Tài nguyên cây thuốc thân thảo và dây leo tại Nam Cát Tiên, Vườn Quốc gia Cát Tiên

Nghiên cứu khoa học công nghệ  
TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC THÂN THẢO VÀ DÂY LEO  
TẠI NAM CÁT TIÊN, VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN  
NGUYỄN THỊ VÂN (1), LÊ BỬU THẠCH (2)  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Tài nguyên cây thuốc trong tự nhiên chiếm một vị trí quan trọng về thành phần  
loài tạo nên sự đa dạng của hệ thực vật tại một khu vực và có giá trị y học, kinh tế và  
văn hóa [1].  
Vườn quốc gia Cát Tiên (VQGCT) có diện tích 70548,36 ha. Phần Nam Cát  
Tiên (NCT) thuộc xã Đắk Lua, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai [2]. Đây là rừng  
nguyên sinh đặc trưng của khu vực Đông Nam bộ. Tại đây đã có nhiều chương trình,  
dự án của các tổ chức trong và ngoài nước nghiên cứu về tài nguyên rừng cũng như  
tài nguyên thực vật rừng, đã đánh giá khá đầy đủ giá trị tài nguyên thực vật. Tuy  
nhiên, tại đây tài nguyên cây thuốc dưới tán rừng của kiểu rừng bán rụng lá và các  
sinh cảnh mở, chủ yếu là các loài cây thuốc thân thảo và dây leo có vòng đời ngắn  
thường có biến động theo mùa rất lớn, chưa được quan tâm và nghiên cứu sâu.  
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu kiểm kê, hệ thống hóa, lập cơ sở dữ liệu phục vụ  
công tác quản lý, hướng đến khai thác, phát triển bền vững và bảo tồn.  
2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng và nội dung nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu là cây thuốc thân thảo và dây leo. Nội dung nghiên cứu  
đa dạng thành phần loài và biến động theo mùa cây dược liệu thân thảo và dây leo  
tại NCT, từ đó đưa ra giải pháp bảo tồn phù hợp. Thời gian nghiên cứu thực địa từ  
tháng 11 năm 2019 đến tháng 11 năm 2020. Địa điểm nghiên cứu lại NCT, xã Đắk  
Lua, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Điều tra theo tuyến: Nghiên cứu thực địa được tiến hành trên 5 tuyến: tuyến  
Núi Tượng; vườn thực vật - Thác Trời; tuyến cây gõ Bác Đồng; tuyến Bằng Lăng;  
tuyến cây Tung. Mỗi tuyến điều tra lập 5 ô mẫu cố định có kích thước 100m2 tại một  
trong các sinh cảnh đường mòn, trảng cỏ, rừng trồng, rừng tái sinh, rừng tự nhiên.  
Mục đích lập ô mẫu cố định để theo dõi sự biến động thành phần loài giữa mùa khô  
và mùa mưa (hình 1).  
Khảo sát thành phần loài cây thuốc ở VQGCT, sử dụng các phương pháp  
nghiên cứu thực vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [3, 4]. Cây thuốc được định  
danh dựa vào các tài liệu chính: Thực vật có hoa của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [3];  
sách Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (2003) [5]; Danh lục cây thuốc Việt  
Nam (2016) của Viện Dược liệu [6]. Xác định công dụng làm thuốc dựa theo các tài  
liệu: Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam của Đỗ Huy Bích và ctv. (2006)  
[7]; Những cây và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi (2004) [8]; Từ điển cây thuốc  
Việt Nam của Võ Văn Chi (2019) [9]; Danh mục thực vật Cát Tiên [10]. Đa dạng  
cây thuốc về phân loại được thực hiện theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn  
16  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
(2007) [3] bao gồm đánh giá các bậc phân loại, dạng sống, sinh cảnh. Đa dạng bộ  
phận sử dụng và công dụng chữa bệnh theo Đỗ Huy Bích và ctv. (2006) [7], Đỗ Tất  
Lợi (2004) [8] và Võ Văn Chi (2019) [9]. Sử dụng GPS định vị tại các điểm thu  
mẫu. Phân tích số liệu: sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2019.  
Hình 1. Bản đồ vị trí các tuyến nghiên cứu khảo sát ở NCT  
3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN  
3.1. Đa dạng thành phần loài  
Kết quả nghiên cứu thành phần loài cây thuốc thân thảo và dây leo tại NCT đã  
xác định được: 84 loài, 65 chi và 34 họ thuộc 2 ngành thực vật bậc cao có mạch là  
ngành Dương xỉ (Pteridophyta-Polypodiophyta) và Mộc lan (Magnoliophyta).  
