Giáo trình Kỹ thuật bảo quản nông sản - Nghề: Khuyến nông lâm

Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nội bộ phục vụ công tác giảng dạy và đào  
tạo hệ Cao đẳng Khuyến Nông lâm. Các nội dung trong giáo trình có thể được phép  
dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích để đào tạo hệ cao đẳng, trung cấp, sơ  
cấp Khuyến nông lâm và đào tạo nghề cho nông dân.  
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh  
thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.  
2
LỜI GIỚI THIỆU  
Giáo trình Kỹ thuật bảo quản nông sản được biên soạn trên cơ sở chương  
trình đào tạo Cao đẳng nghề khuyến nông lâm của trường Cao đẳng Lào Cai.  
nhằm cung cấp cho người học  
Kỹ thuật bảo quản nông sản là môn khoa học  
những kiến thức cơ bản về kỹ thuật bảo quản một số loại nông sản:  
Giáo trình gồm 4 bài:  
Bài 1 : Các quá trình biến đổi gây hư hỏng nông sản.  
Bài 2 : Các phương pháp bảo quản nông sản  
Bài 3 : Kho bảo quản nông sản.  
Bài 4 : Những sinh vật gây hại nông sản và biện pháp phòng trừ.  
Trong quá trình biên soạn tác giả đã cố gắng thể hiện nội dung ngắn gọn lôgíc  
và đảm bảo nội dung kiến thức, kỹ năng cần đạt được theo mục tiêu của mô đun.  
Giáo trình Kỹ thuật bảo quản nông sản là tài liệu giảng dạy, học tập chính  
thức của giáo viên và học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Lào Cai, là tài liệu  
tham khảo cho các cơ sở dạy nghề trong phạm vi toàn tỉnh.  
Đây là cuốn giáo trình nội bộ được biên soạn công phu, nhưng chắc chắn không  
tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của  
đồng nghiệp và các độc giả.  
Xin chân thành cảm ơn  
3
MỤC LỤC  
Nội dung  
Trang  
2
Tuyên bố bản quyền  
Lời giới thiệu  
3
7
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của mô đun  
Mục tiêu mô đun  
7
7
Nội dung của mô đun  
8
Bài 1: Các quá trình biến đổi gây hư hỏng nông sản  
1. Những vấn đề chung về nông sản  
1.1. Phân loại nông sản  
8
8
1.2. Cấu tạo nông sản  
8
1.3. Thành phần hóa học của nông sản  
1.4. Tính chất vật lý của hạt nông sản  
2. Các yếu tố gây hư hỏng nông sản  
2.1. Ảnh hưởng của các tính chất  
2.2. Nhiệt độ  
13  
15  
15  
16  
16  
17  
17  
17  
18  
18  
18  
19  
20  
20  
2.3. Độ ẩm tương đối của không khí và độ ẩm của nông sản  
2.4. Ảnh hưởng của thời gian bảo quản  
2.5. Thành phần khí của không khí trong kho  
2.6. Các hệ vi sinh vật  
3. Những biến đổi của nông sản trong quá trình bảo quản  
3.1. Sự hô hấp của lương thực  
3.2. Độ chín sau của hạt  
3.3. Trạng thái nghỉ của hạt giống và hạt nông sản  
3.4. Hiện tượng nảy mầm của hạt và củ gióng trong thời gian  
bảo quản  
3.5. Tính bốc nóng của khối hạt  
20  
21  
23  
23  
23  
3.6. Sự thay đổi độ axit của bột và gạo  
Bài 2: Các phương pháp bảo quản nông sản  
1. Bảo quản nông sản ở trạng thái thoáng  
1.1. Thông gió tự nhiên  
4
1.2. Thông gió cưỡng bức  
2. Phương pháp bảo quản hạt ở trạng thái kín  
3. Phương pháp bảo quản lạnh  
4. Phương pháp bảo quản bằng hóa chất  
5. Phương pháp bảo quản trong khí quyển điều chỉnh  
6. Phương pháp bảo quản bằng bức xạ  
Bài 3: Kho bảo quản nông sản  
1. Nhiệm vụ, yêu cầu kỹ thuật và phân loại  
1.1. Nhiệm vụ  
23  
24  
26  
26  
27  
27  
30  
30  
30  
31  
31  
31  
31  
32  
33  
33  
33  
