Bổ sung dẫn liệu phân tử và khảo sát đặc điểm nuôi trồng của chủng nấm Hương Sapa Lentinula edodes
102
Lê Huyền Ái Thúy và cộng sự. HCMCOUJS-Kỹ thuật và Công nghệ, 16(1), 102-111
Bổ sung dẫn liệu phân tử và khảo sát đặc điểm nuôi trồng
của chủng nấm Hương Sapa Lentinula edodes
Supplementation of molecular data and studying the cultural
characteristics of Sapa shiitake mushroom Lentinula edodes
Lê Huyền Ái Thúy1, Lao Đức Thuận1, Nguyễn Hoàng Mai2, Phan Hoàng Đại2,
Nguyễn Trương Kiến Khương2, Trương Bình Nguyên2*
1Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
2Đại học Đà Lạt, Việt Nam
THÔNG TIN
TÓM TẮT
DOI:10.46223/HCMCOUJS.
tech.vi.16.1.1915.2021
Mẫu nấm Hương Sapa (Ký hiệu Len026) được thu hái tại
vùng rừng núi xã Sơn Bình, huyện Tam Đường, tỉnh Lào Cai vào
cuối tháng 05 năm 2019 khi đang phát triển trên các thân cây lá
rộng mục. Các đặc điểm hình thái bên ngoài như màu nâu đỏ (khi
ẩm ướt) chuyển sang vàng nâu, kèm các vết nứt nhẹ (khi khô) của
mũ nấm cùng các vảy sợi trên bề mặt mũ, lớp thịt mũ mỏng, mép
mũ cuộn khi non duỗi phẳng đến hơi vểnh lên khi già; Các đặc
điểm hiển vi như cấu tạo dạng elip của bào tử và đặc biệt là sự tồn
tại của các liệt bào cạnh (pleurocystidia) và liệt bào đỉnh
(cheilocystidia) cho thấy mẫu nấm này mang khá nhiều đặc điểm
pha trộn của cả 03 loài Lentinula edodes, Lentinula lateritia và
Lentinula boryana, là những loài loài đã được nhận định có thể
tồn tại ở nước ta. Tuy nhiên, các dẫn liệu phân tích đoạn ITS
rDNA cho mẫu nấm Hương trên lại cho thấy đây là loài Lentinula
edodes. Giống thuần của chủng nấm này đã được phân lập từ mô
thịt quả thể. Trong điều kiện nuôi trồng nhân tạo trên cơ chất mạt
cưa gỗ cao su nấm sinh trưởng và phát triển rất tốt. Mặc dù hiệu
suất sinh học của chủng Len026 còn khá thấp nhưng với các đặc
điểm như: tốc độ tăng trưởng hệ sợi và quá trình nâu hóa hệ sợi
nhanh cũng như khả năng hình thành mầm nấm rất mạnh cho thấy
đây là một chủng nấm tiềm năng dùng làm nguyên liệu lai tạo
giống nấm mới phục vụ công nghệ nuôi trồng nấm Hương của địa
phương.
Ngày nhận: 04/06/2021
Ngày nhận lại: 07/06/2021
Duyệt đăng: 15/06/2021
Từ khóa:
hình thái giải phẫu; ITSrDNA;
giống nấm; Lentinula edodes;
Sapa
ABSTRACT
Samples of Sapa shiitake mushroom (named Len026),
growing on decaying broadleaf stems, were collected in the
mountainous areas of Son Binh commune, Tam Duong district,
Lao Cai province at the end of May 2019. External morphological
features: the mushroom cap has fibrous scales on its surface,
reddish brown (when being wet) turn into yellow brown, with
Lê Huyền Ái Thúy và cộng sự. HCMCOUJS-Kỹ thuật và Công nghệ, 16(1), 102-111
103
slight cracks (when being dry); thin cap flesh; in young fruiting
bodies, rolled cap edge, flattened to slightly raised in mature
ones. Microscopic features the elliptic structure of the spores and
especially the existence of pleurocystidia and cheilocystidia. The
above features indicate that this sample has quite a mix of all
three characteristics species Lentinula edodes, Lentinula lateritia
and Lentinula boryana, which have been identified that may exist
in our country. However, the ITS rDNA analysis data for this
mushroom shows that this is a species of Lentinula edodes.