Không có loài nào được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam [11]. Sự phân bố được thể  
hiện ở bảng 1.  
Bảng 1. Thành phần loài cây thuốc thân thảo và dây leo tại NCT  
Họ  
Chi  
Loài  
Ngành  
Tỷ lệ  
(%)  
Tỷ lệ  
(%)  
Tỷ lệ  
(%)  
Số lượng  
Số lượng  
Số lượng  
Pteridophyta-  
Polypodiophyta  
1
2,94  
1
1,54  
1
1,19  
Magnoliophyta  
33  
97,06  
64  
98,46  
83  
98,81  
Tổng cộng  
34  
100  
65  
100  
84  
100  
Ghi chú: Tỷ lệ % = Số lượng (họ, chi, loài)*100/Tổng số họ, chi hoặc loài thu  
được.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
17  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Bảng 1 cho thấy sự phân bố các taxon trong các ngành là không đồng đều, đa  
số các taxon tập trung vào ngành Mộc lan (Magnoliophyta) với 33 họ chiếm 97,06%  
tổng số họ, 64 chi chiếm 98,46% tổng số chi, 83 loài chiếm 98,81% số loài của khu  
vực nghiên cứu. Ngành Dương xỉ chỉ thu được 1 loài chiếm 2,94% tổng số họ.  
Trong ngành Mộc lan thì lớp Ngọc lan (Magnliopsida) chiếm ưu thế với 27 họ  
chiếm 81,82% số họ, 54 chi chiếm 84,38% số chi và 73 loài chiếm 87,95% số loài.  
Sự khác biệt thể hiện qua bảng 2.  
Bảng 2. Sự phân bố thành phần cây thuốc trong ngành Mộc lan  
Họ  
Chi  
Loài  
Lớp  
Tỷ lệ  
(%)  
Tỷ lệ  
(%)  
Tỷ lệ  
(%)  
Số lượng  
Số lượng  
Số lượng  
Magnoliopsida  
Liliopsida  
27  
6
81,82  
18,18  
100  
54  
10  
64  
84,38  
15,63  
100  
73  
10  
83  
87,95  
12,05  
100  
Magnoliophyta  
33  
Ghi chú: Tỷ lệ % = Số lượng (họ, chi, loài)*100/Tổng số họ, chi hoặc loài thu  
được.  
Bảng 2 cho thấy tỷ lệ hai lớp trong ngành Mộc lan có sự phân hóa khá mạnh,  
tỷ lệ họ giữa lớp Ngọc lan và lớp Hành (Liliopsida) (M/L) là 4,5. Tỷ lệ M/L ở bậc  
chi là 5,4 và bậc loài là 7,3. Điều này cho thấy lớp Ngọc lan đóng vai trò quan trọng  
của hệ thực vật làm thuốc ở khu vực nghiên cứu.  
Trong 25 ô đo đếm dọc các tuyến nghiên cứu thu được 84 loài dây leo và thân  
thảo dùng làm thuốc thuộc 34 họ và 65 chi; gồm các họ Nguyệt sỉ (Adiataceae); họ  
Rau đắng đất (Aizoaceae); họ Dền (Amaranthaceae); họ Náng (Amaryllidaceae); họ  
Hoa tán (Apiaceae); họ Ráy (Araceae); họ Thiên lý (Asclepiadaceae); họ Cúc  
(Asteraceae); họ Vòi voi (Borginaceae); họ Thài lài (Commelinaceae); họ Bìm bìm  
(Convolvulaceae); họ Bầu bí (Cucurbitaceae); họ Cói (Cyperaceae); họ Củ nâu  
(Dioscoreaceae); họ Thầu dầu (Euphorbiaceae); họ Đậu (Fabaceae); họ Rau tai voi  
(Gesneriaceae); họ Bông (Malvaceae); họ Tiết dê (Menispermaceae); họ Hoa Lan  
(Orchidaceae); họ Chua me đất (Oxalidaceae); họ Lạc tiên (Passifloraceae); họ Hồ  
tiêu (Piperaceae); họ Mã đề (Plantaginaceae); họ Lúa (Poaceae); họ Rau sam  
(Portulaceae); họ Cà phê (Rubiaceae); họ Bồ Hòn (Sapindaceae); họ Hoa mõm chó  
(Scrophulariaceae); họ Kim cang (Smilacaceae); họ Gai (Urticaceae); họ Cỏ roi  
ngựa (Verbenaceae); họ Nho (Vitaceae); họ Gừng (Zingiberaceae). Danh lục 84 loài  
cây thuốc thân thảo và dây leo ghi nhận tại NCT trong đợt khảo sát năm 2019-2020  
được thể hiện trọng bảng 3.  
