Tài nguyên cây thuốc thân thảo và dây leo tại Nam Cát Tiên, Vườn Quốc gia Cát Tiên
Nghiên cứu khoa học công nghệ
TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC THÂN THẢO VÀ DÂY LEO
TẠI NAM CÁT TIÊN, VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN
NGUYỄN THỊ VÂN (1), LÊ BỬU THẠCH (2)
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tài nguyên cây thuốc trong tự nhiên chiếm một vị trí quan trọng về thành phần
loài tạo nên sự đa dạng của hệ thực vật tại một khu vực và có giá trị y học, kinh tế và
văn hóa [1].
Vườn quốc gia Cát Tiên (VQGCT) có diện tích 70548,36 ha. Phần Nam Cát
Tiên (NCT) thuộc xã Đắk Lua, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai [2]. Đây là rừng
nguyên sinh đặc trưng của khu vực Đông Nam bộ. Tại đây đã có nhiều chương trình,
dự án của các tổ chức trong và ngoài nước nghiên cứu về tài nguyên rừng cũng như
tài nguyên thực vật rừng, đã đánh giá khá đầy đủ giá trị tài nguyên thực vật. Tuy
nhiên, tại đây tài nguyên cây thuốc dưới tán rừng của kiểu rừng bán rụng lá và các
sinh cảnh mở, chủ yếu là các loài cây thuốc thân thảo và dây leo có vòng đời ngắn
thường có biến động theo mùa rất lớn, chưa được quan tâm và nghiên cứu sâu.
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu kiểm kê, hệ thống hóa, lập cơ sở dữ liệu phục vụ
công tác quản lý, hướng đến khai thác, phát triển bền vững và bảo tồn.
2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và nội dung nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cây thuốc thân thảo và dây leo. Nội dung nghiên cứu
đa dạng thành phần loài và biến động theo mùa cây dược liệu thân thảo và dây leo
tại NCT, từ đó đưa ra giải pháp bảo tồn phù hợp. Thời gian nghiên cứu thực địa từ
tháng 11 năm 2019 đến tháng 11 năm 2020. Địa điểm nghiên cứu lại NCT, xã Đắk
Lua, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Điều tra theo tuyến: Nghiên cứu thực địa được tiến hành trên 5 tuyến: tuyến
Núi Tượng; vườn thực vật - Thác Trời; tuyến cây gõ Bác Đồng; tuyến Bằng Lăng;
tuyến cây Tung. Mỗi tuyến điều tra lập 5 ô mẫu cố định có kích thước 100m2 tại một
trong các sinh cảnh đường mòn, trảng cỏ, rừng trồng, rừng tái sinh, rừng tự nhiên.
Mục đích lập ô mẫu cố định để theo dõi sự biến động thành phần loài giữa mùa khô
và mùa mưa (hình 1).
Khảo sát thành phần loài cây thuốc ở VQGCT, sử dụng các phương pháp
nghiên cứu thực vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [3, 4]. Cây thuốc được định
danh dựa vào các tài liệu chính: Thực vật có hoa của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [3];
sách Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (2003) [5]; Danh lục cây thuốc Việt
Nam (2016) của Viện Dược liệu [6]. Xác định công dụng làm thuốc dựa theo các tài
liệu: Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam của Đỗ Huy Bích và ctv. (2006)
[7]; Những cây và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi (2004) [8]; Từ điển cây thuốc
Việt Nam của Võ Văn Chi (2019) [9]; Danh mục thực vật Cát Tiên [10]. Đa dạng
cây thuốc về phân loại được thực hiện theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn
16
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021
Nghiên cứu khoa học công nghệ
(2007) [3] bao gồm đánh giá các bậc phân loại, dạng sống, sinh cảnh. Đa dạng bộ
phận sử dụng và công dụng chữa bệnh theo Đỗ Huy Bích và ctv. (2006) [7], Đỗ Tất
Lợi (2004) [8] và Võ Văn Chi (2019) [9]. Sử dụng GPS định vị tại các điểm thu
mẫu. Phân tích số liệu: sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2019.
Hình 1. Bản đồ vị trí các tuyến nghiên cứu khảo sát ở NCT
3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Đa dạng thành phần loài
Kết quả nghiên cứu thành phần loài cây thuốc thân thảo và dây leo tại NCT đã
xác định được: 84 loài, 65 chi và 34 họ thuộc 2 ngành thực vật bậc cao có mạch là
ngành Dương xỉ (Pteridophyta-Polypodiophyta) và Mộc lan (Magnoliophyta).