Purebred of this strain has been isolated from fruiting body tissue.
In the conditions of artificial cultivation on the rubber wood
sawdust substrate, the mushroom grew and developed very well.
Although the biological efficiency of strain Len026 was still quite
low, the characteristics such as: rapid growth of mycelium and
browning of mycelium as well as the ability to form very strong
fungal sprouts indicate that this strain is potential to be used as a
raw material for breeding new mushroom varieties for local
technology of growing shiitake mushrooms.
Keywords:
anatomical morphology; ITS
rDNA; Lentinula edodes;
mushroom varieties; Sapa
1. Giới thiệu
Nấm hương Lentinula edodes (Berk.) Pegler thuộc họ Marasmiaceae bộ Agaricales, tên
người Tày gọi là bioóc hom (nấm hoa). Theo các nghiên cứu về khu hệ tài nguyên nấm hương
Lentinula trên thế giới thì Việt Nam nằm trong khu vực phân bố của năm trong số bảy loài được
khảo cứu và công nhận chính thức (Hibbett, 2001; Mata & Petersen, 2001; Pegler, 1983), nhưng
chỉ mới ghi nhận một loài Lentinula edodes (Berk.) Pegler (thu được ở Lào Cai, Cao Bằng và
Lâm Đồng) và loài L. lateritia (thu được ở Lạc Dương, Lâm Đồng). Ngoài ra còn có 03 loài
Lentinula sp1 (phân bố ở Lâm Đồng), Lentinula sp2 (phân bố Cát Tiên, Đồng Nai) và Lentinula
sp3. (phân bố Pù Mát, Nghệ An) (L. H. P. Le, Do, Le, & Truong, 2010; T. X. Le et al., 2010;
Trinh, 1998). Như vậy chính thức chỉ mới có hai loài L. edodes và L. lateritia (Mẫu thu được ở
núi Langbiang, Lâm Đồng) là đã được khảo cứu kỹ về hình thái cùng như sinh học phân tử. Các
loài khác có nằm trong số 03 loài Lentinula sp1, Lentinula sp2 và Lentinula sp3 này hay không?
Hay đây là những loài mới trong chi Lentinula? Là những câu hỏi vẫn chưa được giải quyết thỏa
đáng. Các loài nấm thuộc chi Lentinula có các đặc điểm hình thái bên ngoài và cả giải phẫu bên
trong khá giống nhau. Trong khi ở nấm sự biến đổi hình thái theo môi trường là rất lớn, cho nên
để phân biệt các loài mà chỉ dựa vào các đặc điểm hình thái là gần như không thể chính xác.
Việc phân loại nhóm nấm hương trở nên càng phức tạp hơn khi các loài trong chi nấm này phân
bố trong vùng Úc - Á lại có thể lai được với nhau (Shimomura, Hasebe, Nakai-Fukumasa, &
Kornatsu, 1992).
Các ứng dụng sinh học phân tử để xác định nguồn gốc phát sinh của các loài nấm Hương
đã được tiến hành từ những năm 90. Đa số các công trình đều cho kết quả là có sự tách biệt khá
rõ ràng giữa các loài L. edodes, L. boryana, L. lateritia, L. novaezelandiae có sự phân chia thành
nhóm giữa các mẫu thu được theo các khu vực địa lý rất rõ ràng (Hibbett, 2001; Mata &
Petersen, 2001; Nicholson, Bunyard, & Royse, 1997). Ở Việt Nam, các mẫu thu được tại núi
Langbiang, Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà, Vườn Quốc gia Cát Tiên đã được xem xét ở mức
độ phân tử (L. H. P. Le et al., 2010; T. X. Le et al., 2010). Riêng các mẫu thu được tại Sapa vẫn
chưa được giám định mặc dù đã có nhiều báo cáo thu được nấm Hương (Lentinula edodes) ở khu
104
Lê Huyền Ái Thúy và cộng sự. HCMCOUJS-Kỹ thuật và Công nghệ, 16(1), 102-111
vực này (Pham & Vo, 1995, 1998, 1999 ; Trinh, 1998).
