Một số kết quả nghiên cứu phát triển chăn nuôi bò thịt tại Tây Nguyên
MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÕ THỊT TẠI
TÂY NGUYÊN
Trƣơng La
Viện KHKT Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Phát triển chăn nuôi bò thịt luôn là thế mạnh của các tỉnh Tây Nguyên. Đây là
một trong những vùng chăn nuôi bò trọng điểm của cả nƣớc, với số lƣợng đàn bò vào
khoảng 771.900 con (Niên giám thống kê, 2015). Tuy nhiên, tầm vóc đàn bò nhỏ, đã
ảnh hƣởng đến chất lƣợng thịt và giá thành sản phẩm, từ đó đã làm giảm hiệu quả kinh
tế trong chăn nuôi. Với đòi hỏi chất lƣợng thịt ngày càng cao củangƣời tiêu dùng, thịt
bò tại các địa phƣơng đã và đang gặp trở ngại lớn trong việc cạnh tranh trên thị trƣờng.
Bên cạnh đó, ngành chăn nuôi bò cả nƣớc nói chung và tại Tây Nguyên nói riêng sẽ
đứng trƣớc những cạnh tranh mới về thịt bò nhập nội cả về giá cả và chất lƣợng thịt.
Do vậy, việc nghiên cứunâng nhằm cao năng suất và chất lƣợng thịt bò tại Tây
Nguyên là hết sức cần thiết.
Nhằm đáp ứng yêu cầu trên, trong những năm qua, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông
Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) đã nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong phát
triển chăn nuôi bò thịt, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển nông nghiệp của
vùng Tây Nguyên. Bài viết này sẽ giới thiệu một số nội dung nghiên cứu và chuyển giao
tiến bộ kỹ thuật thuộc lĩnh vực chăn nuôi bò thịt tại Tây Nguyên.
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Nghiên cứu lai tạo các giống bò thịt
2.2. Nghiên cứu vỗ béo bò thịt
2.3. Nghiên cứu phát triển một số giống cây thức ăn chăn nuôi
2.4. Nghiên cứu chế biến cỏ và mọt số phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho bò
2.5. Xây dựng mô hình ứng dụng KHCN trong chăn nuôi bò thịt tại Tây Nguyên
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Kết quả lai tạo các giống bò thịt
Nghiên cứu nâng cao năng suất và chất lƣợng thịt của đàn bò thịt tại Tây
Nguyên đã đƣợc WASI tiến hành liên tục thông qua các chƣơng trình nghiên cứu khoa
học cấp Nhà nƣớc, cấp tỉnh, các chƣơng trình phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây
Nguyên... Các công thức lai sử dụng các giống cao sản gồm: Brahman, Drought
Master, Limuosine; Red Angus... bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, kết quả các con lai
đều có khối lƣợng và chất lƣợng thịt cao hơn bò Laisind, giống bò đƣợc nuôi phổ biến
hiện nay sau bò vàng địa phƣơng.
Năm 2007 - 2009, đã cho lai giữa các giống bò đực hƣớng thịt là Brahman,
Limousine, Drougt Master với cái Laisind tại Đắk Lắk, kết quả cho thấy khối lƣợng
lúc 20 tháng tuổi của các con lai đạt 296 - 330kg và cao hơn hẳn so với bò Laisind chỉ
đạt 240,4kg và tỉ lệ thịt xẻ cũng cao hơn (53,3%/42%).
Bảng 1. Khối lƣợng của các nhóm bò laihƣớng thịt chất lƣợng cao
Chỉ tiêu
Nhóm bò lai
BrLs
LiLs
DrLs
Laisind
- KL sơ sinh (kg)
19,8 ± 0,4 a
21,2 ± 0,6 a
20,4 ± 0,5a
19,7 ± 0,6a
- KL 12 tháng tuổi (kg) 192,0 ± 2,4b 198,5 ± 2,3b 218,5 ± 2,4a 142,3 ± 3,7c
- KL 20 tháng tuổi (kg) 296,3 ± 4,5b 298,2 ± 4,2b 330,3 ± 4,0a 240,4 ± 4,4c
* Các giá trị trung bình trong cùng 1 hàng có chỉ số trên bằng chữ khác nhau thì sai
khác đáng kể về mặt thống kê (P<0,05).