Không có loài nào được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam [11]. Sự phân bố được thể
hiện ở bảng 1.
Bảng 1. Thành phần loài cây thuốc thân thảo và dây leo tại NCT
Họ
Chi
Loài
Ngành
Tỷ lệ
(%)
Tỷ lệ
(%)
Tỷ lệ
(%)
Số lượng
Số lượng
Số lượng
Pteridophyta-
Polypodiophyta
1
2,94
1
1,54
1
1,19
Magnoliophyta
33
97,06
64
98,46
83
98,81
Tổng cộng
34
100
65
100
84
100
Ghi chú: Tỷ lệ % = Số lượng (họ, chi, loài)*100/Tổng số họ, chi hoặc loài thu
được.
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021
17
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Bảng 1 cho thấy sự phân bố các taxon trong các ngành là không đồng đều, đa
số các taxon tập trung vào ngành Mộc lan (Magnoliophyta) với 33 họ chiếm 97,06%
tổng số họ, 64 chi chiếm 98,46% tổng số chi, 83 loài chiếm 98,81% số loài của khu
vực nghiên cứu. Ngành Dương xỉ chỉ thu được 1 loài chiếm 2,94% tổng số họ.
Trong ngành Mộc lan thì lớp Ngọc lan (Magnliopsida) chiếm ưu thế với 27 họ
chiếm 81,82% số họ, 54 chi chiếm 84,38% số chi và 73 loài chiếm 87,95% số loài.
Sự khác biệt thể hiện qua bảng 2.
Bảng 2. Sự phân bố thành phần cây thuốc trong ngành Mộc lan
Họ
Chi
Loài
Lớp
Tỷ lệ
(%)
Tỷ lệ
(%)
Tỷ lệ
(%)
Số lượng
Số lượng
Số lượng
Magnoliopsida
Liliopsida
27
6
81,82
18,18
100
54
10
64
84,38
15,63
100
73
10
83
87,95
12,05
100
Magnoliophyta
33
Ghi chú: Tỷ lệ % = Số lượng (họ, chi, loài)*100/Tổng số họ, chi hoặc loài thu
được.
Bảng 2 cho thấy tỷ lệ hai lớp trong ngành Mộc lan có sự phân hóa khá mạnh,
tỷ lệ họ giữa lớp Ngọc lan và lớp Hành (Liliopsida) (M/L) là 4,5. Tỷ lệ M/L ở bậc
chi là 5,4 và bậc loài là 7,3. Điều này cho thấy lớp Ngọc lan đóng vai trò quan trọng
của hệ thực vật làm thuốc ở khu vực nghiên cứu.
Trong 25 ô đo đếm dọc các tuyến nghiên cứu thu được 84 loài dây leo và thân
thảo dùng làm thuốc thuộc 34 họ và 65 chi; gồm các họ Nguyệt sỉ (Adiataceae); họ
Rau đắng đất (Aizoaceae); họ Dền (Amaranthaceae); họ Náng (Amaryllidaceae); họ
Hoa tán (Apiaceae); họ Ráy (Araceae); họ Thiên lý (Asclepiadaceae); họ Cúc
(Asteraceae); họ Vòi voi (Borginaceae); họ Thài lài (Commelinaceae); họ Bìm bìm
(Convolvulaceae); họ Bầu bí (Cucurbitaceae); họ Cói (Cyperaceae); họ Củ nâu
(Dioscoreaceae); họ Thầu dầu (Euphorbiaceae); họ Đậu (Fabaceae); họ Rau tai voi
(Gesneriaceae); họ Bông (Malvaceae); họ Tiết dê (Menispermaceae); họ Hoa Lan
(Orchidaceae); họ Chua me đất (Oxalidaceae); họ Lạc tiên (Passifloraceae); họ Hồ
tiêu (Piperaceae); họ Mã đề (Plantaginaceae); họ Lúa (Poaceae); họ Rau sam
(Portulaceae); họ Cà phê (Rubiaceae); họ Bồ Hòn (Sapindaceae); họ Hoa mõm chó
(Scrophulariaceae); họ Kim cang (Smilacaceae); họ Gai (Urticaceae); họ Cỏ roi
ngựa (Verbenaceae); họ Nho (Vitaceae); họ Gừng (Zingiberaceae). Danh lục 84 loài
cây thuốc thân thảo và dây leo ghi nhận tại NCT trong đợt khảo sát năm 2019-2020
được thể hiện trọng bảng 3.