Nấm Hương có thành phần dinh dưỡng cao và hương vị hấp dẫn đặc biệt nên được coi là
một loại nấm thực phẩm cao cấp (Crisan & Sands, 1987; Hui, Wei, & Liu, 2004; Vetter, 1995).
Bên cạnh đó, nấm hương còn có những giá trị y dược đặc sắc như: hoạt tính kháng sinh, hoạt
tính chống ung thư, hoạt tính chống virus, tăng cường miễn dịch, hoạt động loại trừ cholesterol
… Do đó, tại các nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc … nấm Hương đã được nuôi trồng
trên quy mô lớn đem lại hiệu quả kinh tế rất cao (Nguyen, 2005). Trong thời gian gần đây ở Việt
Nam đã có một số cơ sở sản xuất nấm Hương. Tuy nhiên cho tới nay Việt Nam vẫn phải nhập
khẩu một lượng nấm Hương không nhỏ từ Trung Quốc và một lượng nhỏ từ Nhật Bản. Một
trong những lý do dẫn đến việc sản xuất nấm Hương tại Việt Nam chưa thực sự phát triển có lẽ
là do nấm Hương có thời gian nuôi trồng rất dài và phải trải qua nhiều công đoạn phức tạp trong
quy trình nuôi trồng, do vậy rất khó hiện đại hóa, tự động hóa các khâu sản xuất. Công nghệ sản
xuất nấm Hương ở các nước có trình độ cao về nuôi trồng nấm như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng
vẫn phải dựa nhiều vào điều kiện tự nhiên (Chan, 2005). Do vậy yếu tố giống nấm sẽ đóng vai
trò rất quan trọng vì chi khi có những chủng giống nấm chất lượng cao, có khả năng thích ứng
cao với điều kiện tự nhiên của địa phương thì việc sản xuất loài nấm này mới phát triển thuận lợi
được. Như vậy, việc tìm kiếm, sưu tập các nguồn gene bản địa và kiểm định danh pháp của
chúng ở mức độ phân tử sẽ rất quan trọng vì chính nó sẽ đặt nền tảng cho công tác lai tạo giống
và xây dựng công nghệ sản xuất nấm Hương của nước ta.
Cuối tháng 05 năm 2019, chúng tôi đã thu hái một số quả thể nấm đang phát triển trên
các thân cây lá rộng đang mục (Ký hiệu Len026) tại vùng rừng núi xã Sơn Bình, huyện Tam
Đường, tỉnh Lào Cai. Các đặc điểm hình thái bên ngoài cho thấy đây là các mẫu nấm thuộc một
loài trong chi Lentinula (Earle). Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu này từ nhận định sơ bộ đây là
một chủng giống nấm hoang dại quý có tiềm năng dùng làm nguyên liệu cho việc lai tạo ra các
chủng nấm nuôi trồng cho địa phương.
2. Đối tượng và phương pháp
2.1. Đối tượng
Mẫu nấm ký hiệu Len026 (mẫu có mùi thơm nấm Hương rất nồng) thu hái trên thân cây
gỗ lá rộng đang mục, tại khu vực rừng cây lá rộng xã Sơn Bình, huyện Tam Đường, tỉnh Lào Cai
vào cuối tháng 05 năm 2019.
2.2. Phân lập giống thuần
Một mảnh mô thịt nấm kích thước khoảng 0.5 × 0.5 × 0.1cm được tách ra từ phần thịt
nấm nơi tiếp xúc giữa mũ và cuống nấm, trong điều kiện vô trùng được đưa vào các đĩa Petri
(Φ10cm) chứa môi trường PGA (Potato Glucose Agar) để tạo nguồn giống thuần. Sau khi phân
lập, các đĩa này được nuôi ủ ở nhiệt độ 25 ± 2ºC, trong thời gian 20 ngày. Sau khi kiểm tra giống
mẹ được cấy truyền vào các ống nghiệm, nuôi ủ trong cùng điều kiện rồi đưa vào bảo quản ở
nhiệt độ 5 ± 2ºC. Đây chính là nguồn giống phục vụ cho việc tách chiết DNA và các nghiên cứu
về đặc điểm sinh trưởng và phát triển của chủng giống nấm này.