18  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Bảng 3. Danh lục cây thuốc thân thảo và dây leo ghi nhận tại NCT  
Hình  
thức ghi  
nhận  
TT  
Tên Việt Nam  
Tên Latin  
I
Ngành (Phylum): Ngọc Lan (Magnoliophyta)  
Lớp (Class): Hai Lá mầm (Magnoliopsida)  
1 Cây Bình cu  
Mollugo pentaphylla L.  
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
2 Rau đắng đất  
3 Cỏ Tam khôi  
4 Ngưu tất nam  
5 Ngưu tất, cỏ xước  
6 Nở ngày đất  
7 Mào gà dại  
8 Náng hoa trắng  
9 Rau má  
10 Ráy leo Hồng Kông  
11 Thiên niên kiện  
12 Cây bán hạ  
13 Củ nưa, khoai na  
14 Hà Thủ ô trắng  
15 Ngải dại  
16 Cúc áo hoa vàng  
17 Cải trời, cải ma  
18 Bọ xít, cỏ hôi  
19 Cải tàu bay  
20 Cỏ hôi, cứt lợn  
21 Rau má tía  
22 Bạch đầu ông  
23 Cỏ Lào  
Glinus oppositifolius (L.) DC.  
Trianthema pottulacastrum L.  
Achyranthes aspera L.  
Achyranthes bidentata Blume  
Gomphrena celosioides Mart.  
Celosia argentea L.  
Crinum asiaticum L.  
Centella asiatica (L.) Urban.  
Rhaphidophora hongkongensis  
Homalomena romatica (Roxb). Schott  
Typhonium trilobatum Schott  
Amorphophallus rivieri Dur.  
Streptocaulon juventas Merr.  
Artemisia vulgaris L. indica (Willd.) DC  
Bidens pilosa L.  
Blumea lacera (Burm.f.) DC  
Syndedrella nodiflora (L.) Gaertn  
Gynura crepidioides BENTH.  
Ageratum conyzoides L.  
Emilia sonchifolia (L.) DC.  
Vernonia cinerea (L.) Less.  
Eupatorium odoratum L.  
Heliotropium indicum L.  
Commelina communis L.  
24 Cỏ vòi voi  
25 Thài lài  
26 Bìm bìm lá nho  
27 Bìm vàng  
28 Bìm chân chó  
29 Dây cứt quạ  
30 Dây cứt quạ lá khía  
Merremia vitifolia (Bern.f) Hall.f.  
Merremia hederaceae (Bern.f.) Hall.f.  
Ipomoea pestigridis L.  
Gymnopetalum integrifolium (Roxb.) Kurz  
Gymnopetalum cochinchinense (Lour.)  
Kurz  
31 Mướp đắng rừng  
32 Bình bát  
33 Củ mài  
34 Củ nâu  
35 Cỏ sữa lá nhỏ  
Momordica charantia L., 1753  
Coccinia grandis (L.) Voigt.  
Dioscorea persimilis Prain et Burk.  
Dioscrorea cirrhosa Luor.  
Euphorbia thymifolia Burm.  
A
A
A
A
A
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
19  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Hình  
thức ghi  
nhận  
A
TT  
Tên Việt Nam  
Tên Latin  
Euphorbia hirta L.  
36 Cỏ sữa lá to  
37 Diệp hạ châu đắng  
38 Thảo quyết minh  
39 Cỏ hàn the  
40 Tràng cỏ ba hoa  
41 Xấu hổ  
42 Kim Tiền thảo  
43 Cây thóc lép  
44 Cây tai voi nhỏ  
45 Tai voi phễu  
46 Tai voi lông móc câu  
47 Vông vang  
48 Ké hoa vàng  
49 Cây chổi đực  
50 Lan hạc đính nâu  
Phyllathus amarus Schum. Et Thon.  
Senna tora (L.) Roxb  
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
A
Desmodium heterophyllum (Willd) DC  
Desosdium triquetrum (L.) DC.  
Mimosa pudica L. var. hispida Brenan  
Desmodium styracifolium (Osb.) Merr.  
Desmodium gangeticum DC.  
Chirita pumila D.DON, 1825  
Chirita eberhardtii Pellegr  
Chirita hamosa R. Br.  
Hibiscus abelmoschus L.  
Sida rhombifolia L.  
Sida acuta Burm.  