18
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Bảng 3. Danh lục cây thuốc thân thảo và dây leo ghi nhận tại NCT
Hình
thức ghi
nhận
TT
Tên Việt Nam
Tên Latin
I
Ngành (Phylum): Ngọc Lan (Magnoliophyta)
Lớp (Class): Hai Lá mầm (Magnoliopsida)
1 Cây Bình cu
Mollugo pentaphylla L.
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
2 Rau đắng đất
3 Cỏ Tam khôi
4 Ngưu tất nam
5 Ngưu tất, cỏ xước
6 Nở ngày đất
7 Mào gà dại
8 Náng hoa trắng
9 Rau má
10 Ráy leo Hồng Kông
11 Thiên niên kiện
12 Cây bán hạ
13 Củ nưa, khoai na
14 Hà Thủ ô trắng
15 Ngải dại
16 Cúc áo hoa vàng
17 Cải trời, cải ma
18 Bọ xít, cỏ hôi
19 Cải tàu bay
20 Cỏ hôi, cứt lợn
21 Rau má tía
22 Bạch đầu ông
23 Cỏ Lào
Glinus oppositifolius (L.) DC.
Trianthema pottulacastrum L.
Achyranthes aspera L.
Achyranthes bidentata Blume
Gomphrena celosioides Mart.
Celosia argentea L.
Crinum asiaticum L.
Centella asiatica (L.) Urban.
Rhaphidophora hongkongensis
Homalomena romatica (Roxb). Schott
Typhonium trilobatum Schott
Amorphophallus rivieri Dur.
Streptocaulon juventas Merr.
Artemisia vulgaris L. indica (Willd.) DC
Bidens pilosa L.
Blumea lacera (Burm.f.) DC
Syndedrella nodiflora (L.) Gaertn
Gynura crepidioides BENTH.
Ageratum conyzoides L.
Emilia sonchifolia (L.) DC.
Vernonia cinerea (L.) Less.
Eupatorium odoratum L.
Heliotropium indicum L.
Commelina communis L.
24 Cỏ vòi voi
25 Thài lài
26 Bìm bìm lá nho
27 Bìm vàng
28 Bìm chân chó
29 Dây cứt quạ
30 Dây cứt quạ lá khía
Merremia vitifolia (Bern.f) Hall.f.
Merremia hederaceae (Bern.f.) Hall.f.
Ipomoea pestigridis L.
Gymnopetalum integrifolium (Roxb.) Kurz
Gymnopetalum cochinchinense (Lour.)
Kurz
31 Mướp đắng rừng
32 Bình bát
33 Củ mài
34 Củ nâu
35 Cỏ sữa lá nhỏ
Momordica charantia L., 1753
Coccinia grandis (L.) Voigt.
Dioscorea persimilis Prain et Burk.
Dioscrorea cirrhosa Luor.
Euphorbia thymifolia Burm.
A
A
A
A
A
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021
19
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Hình
thức ghi
nhận
A
TT
Tên Việt Nam
Tên Latin
Euphorbia hirta L.
36 Cỏ sữa lá to
37 Diệp hạ châu đắng
38 Thảo quyết minh
39 Cỏ hàn the
40 Tràng cỏ ba hoa
41 Xấu hổ
42 Kim Tiền thảo
43 Cây thóc lép
44 Cây tai voi nhỏ
45 Tai voi phễu
46 Tai voi lông móc câu
47 Vông vang
48 Ké hoa vàng
49 Cây chổi đực
50 Lan hạc đính nâu
Phyllathus amarus Schum. Et Thon.
Senna tora (L.) Roxb
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
Desmodium heterophyllum (Willd) DC
Desosdium triquetrum (L.) DC.
Mimosa pudica L. var. hispida Brenan
Desmodium styracifolium (Osb.) Merr.
Desmodium gangeticum DC.
Chirita pumila D.DON, 1825
Chirita eberhardtii Pellegr
Chirita hamosa R. Br.
Hibiscus abelmoschus L.
Sida rhombifolia L.
Sida acuta Burm.