2.3. Định danh
2.3.1. Phương pháp so sánh hình thái giải phẫu
Mẫu quả thể nấm thu được trong tự nhiên được phân tích các đặc điểm hình thái theo
phương pháp của Singer (1986). Cấu trúc giải phẫu hiển vi của thể sinh sản, bào tử đảm, liệt bào
… được tiến hành quan sát dưới kính hiển vi quang học (Olympus BX53 - Nhật Bản). Các dẫn liệu
Lê Huyền Ái Thúy và cộng sự. HCMCOUJS-Kỹ thuật và Công nghệ, 16(1), 102-111
105
này được so sánh với các tài liệu tham khảo của các tác giả nước ngoài (Imazeki, Otani, & Hongo,
1988; Pegler, 1983; Singer, 1986; Teng, 1995). Mẫu vật sau khi định danh được sấy khô và bảo
quản tại Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Nông nghiệp Công nghệ cao, trường Đại học Đà Lạt.
2.3.2. Phương pháp sinh học phân tử
DNA từ hệ sợi nấm được tách chiết bằng phương pháp sử dụng phenol/chloroform,
phỏng theo phương pháp của Chomczynski và Sacchi (1987): 01 que gạt hệ sợi được cho vào
eppendorf đã có chứa 100µl dung dịch TE 1X, thêm vào 900l Trizol, pH8. DNA sau đó được
tủa bằng Isopropanol với chất trợ tủa GlycoBlue. DNA được giữ trong dung dịch TE 1X (Tris-
EDTA) và bảo quản ở -20oC cho đến khi sử dụng.
Phản ứng PCR được thực hiện trên máy Mxpro-Mx3005P (Stratagene) với chương trình
nhiệt bao gồm 95ºC-5’ (1 chu kỳ), 40 chu kỳ lặp lại với 94ºC-30’’, 50ºC-30’’, 72ºC-30’’ và
72ºC-5’ (01 chu kỳ). Thể tích hỗn hợp phản ứng là 50µl bao gồm: 1 × dung dịch đệm PCR,
100nmol/L mồi, 400μmol/L mỗi loại dATP, dGTP, dCTP và dTTP, 1.5units hot-start Taq DNA
polymerase, 3mmol/L MgCl2. Trình tự của hai mồi sử dụng trong phản ứng PCR (và cũng là
phản ứng giải trình tự) như sau: ITS1: TCCGTAGGTGAACCTGCGG và ITS4:
TCCTCCGCTTATTGATATGC. Sản phẩm PCR sẽ được phân tích trên gel agarose và sau đó
gửi đến công ty Macrogen, Hàn quốc để tinh sạch và giải trình tự. Trình tự này sau đó sẽ được
dùng để dò tìm trình tự tương đồng trên ngân hàng dữ liệu gene bằng công cụ BLAST (Basic
Local Alignment search tool) (Altschul, Gish, Miller, Myers, & Lipman, 1990).
2.3.3. Khảo sát các đặc điểm nuôi trồng
- Đánh giá khả năng hình thành quả thể và chất lượng quả thể trong điều kiện nuôi trồng
nhân tạo
Hỗn hợp 400g mạt cưa gỗ cao su, 50g cám gạo, 50g cám bắp, 7.5CaCO3 và 1,000g nước
được cho vào một bịch plastic (polypropylen) sau khi phối trộn kỹ; các bịch được hấp khử trùng
ở 96ºC, thời gian 06 giờ. (Chuẩn bị cơ chất và nuôi trồng quả thể theo quy trình công nghệ đang
áp dụng tại công ty cổ phần Nguyên Long - Đà Lạt).
- Nuôi ủ hệ sợi
Mỗi bịch cơ chất được cấy khoảng 20gr giống mẹ làm từ hạt lúa mì trong điều kiện vô
trùng. Sau khi cấy giống, các bịch phôi được nuôi trong phòng ủ tơ có nhiệt độ ban đêm 15 ±
2ºC; nhiệt độ ban ngày 25 ± 2ºC cho tới khi hệ sợi xâm chiếm toàn bộ khối cơ chất.