Phaius tankervileae  
51 Chua me đất hoa vàng Oxalis corniculata L.  
52 Nhãn lồng, lạc tiên  
53 Hoàng đằng chân vịt  
54 Dây sâm, sâm lông  
55 Dây đau xương  
56 Dây mối  
57 Rau càng cua  
58 Lá lốt  
59 Trầu rừng  
60 Mã đề  
61 Rau sam  
62 Cỏ mực  
63 Cây lưỡi rắn trắng  
64 An điền tai  
65 Tầm phỏng  
66 Cam thảo đất  
67 Lữ đằng Pierre  
68 Lữ đằng mềm  
69 Cây lá han  
Passiflora foctida L.  
Cyclea bicristata Diels.  
Cyclea barbata Miers.  
Tinospora sinensis (LOUR.) MERR.  
Stephania japonica (Thunb) Miers.  
Peperomia pellucida L  
Piper lolot C. DC.  
Piper chaudocanum C. DC.  
Plantago major L.  
Portulaca oleracea L.  
Eclipta prostrata (L.)  
Hedyotis diffusa Willd.  
Hydyotis. auricularia L.  
Cardiospemum halicacabum L.  
Scoparia dulcis L.  
Lindernia pierreana (Bon.) Bon.  
Lindernia mollis (Benth.) Wettst.  
Laportea interrupta (Gand.) Chew.  
Clerodendrum paniculatum L.  
Lantana camara L.  
70 Mò đỏ  
71 Trăm ổi  
72 Hồ đằng hai màu  
73 Hồ đằng 4 cánh  
73 Hồ đằng vuông  
75 Cây vác  
Cissus javana DC.  
Cissus quadrangularis L.  
Cissus subtetragona Pl.  
Cayratia trifolia (L.) Domino  
20  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Hình  
thức ghi  
nhận  
TT  
Tên Việt Nam  
Tên Latin  
Ngành (Phylum): Ngọc Lan (Magnoliophyta)  
Lớp (Class): Một lá mầm (Liliopsida)  
Cyperus rotundus L.  
76 Hương phụ  
77 Cỏ mần trầu  
78 Cỏ tranh  
A
A
A
A
Eleusine indica (L.) Gaertn.  
Imperata cylindrical (L.) P. Beauv.  
79 Kim cang lá quế  
Smilax  
corbularia  
Kunth  
subsp.  
Corbularia  
80 Gừng gió  
81 Nga truật  
82 Cây địa liền  
83 Nghệ vàng  
Zingiber zerumbet Sm.  
Curcuma zerumbet Roxb.  
Kaemferia galangal L.  
A
A
A
A
Curcuma zanthorrhiza Roxb.  
Ngành (Phylum): Dương xỉ (Pteridoohyta)  
Lớp (Class): Dương xỉ (Polypodiopsida)  
Pteris ensiformis (Burmf.)  
84 Phượng vĩ thảo  
A
Ghi chú: A: Có hình chụp và tiêu bản.  
Mức độ đa dạng về bậc họ của 10 họ thân thảo và dây leo có nhiều loài làm  
thuốc nhất tại khu vực nghiên cứu được thể hiện ở bảng 4.  
Bảng 4. Các họ thân thảo và dây leo nhiều loài làm thuốc nhất tại NCT  
Chi  
Loài  
TT  
Tên họ  
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Họ Cúc (Asteraceae)  
Họ Đậu (Fabaceae)  
8
4
3
4
3
3
1
4
2
2
12,31  
6,15  
4,62  
6,15  
4,62  
4,62  
1,54  
6,15  
3,08  
3,08  
9
6
4
4
4
4
4
4
3
3
10,71  
7,14  
4,76  
4,76  
4,76  
4,76  
4,76  
4,76  
3,57  
3,57  
Họ Dền (Amaranthaceae)  
Họ Ráy (Araceae)  
Họ Bầu bí Cucurbitaceae)  
Họ Tiết dê (Menispermaceae)  
Họ Nho (Vitaceae)  
Họ Gừng (Zingiberaceae)  
Họ Hồ tiêu (Piperaceae)  
10 Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)  
Tổng cộng 10 chi, họ nhiều  
loài nhất  
34  
65  
52,31  
100  
45  
84  
53,57  
100  
Tổng số chi, loài điều tra được  
Ghi chú: Tỷ lệ % = Số lượng (chi, loài)*100/Tổng số chi hoặc loài thu được.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
21  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Về đa dạng loài ở bậc họ, trong 10 họ nhiều loài làm thuốc thân thảo và dây  
leo nhất tại khu vực nghiên cứu chiếm 29,41% trên tổng số họ, 34 chi chiếm 52,31%  
trên tổng số chi và 45 loài chiếm 53,57% trên tổng số loài cây thuốc đã được khảo  
sát, ghi nhận tại khu vực nghiên cứu thì họ Cúc (Asteraceae) có số lượng loài được  
sử dụng làm thuốc lớn nhất (9 loài), chiếm 10,71% trên tổng số 84 loài, họ Đậu  
(Fabaceae) với 6 loài chiếm 7,14%, họ Dền (Amaranthaceae), họ Ráy (Araceae), họ  
Bầu bí (Cucurbitaceae), họ Tiết dê (Menispermaceae), họ Nho (Vitaceae), họ Gừng  
(Zingiberaceae) mỗi họ có 4 loài chiếm 4,76%. Đây cũng là những họ có số lượng  
loài lớn trong hệ thực vật Việt Nam với nhiều loài có giá trị làm thuốc. Kết quả này  
phù hợp với các nghiên cứu của Đỗ Tất Lợi (2004) và Võ Văn Chi (2019) trong điều  
tra cây thuốc trước đó [8, 9].  