35  
35  
36  
37  
38  
38  
38  
40  
40  
40  
41  
42  
42  
48  
1.2. Yêu cầu kỹ thuật  
1.3. Phân loại  
2. Nguyên tắc xây dựng kho và cách bố trí nguyên liệu trong kho  
2.1. Nguyên tắc xây dựng kho  
2.2. Bố trí nguyên liệu trong kho  
3. Cấu tạo hoạt động của một số loại kho thông dụng  
3.1. Bảo quản hạt nông sản  
3.1.1. Kho đơn giản  
3.1.2. Kho cơ giới  
3.1.3. Kho silo  
3.1.4. Kho tồn trữ rau quả tươi  
3.1.5. Kho ngầm  
3.2. Phân loại kho bảo quản nông sản  
3.2.1. Kho truyền thống  
3.2.2. Kho cuốn  
Bài 4: Những sinh vật gây hại nông sản và biện pháp phòng trừ  
1. Các sinh vật gây hại trong bảo quản  
1.1. Đặc trưng của lớp côn trùng  
1.2. Đặc trưng của bộ cánh cứng  
1.3. Các loại côn trùng hại kho  
1.3.1. Đặc trưng của Bộ Bét  
1.3.2. Bộ cánh vảy  
5
1.3.3. Bộ cánh răng  
1.3.4. Bộ mối  
50  
50  
50  
51  
51  
51  
1.4. Chuột phá hại  
1.5. Chim  
2. Các biện pháp phòng trừ  
2.1. Những yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của công trùng  
phá hịa sản phẩm trong kho  
2.2. Phương thức ăn hại và nguyên nhân lây truyền  
52  
53  
53  
54  
58  
2.3. Biện pháp phòng trừ  
2.3.1. Biện pháp phòng ngừa  
2.3.2. Biện pháp phòng trừ  
2.4. Biện pháp xử lý khử trùng kho trước khi nhập nông sản và  
trong thời gian bảo quản  
2.4.1. Mục đích và yêu cầu kỹ thuật  
2.4.2. Biện pháp kỹ thuật  
58  
58  
59  
60  
60  
60  
63  
2.4.3. Phòng chống ngộ độc khi khử trùng kho  
2.5. Phòng trừ chuột hại kho  
2.5.1. Phương pháp diệt chuột  
2.5.2. Thuốc diệt chuột  
Tài liệu tham khảo  
6
GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN  
Tên mô đun: Kỹ thuật bảo quản nông sản  
Mã mô đun: 34  
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của mô đun  
- Vị trí: Kỹ thuật bảo quản nông sản là mô đun tự chọn trong các môn học, mô đun  
chuyên môn nghề trong chương trình đào tạo hệ Cao đẳng nghề Khuyến nông lâm, nhằm  
trang bị cho người học những kiến thức cần thiết về các phương pháp bảo quản nông sản,  
những sinh vật gây hại nông sản và biện pháp phòng trừ.  
- Tính chất: Mô đun có liên quan với các môn học/mô đun: Bảo vệ môi trường;  
trồng một số cây lương thực, cây công nghiệp, cây lâm nghiệp, cây ăn quả, sản xuất rau  
an toàn; Quản lý dịch hại. Giúp cho người học vận dụng kiến thức, kỹ năng trong việc tổ  
chức sản xuất, bảo quản nông sản sau thu hoạch có hiệu quả.  
- Ý nghĩa và vai trò của mô đun: Giúp cho người học vận dụng kiến thức, kỹ năng  
trong việc tổ chức sản xuất để có sản phẩm đảm bảo an toàn, vệ sinh thực phẩm, đem lại  
hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường, phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền  
vững.  
Mục tiêu mô đun:  
- Kiến thức: Trình bày được những vấn đề chung về nông sản, các quá trình biến  
đổi gây hư hỏng nông sản, các phương pháp bảo quản nông sản, những vi sinh vật gây  
hại nông sản và cách phòng trừ.  
- Kỹ năng: Thực hiện đúng các phương pháp bảo quản nông sản để đảm bảo chất  
lượng nông sản sau thu hoạch có hiệu quả;  
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Có khả năng ứng dụng, bảo quản sản phẩm làm  
ra trong quá trình sản xuất, giúp đỡ cộng đồng cùng phát triển kinh tế. Rèn luyện tính say  
mê, nghiêm túc, tự giác trong học tập và rèn luyện kỹ năng.  
