< 0.002mm
12
18
20
Tổng hợp kết quả nghiên cứu đất đen ở nhiều địa phương cho thấy: Đất có phản ứng
trung tính hoặc kiềm yếu, bão hòa bazơ, màu đen hoặc nâu thẫm, hàm lượng chất hữu cơ
trong tầng đất mặt rất cao, mùn từ 7 - 8%. Hàm lượng đạm và lân tổng số trung bình và
khá. Đất có phản ứng trung tính và hơi kiềm. Thành phần cơ giới trung bình và nặng. Đất
thường có kết cấu viên tơi xốp, ở các tầng phía dưới có thể gặp kết von CaCO3 thứ sinh.
Riêng đất đen cacbonat ở địa hình thấp thoát nước không tốt, thường xuất hiện glây ở
tầng dưới và lượng Ca2+, Mg2+ khá cao.
Đây là nhóm đất có chất lượng khá nhưng phải khắc phục một số nhược điểm thường
gặp phải như úng và mức độ lẫn đá tầng mỏng ở một số nơi.
c. Về tính thích nghi và hướng sử dụng:
Đất thường khô hạn nên chủ yếu thích hợp trồng các cây hoa màu như: ngô, khoai, sắn,
các cây công nghiệp như mía, bông, các loại đậu đỗ và các loại cây ăn quả. Ở địa hình bằng
thoát nước kém nếu có đủ nước có thể cấy lúa. Chú ý sử dụng các dạng phân bón phù hợp
trong môi trường trung tính và kiềm, giàu Ca2+, Mg2+.
III. NHÓM ĐẤT NÂU (XK) - Lixisols (LX)
Diện tích toàn nhóm: 42.330 ha, chiếm tỷ lệ 0,12% diện tích toàn quốc.
Phân bố: Gặp chủ yếu ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận.
1. Hình thành và phân loại
Đất nâu được chia thành 3 đơn vị là:
- Đất nâu vùng bán khô hạn
- Đất đỏ vùng bán khô hạn
- Đất nâu vàng vùng khác
- Ký hiệu là: XK - Haplic Lixisols - LXh
- Ký hiệu là: XKđ - Chromic Lixisols - LXx
- Ký hiệu là: XKh - Haplic Luvisols - LVh
trong đó chủ yếu là đất nâu vùng bán khô hạn chiếm diện tích đến 95% diện tích của
nhóm. Đất thường trên sản phẩm của phù sa cổ hoặc đá mẹ giàu thạch anh.
Trước đây có tên là đất nâu vùng bán khô hạn. Nhóm đất này hình thành trong hoàn
cảnh đặc biệt ở vùng khí hậu khô của Việt Nam tại 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận.
Ở đây lượng mưa thấp hơn lượng bốc hơi; mức độ rửa trôi, xói mòn yếu. Do địa hình
đặc biệt, chung quanh được bao bọc bởi các dãy núi nên tuy gần biển nhưng lượng mưa
hàng năm thấp từ 600 - 1200mm, số ngày mưa trong năm 50 - 70 ngày. Mùa khô kéo dài
từ 6 - 9 tháng, lượng bốc hơi cao hơn hẳn lượng mưa (thường lớn hơn 1500mm) làm cho
đất thường xuyên khô hạn. Quá trình rửa trôi, xói mòn các chất rất ít xảy ra, các chất kiềm,
sắt, nhôm được tích lũy trong đất làm cho đất có màu nâu vàng. Đá mẹ chủ yếu là Granit,
thứ đến là Anđêzit và mẫu chất phù sa cổ. Thảm thực vật tự nhiên đặc trưng cho vùng bán
khô hạn gồm các trảng cỏ, cây bụi, rừng thưa với các cây thân gai như cây chim chích, các
cây họ dầu...
Trên bản đồ đất tỷ lệ 1/1.000.000, nhóm đất này có 2 đơn vị đất là: đất nâu vùng bán
khô hạn (XK) - Haplic Lixisols (LXh) và đất đỏ vùng bán khô hạn (XKd) - Chromic
Lixisols (LXx).
2. Tính chất đất .
Phẫu diện TH18 đào tại nông trường Thành Sơn, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
Địa hình bằng phẳng, đất trồng lúa, bông.
0 - 25cm: Màu nâu nhạt (10YR 4/3M), thịt pha sét, hơi ẩm, khối tảng lớn, sắc cạnh, rất
chặt, cứng, khô, nhiều rễ cây nhỏ, chuyển lớp rõ về độ chặt.
25 - 45cm: Màu nâu nhạt (10YR 4/3M), thịt pha sét, ẩm, khối tảng lớn, ít chặt hơn tầng
trên, nhiều vảy mica và lẫn hạt cát thạch anh, có lẫn ít mạch gỗ, chuyển lớp rõ về màu sắc.