Kết quả nghiên cứu đã thống kê được trong 34 họ thực vật dây leo và thân  
thảo dùng làm thuốc được điều tra tại NCT có 15/34 họ (chiếm 44,12%) chỉ thu  
được 1 loài. Sự mất đi một loài nào đó trong các họ này sẽ làm giảm đáng kể sự đa  
dạng của thực vật thân thảo và dây leo tại đó. Tỷ lệ % của 10 họ thân thảo và dây leo  
nhiều loài làm thuốc nhất đạt 53,57% trên tổng số 34 họ khảo sát được, trong đó chỉ  
có họ Cúc chiếm tỷ lệ hơn 10,71% tổng số loài khảo sát, còn lại các họ đều chiếm tỷ  
lệ dưới 10%.  
Bảng 4 cũng cho thấy 4 chi đa dạng nhất chiếm tỷ lệ 35% trong tổng số chi  
toàn hệ, và số loài đạt được chiếm tỷ lệ 32,14% tổng số loài của hệ. Đặc biệt chi  
Cissus và chi Chirita đa dạng nhất với lần lượt 4 và 3 loài chiếm tổng 8,33%.  
Kết quả khảo sát thu được 84 loài thuộc thân thảo và dây leo trong khu vực  
nghiên cứu, có 62 loài thân thảo chiếm 73,81%; cây dây leo chiếm 26,19%. Chi tiết  
được trình bày ở bảng 5.  
Bảng 5. Số lượng và tỷ lệ cây thuốc thân thảo và dây leo tại NCT  
Dạng sống  
Số lượng loài  
Tỷ lệ (%)  
Thân thảo  
62  
Dây leo  
22  
Tổng số loài thu được  
84  
73,81  
26,19  
100  
Ghi chú: Tỷ lệ % = Số lượng loài*100/Tổng số loài thu được.  
Nhóm cây thân thảo chiếm ưu thế và phát triển tốt, nhất là khu vực đường mòn  
và trảng cỏ, dưới tán rừng bán rụng lá chủ yếu tập trung ở các họ Asteraceae,  
Araceae, Poaceae, Zingiberaceae... Nhóm thứ 2 là dây leo với 22 loài chiếm 26,19%  
các loài chủ yếu mọc ở các trảng cây bụi, dưới tán rừng, nơi những cây gỗ lớn gãy  
đổ, thuộc các họ Apocynaceae, Menispermaceae, Piperaceae, Vitaceae.  
Đa dạng về bộ phận sử dụng của cây thuốc. Tùy mỗi loài cây mà bộ phận sử  
dụng làm thuốc có thể khác nhau: có cây chỉ sử dụng được một bộ phận, có cây  
dùng được hai hay nhiều bộ phận hoặc toàn bộ cây. Điều này phụ thuộc vào các hợp  
chất hóa học có tác dụng trong điều trị các bệnh khác nhau của cây thuốc. Căn cứ  
theo tài liệu của Đỗ Tất Lợi (2004) [8] và Võ Văn Chi (2019) [ 9], sự đa dạng về bộ  
phận sử dụng được thể hiện ở bảng 6.  
22  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Bảng 6. Đa dạng cây thuốc theo bộ phận sử dụng tại NCT  
TT  
1
Bộ phận dùng làm thuốc  
Toàn cây  
Số lượng loài  
Tỷ lệ (%)  
21,43  
65,48  
13,10  
100  
18  
55  
11  
84  
2
Thân, lá, hoa, quả  
Rễ, củ  
3
Tổng số loài khảo sát  
Ghi chú: Tỷ lệ % = Số lượng loài*100/Tổng số loài thu được.  