Phaius tankervileae
51 Chua me đất hoa vàng Oxalis corniculata L.
52 Nhãn lồng, lạc tiên
53 Hoàng đằng chân vịt
54 Dây sâm, sâm lông
55 Dây đau xương
56 Dây mối
57 Rau càng cua
58 Lá lốt
59 Trầu rừng
60 Mã đề
61 Rau sam
62 Cỏ mực
63 Cây lưỡi rắn trắng
64 An điền tai
65 Tầm phỏng
66 Cam thảo đất
67 Lữ đằng Pierre
68 Lữ đằng mềm
69 Cây lá han
Passiflora foctida L.
Cyclea bicristata Diels.
Cyclea barbata Miers.
Tinospora sinensis (LOUR.) MERR.
Stephania japonica (Thunb) Miers.
Peperomia pellucida L
Piper lolot C. DC.
Piper chaudocanum C. DC.
Plantago major L.
Portulaca oleracea L.
Eclipta prostrata (L.)
Hedyotis diffusa Willd.
Hydyotis. auricularia L.
Cardiospemum halicacabum L.
Scoparia dulcis L.
Lindernia pierreana (Bon.) Bon.
Lindernia mollis (Benth.) Wettst.
Laportea interrupta (Gand.) Chew.
Clerodendrum paniculatum L.
Lantana camara L.
70 Mò đỏ
71 Trăm ổi
72 Hồ đằng hai màu
73 Hồ đằng 4 cánh
73 Hồ đằng vuông
75 Cây vác
Cissus javana DC.
Cissus quadrangularis L.
Cissus subtetragona Pl.
Cayratia trifolia (L.) Domino
20
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Hình
thức ghi
nhận
TT
Tên Việt Nam
Tên Latin
Ngành (Phylum): Ngọc Lan (Magnoliophyta)
Lớp (Class): Một lá mầm (Liliopsida)
Cyperus rotundus L.
76 Hương phụ
77 Cỏ mần trầu
78 Cỏ tranh
A
A
A
A
Eleusine indica (L.) Gaertn.
Imperata cylindrical (L.) P. Beauv.
79 Kim cang lá quế
Smilax
corbularia
Kunth
subsp.
Corbularia
80 Gừng gió
81 Nga truật
82 Cây địa liền
83 Nghệ vàng
Zingiber zerumbet Sm.
Curcuma zerumbet Roxb.
Kaemferia galangal L.
A
A
A
A
Curcuma zanthorrhiza Roxb.
Ngành (Phylum): Dương xỉ (Pteridoohyta)
Lớp (Class): Dương xỉ (Polypodiopsida)
Pteris ensiformis (Burmf.)
84 Phượng vĩ thảo
A
Ghi chú: A: Có hình chụp và tiêu bản.
Mức độ đa dạng về bậc họ của 10 họ thân thảo và dây leo có nhiều loài làm
thuốc nhất tại khu vực nghiên cứu được thể hiện ở bảng 4.
Bảng 4. Các họ thân thảo và dây leo nhiều loài làm thuốc nhất tại NCT
Chi
Loài
TT
Tên họ
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Họ Cúc (Asteraceae)
Họ Đậu (Fabaceae)
8
4
3
4
3
3
1
4
2
2
12,31
6,15
4,62
6,15
4,62
4,62
1,54
6,15
3,08
3,08
9
6
4
4
4
4
4
4
3
3
10,71
7,14
4,76
4,76
4,76
4,76
4,76
4,76
3,57
3,57
Họ Dền (Amaranthaceae)
Họ Ráy (Araceae)
Họ Bầu bí Cucurbitaceae)
Họ Tiết dê (Menispermaceae)
Họ Nho (Vitaceae)
Họ Gừng (Zingiberaceae)
Họ Hồ tiêu (Piperaceae)
10 Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)
Tổng cộng 10 chi, họ nhiều
loài nhất
34
65
52,31
100
45
84
53,57
100
Tổng số chi, loài điều tra được
Ghi chú: Tỷ lệ % = Số lượng (chi, loài)*100/Tổng số chi hoặc loài thu được.
