  
1.2.3. Giá trị trong chăn nuôi  
Giá trị làm thức ăn gia súc của lạc được đánh giá trên các mặt: Khô dầu lạc, thân lá  
làm thức ăn xanh và việc tận dụng phế liệu lạc để làm thức ăn gia súc.  
Khô dầu lạc: Trong thành phần thức ăn khô dầu lạc chiếm 25 - 30%. Như vậy, khô dầu  
lạc là nguồn thức ăn dầu protein dùng trong chăn nuôi. Hiện nay sản lượng khô dầu lạc trên  
thế gới đứng hàng thứ 3 trong các khô dầu thực vật dùng trong chăn nuôi và đóng vai trò  
phát triển ngành chăn nuôi.  
Thân lá xanh của lạc: với năng suất 5 - 15tấn/ha chất xanh (sau thu hoạch quả) có thể  
dùng chăn nuôi đại gia súc.  
Cám vỏ quả lạc: vỏ quả lạc chiếm 25 - 35% trọng lượng quả. Trong chế biến thực  
phẩm người ta thường tách khỏi vỏ quả, vỏ quả trở thành sản phẩm phụ, dùng để nghiền  
thành cám cho chăn nuôi. Cám của vỏ quả lạc có thành phần dinh dưỡng tương đương cám  
gạo dùng để nuôi lợn, gà, vịt rất tốt.  
Bảng 1.1: Thành phần dinh dưỡng của cám gạo và vỏ quả lạc (% trọng lượng khô)  
Protein  
Lipit  
Tổng số  
Gluxit  
Loại cám  
Tổng số  
Dễ tiêu  
0,4  
Dễ tiêu  
0,9  
Tổng số  
Dễ tiêu  
11,3  
Cám gạo  
Cám vỏ quả lạc  
3,7  
4,2  
1,4  
2,6  
32,3  
18,5  
2,9  
1,8  
7,2  
1.2.4. Giá trị trồng trọt  
Lạc là loại cây trồng có nhiều ý nghĩa nhất đối với các nước nghèo vùng nhiệt đới.  
Ngoài giá trị kinh tế của lạc đối với công nghiệp ép dầu, công nghiệp thực phẩm và chăn  
nuôi, lạc còn có ý nghĩa to lớn đối với việc cải tạo đất do khả năng cố định đạm của cây.  
Cũng như các cây họ đậu khác, rễ lạc có thể tạo nốt sần do vi sinh vật cộng sinh cố định  
đạm hình thành. Theo nhiều tác giả, lượng nitơ cố định của lạc có thể đạt 70 - 110kgN/ha/vụ.  
Chính nhờ khả năng cố định này mà hàm lượng protein ở hạt và các bộ phận khác của cây cao  
hơn nhiều loại cây trồng khác. Cũng nhờ khả năng cố định này, sau khi thu hoạch lạc thì thành  
phần hóa tính đất được cải thiện rõ rệt, lượng đạm trong đất tăng và khu hệ vi sinh vật hảo khí  
trong đất được tăng cường có lợi đối với các cây trồng sau, nhất là đối với các loại cây trồng sử  
dụng nhiều đạm.  
1.3. ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN  
1.3.1. Sự nảy mầm của hạt  
Sự nẩy mầm của hạt là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ sinh trường của lạc. Đây là quá  
trình hạt chuyển từ trạng thái tiềm sinh sang trạng thái sống. Hạt lạc mà thành phần chủ yếu  
là Lipit và Protein ở dạng dự trữ, trong quá trình nảy mầm đã trải qua một loạt các biến đổi  
sinh hóa sâu sắc dưới ảnh hưởng của các điều kiện môi trường để chuyển hóa các chất dự  
trữ thành các cấu tạo của cây con. Các quá trình chủ yếu của sự nảy mầm bao gồm:  
1.3.1.1. Sự hút nước của hạt  
Muốn hoạt hóa các men, trước hết phải hút đủ nước, lượng nước hạt cần hút để nảy  
mầm rất lớn. Theo Bouffil, hạt phải hút lượng được ít nhất bằng 35 - 40% trọng lượng hạt  
thì mới có thể nảy mầm bình thường được. Trong điều kiện thuận lợi (môi trường bão hòa  
thiệt độ 300C) hạt có thể hút lượng nước bằng 60 - 65% trọng lượng hạt, đó là lượng nước  
tối thích cho sự nảy mầm. Thời gian hạt hút nước chủ yếu trong 24 giờ đầu tiên sau khi  
gieo. Trong điều kiện thuận lợi, trong 8 giờ đầu hạt đã hút 70 - 90% lượng nước cần  
(Bouffil). Sức hút nước, lượng hút và thời gian hút nước phụ thuộc nhiều vào sức sống hạt  
giống, độ ẩm hạt, độ ấm và nhiệt độ môi trường.  
Hạt hút nước theo cả 2 phương thức bị động và chủ động. Ở hạt chết (mất sức nảy  
mầm) chỉ còn khả năng hút nước bị động nên ở những hạt này nước được hút vào hạt quá  
nhiều gây thối hạt nhanh chóng.  
(A) Hạt hút nước, rễ phôi xuất hiện; (B,C) Trục phôi hạ diệp phát triển đưa rễ cắm sâu vào  
đất, (D, E, F) Trục phôi hạ diệp phát triển đưa lá mầm lộ khỏi mặt đất, phôi thượng diệp  
phát triển thành thân, lá đầu tiên xuất hiện.  
Hình 1.1. Sự nảy mầm của lạc  
- Các điều kiện ảnh hưởng đến quá trình nẩy mầm của hạt:  
+ Điều kiện ngoại cảnh: Điều kiện môi trường ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình nẩy  
mầm là nhiệt độ, độ ẩm đất và không khí.  
+ Điều kiện chất lượng hạt: Phẩm chất hạt có ảnh hưởng lớn đến sự nẩy mầm. Hạt có  
chứa lượng pipit và protein lớn, những chất này rất dễ bị biến chất trong quá trình bảo quản  
hạt làm mất sức nẩy mầm của hạt. Hiện tượng ngủ nghỉ có ảnh hưởng tới tỷ lệ nẩy mầm và  
sức sống của hạt, do đó cũng liên quan tới vấn đề bảo quản giống và kỹ thuật gieo trồng.  
Những giống thuộc loài phụ Hypogae, dạng Virginia thường có thời gian ngủ nghỉ của  
hạt dài (l00 - 150 ngày), vì vậy những giống này dễ bảo quản hơn và thời gian gian bảo  
quản giống cũng dài hơn.  
Những giống thuộc loại phụ Fastigiata có thời gian ngủ nghỉ ngắn (9 - 50 ngày) hoặc  
không có thời gian (nhất là ở loại hình Spanish), hạt có thể nảy mầm tại ruộng, vấn đề bảo  
quản giống khó khăn hơn nhiều.  
1.3.1.2. Sự phát triển thân cành  
a. Sự phát triển chiều cao thân  
Thân lạc tương đối cao và phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm di truyền giống. Những quan  
sát ở nước ta cho thấy những giống có dạng bụi thường có chiều cao đạt khoảng 70 - 150cm.  
Dạng đứng có chiều cao 40 - 80cm, riêng bò 15 - 30cm. Trường hợp lạc bị vống lốp, lạc đứng  
có thể cao 100 - 150cm, trong trường hợp này cây lạc thường bị đổ.  