Kết quả bảng 6 cho thấy, bộ phận dùng là thân, lá, hoa, quả có tới 55 loài  
chiếm 65,48% số loài được khảo sát. Chúng được sử dụng dưới dạng khô hoặc tươi  
như Nở ngày đất (Gomphena celosioides Mart), Mào gà dại (Celosia argentea L.),  
Thiên niên kiện (Homalomena romatica (Roxb.) Schott), Ngải dại (Artemisia  
vulgaris var. indica (Willd.) DC.), Hạ khô thảo nam (Blumea lacera (Burm.f.)DC.),  
Cải tàu bay (Gynura crepidioides Benth.), Vông vang (Hibiscus abelmoschus L.). Sử  
dụng toàn cây có 18 loài chiếm 21,43% các loài như Trầu rừng (Pipe chaudocanum  
C. DC.), Diệp hạ châu (Phyllathus urinaria L.), Hà thủ ô trắng (Streptocaulon  
juventas Merr.), Sâm lông (Cyclea barbata Miers.), Kim tiền thảo (Desmodium  
gangeticum Merr.),. Sử dụng rễ và củ có 11 loài chiếm 13,1% các loài nhưGừng gió  
(Zingibe zerumbet Sm.), Địa liền (Kaemfeia galanga L.), Nghệ đen (Curcuma  
zedoaria Rosc.), Củ mài (Dioscrorea pesimilis Prain et Burk.).  
Dựa theo tài liệu của Đỗ Tất Lợi (2004) [8], Võ Văn Chi (2019) [9] đã thống  
kê được 12 nhóm bệnh được chữa trị bằng cây thuốc khảo sát tại NCT. Trong đó 5  
nhóm bệnh có số loài chữa bệnh trên 10 loài. Nhóm bệnh tiêu hóa, gan cao nhất 31  
loài (36,9%) trên tổng số 84 loài khảo sát; nhóm bệnh xương khớp có 21 loài (25%);  
nhóm cây chữa tiết niệu, thận có 19 loài (22,62%); nhóm cây chữa hô hấp có 13 loài  
(15,48%), nhóm bệnh hạ sốt 12 loài (14,29%). Các nhóm bệnh còn lại như nhóm  
bệnh huyết áp; nhóm bệnh ngoài da; nhóm bệnh tiểu đường; nhóm bệnh phong thấp,  
phù tim; nhóm chữa bệnh côn trùng, rắn cắn; nhóm bệnh bướu cổ, tuyến giáp; nhóm  
bệnh tim mạch, an thần ít hơn, chi tiết được thể hiện ở bảng 7.  
Bảng 7. Đa dạng các nhóm công dụng của cây thuốc chữa bệnh tại NCT  
TT  
1
Nhóm công dụng của cây thuốc  
Bệnh tiêu hóa, gan  
Bệnh xương khớp, nhức mỏi  
Bệnh tiết niệu, thận  
Bệnh hô hấp  
Số lượng loài  
Tỷ lệ (%)  
36,90  
31  
21  
19  
13  
12  
9
2
25,00  
3
22,62  
4
15,48  
5
Hạ sốt  
14,29  
6
Bệnh huyết áp  
10,71  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
23  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
TT  
7
Nhóm công dụng của cây thuốc  
Bệnh ngoài da  
Số lượng loài  
Tỷ lệ (%)  
8,33  
7
6
8
Bệnh tiểu đường  
7,14  
9
Bệnh phong thấp, phù tim  
4
4,76  
10 Chữa rắn, côn trùng cắn  
11 Bệnh bướu cổ, tuyến giáp  
12 Bệnh tim mạch, an thần  
Tổng số loài khảo sát  
3
3,57  
2
2,38  
1
1,19  
84  
100  
Ghi chú: Tỷ lệ % = Số lượng loài*100/Tổng số loài thu được.  
Theo thống kê tại bảng 7 thấy rằng, nếu cộng tổng số loài chữa bệnh sẽ là 128  
loài so với 84 loài khảo sát được. Có sự chênh lệch con số này vì có một số loài  
đồng thời chữa được từ 2 nhóm bệnh trở lên, nhưng cũng có những loài chỉ chữa  
được một nhóm bệnh.  
3.2. Sự biến động cây thuốc thân thảo và dây leo tại NCT theo theo sinh  
cảnh và theo mùa  
Sinh cảnh sống của cây thuốc thân leo và thân thảo được chia làm 2 sinh cảnh  
là đường mòn, trảng cỏ và rừng (bảng 8).  