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021
21
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Về đa dạng loài ở bậc họ, trong 10 họ nhiều loài làm thuốc thân thảo và dây
leo nhất tại khu vực nghiên cứu chiếm 29,41% trên tổng số họ, 34 chi chiếm 52,31%
trên tổng số chi và 45 loài chiếm 53,57% trên tổng số loài cây thuốc đã được khảo
sát, ghi nhận tại khu vực nghiên cứu thì họ Cúc (Asteraceae) có số lượng loài được
sử dụng làm thuốc lớn nhất (9 loài), chiếm 10,71% trên tổng số 84 loài, họ Đậu
(Fabaceae) với 6 loài chiếm 7,14%, họ Dền (Amaranthaceae), họ Ráy (Araceae), họ
Bầu bí (Cucurbitaceae), họ Tiết dê (Menispermaceae), họ Nho (Vitaceae), họ Gừng
(Zingiberaceae) mỗi họ có 4 loài chiếm 4,76%. Đây cũng là những họ có số lượng
loài lớn trong hệ thực vật Việt Nam với nhiều loài có giá trị làm thuốc. Kết quả này
phù hợp với các nghiên cứu của Đỗ Tất Lợi (2004) và Võ Văn Chi (2019) trong điều
tra cây thuốc trước đó [8, 9].
Kết quả nghiên cứu đã thống kê được trong 34 họ thực vật dây leo và thân
thảo dùng làm thuốc được điều tra tại NCT có 15/34 họ (chiếm 44,12%) chỉ thu
được 1 loài. Sự mất đi một loài nào đó trong các họ này sẽ làm giảm đáng kể sự đa
dạng của thực vật thân thảo và dây leo tại đó. Tỷ lệ % của 10 họ thân thảo và dây leo
nhiều loài làm thuốc nhất đạt 53,57% trên tổng số 34 họ khảo sát được, trong đó chỉ
có họ Cúc chiếm tỷ lệ hơn 10,71% tổng số loài khảo sát, còn lại các họ đều chiếm tỷ
lệ dưới 10%.
Bảng 4 cũng cho thấy 4 chi đa dạng nhất chiếm tỷ lệ 35% trong tổng số chi
toàn hệ, và số loài đạt được chiếm tỷ lệ 32,14% tổng số loài của hệ. Đặc biệt chi
Cissus và chi Chirita đa dạng nhất với lần lượt 4 và 3 loài chiếm tổng 8,33%.
Kết quả khảo sát thu được 84 loài thuộc thân thảo và dây leo trong khu vực
nghiên cứu, có 62 loài thân thảo chiếm 73,81%; cây dây leo chiếm 26,19%. Chi tiết
được trình bày ở bảng 5.
Bảng 5. Số lượng và tỷ lệ cây thuốc thân thảo và dây leo tại NCT
Dạng sống
Số lượng loài
Tỷ lệ (%)
Thân thảo
62
Dây leo
22
Tổng số loài thu được
84
73,81
26,19
100
Ghi chú: Tỷ lệ % = Số lượng loài*100/Tổng số loài thu được.
Nhóm cây thân thảo chiếm ưu thế và phát triển tốt, nhất là khu vực đường mòn
và trảng cỏ, dưới tán rừng bán rụng lá chủ yếu tập trung ở các họ Asteraceae,
Araceae, Poaceae, Zingiberaceae... Nhóm thứ 2 là dây leo với 22 loài chiếm 26,19%
các loài chủ yếu mọc ở các trảng cây bụi, dưới tán rừng, nơi những cây gỗ lớn gãy
đổ, thuộc các họ Apocynaceae, Menispermaceae, Piperaceae, Vitaceae.
Đa dạng về bộ phận sử dụng của cây thuốc. Tùy mỗi loài cây mà bộ phận sử
dụng làm thuốc có thể khác nhau: có cây chỉ sử dụng được một bộ phận, có cây
dùng được hai hay nhiều bộ phận hoặc toàn bộ cây. Điều này phụ thuộc vào các hợp
chất hóa học có tác dụng trong điều trị các bệnh khác nhau của cây thuốc. Căn cứ
theo tài liệu của Đỗ Tất Lợi (2004) [8] và Võ Văn Chi (2019) [ 9], sự đa dạng về bộ
phận sử dụng được thể hiện ở bảng 6.
22
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Bảng 6. Đa dạng cây thuốc theo bộ phận sử dụng tại NCT
TT
1
Bộ phận dùng làm thuốc
Toàn cây
Số lượng loài
Tỷ lệ (%)
21,43
65,48
13,10
100
18
55
11
84
2
Thân, lá, hoa, quả
Rễ, củ
3
Tổng số loài khảo sát
Ghi chú: Tỷ lệ % = Số lượng loài*100/Tổng số loài thu được.