Năm2009- 2010, đã sử dụng tinh của các giống bò Brahman và Drought Master
để phối giống cho bò Laisind tại huyện Đức Trọng (Lâm Đồng), khối lƣợng qua các
thời điểm và tăng khối lƣợng tuyệt đối của bò các nhóm lai đều đạt cao và cao hơn bò
Laisind. Khối lƣợng bò lai Brahman lúc sơ sinh; 6; 12 tháng tuổi tƣơng ứng: 20,2kg;
109,2kg; 173,7kg; bò lai Drought Master: 20,6kg; 113,7kg; 183,6kg.
Bảng 2. Khối lƣợng và tăng khối lƣợng của bò lai tại Đức Trọng (Lâm Đồng)
Nhóm bò lai
Chỉ tiêu
BrLs
DrLs
Laisind
19,7± 0,6
87,2 ± 1,8 b
142,3 ± 3,7 c
341 ± 49 c
- KL sơ sinh (kg)
20,2 ±0,4
109,2 ±1,3a
173,7 ±7,7b
426 ± 53 b
20,6 ± 0,8
- KL 6 tháng tuổi (kg)
- KL 12 tháng tuổi (kg)
- TT tuyệt đối (g/con/ngày)
113,7 ± 5,5a
183,6 ± 5,2 a
453 ± 34 a
* Các giá trị trung bình trong cùng 1 hàng có chỉ số trên bằng chữ khác nhau thì sai
khác đáng kể về mặt thống kê (P<0,05).
Với dự án sản xuất thử nghiệm cấp Nhà nƣớc, từ 2009 - 2011 đã sử dụng tinh
bò đực giống Brahman và Red Sind để phối giống cho đàn bò Laisind tại Đắk Lắk và
Gia Lai. Kết quả đã có 1.315 con bê ra đời. Khối lƣợng bò lai Zêbu lúc 24 tháng tuổi
đạt: 233,9 kg/con tăng hơn so với bò địa phƣơng là 25,2%.
Bảng 3. Khối lƣợng của bò lai Zêbu tại Gia Lai và Đắk Lắk
H. Ia Pa
H. Krông
H.
Năng
(Gia Lai)
CƣM’gar
TT
Chỉ tiêu
Tổng
TB
(Đắk Lắk)
Số bò đẻ(con)
KL bò(kg)
- Sơ sinh
423
407
485
1.315
438
1
2
19,7
149,4
234,8
19,8
141,3
230,3
19,7
150,2
227,8
19,7
146,9
233,9
- 12 tháng
- 24 tháng
Từ năm 2013 - 2016, trong khuôn khổ đề tài cấp tỉnh Lâm Đồng, nhóm nghiên
cứu của WASI đã tiến hành lai tạo đàn bò thịt cao sản các giống Brahman, Drought
Master và Red Angus với bò nền Laisind. Kết quả cho thấy, khối lƣợng của các nhóm
bò lai cao sản lúc 18 tháng tuổi đều cao hơn bò Laisind, trong đó nhóm bò lai Red
Angus đạt cao nhất: 327,3kg/con, tiếp đến là bò lai Drought Master: 320,0kg/con và
bò lai Brahman: 288,3kg/con. Trong khi đó bò Laisind khối lƣợng lúc 18 tháng tuổi
chỉ đạt 184,5 kg/con.