- Nâu hóa bịch phôi
Phôi nấm sau khi được lột bỏ lớp túi plastic được chuyển sang phòng ra quả thể ở chế độ
tối/sáng tự nhiên với cường độ ánh sáng tối đa khoảng 500lux, ẩm độ không khí duy trì trên
80%. Nhiệt độ 25 ± 2ºC. Quan sát và đánh giá quá trình nâu hóa của các bịch phôi.
- Ra quả thể
Quá trình hình thành quả thể được tiến hành trong điều kiện nhiệt độ ban ngày 25 ± 2ºC,
nhiệt độ ban đêm 15 ± 2ºC và ẩm độ không khí duy trì ở 85-95%.
Các thông số kỹ thuật được xác định thông qua thời gian hệ sợi xâm chiếm toàn bộ cơ
chất; thời gian hóa nâu; thời gian hình thành mầm quả thể; số lượng mầm nấm/ bịch; tỷ lệ mầm
nấm phát triển tới trưởng thành/ số mầm nấm; năng suất bịch phôi; tỷ lệ quả thể theo kích thước
và trọng lượng.
106
Lê Huyền Ái Thúy và cộng sự. HCMCOUJS-Kỹ thuật và Công nghệ, 16(1), 102-111
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Định danh
Đặc điểm hình thái giải phẫu: Mẫu nấm Len026 mọc rời rạc trên thân gỗ mục của cây lá
rộng phủ đầy rêu (Hình 1A). Mũ nấm có màu nâu sậm khi ướt, chuyển sang nâu nhạt khi khô, có
các vảy sợi thô màu trắng, lồi nhẹ khi còn non, phẳng dần khi trưởng thành, mép mũ mỏng dễ
rách (Hình 1B, 1C); Kích thước mũ nấm 2.5- 2.0cm; Bào tầng dạng phiến, đính rời, màu trắng
(Hình 2); Cuống nấm kích thước: 0.6-1.5cm × 3-5cm; đính giữa hoặc hơi lệch tâm, hình trụ, đặc
chắc, màu trắng ở phần trên cao, màu nâu ở sát phần giá thể. Mặt cuống có vảy thô; Tồn tại vòng
nấm rất mờ, dạng sợi tơ. Chất thịt màu trắng, mềm, thịt mũ nấm mỏng 0.3cm, dai, cấu tạo bởi
lớp sợi kết hợp khá lỏng lẻo, thường phân nhánh và có khóa ở hầu hết các vách ngăn. Bào tử
màu trắng, bầu dục đến hơi elip, trong suốt không chứa tinh bột, không chứa đường dextro, vách
mỏng nhẵn, với một vài hạt bên trong, thuôn thành mấu nhỏ ở đầu bào tử phần tiếp xúc với tiểu
bính. Kích thước: 3-3.5 × 5-6µm. Đảm dạng chùy hẹp, mang 04 tiểu bính. Các liệt bào cạnh
(pleurocystidia) dạng chày phình to, trong suốt. Liệt bào đỉnh (cheilocystidia) dạng quả lê hoặc
dạng chày phình to có chóp nhọn.
Hình 1. Nấm Hương Sapa trong tự nhiên A. Sinh cảnh nơi thu mẫu; B. mặt trên mũ nấm, với các
vảy màu trắng; C. thụ tầng dạng phiến
Lê Huyền Ái Thúy và cộng sự. HCMCOUJS-Kỹ thuật và Công nghệ, 16(1), 102-111
107
Hình 2. Giải phẫu quả thể nấm Hương Sapa, A Quả thể; B Bào tầng dạng phiến; C Cấu trúc hệ
sợi thịt mũ nấm; D Đảm; E Cheilocystidia; F Cấu trú hệ sợi song song ở chất nền bào tầng;
G Bào tử đảm
3.2. Phân tích phả hệ học dựa trên vùng trình tự ITS1, 5.8S, ITS2
Cơ sở dữ liệu được xây dựng thông qua việc thu thập các trình tự tham chiếu các loài
thuộc chi Lentinula trên cơ sở dữ liệu genbank (NCBI, n.d.). Nhóm ngoại được sử dụng là trình
tự loài Marasmiellus foliiplilus (thuộc chi Marasmiellus). Các trình tự tham chiếu được trình bày
ở Bảng 1.