Kết quả bảng 6 cho thấy, bộ phận dùng là thân, lá, hoa, quả có tới 55 loài
chiếm 65,48% số loài được khảo sát. Chúng được sử dụng dưới dạng khô hoặc tươi
như Nở ngày đất (Gomphena celosioides Mart), Mào gà dại (Celosia argentea L.),
Thiên niên kiện (Homalomena romatica (Roxb.) Schott), Ngải dại (Artemisia
vulgaris var. indica (Willd.) DC.), Hạ khô thảo nam (Blumea lacera (Burm.f.)DC.),
Cải tàu bay (Gynura crepidioides Benth.), Vông vang (Hibiscus abelmoschus L.). Sử
dụng toàn cây có 18 loài chiếm 21,43% các loài như Trầu rừng (Pipe chaudocanum
C. DC.), Diệp hạ châu (Phyllathus urinaria L.), Hà thủ ô trắng (Streptocaulon
juventas Merr.), Sâm lông (Cyclea barbata Miers.), Kim tiền thảo (Desmodium
gangeticum Merr.),. Sử dụng rễ và củ có 11 loài chiếm 13,1% các loài nhưGừng gió
(Zingibe zerumbet Sm.), Địa liền (Kaemfeia galanga L.), Nghệ đen (Curcuma
zedoaria Rosc.), Củ mài (Dioscrorea pesimilis Prain et Burk.).
Dựa theo tài liệu của Đỗ Tất Lợi (2004) [8], Võ Văn Chi (2019) [9] đã thống
kê được 12 nhóm bệnh được chữa trị bằng cây thuốc khảo sát tại NCT. Trong đó 5
nhóm bệnh có số loài chữa bệnh trên 10 loài. Nhóm bệnh tiêu hóa, gan cao nhất 31
loài (36,9%) trên tổng số 84 loài khảo sát; nhóm bệnh xương khớp có 21 loài (25%);
nhóm cây chữa tiết niệu, thận có 19 loài (22,62%); nhóm cây chữa hô hấp có 13 loài
(15,48%), nhóm bệnh hạ sốt 12 loài (14,29%). Các nhóm bệnh còn lại như nhóm
bệnh huyết áp; nhóm bệnh ngoài da; nhóm bệnh tiểu đường; nhóm bệnh phong thấp,
phù tim; nhóm chữa bệnh côn trùng, rắn cắn; nhóm bệnh bướu cổ, tuyến giáp; nhóm
bệnh tim mạch, an thần ít hơn, chi tiết được thể hiện ở bảng 7.
Bảng 7. Đa dạng các nhóm công dụng của cây thuốc chữa bệnh tại NCT
TT
1
Nhóm công dụng của cây thuốc
Bệnh tiêu hóa, gan
Bệnh xương khớp, nhức mỏi
Bệnh tiết niệu, thận
Bệnh hô hấp
Số lượng loài
Tỷ lệ (%)
36,90
31
21
19
13
12
9
2
25,00
3
22,62
4
15,48
5
Hạ sốt
14,29
6
Bệnh huyết áp
10,71
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021
23
Nghiên cứu khoa học công nghệ
TT
7
Nhóm công dụng của cây thuốc
Bệnh ngoài da
Số lượng loài
Tỷ lệ (%)
8,33
7
6
8
Bệnh tiểu đường
7,14
9
Bệnh phong thấp, phù tim
4
4,76
10 Chữa rắn, côn trùng cắn
11 Bệnh bướu cổ, tuyến giáp
12 Bệnh tim mạch, an thần
Tổng số loài khảo sát
3
3,57
2
2,38
1
1,19
84
100
Ghi chú: Tỷ lệ % = Số lượng loài*100/Tổng số loài thu được.
Theo thống kê tại bảng 7 thấy rằng, nếu cộng tổng số loài chữa bệnh sẽ là 128
loài so với 84 loài khảo sát được. Có sự chênh lệch con số này vì có một số loài
đồng thời chữa được từ 2 nhóm bệnh trở lên, nhưng cũng có những loài chỉ chữa
được một nhóm bệnh.
3.2. Sự biến động cây thuốc thân thảo và dây leo tại NCT theo theo sinh
cảnh và theo mùa
Sinh cảnh sống của cây thuốc thân leo và thân thảo được chia làm 2 sinh cảnh
là đường mòn, trảng cỏ và rừng (bảng 8).
Bảng 8. Phân bố cây thuốc thân thảo và dây leo theo sinh cảnh ở NCT
TT
1
Sinh cảnh sống
Đường mòn, trảng cỏ
Số lượng loài
Tỷ lệ (%)
57,14
48
36
84
2
Rừng (tự nhiên, tái sinh, trồng)
42,86
Tổng số loài khảo sát
100
Ghi chú: Tỷ lệ % = Số lượng loài*100/Tổng số loài thu được.