Bảng 4. Khối lƣợng và thành phần thịt của bò lai cao sản tại Lâm Đồng
Nhóm bò lai
TT
Chỉ tiêu
BrLs
DrLs
RLs
Laisind
1
2
Khối lƣợng (kg)
KL sơ sinh
20,1 ± 0,4
21,8 ± 0,5
21,6 ± 0,6
19,7 ± 0,6
KL 6 tháng tuổi
KL 12 tháng tuổi
KL 18 tháng tuổi
124,0 ±1,3b 134,3±1,3ab 137,0 ± 1,7 a 87,2 ± 1,8c
221,7 ± 2,9b 236,3 ± 3,2a 235,0 ± 5,0a 142,7±4,0c
288,3 ± 2,9b 320,0 ± 5,0a 327,3 ± 4,5a 187,7±2,1c
Thành phần thịt (%)
Tỉ lệ thịt xẻ
50,8
41,5
35,2
37,5
52,4
42,6
36,8
36,8
54,7
44,5
38,8
36
46,6
38,7
33,4
38,2
Tỉ lệ thịt tinh
Tỉ lệ thịt loại 1
Tỉ lệ thịt loại 2
* Các giá trị trung bình trong cùng 1 hàng có chỉ số trên bằng chữ khác nhau thì sai
khác đáng kể về mặt thống kê (P<0,05).
Tỉ lệ thịt xẻ của các nhóm bò nhƣ sau: đạt cao nhất là nhóm lai Red Angus:
54,7%; tiếp đến là nhóm lai Drought Master: 52,4% và thấp nhất là nhóm lai Brahman:
50,7%.Tỉ lệ thịt loại 1 của nhóm bò Red Angus đạt cao nhất: 38,8%, tiếp đến là nhóm
Drought Master (36,8%)và thấp nhất là nhóm bò lai Brahman (35,2%).
Từ những kết quả nghiên cứu trên, WASI đã xây dựng và chuyển giao thành
công các quy trình: “Quy trình lai tạo bò thịt chất lượng cao”; “Quy trình lai tạo bò
lai Zêbu”và “Quy trình kỹ thuật chăn nuôi bò lai cao sản”vào các tỉnh Tây Nguyên.
3.2. Kết quả vỗ béo bò thịt
Bên cạnh công tác nghiên cứu về giống, việc nghiên cứu về kỹ thuật vỗ béo bò
bằng những phụ phẩm nông nghiệp sẵn có của địa phƣơng cũng đƣợc chú trọng nhằm
phát huy tối đa tiềm năng di truyền của giống và nâng cao chất lƣợng thịt.
Các nghiên cứu sử dụng nguồn phụ phẩm nông công nghiệp (rỉ mật, hạt bông,
rơm lúa, thân cây ngô sau thu hoạch, vỏ ca cao, vỏ xơ mít…) để vỗ béo bò thịt đã
mang lại kết quả tốt. Thí nghiệm vỗ béo trên bò thịt Laisind, lai Brahman, Drought
Master tại Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng và Đắk Nông bò tăng trọng đạt: 633 - 839
g/con/ngày, lợi nhuận thu đƣợc: 412.000 - 557.000 đồng/con/tháng.
Trong những năm 2009 - 2012, trong khuôn khổ dự án SXTN cấp Nhà nƣớc,
WASI đã vỗ béo bò thịt bằng thức ăn tinh hỗn hợp kết hợp với thức ăn thô xanh cho
370 con bò, kết quả bò tăng trọng bình quân đạt 750g/con/ngày. Lợi nhuận thu về bình
quân 1.000.000 đồng/con.
Sử dụng khẩu phần hỗn hợp từ các nguyên liệu sẵn có tại địa phƣơng (Lâm
Đồng) để nuôi vỗ béo bò lai cao sản trong 90 ngày, tăng khối lƣợng của 3 nhóm bò lai
cao sản (lai Brahman, Drought Master và Red Angus) là tƣơng đƣơng nhau, đạt từ
801,1 - 882,2 g/con/ngày và cao hơn bò Laisind chỉ đạt 682,2 g/con/ngày. Số tiền
chênh lệch thu chi của các nhóm bò lai cao sản tăng dần từ nhóm Brahman, Drought
Master và Red Angus, cụ thể nhƣ sau: Brahman: 2.256.200 đ/con; lai Drought Master:
2.465.000 đ/con; bò lai Red Angus: 2.861.200 đ/con, bò Laisind (đối chứng):
1.363.000 đ/con.Chênh lệch thu chi so với đối chứng của nhóm bò lai Red Angus là
cao nhất: 1.498.200 đ/con, tiếp đến là nhóm bò lai Drought Master: 1.102.000 đ/con và
thấp nhất là nhóm Brahman: 893.200 đ/con.Xét về hiệu quả kinh tế thì cả 3 nhóm bò
lai cao sản đều cao hơn bò Laisind. Trong đó, hiệu quả kinh tế cao nhất là nhóm bò lai
Red Angus, có chênh lệch thu chi gấp hơn 2 lần so với nhóm bò lai Laisind.