Nội dung của mô đun:  
7
BÀI 1: CÁC QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI GÂY HƯ HỎNG NÔNG SẢN  
Mã bài: 01  
Giới thiệu:  
Bài Các quá trình biến đổi gây hư hỏng nông sản giảng dạy trong 5 giờ lý thuyết.  
Bài giảng giúp cho người học có những kiến thức cơ bản về các yếu tố gây hư hỏng nông  
sản và những biến đổi của nông sản trong quá trình bảo quản.  
Mục tiêu:  
- Trình bày được những vấn đề chung về nông sản; Các yếu tố gây hư hỏng nông  
sản; Những biến đổi của nông sản trong quá trình bảo quản.  
- Vận dụng kiến thức được học để hiểu biết về nông sản, nguyên nhân gây hư  
hỏng nông sản để có biện pháp phòng trị kịp thời, có hiệu quả.  
- Có ý thức trong việc tận dụng nguyên liệu, tiết kiệm vật tư và tăng năng suất lao  
động.  
Nội dung chính:  
1. Những vấn đề chung về nông sản  
1.1. Phân loại nông sản  
Nông sản là dạng sản phẩm trong nông nghiệp rất đa dạng và phức tạp. Nông sản  
bao gồm sản phẩm của hai ngành sản xuất chính trong nông nghiệp: sản phẩm của ngành  
trồng trọt và sản phẩm của ngành chăn nuôi. Căn cứ vào yêu cầu kỹ thuật chính của bảo  
quản (hoặc chế biến) và đặc điểm chính của sản phẩm, ta có thể phân loại các sản phẩm  
nông nghiệp như sau:  
- Hạt nông sản là loại sản phẩm quan trọng nhất của nông nghiệp, gồm: hạt lương  
thực (thóc, ngô, ...) thành phần chính là tinh bột; hạt có dầu (vừng, lạc, ...) thành phần  
chính là lipít; hạt có giá trị sử dụng đặc biệt (cà phê, hạt một số loại quả). Hạt nông sản  
dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp để sản xuất gạo, dầu thực vật, ...  
- Củ gồm khoai, sắn, ... dùng làm lương thực, hoặc trong công nghiệp sản xuất tinh  
bột, rượu và thức ăn gia súc.  
- Rau quả bao gồm các loại rau ăn lá (rau muống, bắp cải, rau gia vị, ...); rau ăn củ  
và rễ củ ( su hào, cà rốt, củ cải, ...); quả dùng làm rau (cà chua, bầu bí, xu xu, đậu cô ve,  
...); các loại quả (cam, chuối, dứa, ...).  
- Loại thân lá như mía, chè, thuốc lá dùng trong công nghiệp sản xuất đường, chè,  
thuốc lá.  
Trong chế biến cần phải tìm mọi biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm và tận  
dụng phụ phẩm, nâng cao giá trị sử dụng và giá trị thương phẩm của nông sản.  
1.2. Cấu tạo nông sản  
1.2.1. Hạt nông sản:  
8
Các loại hạt nông sản ở nước ta đều thuộc hai họ: họ hoà thảo (gramineae) và họ  
đậu (leuguminosae). Nếu căn cứ vào thành phần hoá học của chúng, ta có thể chia làm ba  
nhóm:  
- Nhóm giàu tinh bột: thóc, ngô, ...  
- Nhóm giàu protein: hạt đậu, đỗ.  
- Nhóm giàu chất béo: lạc, vừng, ...  
Tuy có khác nhau về tính chất, nhưng cấu tạo thực vật của hạt nông sản tương đối  
giống nhau, bao gồm một số bộ phận chính như sau:  
+) Vỏ hạt.  
Vỏ hạt bao quanh toàn bộ hạt, bảo vệ hạt khỏi tác dộng của ngoại cảnh (tác động  
cơ học, thời tiết, vi sinh vật).  
Thành phần chủ yếu của vỏ hạt là các chất xơ (xenlluloza và hemixelluloza) vỏ hạt  
có thể có hai loại:  
- Loại vỏ trần: ngô, lúa mì, đậu, ...  
- Loại có vỏ trấu: thóc, kê, đại mạch, ...  