Có 48 loài thu được ở sinh cảnh đường mòn, trảng cỏ, hoặc nơi những cây gỗ
lớn bị gãy đổ. Điển hình như các loài Ngải dại (Artemisia vulgaris var. indica (Willd.)
DC.), Cải trời (Blumea lacera (Burm.f.) DC.), Hy thiêm (Siegesbeckia orientalis L.),
Cải tàu bay (Gynura crepidioidesBenth.),Cỏ hôi (Ageratum conyzoides L.), Cam thảo
nam (Scoparia dulcis L.), Cỏ xước (Achyranthes aspera L.).
Có 36 loài khác gặp ở sinh cảnh rừng như Ngưu tất (Achyranthes bidentata
Blume.), Mào gà trắng (Celosia argentea L.), Hà thủ ô nam (Streptocaulon grifflthii
Hook.f.), Kim tiền thảo (Desmodium styracifolium (Osb.) Merr.), Trầu rừng (Piper
chaudocanum C. DC). Một số loài như Sâm lông (Cyclea barbata Miers.),Ruột gà
có khớp (Borreria articularis (L.f.) F. N. Will), Thiên niên kiện (Homalomena
romatica (Roxb). Schott.), Ráy leo (Rhaphidophora hongkongensis), Kim cang lá
quế (Smilax corbularia Kunth.) mọc trong rừng nguyên sinh. Các loài cây thuốc
mọc trong rừng tự nhiên thường đóng vai trò quan trọng trong các bài thuốc dân
gian và là đối tượng cần quan tâm bảo tồn.
24
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Nghiên cứu sự biến động cây thuốc theo mùa tại NCT thấy có 40 loài gặp vào
mùa mưa, có 44 loài gặp cả 2 mùa (bảng 9).
Bảng 9. Phân bố cây thuốc theo mùa ở NCT
TT
1
Mùa phân bố
Cả 2 mùa (mưa và khô)
Chỉ gặp mùa mưa
Số lượng loài
Tỷ lệ (%)
52,38
44
40
84
2
47,62
Tổng số loài khảo sát
100
Ghi chú: Tỷ lệ % = Số lượng loài*100/Tổng số loài thu được
Mùa khô gặp các loài dây leo có rễ củ sâu như củ mài (Dioscorea
persimilis Prain et Burk.); các loài thuộc họ Gừng (Zingiberaceae); Sâm lông
(Cyclea barbata Miers.); Kim cang lá quế (Smilax corbularia Kunth); Trầu rừng
(Piper chaudocanum C. DC); Trâm ổi (Lantana camara L.); Hà thủ ô nam
(Streptocaulon juventas Merr.).Mùa mưa các cây gặp vào mùa khô tiếp tục phát
triển, đồng thờigặp các cây thân thảo thuộc họ Cúc, họ Nho, họ Rau đắng đất, họ
Vòi voi, họ Bầu bí, họ Thầu dầu, họ Tai voi, họ Lúa, họ Cà phê.
Các loài thực vật gặp trong môi trường khắc nghiệt của mùa khô là cây sống
đa niên hoặc có rễ dài và thường mọc ở trong rừng, là những loài cần được quan tâm
bảo tồn.
4. KẾT LUẬN
- Bước đầu đã xác định được 84 loài thân thảo và dây leo thuộc 65 chi và 34
họ của 2 ngành thực vật bậc cao có mạch là Mộc lan (Magnoliophyta) và Dương xỉ
(Polypodiophyta) có tác dụng làm thuốc tại NCT. Trong đó, Ngành Mộc lan chiếm
98,81% số loài, 98,46% số chi và 97,06% số họ cây thuốc điều tra. Có 15 họ đơn
loài, 19 họ có từ 2 đến 9 loài. Có 58 chi đơn loài, 2 chi có 3 loài và 10 chi 2 loài. Hai
lớp trong ngành Mộc lan có sự phân hóa mạnh: 87,95% số loài; 81,82% số chi và
84,38% số họ thuộc lớp 2 lá mầm. Tỷ lệ loài giữa lớp Mộc lan và lớp Hành là 4,5;
bậc chi là 5,4 và bậc họ là 7,3.