Bảng 1
Danh sách các chủng nấm sử dụng để dựng cây phả hệ và mã số gia nhập (accession number)
trên ngân hàng gene
Loài
Chủng
STCL-125
STCL-140
VB-361
Mã số truy cập
AF031183
AF031184
AF031189
AF031190
AF031191
AF031176
AF031177
MH211931
MH212103
JQ247977
KP317637
NR154176
Ghi chú
Trung Quốc
Trung Quốc
Hàn Quốc
Hàn Quốc
Nepal
Lentinula edodes
Lentinula edodes
Lentinula edodes
Lentinula edodes
VB-355
Lentinula edodes
TMI1546
Lentinula boryana
Lentinula boryana
Lentinula raphanica
Lentinula raphanica
Lentinula aciculospora
Marasmiellus foliiplilus
Marasmiellus foliiplilus
IE 17/R38
IE 154/R50
FLAS-F-61499
FLAS-F-61820
PPN-ag-001
CUH AM090
CUH AM090
Nguồn: Dữ liệu thu nhận trên ngân hàng Genbank (NCBI, n.d.)
108
Lê Huyền Ái Thúy và cộng sự. HCMCOUJS-Kỹ thuật và Công nghệ, 16(1), 102-111
Mô hình tiến hóa T92+G được áp dụng cho việc xây dựng cây phả hệ phân tử Maximum
likelihood với giá trị bootstrap lặp lại 1,000 lần. Kết quả cây phả hệ phân tử được trình bày ở
hình sau:
Hình 3. Kết quả phân tích phả hệ mẫu Len026
Dựa trên kết quả phân tích phả hệ phân tử, các mẫu thực nghiệm đều phân nhóm với loài
Lentinula edodes (với giá trị bootstrap đạt 99%) và tách biệt với các loài khác trong chi
Lentinula. Đồng thời, chi này hoàn toàn tách biệt với trình tự loài Marasmiellus foliiplilus (thuộc
chi Marasmiellus) - nhóm ngoại.
Xét riêng nhóm Lentinula edodes, mẫu Len026 hình thành nhóm đơn (monophyletic
group) với trình tự tham chiếu Lentinula edodes có nguồn gốc từ Nepal với giá trị bootstrap
100%.
Như vậy, điều này gợi ý rằng mẫu Len026 tương đồng với mẫu Lentinula edodes có
nguồn gốc từ Nepal.
3.3. Nꢀm hương chủng giống Len026 nuôi trồng trên môi trường nhân tạo
Trên cơ chất mùn cưa cây cao su có bổ sung dinh dưỡng, Len026 phát triển khá nhanh,
thời gian hệ sợi xâm chiếm toàn bộ bịch cơ chất 1.4kg trong khoảng 79 ngày (bịch mọc nhanh
nhất) đến 85 ngày (bịch mọc chậm nhất) (Hình 4A, 4B).
Hình 4. Các giai đoạn phát triển của Len026: A. Hệ sợi sau 35 ngày; B. Hệ sợi sau 80
ngày; C, D. Mầm quả thể xuất hiện ngay trong quá trình nâu hóa; E. Quả thể Len026
Lê Huyền Ái Thúy và cộng sự. HCMCOUJS-Kỹ thuật và Công nghệ, 16(1), 102-111
109
Sau khi hệ sợi vừa xâm chiếm toàn bộ khối cơ chất, mặc dù vẫn chưa mở bịch thì đã xuất
hiện các điểm nâu hóa phân bố khá đều trên toàn bộ bề mặt bịch cơ chất (Hình 4C). Len026 hóa
nâu khá nhanh và dễ dàng trong khoảng thời gian 22-25 ngày.
Bảng 2
Một số thông số kỹ thuật nuôi trồng chủng nấm Hương Sapa trên cơ chất mùn cưa cao su
Thời gian phủ kín cơ Thời gian hóa nâu
Thời gian ra quả
thể (ngày)
Chủng giống
Len026
chất (ngày)
(ngày)
82 ± 3
20 - 22
5 - 6
Nguồn: Tác giả quan sát và thu thập
Mầm nấm xuất hiện ngay trong quá trình nâu hóa. Kể từ khi mở bịch đề hệ sợi nấm tiếp
xúc không khí thì 05-06 ngày sau các mầm nấm đã bắt đầu xuất hiện với số lượng rất lớn.