Mặt ngoài vỏ trấu (thóc) có nhiều lông ráp xù xì, chiếm từ 18 ÷ 24% khối lượng  
toàn hạt. Sắc tố ở vỏ hạt cũng khác nhau (vàng rơm, vàng thẫm, nâu, ...).  
Lớp vỏ hạt là bộ phận quan trọng để bảo vệ phôi hạt, do đó trong quá trình bảo  
quản tránh gây xây xát. Lớp vỏ hạt ngô dầy chừng 0,3÷0,5mm, chiếm từ 5÷8% khối  
lượng toàn hạt.  
+) Lớp Alơrông.  
Lớp alơrông bao quanh nội nhũ. Chiều dày lớp alơrông phụ thuộc vào giống, điều  
kiện canh tác. Lớp alơrông tập trung nhiều chất dinh dưỡng quý như protein, lipit, muối  
khoáng và vitamin (ở hạt có bột như hạt thóc). Vì vậy trong việc chế biến ra gạo ăn,  
người ta thường giữ lại một phần lớp alơrông để tăng thêm chất dinh dưỡng cho gạo. Do  
đặc điểm trên lớp alơrông rất dễ bị ôxi hoá và biến chất trong điều kiện bảo quản không  
tốt. Khi bảo quản lâu trong kho chờ xuất khẩu, gạo cần được loại bỏ hết lớp alơrông (xát  
trắng), cho dù phải chịu mất một phần dinh dưỡng (chủ yếu là vitamin B1). Lớp alơrông  
chiếm khoảng 6,1% khối lượng hạt gạo lật. Đối với hạt ngô là 8%.  
+) Nội nhũ. Nội nhũ là phần chính của hạt thóc gạo, cấu tạo chủ yếu là tinh bột  
(chiến 90%).  
Tuỳ theo giống và biện pháp canh tác, phát triển của hạt thóc mà nội nhũ có thể  
trắng trong hay đục (phản ánh tỷ lệ amyloza và amylopectin).  
Hạt có nội nhũ đục khi phơi khô, tỷ lệ rạn nứt, gẫy lớn. Khi xay xát tỷ lệ gạo  
nguyên thấp, chất lượng gạo kém.  
Hạt nông sản có thể có nội nhũ lớn (họ gramieae, họ ranunculaceae, họ  
pâpveraceae, ...), có nội nhũ nhỏ (họ crucierae, họ leguminosae) và có thể không có nội  
nhũ (họ rosaceae, họ campositae).  
9
+) Phôi hạt.  
Là bộ phận chứa nhiều chất dinh dưỡng, là nơi dự trữ thức ăn cho mầm hạt,  
thường nằm ở góc hạt. Phôi được bảo vệ bởi tử diệp (lá mầm). Qua lá mầm, phôi nhận  
được đầy đủ các chất dinh dưỡng chủ yếu, để duy trì sức sống và để phát triển thành cây  
con khi hạt nẩy mầm.  
Phôi hạt chứa nhiều chất dinh dưỡng: protein, lipit, gluxit, vitamin và một số  
enzim, ... Phôi chiếm 2,25% khối lượng hạt gạo lật. Ở thóc phôi chứa tới 66% tổng số các  
vitamin B1 của hạt. Ở ngô phôi chứa 40% tổng lipit của hạt và 8 ÷ 15% khối lượng toàn  
hạt. Phôi là bộ phận xốp mềm, dễ hút ẩm, dễ bị biến chất, là nơi dễ bị vi sinh vật tấn công  
và phá hoại. Do đó trong chế biến thương bị loại bỏ.  
1.2.2. Các loại củ.  
+) Cấu tạo giải phẫu củ sắn.  
Củ sắn có kích thước từ 25÷50cm,  
đường kính từ 2÷4cm. Cấu tạo gồm bốn  
phần chính:  
- Vỏ gỗ: là lớp bảo vệ bên ngoài củ  
sắn, màu có thể trắng, vàng, nâu. Vỏ gỗ  
cấu tạo bởi celluloza và hemicelluloza,  
hầu như không có tinh bột. Vỏ gỗ mỏng  
chiếm khoảng 0,5 ÷ 3% khối lượng củ..  