- Ghi nhận 62 loài thân thảo, 22 loài dây leo dùng làm thuốc. Ba nhóm bộ
phận của cây dùng làm thuốc là toàn cây, thân lá hoa quả; rễ, củ lần lượt là 21,43%,
65,48%, và 13,1%.
- Các loài cây thuốc tại đây có khả năng chữa trị 12 nhóm bệnh khác nhau. Có
42,86% cây thuốc mọc ở trong rừng, 57,14% mọc ở trảng cỏ, đường mòn. Có sự
biến động tài nguyên cây thuốc theo mùa, có 40 loài chiếm 47,42% chỉ mọc vào
mùa mưa, có 44 loài chiếm 52,38% mọc cả mùa khô và mùa mưa.
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021
25
Nghiên cứu khoa học công nghệ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
Nguyễn Tiến Bân và cs., Sách đỏ Việt Nam (phần II-Thực vật), Nxb. Khoa học
Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội, 2007, 305 tr.
Đỗ Huy Bích và cs., Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập I-II,Nxb.
Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1993, Tập 1 tr.79-1061, Tập 2 tr.75-1157.
Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb. Y học, 2004, tr.30-
936.
4.
5.
Nguyễn Nghĩa Thìn, Thực vật có hoa, Nxb. ĐHQG Hà Nội, 2007, tr.125-149.
Nguyễn Nghĩa Thìn, Các phương pháp nghiên cứu thực vật, Nxb. ĐHQG Hà
Nội, 2007, tr.5-19.
6.
Nguyễn Thị Vân,Nghiên cứu khả năng thích ứng với điều kiện ánh sáng của
loài sâm lông (Clyclea barbata Miers) trồng thử nghiệm từ hạt và rễ tại Vườn
Quốc gia Cát Tiên,Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, 2016, 2(10):61-70.
7.
8.
9.
Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam, tập I, II, II, Nxb. Trẻ, 2003, tập 1 tr. 11-
991, Tập 2 tr. 11-929, Tập 3 tr.11-979.
Võ Văn Chi, Từ điển cây thuốc Việt Nam,(Bộ mới), tập I, II,Nxb. Y học, 2019,
Tập 11760tr.; Tập 21622tr.
WHO-IUCN-WWF (1993), Guidelines on The conversation of medicinal
plants, IUCN, Switzerland, tr.4-15.
vật Cát Tiên), 2020.
SUMMARY
RESOURCES OF HERBACEOUS AND CLIMBING MEDICINAL PLANTS
IN NAM CAT TIEN, CAT TIEN NATIONAL PARK
This study investigates the diversity and seasonal composition variation of
medicinal plants, including herbaceous and climbing species, in Nam Cat Tien in
order to find new sources of medicinal herbs and record data for management and
biodiversity conservation. The study was conducted from November 2019 to
November 2020 using the field survey methods to examine five pathways in Nam
Cat Tien. Overall, the survey identified 84 species of medicinal plants belonging to
34 families of Polypodiophyta and Magnoliophyta, these were collected from natural
forest, planted forest and and trails in Nam Cat Tien. Specifically, Magnoliophyta
accounted for the highest number of species with 83 species belonging to 33
families. The surveyed species could be classified into two groups regarding their
growth habits in which the highest group was herbaceous plant (62 species), the
26
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021
Nghiên cứu khoa học công nghệ
climbing plants with 22 species. Most plants were densely located along the trails
(48 species) and inside the forest (36 species). Almost all the plant parts like leaves
(55 species), roots (9 species) and even whole plants have reported containing
medical properties to alleviate 12 groups of diseases. Species composition of
herbaceous and climbing medicinal plants in Nam Cat Tien have seasonal variations.
Keywords: Cây dược liệu, thân thảo, dây leo, biến động theo mùa, đa dạng
thành phần loài, Nam Cát Tiên, Vườn quốc gia Cát Tiên.
Nhận bài ngày 14 tháng 12 năm 2020
Phản biện xong ngày 18 tháng 01 năm 2021
Hoàn thiện ngày 24 tháng 02 năm 2021
(1) Chi nhánh phía Nam, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga
(2) Viện Sinh thái học miền Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021
27
Bạn đang xem tài liệu "Tài nguyên cây thuốc thân thảo và dây leo tại Nam Cát Tiên, Vườn Quốc gia Cát Tiên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tai_nguyen_cay_thuoc_than_thao_va_day_leo_tai_nam_cat_tien_v.pdf