Các mầm nấm đều phát triển đến trưởng thành đạt hiệu suất sinh học là 27.73%. Tuy
nhiên kích thước nấm rất nhỏ, số quả thể có kích thước < 1.5cm chiếm đến 65.7%; nấm có kích
thước từ 1.5cm-2.5cm chiếm 17.3% trong khi nấm có đường kính mũ > 2.5cm chỉ chiếm 17%
(Bảng 3). Chất lượng chủng giống nấm Len026 khá thấp khi thể hiện qua tỷ lệ nấm có trọng
lượng > 10g/quả thể chiếm tỷ lệ rất thấp (5%) (Bảng 3).
Bảng 3
Phân loại chất lượng quả thể nấm
Tỷ lệ theo trọng lượng
Tỷ lệ theo đường kính mũ (%)
(%)
>
Chủng
giống
Năng suất trung
2.5(cm)
[A1]
bình
1.5 - 2.5
(cm)
< 1.5(cm)
65.7
< 5g
71.8
5 - 10g
23.2
> 10g
5.0
[A1]
17.0
Len026
17.3
138.65 ± 3.11
Nguồn: Tác giả quan sát và tổng hợp
4. Kết luận
Qua giải phẫu hình thái và phân tích sinh học phân tử cho thấy mẫu nấm Lentinula thu
thập được tại Lào Cai chính là một chủng nấm hương thuộc loài Lentinula edodes, thuộc chi
Lentinula Earle, họ Marasmiaceae, bộ Agaricales.
Chủng giống Len026 có khả năng phát triển tốt trong điều kiện nuôi trồng nhân tạo và có
nhiều đặc điểm ưu việt như thời gian phát triển hệ sợi ngắn, thời gian hóa nâu bịch phôi ngắn,
khả năng hình thành mầm nấm cao và dễ dàng, tỉ lệ nấm non phát triển tới trưởng thành cao … là
những tính chất có thể tận dụng để phục vụ cho công nghệ nuôi trồng nấm. Đây thực sự là một
nguồn gene bản địa quý trong công tác lai tạo các chủng giống sản xuất thích nghi cao với điều
kiện nuôi trồng địa phương.
LỜI CÁM ƠN
Chúng tôi xin cảm ơn Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí
Minh và Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn Thành phố
110
Lê Huyền Ái Thúy và cộng sự. HCMCOUJS-Kỹ thuật và Công nghệ, 16(1), 102-111
giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025 (Quyết định số 6510/QĐ-UBND ngày
24/11/2016) đã tài trợ nghiên cứu này.
Tài liệu tham khảo
Altschul, S. F., Gish, W., Miller, W., Myers, E. W., & Lipman, D. J. (1990). Basic local
alignment search tool. Journal of Molecular Biology, 215(3), 403-410.
Chan, A. W. (2005). Shiitake bag cultivation. In Mushroom growers handbook 2. Seoul, Korea:
MushWorld.
Chomczynski, P., & Sacchi, N. (1987). Single-step method of RNA isolation by acid
guanidinium thiocyanate-phenol-chloroform extraction. Analytical Biochemistry, 162(1),
156-159.
Crisan, E. V., & Sands, A. (1987). Nutritional value. In S. Chang & W. A. Hayes (Eds.), The
Biology and Cultivation of Edible Mushroom (pp. 137-165). London, UK: Academic Press.
Hibbett, D. S. (2001) Shiitake mushrooms and the molecular clocks: Historical biogeography of
Lentinula. Journal of Biogeography, 28, 231-241.
Hui, F. L., Wei, M. H., & Liu, Z. H. (2004). Assay study on amino acid, trace elements and toxic
heavy metals of the fruit bodies of Lentinus edodes. Shipin Kexue (Beijing, China), 25,
161-163.
Imazeki, R., Otani, Y., & Hongo, T. (1988). Fungi of Japan. Tokyo, Japan: Yama-kei Publishers
Co., Ltd.