- Vỏ cùi: dày hơn lớp vỏ gỗ, chiếm  
8÷20% trong lượng củ. Vỏ củ mềm, cấu  
tạo bởi xenlluloza và tinh bột, chiếm  
khoảng 5÷8%, do đó trong chế biến không  
Hình 1: Củ sắn  
nên loại bỏ vỏ cùi, mà nên tận dụng. Giữa  
lớp vỏ là mạng lưới ống dẫn nhựa, mủ. Trong vỏ cùi còn chứa sắc tố, độc tố và chất  
men…  
- Thịt sắn (ruột củ): là phần chủ yếu của củ sắn gồm các mô tế bào mềm chứa  
nhiều tinh bột. Lượng tinh bột trong thịt sắn phân bố không đồng đều, nhiều nhất ở lớp  
ngoài, rồi giảm dần vào trong. Sắn 1 năm thì ít xenlluloza, nếu sắn lưu một số năm thì  
nhiều xơ, mỗi năm một lớp xơ.  
- Lõi sắn: thường nằm ở trung tâm, suốt từ cuống tới đuôi củ sắn. Lõi chiếm  
0,3÷1% trọng lượng, thành phần chủ yếu là xenlluloza và hemixenlluloza.  
+) Cấu tạo giải phẫu khoai tây, khoai lang  
Khoai tây có lớp vỏ được phân biệt thành vỏ trong và vỏ ngoài. Vỏ ngoài rất mỏng  
là lớp bảo vệ củ tránh sự xâm nhập của vi khuẩn vào bên trong phá hoại củ. Vỏ trong  
mềm và khó tách ra khỏi ruột củ. Giữa các lớp vỏ trong có các mô mềm về hệ dẫn dịch  
củ. Trên mặt củ có nhiều mắt (phát triển thành mầm), củ càng to mắt càng rõ. Ruột củ là  
10  
một khối tế bào mềm, chứa nhiều tinh bột. Càng đi sâu vào tâm củ, lượng tinh bột càng  
giảm, nước càng tăng. Ruột củ chiếm 80÷92% khối lượng củ.  
Khoai lang là loại cây lương thực ăn củ. Dọc theo củ có hệ thống xơ nối ngọn củ  
với đuôi củ. Vỏ khoai lang mỏng, thành phần chủ yếu gồm xenlluloza và hemixenlluloza.  
Ruột khoai thành phần chủ yếu là tinh bột và nước. Về mặt cấu tạo tương tự khoai  
tây. Củ khoai lang to hơn, nhiều dạng khác nhau, nhiều xơ hơn khoai tây.  
Khoai lang tươi chứa nhiều nhựa (chứa nhiều tamin). Tamin khi bị oxi hóa thành  
flobaphen màu da cam sẫm. Tamin tác dụng với sắt thành tanat màu đen. Do đó khi chế  
biến thường cho nước, tránh hiện tượng oxi hóa.  
1.2.3. Cấu tạo, đặc điểm hình thái một số loại rau, quả  
Rau là sản phẩm giàu chất dinh dưỡng, vitamin, muối khoáng và axít hữu cơ. Bộ  
phận sử dụng được của cây rau có thể là thân, lá, quả, củ, ... Nước ta thuộc vùng nhiệt  
đới, do đó sản phẩm rau quả khá phong phú và đa dạng trong cả bốn mùa. Quả của cây ăn  
trái cũng rất phong phú và đa dạng, có giá trị cao về hương vị và dinh dưỡng.  
Bắp cải bao gồm hai phần chính: thân trong và lá bắp cải cuốn thành bắp. Độ dài  
của thân trong liên quan tới độ chặt của bắp, và thay đổi phụ thuộc vào giống từ 40÷60%  
chiều cao bắp. Thân trong càng ngắn thì giá trị của bắp càng cao.  
Lá bắp cải là phần sử dụng chủ yếu của bắp cải, xếp xoắn chôn ốc, càng lên trên lá  
càng xít vào nhau. Lá trong màu trắng ngà là nơi dự trữ dinh dưỡng, lá ngoài xanh làm  
nhiệm vụ quang hợp. Trên thị trường hiện nay phổ biến trồng loại bắp cải có lá cuốn chặt,  
trọng lượng nhỏ, giống của Nhật.  