Trên cơ sở nghiên cứu đó đã chuyển giao thành công “Quy trình vỗ béo bò
thịt” vào sản xuất. Quy trình mang lại hiệu quả kinh tế và phù hợp với điều kiện chăn
nuôi của vung Tây Nguyên.
Bảng 5. Tăng khối lƣợng và hiệu quả kinh tế của bò vỗ béo
Nhóm bò lai
Chỉ tiêu
BrLs
DrLs
ReLs
Laisind
- KL ban đầu (kg)
290,2 ± 6,2
320,5 ± 5,0
319,3 ± 4,8
192,3 ± 6,0
- KL sau 90 ngày (kg)
362,3 ± 6,2 b 395,5 ± 5,9 a 398,7 ± 6,4a 253,7 ± 4,2 c
- Tăng KL BQ cả kỳ 801,1 ± 42 a 833,3 ± 38 a 882,2 ± 41 a 682,2 ± 37 b
(g/con/ngày)
- KL tăng trong kỳ (kg)
- Thu trong kỳ (1.000 đ)
- Chi trong kỳ (1.000 đ)
72,1
5.191,2
3.435,0
2.256,2
75,0
5.400,0
3.435,0
2.465,0
79,4
5.796,2
3.435,0
2.861,2
61,4
4.298,0
3.435,0
1.363,0
- Chênh lệch thu chi
(1.000 đ)
- So với bò Laisind (ĐC)
893,2
1.102
1.498,2
-
* Các giá trị trung bình trong cùng 1 hàng có chỉ số trên bằng chữ khác nhau thì sai
khác đáng kể về mặt thống kê (P<0,05).
3.3. Phát triển các giống cỏ chăn nuôi
WASI đã khảo sát và xây dựng tập đoàn các giống cây thức ăn gia súc, trong
đó có 6 giống phù hợp trong điều kiện vùng Tây Nguyên cho năng suất và tính chịu
hạn cao, gồm: VA 06, Ghi nê (cỏ Sả - Panicum maximum), Mulato II, cỏ Ruzi
(Brizantha ruuinensis), Paspalum(Paspalum atratum); đối với giống cỏ họ đậu có
giống Stylo (Stylosanthes guianensis).
Bên cạnh đó, đã nghiên cứu phát triển trồng các giống cỏ trong các nông hộ, kết
quả cho thấy khi sử dụng cỏ trồng, lợi nhuận thu về cao hơn 20 - 25% so với chăn nuôi
truyền thống.
Chuyển giao kỹ thuật để trồng cỏ tại Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng và Gia
Lai, các giống cỏ đạt năng suất cao. Cỏ VA06: 330,9 tấn/ha, có nơi đạt đến 550
tấn/ha; cỏ Voi: 298,1 tấn và Ghi nê: 174,9 tấn/ha.
Đã chuyển giao thành công “Quy trình kỹ thuật trồng và sử dụng một số giống
cỏ chăn nuôi cao sản” vào các nông hộ chăn nuôi tại vùng Tây Nguyên.
3.4. Chế biến bảo quản thức ăn cho bò
Việc chế biến thức ăn cho bò tại Tây Nguyên chủ yếu đƣợc ứng dụng công
nghệ sinh học bằng biện pháp ủ chua, ủ urê đối với cỏ và một số phụ phẩm nông
nghiệp nhƣ rơm, cây ngô, áo ngô sau thu hoạch, vỏ ca cao, vỏ xơ mít, vỏ áo ngô….