Le, L. H. P., Do, L. T. T., Le, T. H. A., & Truong, N. B. (2010). Nghiên cứu một số đặc điểm
sinh học của chủng nấm hương Lentinula edodes hoang dại, mới phát hiện tại núi
Langbian, Đà Lạt [A study on biological characteristics of wild shiitake mushroom strain
Lentinula edodes, newly found in Mount LangBiang, Dalat City]. Tạp Chí Công Nghệ Sinh
Học, 8(3B), 1397-1404.
Le, T. X., Nguyen, H. L. Q., Truong, H. T., Hoang, H. T., Pham, D. N., Truong, N. B., & Dao,
L. T. (2010). Nghiên cứu đa dạng của các loài nấm Hương Lentinula edodes ở Sapa,
Lentinula cf. lateritia ở Langbian, Đà Lạt và Lentinula sp. mới tìm thấy ở Cát Tiên, Việt
Nam [Study on the diversity of shiitake Lentinula edodes species in Sapa, Lentinula cf.
lateritia in Langbiang, Da Lat and Lentinula sp., newly discovered in Cat Tien, Vietnam].
Tạp chí Công Nghệ Sinh Học, 8(1), 87-101.
Mata, J. L., & Petersen, R. H. (2001). Type specimen studies of New World Lentinula.
Mycotaxon, 79, 217-229.
Nguyen, D. L. (2005). Công nghệ nuôi trồng nấm [Mushroom farming technology]. Hanoi,
Vietnam: Nhà xuất bản Nông nghiệp.
Nicholson, M. S., Bunyard, B. A., & Royse, D. J. (1997). Phylogeny of the genus Lentinula
based on ribosomal DNA restriction fragment length polymorphism analysis. Mycologia,
89(3), 400-407.
Pegler, D. N. (1983). The genus Lentinula (Tricholomataceae tribe Collybieae). Sydowia, 36,
227-239.
Lê Huyền Ái Thúy và cộng sự. HCMCOUJS-Kỹ thuật và Công nghệ, 16(1), 102-111
111
Pham, H. T., & Vo, K. T. P. (1995). Trồng nấm hương Lentinula edodes phân lập tại Cao Bằng
[Growing shiitake Lentinula edodes isolated in Cao Bang]. Kỷ yếu hội nghị Khoa học
trường ĐH Tổng hợp Tp. HCM, 595-601.
Pham, H. T., & Vo, K. T. P. (1998). Lai nấm hương Lentinula edodes Cao Bằng với chủng nấm
hương nhập từ Nhật [Hybridization of Lentinula edodes Cao Bang with a strain of shiitake
imported from Japan]. Di truyền học và ứng dụng, 1, 1-6.
Pham, H. T., & Vo, K. T. P. (1999). Lai nấm hương Lentinula edodes giữa chủng Cao Bằng và
chủng L170 nhập nội [Hybridization of Lentinula edodes between Cao Bang strain and
imported L170 strain]. Di truyền học và ứng dụng, 4, 15-19.
Shimomura, N., Hasebe, K., Nakai-Fukumasa, Y., & Kornatsu, M. (1992). Intercompatibility
between geographically distant strains of Shiitake (Reports of the Tottori Mycological
Institute, No. 30). Retrieved May 10, 2021, from Food and Agriculture Organization
Singer, R. (1986). The agaricales in modern taxonomy (4th ed.). Koenigstein, Germany: Koeltz
Scientific Books.
Teng, S. C. (1995). Fungi of China. New York, NY: Mycotaxon, LTD.
Trinh, K. T. (1998). Danh lục nấm lớn Việt Nam [List of large mushrooms in Vietnam]. Hanoi,
Vietnam: Nhà xuất bản Nông nghiệp.
Vetter, J. (1995). Mineral and amino acid contents of edible, cultivated mushroom Shiitake
(Lentinus edodes). Zeitschrift fuer Lebensmittel – Unterssuchung und Forschung, 201, 17-
19.
Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License.
Bạn đang xem tài liệu "Bổ sung dẫn liệu phân tử và khảo sát đặc điểm nuôi trồng của chủng nấm Hương Sapa Lentinula edodes", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bo_sung_dan_lieu_phan_tu_va_khao_sat_dac_diem_nuoi_trong_cua.pdf