Hình 2: Bắp cải loại nhọn đầu  
Hình 3: Bắp cải loại tròn đầu  
- Cà chua: Cà chua thuộc loại quả, được sử dụng như rau. Quả chứa nhiều nước,  
hình dáng, màu sắc quả phụ thuộc máu sắc vỏ quả và thịt quả (hồng nhạt đến đỏ thẫm,  
vàng da cam đến vàng tươi). Cấu tạo của cà chua gồm: vỏ quả, thịt quả, và hạt. Vỏ quả  
rất mỏng, rất khó tách khỏi thịt quả. Thịt quả là phần chính chứa nhiều chất dinh dưỡng.  
Quả có thể có nhiều ô, các ô quả chứa nhiều hạt từ 50÷350 hạt một quả tuỳ theo giống và  
điều kiện canh tác. Quả to ít hạt hơn quả nhỏ.  
11  
- Su hào: Su hào có cuống lá nhỏ, tròn và dài. Cuống và lá phân chia rõ ràng. Quá  
trình sinh trưởng thân phình to thành củ và tại đây tập trung chủ yếu chất dinh dưỡng. Củ  
su hào có các hình dạng khác nhau: tròn dài, hình cầu, tròn dẹt. Kích thước củ su hào rất  
khác nhau phụ thuộc giống và điều kiện canh tác.  
Cắt dọc củ su hào, ta thấy củ gồm hai phần: vỏ và ruột. Cả hai phần đều chứa một  
lượng xơ khá lớn, đặc biệt ở những củ già. Trong ruột củ về phía gốc phần thịt củ chứa  
một lượng xơ lớn hơn.  
- Hành củ: Dạng củ tròn, có lớp bọc rất mỏng, màu trắng hoặc hơi đỏ. Thuộc loại  
cây cỏ, rễ chùm, lá mọc từ gốc, tròn dài và nhọn. Củ có vị cay, mùi thơm chứa tinh dầu,  
vị chát, một số chất fitonxít có tính sát trùng. Củ lớn, nhỏ nhiều cỡ. Hành tây, thuộc  
giống nhập ngoại, nhiều bẹ, ít cay thường dùng làm rau ăn. Loại này khó bảo quản, rất dễ  
bị hỏng và nẩy mầm sớm.  
- Tỏi: Tỏi là loại gia vị được ưa chuộng, cấu tạo tương tự hành. Tỏi cũng là loại  
dược liệu, vì trong củ có chứa nhiều chất sát trùng.  
Hiện nay, chúng ta xuất khẩu hàng năm tỏi ra các nước dưới dạng tươi, khô,  
nghiền dạng bột khô hoặc nhão và đôi khi dưới dạng đông lạnh.  
- Cam: Trái cam có nhiều dạng: hình  
cầu, tròn dài, tròn dẹt, hình trứng, ... Kích  
thước quả cũng khác nhau (to, nhỏ). Trái  
cam gồm các bộ phận sau:  
Vỏ ngoài: cấu tạo chủ yếu là chất  
sừng để chống sự bốc hơi nước từ trong ra  
ngoài.  
Vỏ trong: gồm hai lớp tế bào: lớp  
chứa sắc tố (flavedo) như caroten,  
xanthophyl, antocyan, ... và các túi tinh dầu  
lớp màu trắng, lớp cùi (alledo).  
Cam có nhiều múi từ 8÷16 múi, ít  
hạt. Số lượng hạt phụ thuộc vào giống. Múi  
cam chứa nhiều tép cam (thịt quả). Phần ăn  
Hình 4: Quả cam cắt ngang  
được này do vách tử phòng phát triển lên mà  
thành.  
- Quả dứa: Dứa thuộc loại quả kép, gồm nhiều quả cắm trên một trục hoa. Quả dứa bao  
gồm: vỏ qủa, thịt quả và lõi.  
Vỏ quả: phân chia thành các mắt dứa. Mắt dứa khác nhau phụ thuộc vào giống và  
điều kiện canh tác.  
12  
Vỏ màu vàng tới vàng da cam.  
Thịt quả cũng có màu vàng đến vàng da  
cam, xung quanh có nhiều mắt dứa. Thịt  
quả chiếm tỷ lệ cao nhất so với các thành  
phần khác của quả dứa, đồng thời cũng  
chứa nhiều chất dinh dưỡng. Hàm lượng  
xơ trong thịt quả khá cao. Lõi (trục hoa)  
chạy từ cuống hoa tới chồi ngọn, chứa nhiều  
xơ.  