Với các biện pháp này, thức ăn đƣợc bảo quản đƣợc từ 3 tháng đến 1 năm, chất lƣợng
thức ăn đƣợc bảo đảm. Sử dụng thức ăn đã qua chế biến nuôi bò, tăng trọng của bò và
hiệu quả kinh tế mang lại cao.Bên cạnh đó, WASI đã nghiên cứu sản xuất đóng bánh
thức ăn từ cỏ, rơm, thân cây ngô. Thức ăn đóng bánh bảo đảm chất lƣợng và có thể
bảo quản trong điều kiện thƣờng đến 6 tháng. Ngoài ra đã sản xuất bánh dinh dƣỡng
cho bò từ vỏ quả ca cao khô, có thể bảo quản đƣợc đến 1 năm. Bánh dinh dƣỡng là
nguồn bổ sung khoáng cho bò.
Trong những năm 2014 - 2016, WASI đã phối hợp với Trung tâm Ứng dụng
tiến bộ Khoa học& công nghệ Đắk Lắk đã sản xuất thành công chế phẩm lên men
Lactic dùng để ủ chua các phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho bò, bƣớc đầu cho
thấy thức ăn ủ có thời gian bảo quản lâu, chất lƣợng tốt, bảo đảm đủ tiêu chuẩn để làm
thức ăn cho bò trong mùa khô. Tạo ra chế phẩm sinh học mới tại địa phƣơng, có chất
lƣợng tốt và chủ động trong việc tạo nguồn thức ăn cho bò, nhằm phát triển chăn
nuôi bò bền vững và giảm đƣợc ô nhiễm môi trƣờng.
Từ những kết quả đó, WASI đã chuyển giao thành công “Quy trình kỹ thuật
chế biến cỏ và phụ phẩm làm thức ăn cho bò” vào sản xuất ở các tỉnh Tây Nguyên.
3.5. Xây dựng các mô hình ứng dụng KHCN trong chăn nuôi bò thịt
WASI đã tiến hành nghiên cứu xây dựng một số mô hình chăn nuôi bò ứng
dụng các tiến bộ kỹ thuật gồm: nuôi bò lai hƣớng thịt, trồng cỏ cao sản, chế biến thức
ăn, vỗ béo bò tại các tỉnh Tây Nguyên, kết quả của các mô hình nhƣ sau:
- Mô hình chăn nuôi bò thịt dƣới tán rừng tại Đắk Lắk: Xây dựng 06 mô hình
chăn nuôi bò thịt sử dụng đồng cỏ chăn thả dƣới tán rừng tại xã Cƣ M’lan, huyện Ea
Súp, tỉnh Đắk Lắk, quy mô đàn có từ 50 - 110 con bò. Mô hình có tính bền vững và
mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn sản xuất đại trà là 25%.
- Mô hình chăn nuôi bò thịt ứng dụngcác giải pháp KHCN: Xây dựng 06 mô
hình nuôi bò thịt tại huyện Đức Trọng và Đơn Dƣơng, tỉnh Lâm Đồng. Quy mô có 5 -
8 con bò. Mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn chăn nuôi truyền thống là 30,2%.
- Mô hình chăn nuôi bò lai cao sản: Xây dựng 10 mô hình chăn nuôi bò lai cao
sản tại các huyện Đơn Dƣơng, Đức Trọng, Di Linh và TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
Quy mô có 8 -13 con bò lai. Mô hình phát triển tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Thu nhập các mô hình tăng cao hơn chăn nuôi truyền thống là 33,1%. Thu tăng thêm
sau 02 năm cho 10 mô hình là trên 1.856 triệu đồng (TB 928 triệu đồng/năm).
- Mô hình chăn nuôi bò tại hộ đồng bào dân tộc tại chỗ tại 3 tỉnh: Đắk Lắk, Đắk
Nông và Gia Lai, quy mô đàn 7 - 8 con bò. Mô hình nuôi bò có áp dụng các tiến bộ kỹ
thuật cho thu nhập tăng thêm so với chăn nuôi truyền thống là 60,8%.
- Mô hình chăn nuôi bò lai Zêbu: Xây dựng 03 mô hình theo quy mô trang trại,
có tổng đàn: 270 - 300 con bò nền sinh sản tại Đắk Lắk, Gia Lai. Tiền lãi thu về của
mô hình nuôi bò lai cao hơn nuôi bò địa phƣơng từ 25 - 30%.