Tốc độ sinh trưởng chiều cao thân tăng dần trong thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng (thời  
kỳ cây con) và đạt cao nhất trong thời kỳ hoa rộ (khoảng 10 - 15 ngày). Tốc độ tăng trưởng  
chiều cao thân trong thời kỳ đầu sinh trưởng (2 - 5 lá) đạt 0,1 - 0,3cm/ngày. Thời kỳ trước ra  
hoa (5 - 8 lá) đạt 0,3 - 0,6cm/ngày. Tốc độ này tăng nhanh trong thời kỳ ra hoa và cuối thời  
kỳ ra hoa rộ, đạt tốc độ cao nhất, khoảng 0,7 - 1,5cm/ngày. Ngay sau đó, khi cây chuyển sang  
giai đoạn đâm tia, hình thành quả rộ, tốc độ tăng chiều cao thân giảm rõ rệt chỉ còn khoảng  
0,2 - 0,5cm/ngày. Trong thời kỳ chín, nếu gặp điều kiện thuận lợi tốc độ tăng chiều cao thân  
lại tăng, có thể đạt 0,3 - 0,7cm/ngày trong thời kỳ thu hoạch.  
Ở các tỉnh phí Bắc, vụ lạc xuân cây tăng trưởng chiều cao cho tới khi thu hoạch, nhưng  
trong vụ thu, cây gần như không tăng trưởng chiều cao trong thời kỳ chín.  
Với tốc độ tăng tưởng như vậy, khi lạc ra hoa, chiều cao cây chỉ đạt bằng khoảng 30-  
40% chiều cao cuối cùng. Khoảng 2/3 chiều cao cây là tăng trưởng trong thời kỳ sinh  
trưởng sinh thực.  
b. Sự phát triển cành  
Khả năng đâm cành của lạc rất lớn, nhất là những giống thuộc loài phụ Hypogaea.  
Những giống này có thể có tới 4 - 7 cấp cành với tống số cành có thể đạt 20 - 30 cành.  
Loại phụ Fastigiata có số cành ít hơn thường chỉ có 2 - 3 cấp cành (chủ yếu chi có 2  
cấp cành n + 1 và n + 2) với tổng số cành 6 - 12.  
Ở nước ta, lạc chủ yếu thuộc nhóm Spanish, thân đứng, có 2 cấp cành với tổng số cành  
6 - 10 cành (thường là 4 - 6 cành cấp I và 2 - 4 cành cấp II).  
- Quy luật phân cành của lạc như sau (loại phụ Fastigiata)  
+ Cành cấp I: Thường có 4 - 6 cành. Mọc từ nách lá thân chính. Hai cành đầu tiên mọc  
từ nách lá mầm. Vì 2 lá mầm gần như mọc đối nên 2 cành này cũng ở vị trí gần như đối  
nhau qua thân chính và thời gian xuất hiện gần đồng thời. Trong thực tế, rất khó phân biệt  
cành số 1 và số 2 cho nên có thể coi chúng như cặp cành đầu tiên. Cặp cành này xuất hiện  
khi lạc có 2 - 3 lá thật. Cành số 3, số 4 mọc từ nách lá thật 1, 2. Lá lạc mọc cách, nhưng đốt  
thứ 2 thường ngắn hơn đốt 1 và 3 cho nên cành 3,4 gần nhau hơn và tạo thành cặp cành thứ  
2 và cành 5, 6 cũng tương đối gần nhau hơn, tạo nên cặp cành thứ 3.  
+ Cành cấp II: Thường chỉ xuất hiện ở cặp cành cấp 1 đầu tiên. Vị trí cành cấp II  
thường ở 2 đốt đầu tiên của cành cấp I. Như vậy, thường chỉ có 4 cành cấp II. Cành cấp II  
xuất hiện là khi lạc được 5, 6 lá trên thân chính.  
Số cành của lạc liên quan trực tiếp đến số quả. Các cành mô tả trên đều là cành quả Số  
hoa và số quả ở tầng cành thứ nhất (gồm cành 1,2 và các cành cấp II của nó) chiếm khoảng  
50 - 70% tổng số hoa, quả của cây, tầng cành thứ 2 chỉ chiếm 20 - 80% và tầng cành 3  
thường dưới 10% số hoa, quả.  
1.3.1.3. Sự phát triển của bộ lá  
Trên thân chính số lá có thể đạt 20 - 25 lá. Khi thu hoạch tổng số lá trên cây có thể đạt  
50 - 60 lá. Tuy nhiên, do những lá già rụng sớm nên số lá trên cây cao nhất vào thời kỳ hình  
thành quả và hạt, thường đạt 40 - 60 lá.  
Diễn biến tăng trưởng diện tích lá lạc từ khi mọc đến thời kỳ hình thành quả và hạt  
tương ứng sự tăng trưởng chiều cao thân. Thời kỳ sau ra hoa đến hình thành quả, hạt là thời  
kỳ thân cành phát triển mạnh, đồng thời cũng là thời kỳ diện tích lá phát triển nhanh nhất.  
Diện tích lá đạt cao nhất thường vào thời kỳ hình thành quả - hạt (30 - 50 ngày sau khi có  
hoa), sau đó giảm dần do sự rụng của lá già.  
Tốc độ tăng diện tích lá thường đạt 0,1 - 0,2dm2 lá/ngày ở thời kỳ trước ra hoa. Trong  
thời kỳ ra hoa hình thành quả và hạt, diện tích lá tăng nhanh và có thể đạt 0,6 - 0,8dm2  
lá/ngày/cây, sau đó tốc độ này giảm nhanh và có thể đạt trị số âm vào thời kỳ chín (diện tích  
lá giảm dần).  
Chỉ số diện tích lá lạc cao nhất đạt được vào thời kỳ hình thành quả và hạt. Trị số tuỵet  
đối của chỉ số này có thể đạt 6 - 7.  
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã đưa ra mối tương quan giữa chỉ số diện tích lá  
cao nhất của lạc (thời kỳ hình thành quả và hạt) với năng suất lạc như sau:  
Bảng 1.2: Tương quan giữa chỉ số diện tích lá cao nhất với năng suất lạc  
Chỉ số diện tích lá  
Năng suất sinh vật  
(tạ/ha)  
Năng suất quả khô  
(tạ/ha)  
thời kỳ làm quả và hạt  
(m2lá/m2 đất)  
2,0 - 2,5  
40,4 - 44,8  
50,6 - 50,8  
91,3 - 93,5  
89,1 - 124,5  
20,0 - 25,3  
25,2 - 31,3  
31,8 - 41,1  
35,5 - 47,3  
2,6 - 3,0  
3,5 - 4,0  
4,1 - 4,5  
Trong thực tiễn sản xuất, trên ruộng lạc thường đạt chỉ số điện tích lá thấp hơn nhiều  
so với trị số tối ưu. Đó là nguyên nhân quan trọng hạn chế năng suất lạc trên đồng ruộng.  
Các biện pháp kỹ thuật, nhằm tăng cường sinh trưởng sinh dưỡng, trồng dày hợp lý,  
để đạt chỉ số diện tích lá cao, đều là biện pháp tăng năng suất lạc.  
1.3.1.4. Sự phát triển bộ rễ  
Rễ lạc là rễ cọc, gồm rễ chính ăn sâu và một hệ rễ bên phát triển. Rễ chính của lạc  
phát triển từ phôi rễ. Rễ nối với thân hạ diệp ở phần cổ rễ. Thực ra, sự phân biệt thân hạ  
diệp và rễ chính chỉ rõ ở thời kỳ đầu sinh trưởng. Khi lạc ra hoa đến khi thu hoạch, sự phân  
biệt này gần như không còn.  
Rễ chính của lạc phát triển nhanh trong thời kỳ đầu sinh trưởng. Quan sát trong vụ  
xuân ở nước ta, sau khi gieo 10 ngày rễ chính ăn sâu 5cm. Sau gieo 20 ngày, rễ chính có thể  
ăn sâu 10cm và hệ rễ con phát triển.  
Hình 1.2. Sự phát triển bộ rễ lạc  
Khi lạc được 5 lá bộ rễ lạc đã tương đối hoàn chỉnh với bộ rẽ sâu 15 - 20cm, hệ rễ con  
phát triển với rễ cấp II, III và nốt sần đã có khả năng cố định đạm. Bộ rễ lạc có các rễ con  
rất phát triển. Thời kỳ sinh trưởng đầu, rễ con chủ yếu là rễ cấp I, phát triển vuông góc với  
rễ chính, sau đó các rễ cấp II, III phát triển dần xuống dưới, theo chiều đứng tạo nên một hệ  
rễ ăn sâu và rộng.  