1.3. Thành phần hóa học của  
nông sản  
Nông sản bất kỳ trong thành phần  
của nó đều có chứa các nhóm hợp chất  
Hình 5: Quả dứa  
hữu cơ: protein, gluxit, lipit, vitamin, axít hữu cơ và các chất khoáng, sắc tố, ... với các tỷ  
lệ khác nhau. để có thể bảo quản tốt, cần phải hiểu rõ các thành phần của nó và tác động  
các yếu tố bên ngoài tới nó. Thông thường trong thành phần của nó chứa những hợp chất  
sau:  
1.3.1. Nước:  
Hàm lượng nước có trong nông sản, tuỳ theo loại mà có những tỉ lệ khác nhau:  
thóc, gạo, ngô, ... thường có thuỷ phần từ 11÷14%. Khoai sắn lát khô 9÷10%, củ sắn tươi,  
rau quả, ... có thể thuỷ phần từ 60÷ 90%, ... Nói chung, trong tế bào các loại nông sản  
thường chứa nước dưới dạng: liên kết hoá học, liên kết hoá lý và liên kết cơ học.  
Hàm lượng nước trong sản phẩm ảnh hưởng lớn tới chất lượng bảo quản chúng.  
Khi hàm lượng nước cao là môi trường thuận lợi cho vi sinh vật phát triển, làm cho chất  
lượng sản phẩm xấu đi.  
Rau quả sau khi thu hoạch, lượng nước mất đi toả ra môi trường xung quanh, đó  
chính là nguyên nhân làm giảm khối lượng rau quả khi tồn trữ. Sự mất nước còn ảnh  
hưởng không tốt tới quá trình trao đổi bình thường, giảm tính trương nguyên sinh, dẫn tới  
héo. Sự héo lại làm tăng quá trình phân huỷ các chất, phá vỡ cân bằng năng lượng,  
giảm sức đề kháng.  
1.3.2. Protein  
Protein là hợp chất chứa nitơ chủ yếu trong nông sản, là thành phần dinh dưỡng  
chủ yếu của sản phẩm có hạt. Các sản phẩm khác nhau, hàm lượng protein chứa trong  
chúng cũng khác nhau: Lúa nước chứa 7÷10%, cao lương 10÷13%, đậu Hà Lan  
22÷ 26%, đậu tương 36÷42%, cà rốt 2%, các loại quả dưới 1%. (Tính theo trọng lượng  
chất khô). Người ta phân loại protein theo tính hoà tan của nó: albumin tan trong nước,  
glubulin tan trong muối, prolamin tan trong etanol 70÷80%, glutelin tan trong  
natrihydroxyt và seleroprotein không tan trong dung môi chứa nước.  
1.3.3. Cacbon hydrat.  
13  
Trong các loại hạt ngũ cốc, ngô chứa nhiều cacbon hydrat. Trong từng phần của  
hạt, hàm lượng cacbon hydrat khác nhau: nội nhũ chứa 73% (ở dạng tinh bột, đường,  
xenlulôza) còn ở phôi là dạng đường, ở vỏ dạng xenluloza.  
Đường và tinh bột là chất dự trữ chủ yếu trong hạt và củ (60÷70%). Rau quả chỉ  
1%. Về cấu tạo các loại tinh bột cũng rất khác nhau ở những lợi sản phẩm. Trong các hạt  
cây hòa thảo, các hạt khác nhau: đậu, đỗ, lạc...chủ yếu là đường thứ cấp.  
1.3.4. Lipit (Chất béo).  
Chất béo có trong các loại quả và hạt, đặc biệt hạt cây có dầu. Nó là chất dự trữ  
năng lượng. Tuỳ theo loại nông sản, hàm lượng chất béo khác nhau. ở lúa nước 1,8 ÷  
2,5%, ngô 3,5 ÷ 7,0%, đậu tương 15 ÷ 25%, ...  
Trong các loại ngũ cốc ngô có hàm lượng lipit cao nhất. Phôi chứa 30 ÷ 50% tổng  
số lipit. 85% số lipit trong phôi là nguồn dầu thương mại. Ngoài phôi, lipit còn chứa  
trong lớp alơron của hạt.  