Tóm lại, các nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong chăn nuôi bò thịt
đã đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, liên tục từ nhiều năm qua tại Tây Nguyên. Tất cả các
nghiên cứu trên đều cho thấy khiáp dụng đồng bộ các giải pháp khoa học công nghệ về
giống, thức ăn, dinh dƣỡng, kỹ thuật chăn nuôi, bò thịt cho năng suất và chất lƣợng thịt
cao đã góp phần phát triển ngành chăn nuôi bò thịt tai Tây Nguyên theo hƣớng hiệu
quả và bền vững.
IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
4.1. Kết luận
- Sử dụng tinh của các giống bò cao sản Brahman, Drought Master, Limousine
và Red Angus để phối giống cho bò cái Laisind, khối lƣợng và tăng khối lƣợng của
các nhóm bò lai đều cao hơn bò Laisind ở các thời điểm.
- Nuôi vỗ béo trong 90 ngày, tăng khối lƣợng của 3 nhóm bò lai cao sản là
tƣơng đƣơng nhau (đạt từ 801,1 - 882,2 g/con/ngày) và cao hơn bò Laisind. Chênh
lệch thu chi của nhóm bò lai Red Angus là cao nhất, tiếp đến là Drought Master và
thấp nhất là nhóm lai Brahman.Tỉ lệ thịt tinh và thịt xẻ của bò lai Red Angus là cao
nhất, sau đó đến nhóm bò lai Drought Master và thấp nhất là nhóm là lai Brahman.
- Đã tuyển chọn đƣợc 6 giống cỏ và cây thức ăn gia súc phù hợp trong điều
kiện vùng Tây Nguyên cho năng suất và tính chịu hạn cao, gồm: VA 06, Ghi nê (cỏ
Sả - Panicum maximum), Mulato II, cỏ Ruzi (Brizantha ruuinensis),
Paspalum(Paspalum atratum); đối với giống cỏ họ đậu có giống Stylo (Stylosanthes
guianensis). Các giống cây thức ăn đạt năng suất cao, cỏ VA06: 330,9 - 550 tấn/ha,
cỏ Voi: 298,1 tấn và Ghi nê: 174,9 tấn/ha.
- Việc chế biến thức ăn cho bò bằng phƣơng pháp ủ chua, ủ urê theo truyền
thống và bằng chế phẩm sinh học đối với cỏ và một số phụ phẩm nông nghiệp nhƣ
rơm, cây ngô, áo ngô sau thu hoạch, ngọn lá mía, vỏ ca cao, vỏ xơ mít…, thức ăn đƣợc
bảo quản đƣợc từ 3 tháng đến 1 năm, chất lƣợng thức ăn đƣợc bảo đảm. Sử dụng thức
ăn đã qua chế biến nuôi bò, tăng trọng của bò và hiệu quả kinh tế mang lại cao.
- Ứng dụng khoa học công nghệ để xây dựng một số mô hình chăn nuôi bò thịt
nhƣ: sử dụng bò lai cao sản, trồng các giống cây thức ăn gia súc, chế biến thức ăn, vỗ
béo bò tại các tỉnh Tây Nguyên, hiệu quả kinh tế của các mô hình tăng hơn so với chăn
nuôi truyền thống từ 25% đến 60,8%.
4.2. Đê nghị
Áp dụng các quy trình kỹ thuật trong chăn nuôi bò thịt tại Tây Nguyên nhằm
mang lại hiệu quả kinh tế và bền vững gồm: quy trình lai tạo bò lai cao sản; quy trình
vỗ béo bò thit; quy trình trồng và sử dụng các giống cây thức ăn gia súc; quy trình chế
biến cỏ và một số phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho bò.
Hình 1: Bò lai Drought Master lúc 18 tháng tuổi
Hình 2: Bò lai Red Angus lúc 18 tháng tuổi
Hình 3. Bò lai Red Angus vỗ béo
Hình 4. Thịt bò lai cao sản
Bạn đang xem tài liệu "Một số kết quả nghiên cứu phát triển chăn nuôi bò thịt tại Tây Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_ket_qua_nghien_cuu_phat_trien_chan_nuoi_bo_thit_tai_t.pdf