Sau khi đạt trị số cao nhất vào thời kỳ hình thành quả và hạt, trọng lượng rễ giảm dần  
trong thời kỳ chín do các rễ già bị đứt, chết mà sự hình thành rễ mới gần như không còn nữa.  
Trong điều kiện thuận lợi, rễ chính có thể ăn sâu tới 1m. Tuy nhiên, đại bộ phận rễ con  
phân bố ở tầng đất mặt 0 - 30 cm (60 - 80% trọng lượng). Trọng lượng rễ thay đổi tùy thuộc  
điều kiện canh tác, tính chất đất đai, chế độ nước trong đất. Bộ rễ phát triển sớm và khỏe là  
cơ sở quan trọng để tăng năng suất lạc.  
1.3.1.5. Sự hình thành nốt sần và cố định N (đạm) của vi khuẩn nốt sần  
So với một số cây họ đậu ngắn ngày khác (đậu tương, đậu xanh) thì nốt sần ở lạc hình  
thành muộn hơn. Những nốt sần đầu tiên xuất hiện khi lạc có 4-5 lá thật (15- 30 ngày sau  
gieo). Nốt sần ở lạc do vi khuẩn cộng sinh cố định N - Rhizobium vigna tạo nên khi xâm  
nhập vào rễ lạc. Vi khuẩn xâm nhập vào rễ lạc ở miền lông hút, sau đó di chuyển lên trên  
nhờ “dây xâm nhập”.  
Sự hình thành nốt sần do phản ứng của rễ bị vi khuẩn xâm nhập. Các tế bào gần gốc rễ  
bị vi khuẩn xâm nhập đã phân chia nhanh để khu trú vi khuẩn tại một khu vực, nơi đó rễ bị  
phình to thành nốt sần. Tại đây, vi khuẩn bị mất tiên mao, không còn khả năng di chuyển và  
tạo thành các giả thể khuẩn. Quá trình cố định N diễn ra ở nốt sần. Nốt sần hoạt động có dịch  
màu hồng, đó là màu của Nitrogenaza - một hợp chất cơ kim có tác dụng khử N2. Lượng nốt  
sần tăng dần trong quá trình sinh trưởng của lạc và đạt cực đại vào thời kỳ hình thành quả và  
hạt lạc. Trong thời kỳ chín tới khi thu hoạch, phần lớn nốt sần già bị vỡ và bị rụng.  
Cùng với sự phát triển về kích thước và số lượng nốt sần. Lượng NH3 cố định tăng dần  
và đạt cực đại vào thời kỳ ra hoa, hình thành quả và hạt. Cũng trong thời kỳ này, 90% lượng  
N cố định được cung cấp cho cây. Nốt sần tập trung phần lớn ở vùng gốc rễ. Vì vi sinh vật  
nốt sần là loại vi sinh vật hảo khí, 40-50% lượng nốt sần hữu hiệu nằm ở lớp đất 0-25cm.  
Lượng nốt sần giảm rõ rệt ở độ sâu trên 25cm.  
Kích thước, vị trí, mầu sắc dịch nốt sần có liên quan tới khả năng cố định N. Nốt sần ở  
rễ chính và gần rễ chính có kích thước lớn, dịch hồng đỏ là những nốt sần có hoạt động cố  
định N mạnh.  
1.3.2. Sinh trưởng sinh thực của lạc  
1.3.2.1. Sự phân hóa mầm hoa  
Lạc bắt đầu phân hóa mầm hoa rất sớm, ngay từ khi có 2, 3 lá thật. Các bước phân hóa  
mầm hoa như sau:  
- Bắt đầu phân hóa: Lúc ở nách lá có 2 lá bắc nổi lên.  
- Thời kỳ hình thành đài hoa: Sau khi mầm hoa phân hóa, đài hoa hình thành trước.  
Khi đó ở giữa vị trí hoa nổi lên một chấm tròn.  
- Thời kỳ hình thành chỉ nhị, nhụy và cánh hoa: Sau khi bắt đầu phân hóa 10 - 15 ngày.  
- Hình thành bao phấn, phấn hoa và đài hoa: Ngày thứ 15-25.  
- Thời kỳ nụ hoa: Sự tung phấn tiến hành trước khi hoa nở 4 - 6 giờ. Lúc này bao phấn  
chín tách ra giải phóng các hạt phấn. Bầu nhụy cũng đủ điều kiện để tiếp nhận hạt phấn.  
Quá trình thụ phấn xảy ra khi các cánh hoa còn ôm kín đầu nhụy và nhị đực.  
Quá trình phân hóa mầm hoa kéo dài nên quá trình nở hoa của lạc cũng kéo dài. Các  
hoa ở đỉnh thân chính, các đốt gần gốc của cành 1, 2 và cành cấp II phân hóa sớm nên nở  
hoa sớm. Ở các vị trí cao trên thân hoa phân hóa muộn và những hoa này nở cuối đợt tỷ lệ  
hoa hữu hiệu thấp.  
1.3.2.2. Quá trình nở hoa  
Khi lạc bước vào thời kỳ nở hoa tức là lạc bước vào thời kỳ sinh trưởng sinh thực.  
Thời gian từ mọc đến ra hoa của lạc khoảng 25 - 40 ngày trong điều kiện vụ xuân ở miền  
Bắc nước ta với giống lạc thuộc loại phụ Fastigiata.  
Lạc là cây có phản ứng gần trung tính với quang chu kỳ, nên thời kỳ trước nở hoa  
(thời kỳ cây con) phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ trung bình trong ngày. Theo các nghiên  
cứu, ở vùng nhiệt đới nhiệt độ trung bình ngày 25 - 300C thời kỳ cây con của lạc là 30 ngày.  
Vụ xuân ở miền Bắc, nhiệt độ thấp, thời gian cây con kéo dài 35 - 40 ngày, nhiệt độ trung  
bình cao (> 300C), thời kỳ này chỉ 20 - 22 ngày.  
Do đặc điểm thời gian phân hóa mầm hoa kéo dài nên thời gian ra hoa của lạc cùng  
kéo dài. Thời gian này thường khoảng 25 - 40 ngày tùy đặc điểm của giống và điều kiện  
môi trường, số lượng hoa biến động khoảng 50 - 200 hoa. Theo một số tác giả, lạc có thể có  
tới 800 - 1000 hoa (Minkevic. 1968).  
Có thể chia thời gian ra hoa của lạc làm 3 thời kỳ:  
+ Thời kỳ chớm hoa: Chỉ kéo dài 2 - 3 ngày, thời kỳ này mỗi ngày ra trung bình 1 - 3 hoa.  
+ Thời kỳ hoa rộ: Thời kỳ này kéo dài trung bình l5 - 20 ngày. Đây là thời kỳ ra hoa  
liên tục của lạc, bình quân có thể đạt 5-10 hoa/ngày, trong điều kiện thuận lợi có thể đạt 20  
- 25 hoa/ngày trong 1 - 2 ngày. Trong đợt hoa rộ, hoa nở liên tục, ngày ít nhất cũng đạt 3 - 5  
hoa/cây Có tài liệu chia thời kỳ rộ làm 2 - 3 đợt hoa rộ khác nhau. Thực ra đó chỉ là một đợt  
rộ kéo dài, sau 1 - 2 ngày nở hoa nhiều thì số hoa có giảm ở ngày hôm sau, nhưng cả đợt  
vẫn là liên tục. Số hoa nở trong thời kỳ hoa rộ có thể chiếm 70 - 90% tổng số hoa của cây  
và hầu hết hoa có ích nằm trong đợt hoa này (90 - 100% hoa có ích).  