Bảng 8. Phân bố cây thuốc thân thảo và dây leo theo sinh cảnh ở NCT  
TT  
1
Sinh cảnh sống  
Đường mòn, trảng cỏ  
Số lượng loài  
Tỷ lệ (%)  
57,14  
48  
36  
84  
2
Rừng (tự nhiên, tái sinh, trồng)  
42,86  
Tổng số loài khảo sát  
100  
Ghi chú: Tỷ lệ % = Số lượng loài*100/Tổng số loài thu được.  
Có 48 loài thu được ở sinh cảnh đường mòn, trảng cỏ, hoặc nơi những cây gỗ  
lớn bị gãy đổ. Điển hình như các loài Ngải dại (Artemisia vulgaris var. indica (Willd.)  
DC.), Cải trời (Blumea lacera (Burm.f.) DC.), Hy thiêm (Siegesbeckia orientalis L.),  
Cải tàu bay (Gynura crepidioidesBenth.),Cỏ hôi (Ageratum conyzoides L.), Cam thảo  
nam (Scoparia dulcis L.), Cỏ xước (Achyranthes aspera L.).  
Có 36 loài khác gặp ở sinh cảnh rừng như Ngưu tất (Achyranthes bidentata  
Blume.), Mào gà trắng (Celosia argentea L.), Hà thủ ô nam (Streptocaulon grifflthii  
Hook.f.), Kim tiền thảo (Desmodium styracifolium (Osb.) Merr.), Trầu rừng (Piper  
chaudocanum C. DC). Một số loài như Sâm lông (Cyclea barbata Miers.),Ruột gà  
có khớp (Borreria articularis (L.f.) F. N. Will), Thiên niên kiện (Homalomena  
romatica (Roxb). Schott.), Ráy leo (Rhaphidophora hongkongensis), Kim cang lá  
quế (Smilax corbularia Kunth.) mọc trong rừng nguyên sinh. Các loài cây thuốc  
mọc trong rừng tự nhiên thường đóng vai trò quan trọng trong các bài thuốc dân  
gian và là đối tượng cần quan tâm bảo tồn.  
24  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Nghiên cứu sự biến động cây thuốc theo mùa tại NCT thấy có 40 loài gặp vào  
mùa mưa, có 44 loài gặp cả 2 mùa (bảng 9).  
Bảng 9. Phân bố cây thuốc theo mùa ở NCT  
TT  
1
Mùa phân bố  
Cả 2 mùa (mưa và khô)  
Chỉ gặp mùa mưa  
Số lượng loài  
Tỷ lệ (%)  
52,38  
44  
40  
84  
2
47,62  
Tổng số loài khảo sát  
100  
Ghi chú: Tỷ lệ % = Số lượng loài*100/Tổng số loài thu được  
Mùa khô gặp các loài dây leo có rễ củ sâu như củ mài (Dioscorea  
persimilis Prain et Burk.); các loài thuộc họ Gừng (Zingiberaceae); Sâm lông  
(Cyclea barbata Miers.); Kim cang lá quế (Smilax corbularia Kunth); Trầu rừng  
(Piper chaudocanum C. DC); Trâm ổi (Lantana camara L.); Hà thủ ô nam  
(Streptocaulon juventas Merr.).Mùa mưa các cây gặp vào mùa khô tiếp tục phát  
triển, đồng thờigặp các cây thân thảo thuộc họ Cúc, họ Nho, họ Rau đắng đất, họ  
Vòi voi, họ Bầu bí, họ Thầu dầu, họ Tai voi, họ Lúa, họ Cà phê.  
Các loài thực vật gặp trong môi trường khắc nghiệt của mùa khô là cây sống  
đa niên hoặc có rễ dài và thường mọc ở trong rừng, là những loài cần được quan tâm  
bảo tồn.  
4. KẾT LUẬN  
- Bước đầu đã xác định được 84 loài thân thảo và dây leo thuộc 65 chi và 34  
họ của 2 ngành thực vật bậc cao có mạch là Mộc lan (Magnoliophyta) và Dương xỉ  
(Polypodiophyta) có tác dụng làm thuốc tại NCT. Trong đó, Ngành Mộc lan chiếm  
98,81% số loài, 98,46% số chi và 97,06% số họ cây thuốc điều tra. Có 15 họ đơn  
loài, 19 họ có từ 2 đến 9 loài. Có 58 chi đơn loài, 2 chi có 3 loài và 10 chi 2 loài. Hai  
lớp trong ngành Mộc lan có sự phân hóa mạnh: 87,95% số loài; 81,82% số chi và  
84,38% số họ thuộc lớp 2 lá mầm. Tỷ lệ loài giữa lớp Mộc lan và lớp Hành là 4,5;  
bậc chi là 5,4 và bậc họ là 7,3.  