+ Thời kỳ hết hoa: Sau đợt rộ, số hoa giảm hẳn, nhiều ngày không có hoa, nhất là ở  
cuối thời kỳ. Số hoa nở nhiều nhất chỉ đạt 3 - 5 hoa/ngày. Nói chung số hoa trong thời kỳ  
này có thể đạt 0 - 5 hoa/ngày. Đây là các hoa nở cuối thời kỳ sinh trưởng, nên hầu hết là  
hoa vô hiệu. Hoặc rụng hoa, hoặc tia quả quá dài, không đâm được vào đất.  
Thời kỳ này thường chỉ kéo dài 10 - 15 ngày, tiếp theo thời kỳ ra hoa rộ. Nhưng nếu  
gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ cao, mưa nhiều, dinh dưỡng đầy đủ) thời kỳ này có thể  
kéo dài tới khi thu hoạch.  
Trong kỹ thuật trồng trọt phải tạo điều kiện cho lạc ra hoa tập trung, thời kỳ hoa rộ chỉ  
ngắn 10 - 15 ngày nhưng số hoa nhiều. Sau đợt rộ hoa chi ra ít, không đáng kể và cũng kết  
thúc sớm.  
1.3.3. Sự thụ phấn, thụ tinh và đâm tia lạc  
1.3.3.1. Sự thụ phấn và thụ tinh  
Khi lạc nở vào khoảng 6 - 8 giờ sáng. Ngày mưa hoặc không nắng, giờ nở hoa có thể  
chậm hơn (khoảng 9 - 10 giờ sáng). Nhưng quá trình thụ phấn thường được tiến hành trước khi  
hoa nở 5 - 10 giờ. Nghĩa là quá trình này thường được tiến hành vào khoảng 1 - 3 giờ sáng.  
Sau thụ phấn, tế bào mẹ hạt phấn nảy mầm ở bầu nhụy và đem 2 tinh tử tiến sâu vào nhụy  
với tốc độ 4mm/giờ. Như vậy, quá trình thụ tinh sẽ tiến hành khoảng 10 giờ sau thụ phấn.  
1.3.3.2. Sự hình thành tia  
Sau khi thụ tinh, lớp tế bào ở đầu cuống hoa phân chia mạnh, là tia quả. Tia quả phát  
triển nhanh, đưa các tế bào noãn - đã được thụ tinh nằm ở đầu tia đâm xuống đất.  
Nói chung, sau khi hoa nở 4 ngày thi xuất hiện tia. Tia phát triển nhanh theo hướng địa  
dương. Sau nở hoa 8 - 11 ngày tia đâm xuống đất, khi tia đâm xuống đất sâu 3 - 7cm thì  
phình ra phát triển theo chiều ngang mà hình thành quả.  
Điều kiện đầu tiên và chủ yếu để tia hình thành quả là bóng tối và độ ẩm. Ngoài 2 điều  
kiện chủ yếu trên, tia muốn thành quả phải có đầy đủ oxy để hô hấp và các chất dinh dưỡng.  
Tia quả có thể hấp thu trực tiếp một số nguyên tố dinh dưỡng, nhất là canxi.  
Chiều dài trung bình tia phụ thuộc vào vị trí của đốt và giống. Theo Chacôp (l951) chiều  
dài tối đa của tia có thể đạt 16cm. Chiều dài tia tốt nhất để quả phát triển là 4 - 6cm. Tia quả  
dài, quá trình hình thành quả bị cản trở, quả nhỏ và dễ bị lép.  
1.3.4. Quá trình hình thành quả và hạt  
Sự hình thành quả và hạt chia làm 2 giai đoạn: Hình thành vỏ quả và hình thành hạt.  
Ở giai đoạn đầu của sự phát triển quả, vỏ quả được hình thành trước. Trong 20 ngày  
đầu từ khi tia đâm xuống là giai đoạn phát triển của vỏ quả. Trong giai đoạn này, các tế bào  
nhu mô của vỏ quả giữa chiếm hầu hết khoang quả. Hạt lớn rất chậm và chỉ chiếm một khối  
lượng rất nhỏ. Quả định hình 20 ngày sau đâm tia, sau khi quả định hình (quả đạt kích  
thước tối đa) hạt mới tăng nhanh về thể tích. Hạt định hình sau khi quả định hình 10 ngày.  
Bảng 1.3: Tiến trình hình thành quả - hạt và sự chín của hạt  
Thời điểm  
Trạng thái quả, hạt  
(sau khi đâm tia xuống đất)  
5 - 6 ngày  
9 ngày  
Đầu mút tia phình ngang  
Quả lớn nhanh, thấy rõ hạt ở gần cuống  
Kích thước quả tăng nhanh gấp 2 lần khi 9 ngày  
12 ngày  
Hạt định hình, hạt chiếm hầu hết khoang quả vỏ quả  
ngoài cứng săn lại.  
30 ngày  
Vỏ quả khô, có gân rõ, vỏ quả bị thu hẹp rõ rệt. vỏ quả  
mỏng dần và bắt đầu mang mầu sắc vỏ hạt theo qui định.  
45 ngày  
60 ngày  
Hạt chín hoàn toàn có thể thu hoạch được  
Như vậy trong điều kiện bình thường, thời gian từ khi hoa nở đến khi hạt chín khoảng 60-70  
ngày. Thời gian này có thể rút ngắn đối với các hoa ra muộn (cuối và sau đợt rộ).  
Gặp điều kiện ngoại cảnh bất thuận (nhiệt độ quá cao, hạn vào thời kỳ làm hạt hoặc  
thiếu dinh dưỡng) cũng rút ngắn thời gian của quá trình trên, làm giảm trọng lượng quả và  
hạt, tăng quả 1 hạt.  
Trong cùng 1 quả, hạt ở gần cuống tia hình thành và phát dục sớm hơn các hạt khác  
nên thường lớn hơn. Trường hợp quả 1 hạt thì hạt được phát triển chính là hạt này, các hạt  
khác teo đi và không để lại dấu vết khi chín.  
Khi hạt chín, hạt chiếm hầu hết khoang quả, vỏ quả bị ép ra phía ngoài và ép sát vào  
lớp vỏ quả giữa đã bị xenlulô hóa hoàn toàn, tạo thành lớp vỏ cứng, bảo vệ hạt. Vỏ hạt  
mỏng và mang màu sắc điển hình.  
1.3.5. Sự tích lũy chất khô và quá trình chín của hạt  
Quá trình tích luỹ chất khô ở hạt trong thời kỳ chín thực chất là quá trình nghịch với  
quá trình nảy mầm của hạt.  
Chất khô dự trữ ở hạt chủ yếu là lipid và protein. Các chất dự trữ này được tổng hợp  
ngay ở hạt từ nguyên liệu là các gluxit có mạch cacbon ngắn (các đường C5, C6). Các loại  
đường khử này được vận chuyển từ các cơ quan dinh dưỡng (thân, cành) tới và một phần  
đáng kể là sản phẩm quang hợp được hình thành ở lá trong giai đoạn này được vận chuyển  
thẳng về hạt.  
Khi lạc bắt đầu ra hoa là thời điểm cây chuyển từ thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng sang  
thời kỳ sinh trưởng sinh thực. Nhưng tới thời điểm này các bộ phận dinh dưỡng (thân, cành,  
lá, rễ) chỉ mới đạt 20 - 25% trọng lượng cao nhất (vào thời kỳ hình thành quả và hạt). Như  
vậy, 70 - 80% trọng lượng các cơ quan dinh dưỡng được tích lũy trong thời kỳ sinh trưởng  
sinh thực, thời kỳ nở hoa hình thành hạt.  
Thời ra hoa làm quả là thời kỳ diễn ra hai hoạt động sinh lý mạnh: cây vừa tiến hành  
hình thành và phát triển các cơ quan sinh thực đồng thời các bộ phận dinh dưỡng tăng nhanh  
về khối lượng. Cả 2 quá trình này đều đòi hỏi tiêu hao nhiều dinh dưỡng. Quan hệ giữa sinh  
trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của lạc là mối tương quan vừa tương hỗ vừa  
cạnh tranh nhau. Các cơ quan dinh dưỡng của lạc nếu sinh trưởng khỏe, đạt trọng lượng khô  
cao, diện tích lá lớn... là cơ sở để cây có số quả nhiều và trọng lượng quả lớn. Nhưng ở thời  
kỳ chín, các bộ phận dinh dưỡng phải giảm trọng lượng dể tích lũy chất khô vào hạt.  
Nếu sinh trưởng sinh dưỡng quá lớn, nhất là ở thời kỳ chín của hạt, sinh trưởng sinh  
dưỡng còn giữ tốc độ tăng trưởng lớn, sản phẩm quang hợp và nguồn N hấp thu không được  
vận chuyển về hạt mà được vận chuyển về cơ quan dinh dưỡng (đầu thân, cành chúng tiếp  
tục tăng kích thước và ra lá) sẽ dẫn đến lốp đổ, làm giảm năng suất.  
Trong kỹ thuật trồng trọt, phải tạo điều kiện cân đối thời gian sinh trưởng sinh dưỡng  
và sinh trưởng sinh thực trên cơ sở tạo điều kiện cho sinh trưởng sinh dưỡng thuận lợi trong  
các giai đoạn sinh trưởng đầu, đó là cơ sở tăng năng suất lạc.  
1.4. YÊU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY LẠC  
1.4.1. Nhiệt độ  
Nhiệt độ là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu có tương quan đến thời gian sinh trưởng của lạc.  
Nhiệt độ trung bình thích hợp cho suốt đời sống lạc là khoảng 25 - 300C. Tích ôn hữu ích  
của lạc 2.600 - 4.8000C thay đổi tùy theo giống.  
- Thời kỳ nảy mầm cần tích ôn 250 - 3200C, nhiệt độ trung bình thích hợp 25 - 300C.  
Tốc độ nẩy mầm nhanh nhất ở nhiệt độ 32 - 340C. Nhiệt độ cao hơn, sức sống của hạt giảm  
và hạt bị mất sức nẩy mầm ở nhiệt độ 540C. Nhiệt độ thấp kéo dài thời gian nẩy mầm của  
hạt. Nhiệt độ tối thấp sinh học cho thời kỳ nẩy mầm là 120C. Hạt có thể chết ở nhiệt độ 50C  
mặc dù trong thời gian ngắn.  
Bảng 1.4: Ảnh hưởng của nhiệt độ thấp tới thời gian và tỷ lệ mọc của lạc  
Nhiệt độ xử lý Tỷ lệ nảy mầm  
Tỷ lệ mọc  
Số ngày mọc  
(0 C)  
15  
(%)  
27  
(%)  
4
-
14  
7
20  
93  
86  
25  
98  
91  
Trong điều kiện đồng ruộng, nhiệt độ 28 - 300C là thích hợp nhất đối với quá trình nẩy  
mầm. Với nhiệt độ trên, lạc có thể mọc sau gieo 5 - 6 ngày là thích hợp. Thời gian mọc quá  
ngắn do nhiệt độ cao có thể dẫn tới làm yếu cây con, vì cường độ hô hấp của hạt quá lớn  
dưới ảnh hưởng của nhiệt độ cao, làm tiêu hao dinh dưỡng của hạt trong thời kỳ nảy mầm.  
- Trong thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, tích ôn tổng số yêu cầu 700 - 10000C. Nhiệt  
độ trung bình 20 - 300C, nhiệt độ trung bình tối thích trong thời kỳ này là 250C. Ở nhiệt độ  
này các quá trình sinh trưởng sinh dưỡng được tiến hành thuận lợi, nhất là sự phân cành và  
phát triển bộ rễ. Thời gian trước ra hoa của lạc được kéo dài thích hợp (30 - 35 ngày) ở  
nhiệt độ trung bình 25 - 280C. Khi đó khả năng tích lũy chất khô ở các bộ phận được tiến  
hành thuận lợi, thời kỳ phân hóa mầm hoa cũng được kéo dài thích đáng tạo cơ sở tăng số  
hoa, quả và trọng lượng hạt của lạc.  
Nhiệt độ không khí quá cao (30 - 350C) rút ngắn thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng làm giảm  
chất khô tích lũy và giảm số hoa/cây, do đó làm giảm số quả và trọng lượng hạt của lạc.  
Khả năng chịu rét của lạc cao nhất là ở thời kỳ trước ra hoa. Tuy nhiên. nhiệt độ thấp  
(dưới 18 - 200C) làm ức chế sinh trưởng, phát triển của lạc, cản trở sự phân hoá mầm hoa và  
giảm trọng lượng khô của cây. Nhiệt độ 00C trong thời gian ngắn cũng có thể làm chết cây.  
Trong thời kỳ này, lạc có thể chịu được nhiệt độ 5 - 100C trong thời gian ngắn  
- Quá trình ra hoa của lạc đòi hỏi nhiệt độ tương đối cao. Thời gian ra hoa, tổng số  
hoa, tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ của thời kỳ này. Theo Gillier (1968) nhiệt  
độ thuận lợi cho sự ra hoa của lạc là 24 - 330C, và hệ số hoa có ích cao nhất (21%) đạt được  
ở nhiệt độ ban ngày 290C, ban đêm 230C.  
Thời kỳ ra hoa, kết quả là thời kỳ yêu cầu nhiệt độ cao nhất, thời kỳ này chỉ chiếm 1/3 chu  
kỳ sinh trưởng của lạc nhưng đòi hỏi tích ôn bằng 2/3 tổng tích ôn của cả đời sống cây lạc Nhiệt  
độ tối thấp sinh học cho sự hình thành các cơ quan sinh thực của lạc là 15 - 200C.  
- Quá trình chín đòi hỏi nhiệt độ giảm hơn so với thời kỳ trước. Trong thời kỳ chín,  
nhiệt độ trung bình 25 - 280C là thích hợp. Theo ý kiến nhiều tác giả, trong điều kiện như  
nhiệt độ ban đêm 190C, ban ngày 280C có lợi cho quá trình tích lũy chất khô vào hạt . Trong  
thời kỳ này, sự chênh lệch nhiệt độ ngày đêm lớn khoảng 8 - 100C có lợi cho quá trình vận  
chuyển chất vào hạt. Nhiệt độ thấp trong thời kỳ chín (dưới 200C) làm cản trở quá trình vận  
chuyển vào hạt và khi nhiệt độ xuống thấp dưới 15 - 160C thì quá trình này bị đình chỉ, hạt  
không chín được. Biểu hiện bên ngoài của hiện tượng này là bộ lá xanh kéo dài nhưng hạt  
không phát triển được, hàm lượng nước trong hạt cao, vỏ quả không cứng và gân không nổi  
rõ. Lạc thu trồng muộn dễ gặp hiệu tượng này làm thời gian sinh trưởng của lạc bị kéo dài ở  
thời kỳ sinh trưởng cuối.  
1.4.2. Ánh sáng  
Lạc là cây ngày ngắn song phản ứng với quang chu kỳ của lạc là rất yếu và đối với  
nhiều trường hợp là phản ứng trung tính với quang chu kỳ. Các nghiên cứu của Bùi Huy  
Đáp, Nguyễn Danh Đông đều cho thấy: thời gian sinh trưởng của cây lạc hầu như chỉ phụ  
thuộc vào nhiệt độ không khí mà không phụ thuộc vào quang chu kỳ.  
Số giờ nắng trong ngày có ảnh hưởng rõ rệt tới sinh trưởng và phát dục của lạc.  