- Ghi nhận 62 loài thân thảo, 22 loài dây leo dùng làm thuốc. Ba nhóm bộ  
phận của cây dùng làm thuốc là toàn cây, thân lá hoa quả; rễ, củ lần lượt là 21,43%,  
65,48%, và 13,1%.  
- Các loài cây thuốc tại đây có khả năng chữa trị 12 nhóm bệnh khác nhau. Có  
42,86% cây thuốc mọc ở trong rừng, 57,14% mọc ở trảng cỏ, đường mòn. Có sự  
biến động tài nguyên cây thuốc theo mùa, có 40 loài chiếm 47,42% chỉ mọc vào  
mùa mưa, có 44 loài chiếm 52,38% mọc cả mùa khô và mùa mưa.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
25  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
2.  
3.  
Nguyễn Tiến Bân và cs., Sách đỏ Việt Nam (phần II-Thực vật), Nxb. Khoa học  
Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội, 2007, 305 tr.  
Đỗ Huy Bích và cs., Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập I-II,Nxb.  
Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1993, Tập 1 tr.79-1061, Tập 2 tr.75-1157.  
Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb. Y học, 2004, tr.30-  
936.  
4.  
5.  
Nguyễn Nghĩa Thìn, Thực vật có hoa, Nxb. ĐHQG Hà Nội, 2007, tr.125-149.  
Nguyễn Nghĩa Thìn, Các phương pháp nghiên cứu thực vật, Nxb. ĐHQG Hà  
Nội, 2007, tr.5-19.  
6.  
Nguyễn Thị Vân,Nghiên cứu khả năng thích ứng với điều kiện ánh sáng của  
loài sâm lông (Clyclea barbata Miers) trồng thử nghiệm từ hạt và rễ tại Vườn  
Quốc gia Cát Tiên,Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, 2016, 2(10):61-70.  
7.  
8.  
9.  
Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam, tập I, II, II, Nxb. Trẻ, 2003, tập 1 tr. 11-  
991, Tập 2 tr. 11-929, Tập 3 tr.11-979.  
Võ Văn Chi, Từ điển cây thuốc Việt Nam,(Bộ mới), tập I, II,Nxb. Y học, 2019,  
Tập 11760tr.; Tập 21622tr.  
WHO-IUCN-WWF (1993), Guidelines on The conversation of medicinal  
plants, IUCN, Switzerland, tr.4-15.  
vật Cát Tiên), 2020.  
SUMMARY  
RESOURCES OF HERBACEOUS AND CLIMBING MEDICINAL PLANTS  
IN NAM CAT TIEN, CAT TIEN NATIONAL PARK  
This study investigates the diversity and seasonal composition variation of  
medicinal plants, including herbaceous and climbing species, in Nam Cat Tien in  
order to find new sources of medicinal herbs and record data for management and  
biodiversity conservation. The study was conducted from November 2019 to  
November 2020 using the field survey methods to examine five pathways in Nam  
Cat Tien. Overall, the survey identified 84 species of medicinal plants belonging to  
34 families of Polypodiophyta and Magnoliophyta, these were collected from natural  
forest, planted forest and and trails in Nam Cat Tien. Specifically, Magnoliophyta  
accounted for the highest number of species with 83 species belonging to 33  
families. The surveyed species could be classified into two groups regarding their  
growth habits in which the highest group was herbaceous plant (62 species), the  
26  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
climbing plants with 22 species. Most plants were densely located along the trails  
(48 species) and inside the forest (36 species). Almost all the plant parts like leaves  
(55 species), roots (9 species) and even whole plants have reported containing  
medical properties to alleviate 12 groups of diseases. Species composition of  
herbaceous and climbing medicinal plants in Nam Cat Tien have seasonal variations.  
Keywords: Cây dược liệu, thân thảo, dây leo, biến động theo mùa, đa dạng  
thành phần loài, Nam Cát Tiên, Vườn quốc gia Cát Tiên.  
Nhận bài ngày 14 tháng 12 năm 2020  
Phản biện xong ngày 18 tháng 01 năm 2021  
Hoàn thiện ngày 24 tháng 02 năm 2021  
(1) Chi nhánh phía Nam, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga  
(2) Viện Sinh thái học miền Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
27  
pdf 12 trang yennguyen 14420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tài nguyên cây thuốc thân thảo và dây leo tại Nam Cát Tiên, Vườn Quốc gia Cát Tiên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_nguyen_cay_thuoc_than_thao_va_day_leo_tai_nam_cat_tien_v.pdf