Quá trình nở hoa thuận lợi khi số giờ nắng đạt khoảng 200giờ/tháng. Ở các tỉnh phía  
Bắc trong điều kiện vụ xuân, nên bố trí thời vụ để lạc có thể ra hoa vào tháng 4. Nếu ra hoa  
vào tháng 3 số giờ nắng thấp làm giảm số hoa nở/ngày và kéo dài thời gian ra hoa, làm giảm  
tổng số hoa.  
Trong thời kỳ nở hoa, những ngày nắng hoa nở sớm (6-8 giờ sáng), nở tập trung và  
quá trình thụ phấn, thụ tinh cũng thuận lợi so với những ngày không có nắng.  
Nói chung trong các yếu tố khí hậu, thì ánh sáng là yếu tố ít ảnh hưởng đến sinh  
trưởng và khả năng cho năng suất của lạc hơn so với các yếu tố khí hậu khác.  
1.5. KỸ THUẬT TRỒNG LẠC  
1.5.1. Chế độ luân canh, xen canh  
a. Chế độ luân canh: Cũng như các cây trồng ngắn ngày khác, chọn một chế độ luân  
canh thích hợp cho vùng sản xuất lạc là rất quan trọng. Một chế độ luân canh hợp lý phải  
đạt được các yêu cầu sau:  
- Tạo điều kiện cho lạc được trồng trong điều kiện thuận lợi; các cây trồng luân canh cũng  
được trồng trong thời vụ tốt để tất cả các cây trồng trong hệ thống đều cho năng suất cao.  
- Hạn chế được sự phát triển của sâu, bệnh hại  
- Tốt nhất chọn cây luân canh có một số yêu cầu và đặc điểm khác với lạc như: Bộ rễ  
của các cây trong hệ thống sinh trưởng ở các tầng đất khác nhau, có yêu cầu dinh dưỡng  
khác nhau và chịu các loại sâu bệnh hại khác nhau  
Trồng liên canh lạc nhiều năm sẽ dẫn đến giảm năng suất lạc nghiêm trọng. Tất cả các  
nghiên cứu cứu Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ đều cho thấy trồng lạc liên tục 4 - 5 năm, năng suất  
lạc có thể giảm 12 - 60%. Ở nước ta liên canh lạc liên tục 4 năm năng suất lạc giảm 20 - 38%.  
Tuy nhiên lạc là cây ngắn ngày, thời gian sinh trưởng 100 - 140 ngày nên có thể áp  
dụng chế độ luân canh ngắn (luân canh trong năm) kết hợp với luân canh dài (luân canh  
nhiều năm).  
Các cây trồng luân canh phổ biến ở vùng sản xuất lạc là: Lúa nước, mía, ngô, bông...  
Tùy điều kiện địa hình, khí hậu và tập quán canh tác địa phương để bố trí chế độ luân canh  
thích hợp.  
Luân canh lạc với lúa có nhiều ưu điểm do luân canh giữa cây trồng cạn và cây trồng  
nước. Vùng không cấy được lúa thường luân canh lạc với ngô, mía, bông... Với những chế  
độ luân canh này, cần bố trí để lạc và các cây trồng khác trong hệ thống luân canh đều có  
điều kiện sinh trưởng thuận lợi, cho năng suất cao.  
b. Trồng xen  
- Trồng xen cây trồng khác trên ruộng lạc: Lạc là cây trồng chính, cây trồng xen chủ  
yếu là ngô. Ngô cao cây, tán thưa, rễ ăn sâu. Nhiều vùng trồng lạc việc trồng xen ngô với  
lạc đã cho hiệu quả kinh tế bằng 130-180% so với trồng thuần. Kỹ thuật chủ yếu trong trồng  
xen: mật độ ngô 0,6-1cây/m2 năng suất lạc bị ảnh hưởng ít (đạt 70-90%) so với trồng thuần  
và thu hoạch ngô cũng đạt 50-80% so với trồng thuần.  
- Trồng xen lạc với các cây trồng khác: Ở đây lạc là cây trồng xen (cây phụ). Ở nước  
ta lạc được trồng xen với mía. Do mía có thời gian sinh trưởng dài (11-13 tháng), thời kỳ  
đầu mía chưa khép tán (3-4 tháng), mía là cây hàng rộng vì vậy trồng xen lạc ở ruộng mía  
trong thời kỳ này rất thích hợp.  
Những vùng trồng cây lâu năm (chè, cà phê, vườn cây ăn quả) trong thời kỳ kiến thiết  
cơ bản hoặc sau khi đốn, có thể trồng xen lạc để sử dụng quang năng cho thêm thu hoạch,  
đồng thời lạc có thể đóng vai trò cây phủ đất, giữ ẩm, chống cỏ dại và chống xói mòn, cải  
tạo đất ở vùng cây lâu năm.  
1.5.2. Kỹ thuật làm đất  
Trong suốt thời gian sinh trưởng lạc đòi hỏi đất phải tơi, xốp, vì trên các loại đất này  
mới đáp ứng các yêu cầu quan trọng của lạc:  
- Đất tơi xốp, nốt sần hình thành sớm và nhiều, rất quan trọng đối với dinh dưỡng của lạc.  
- Tia quả đâm xuống đất dễ dàng - quá trình hình thành quả thuận lợi.  
- Thu hoạch dễ dàng, giảm tỷ lệ đứt tia, sót quả khi thu hoạch.  
Ngoài ra, làm đất trồng lạc còn phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật khác như:  
- Đạt độ đồng đều đồng ruộng cao (ruộng phẳng, không gây úng cục bộ).  
- Tạo điều kiện tưới nước và thoát nước tốt.  
- Hạt đất đủ nhỏ: hạt có đường kính dưới 1cm chiếm 75-80%. Hạt có đường kính 1-  
5cm chỉ chiếm 20-25%.  
Lên luống nhằm:  
- Tạo điều kiện tướí nước và tiêu nước tốt (tưới theo rãnh)  
- Tạo điều kiện chăm sóc tốt (xới xáo, phun thuốc, bón phân... )  
- Tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển trên tầng đất mặt sâu, đối với vùng đất bạc mầu,  
tàng đất cày mỏng.  
Luống rộng 1 - 1,5m hoạc trồng thành băng 2 - 2,5m tùy điều kiện đồng ruộng, mùa vụ  
quy định. Nói chung không lên luống nhỏ hơn 1m, hệ số sử dụng đất sẽ thấp, làm giảm  
năng suất trên toàn ruộng.  
1.5.3. Thời vụ trồng lạc  
1.5.3.1. Cơ sở xác định thời vụ trồng lạc  
- Xác định điều kiện khí hậu và thời tiết phù hợp với yêu cầu phát sinh phát triển cây  
lạc: Chế độ nhiệt và chế độ mưa là hai điều kiện có ảnh hưởng lớn nhất đến sinh trưởng và  
năng suất lạc.  
Ở một số nơi mùa mưa kéo dài 6 - 8 tháng thường trồng 2 vụ/năm: vụ 1 gieo đầu mùa  
mưa, thu hoạch giữa mùa mưa và vụ 2 gieo giữa mùa, thu hoạch cuối mùa mưa. Ở các tỉnh  
Tây Nguyên và miền Đông Nam bộ thường theo thời vụ này.  
- Thời vụ trồng lạc các tỉnh phía bắc: Gồm vùng đồng bằng trung du Bắc bộ và vùng  
khu 4 cũ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc. Có mùa  
mưa nóng ẩm (tháng 5 - 10) và mùa khô lạnh (tháng 11 - 4 năm sau) nên yếu tố khí hậu chi  
phối thời vụ trồng lạc bao gồm cả chế độ nhiệt và chế độ mưa.  
Ngoài ra, phần lớn diện tích lạc ở miền Bắc nằm trong vùng sản xuất lúa với chế độ  
luân canh chủ yếu: lạc xuân - lúa mùa. Vì vậy, bố trí thời vụ trồng lạc còn phải quan tâm tới  
thời vụ cấy lúa mùa - cây trồng sau của lạc.  
- Đặc điểm thời tiết khí hậu chủ yếu của vụ lạc xuân ở các tỉnh phía Bắc  
+ Hạn và rét ở thời kỳ đầu sinh trưởng, nhưng nhiệt độ không khí tăng dần. Số giờ  
nắng thấp ở giai đoạn đầu.  
+ Khi ra hoa: có khả năng bị hạn, nhất là với thời vụ trồng sớm và trong các năm mưa muộn.  
+ Thời kỳ ra hoa - chín: Nhiệt độ, số giờ nắng, lượng mưa tăng dần, thuận lợi cho sinh  
trưởng sinh dưỡng và cho cả quá trình ra hoa - làm hạt.  
+ Vùng Khu 4 cũ (Thanh Hóa - Hà Tĩnh) còn bị ảnh hưởng gió tây (gió Lào) xuất hiện  
từng đợt vào các tháng 5, 6, 7. Gió Lào khô và nóng làm cây dễ bị hạn do mất nước, vùng  
hạn càng bị tác hại nghiêm trọng nhiệt độ quá cao trong những ngày có gió Lào làm giảm  
tỷ lệ hoa có ích, ảnh hưởng sấu tới quá trình sinh trưởng và chín của hạt.  
Thời vụ trồng lạc tốt nhất của các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh trở ra Bắc là trong tháng 2  
dương lịch. Ở thời vụ này khi gieo gặp nhiệt độ tương đối ổn định (> 200C), lạc ra hoa vào  
tháng 4 bắt đầu mùa mưa, nhiệt độ cao và nắng nhiều, thu hoạch vào cuối tháng 6, trước khi  
bước sang tháng 7 (tháng bắt đầu có mưa lớn).  
1.5.4. Mật độ, khoảng cách gieo  
1.5.4.1. Các nguyên tắc xác định mật độ hợp lý  
Phải căn cứ vào điều kiện sinh trưởng phát triển của lạc trên đồng ruộng, chủ yếu dựa  
vào 3 nguyên tắc sau:  
- Đặc điểm sinh trưởng của các giống: Các giống có thể sinh trưởng mạnh trồng thưa  
hơn các giống sinh trưởng kém, phân cành ít.  
- Điều kiện thời tiết khí hậu của mùa vụ gieo trồng.  
- Điều kiện canh tác cụ thể.  
1.5.4.2. Mật độ khoảng cách gieo trồng  
Các giống lạc đang gieo trồng ở nước ta chủ yếu thuộc kiểu hình Spanish và một số  
Valencia, thời gian sinh trưởng tương đối ngắn, khối lượng chất khô tích lũy thấp cho nên  
thường phải gieo với mật độ tương đối cao.  
Tổng kết các kết quả nghiên cứu ở phía Bắc cho thấy: Muốn đạt được năng suất cao  
với các giống hiện đang sử dụng, phải đảm bảo mật độ thực thu ít nhất 25 cây/m2. Trong  
điều kiện sản xuất, muốn đạt mật độ thực thu như trên, thường phải gieo với mật độ 30 - 35  
cây/m2 mặt luống.  
Với mật độ trên, trong điều kiện canh tác thủ công ở nước ta, phương thức gieo có thể  
theo hàng hoặc theo hốc (2 cây/hốc).  
Khoảng cách hàng thích hợp cho các vùng trồng lạc là 30 - 40cm. Với khoảng cách  
cây tương ứng 7 - 15cm hoặc khoảng cách hốc 15 - 20cm. Bố trí khoảng cách căn cứ vào  
mật độ gieo, bề rộng mặt luống và kỹ thuật canh tác truyền thống của địa phương.  
1.5.5. Bón phân  
Nước ta nằm hoàn toàn trong vùng nhiệt đới nóng và ẩm, tốc độ phong hóa nhanh.  
Hơn nữa, phương pháp thu hoạch với hầu hết các loại cây trồng (lúa, ngô... ) là tận dụng  
toàn bộ sản phẩm hữu cơ, vì vậy hàm lượng mùn ở hầu hết các loại đất của ta rất thấp. Kỹ  
thuật canh tác đối với lạc hầu hết là canh tác thủ công, do đó phân hữu cơ được sử dụng phổ  
biến và là loại phân bón chủ yếu cung cấp cân đối các nguyên tố dinh dưỡng cho lạc.  
Việc sử dụng các loại phân bón cho lạc được tiêu chuẩn hóa như sau:  
+ Phân hữu cơ: Gồm phân chuồng và phân xanh. Lượng phân hữu cơ sử dụng cho lạc  
khoảng 8 - 12 tấn/ha. Phân hữu cơ phải được ủ mục trước khi gieo lạc 1 tháng. Phân hữu cơ  
được sử dụng để bón lót trước khi gieo hạt ở cả vụ xuân và vụ thu.  
+ Phân đạm vô cơ: Dạng đạm vô cơ được sử dụng bón cho lạc tốt nhất là dạng amôn  
hoạc ure với lượng bón 15 - 20kgN/ha.  
Đạm vô cơ có thể được sử dụng để bón lót hoặc bón thúc. Có hai thời điểm bón thúc  
cho lạc:  
- Lần 1: Bón khi lạc mới có 2 - 3 lá kép (sau gieo 15 ngày)  
- Lần 2: Khi lạc ra hoa  
Việc sử dụng N vô cơ bón cho lạc đòi hỏi kỹ thuật bón thận trọng. Bón không đúng  
lúc, không đúng kỹ thuật sẽ dẫn đến giảm năng suất do gây hiện tượng lốp đổ.  
Chỉ sử dụng N vô cơ trong các trường hợp sau:  
- Lượng phân hữu cơ bón lót không đủ, đất xấu, đất thiếu đạm  
- Cây sinh trưởng kém, khả năng tạo nốt sần kém  
- Cần bổ sung đạm để đạt năng suất cao  
- Bón đạm vô cơ trên cơ sở lượng P, K, Ca đầy đủ  
+ Phân lân: Lượng P2O5 bón cho lạc có thể từ 40 - 80kg/ha, thông thường bón 40 -  
60kg P2O5/ha. Nên dùng lân supe để bón lót cho lạc. Nếu bón thúc thì thời kỳ bón thúc của  
lân như sau: Bón thúc lân khi cây được 2 - 3 lá và khi lạc ra hoa. Bón lót 50% lượng lân và  
bón thúc 50% khi ra hoa có hiệu quả tăng năng suất lạc cao hơn cả.  
+ Phân kali: Kali có hiệu quả cao trên đất bạc mầu, các loại đất nghèo dinh dưỡng và  
có hiệu quả kém hơn trên đất phù sa, đất thịt pha hoặc cát pha.  
Dạng kali: dạng K2SO4 hoặc dạng HCl đều có hiệu quả như nhau đối với lạc.  
Kali tốt nhất dùng bón lót với lượng 40-60kg K2O/ha. Tuy nhiên, bón lót kali khi gieo  
dễ ảnh hưởng đến tỷ lệ mọc của lạc trên đồng ruộng. Vì vậy, tốt nhất nên ủ kali với phân  
hữu cơ trong quá trình chế biến phân để bón lót. Nhiều nơi dùng tro bếp (tro rơm rạ) thay  
thế kali bón cho lạc vì hàm lượng K2O trong tro tương đối cao.  
+ Bón vôi: Bón vôi cho lạc nhằm 2 mục đính: Nâng cao độ pH cho đất và cung cấp  
canxi cho lạc. Ở nước ta bón vôi đem lại hiệu quả tăng sản lượng trên tất cả các loại đất.  
Vôi được bón trực tiếp cho lạc với lượng bón 500-800kg/ha. Có thể bón vôi làm 2 lần: bón  
lót 50% lượng vôi và lượng còn lại được bón thúc khi lạc ra hoa rộ. Việc bón thúc sớm khi  
lạc có 2-3 lá chỉ tiến hành khi lượng bón lót không đầy đủ.  
1.6. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH  
1.6.1. Sâu hại  
Sâu hại lạc có rất nhiều loại. Vì sâu hại lạc thường có đặc điểm là ăn tạp nên ký chủ  
rất nhiều trên đồng ruộng. Cây lạc khi theo đến thu hoạch, lúc nào cũng có có thể bị sâu hại  
phá hoại. Có tới gần 100 loài sâu hại lạc. Các loại sâu hại lạc chính 1à:  
- Sâu hại hạt giống: Dế, kiến, mọt đất, mối.  
- Sâu hại cây con: Sâu xám.  
- Sâu hại lá: Nhóm này nhiều nhất, gồm cả các loại chích hút (rầy, rệp, nhện đỏ) và  
các loài miệng nhai (sâu khoang, sâu xanh, sâu đo, sâu róm, bọ nẹt, châu chấu... ), chúng  
phá hại lá và cả thân cây, cuống lá... từ khi lạc mọc đến khi thu hoạch.  
- Sâu hại quả và rễ: Sâu thép, sâu trắng, bọ hung.  
1.6.2. Bệnh hại  
- Bệnh chết ẻo: Còn gọi là héo xanh, héo vi khuẩn.  
Bệnh do nhiều nguyên nhân, chủ yếu do vi khuẩn Pseudomonas solanacearum E.F.  
Smith. Bệnh phá hại ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng của lạc, chủ yếu thời kỳ ra hoa, làm quả.  
Cây bị bệnh héo xanh có thể héo cả cây hoặc từng cành, gây mất khoảng nghiêm trọng.  
- Bệnh phấn trắng và bệnh nấm đen:  
Bệnh phấn trắng do nấm Selerotium rolfsil Saccardo và bệnh nấm đen do nấm  
Aspergillus niger Van Tiegh.  
Bệnh hại ở vùng gốc thân và cổ rễ, nấm bệnh xâm nhập và phá hại mạch dẫn khiến cây  
bị chết. Bệnh hại chủ yếu cây con, từ khi mọc đến khi cây có 3, 4 lá.  
- Bệnh đốm lá: Có 2 loại: Đốm nâu (đốm lá sớm) do nấm Cercospora achidicola Hori  
và đốm đen (đốm lá muộn) do nấm Phaeoisariopsis Personata và CertoapoTodium  
personatum gây nên. Cả 2 loại đều gây các vết đốm trên lá và thân, phá hại mạch dẫn trên  
lá, khiến lá sớm bị vàng chết, làm giảm diện tích bộ lá lạc.  
- Bệnh gỉ sắt: Do nấm Puccinla arachidis.  
Bệnh gây các vết đốm trên lá, màu vàng đỏ như gỉ sắt. Bệnh cũng hại lá như bệnh đốm  
lá. Đó là những bệnh thường thấy nhất trên các vùng sản xuất lạc ở nước ta. Ngoài ra các  
bệnh khác như thối tia, thối quả, tuyến trùng, các bệnh do virut gây ra (khảm lá, đậu lùn... )  
cũng thường gây hại trên ruộng lạc.  
1.6.3. Phòng trừ tổng hợp  
Phòng trừ sâu bệnh phải dùng tổng hợp các biện pháp, trong đó phải chú ý đến các  
biện pháp phòng bệnh, phát hiện sâu bệnh kịp thời, trừ kịp thời và đúng phương pháp.  
Phương pháp phòng trừ sinh học:  
+ Luân canh: Chọn cây luân canh thích hợp để các tác nhân gây bệnh và sâu hại không  
gặp được ký chủ lây lan trên ruộng lạc. Luân canh với lúa nước còn tiêu diệt được sâu làm  
nhộng trong đất và diệt một số nguồn lây bệnh. Có thể áp dụng luân canh dài để diệt nguồn  
bệnh từ đất.  
+ Biện pháp canh tác: Các biện pháp cày bừa, xới xáo có thể hạn chế sự phát triển sâu  
bệnh hại  
+ Dùng giống chống bệnh: Trong kỹ thuật gen, người ta đã tạo được những giống  
mang gen chống bệnh và có thể chống được cả sâu hại.  
+ Dùng hóa chất: Xử lý đất và hạt giống bằng hóa chất nhằm tiêu diệt nguồn lây lan  
của sâu bệnh.  
+ Dùng hóa chất trừ sâu bệnh: Phun thuốc đặc hiệu trừ sâu bệnh, cần phun kịp thời,  
đúng loại thuốc, đúng liều lượng.  
1.7. BẢO QUẢN LẠC  
Khi thu hoạch lạc thường có hàm lượng nước 30 - 35% trọng lượng. Với lượng nước  
cao như vậy các men trong lạc rất dễ hoạt động làm hạt nảy mầm.  
Đối với các giống lạc thuộc nhóm Spanish và Valencia hạt có thể nảy mầm tại ruộng  
nếu không thu hoạch kịp thời. Vì vậy có thể thu hoạch mẫu để xác định thời gian thu hoạch  
chính xác.  
Công tác bảo quản cần tiến hành ngay sau khi thu hoạch, gồm 2 công đoạn:  
- Xử lý lạc sau thu hoạch  
- Bảo quản trong kho  
1.7.1. Xử lý lạc sau thu hoạch  
Khi thu hoạch độ ẩm lạc rất cao, cần nhanh chóng đưa độ ẩm xuống thấp để khống chế  
hoạt động của các men. Độ ẩm thích hợp để bảo quản là 9 - 11%, đối với lạc giống độ ẩm  
hạt không vượt quá 10% trong quá trình bảo quản.  
Phương pháp giảm độ ẩm hạt trong công nghiệp là dùng biện pháp sấy khô. Với  
phương pháp sấy, thời gian xử lý sẽ ngắn và quy trình làm khô lạc không bị ảnh hưởng bởi  
điều kiện ngoại cảnh. Độ ẩm hạt sau khi sấy còn 8 - 9%.  
Ở nước ta, nông dân thường phơi nắng làm giảm độ ẩm của hạt. Cần phơi cả quả để  
tránh nhiệt độ quá cao làm hạt chảy dầu. Phơi 3 - 5 ngày liên tục, độ ẩm hạt có thể giảm  
xuống 9 - 10%, có thể bảo quản được.  
1.7.2. Bảo quản lạc  
Yêu cầu:  
- Lạc không bị thay đổi chất lượng sau thời gian bảo quản.  
- Lạc không bị độc hại để có thể sử dụng ép dầu hoặc làm thực phẩm cho người.  
Nguyên tắc bảo quản:  
- Xử lý kho: Diệt mối, mọt, sâu kho trước khi cho lạc vào bảo quản.  
- Bảo quản lạc kín tránh để hạt tiếp xúc với không khí (ức chế hô hấp của hạt)  
- Kho bảo quản phải có nhiệt độ thấp, ẩm độ thấp, thông gió.  
Có thể bảo quản thủ công bằng chum vại hoặc túi PE.  
Đối với lạc giống cần phải đảm bảo tỷ lệ nảy mầm và độ ẩm hạt. Tuy nhiên, việc bảo  
quản lạc gặp nhiều khó khăn nên người ta trồng lạc thu để rút ngắn thời gian bảo quản.  
CÂU HỎI ÔN TẬP  
1. Trình bày quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lạc?  
2. Trình bày yêu cầu sinh thái của cây lạc?  
3. Trình bày kỹ thuật trồng và chăm sóc cây lạc?  
4. Nêu các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại lạc?  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 94 trang yennguyen 12363 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tập bài giảng Cây công nghiệp - Nguyễn Thị Lan Anh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftap_bai_giang_cay_cong_nghiep_nguyen_thi_lan_anh.pdf