1.3.5. Các chất khoáng.  
Trong rau quả, một phần nhỏ chất khoáng ở dạng nguyên tố kim loại liên kết với  
các hợp chất hữu cơ cao phân tử như magie trong clorofin, lưu huỳnh, photpho trong  
thành phần của protein; sắt, đồng trong enzim. Phần chủ yếu các chất khoáng ở trong  
thành phần các axit hữu cơ và vô cơ. Cơ thể người rất dễ hấp thụ các chất khoáng ở dạng  
liên kết này.  
Các chất khoáng trong rau quả chia ra: đa lượng, vi lượng, siêu vi lượng. Các  
nguyên tố đa lượng trong rau là canxi, kali, photpho. Sắt là trung gian giữa đa lượng và vi  
lượng.  
1.3.6. Vitamin.  
Đối với hạt khô, lượng vitamin ít. Khi hạt nẩy mầm thì lượng vitamin tăng lên.  
Trong hạt ngô, các vitamin chủ yếu nằm ở phôi và lớp ngoài cùng của nội nhũ cắm vào  
lớp alơrôn. Trong lớp alơrôn có tiền vitamin A, riboflavin và axit nicotinic (vitamin PP).  
Phôi chứa một số nhỏ những vitamin, nhưng trong số đó có phần lớn vitamin E và  
thiamin. Phần còn lại nằm ở lớp alơrôn.  
Trong ngô có các loại vitamin như sau:  
- Vitamin A: Các giống ngô vàng chứa nhiều vitamin A và tiền vitamin A. Trong  
cơ thể động vật tiền vitamin A dễ trở thành vitamin A. Các giống ngô có hạt màu da cam  
hoặc vàng chứa nhiều vitamin A. Các giống ngô trắng chứa ít vitamin A.  
- Vitamin B: Trong hạt ngô có nhiều vitamin B1 (Thiamin), ngô chứa ít vitamin  
B2 (Riboflavin), B6 (Pyridoxin) 60 ÷ 80%, vitamin này nằm ở protein hoặc tinh bột. Ngô  
ít riboflavin hơn lúa mì và gạo. Hàm lượng vitamin này thay đổi 0,77 ÷ 2,29mg/Kg  
(trung bình 1,02 ÷ 1,31mg/Kg).  
- Vitamin E: Chứa nhiều trong phôi. đây là loại sinh tố có giá trị trong sinh trưởng.  
14  
- Vitamin C: Có nhiều nhất trong rau quả. Tính chất quan trọng nhất của vitamin  
C, nhất là khi gia nhiệt, có không khí và ánh sáng là dễ bị oxi hoá. Vitamin C được bảo  
vệ tốt trong dung dịch có nồng độ đường cao. Các muối sắt và đồng phá huỷ vitamin C.  
Trong rau qủa, vitamin phân bố không đều, trong lõi cải bắp, hàm lượng vitamin C  
cao gấp hai lần ở bẹ.  
1.4. Tính chất vật lý của hạt nông sản  
1.4.1. Tính tan rời:  
Khi đổ khối hạt từ trên xuống, khối hạt sẽ tự phân cấp thành hình nón, đặc tính đó  
gọi là tính tan rời. Do tính tan rời của hạt lớn, nhỏ sẽ khác nhau, hình nón được tạo thành  
cũng khác nhau. Hạt có tính tan rời nhỏ (nông sản có độ ẩm cao, nhiều tạp chất, ...) thì  
hình nón có đáy nhỏ, góc đáy và chiều cao hình nón lớn. Góc đáy hình thành từ đống  
thóc hình nón gọi là góc chảy tự nhiên của khối hạt (khi hạt trên mặt nghiêng ngừng lăn).  
Hạt trên mặt nghiêng của chóp nón ở trạng thái tĩnh không di động do tồn tại lực ma sát  
giữa các hạt. Lực ma sát càng lớn, tính tan rời càng nhỏ và góc chảy tự nhiên càng lớn.  
Hạt càng có độ ẩm cao, lực ma sát giữa các hạt càng lớn, tính tan rời càng thấp.  
Kiểm tra định kỳ tính tan rời của hạt, có thể dự đoán được tình trạng của hạt, do đó sẽ đề  
ra được các biện pháp khắc phục, giảm những tổn thất ngoài ý muốn.  
Tính tan rời của hạt cũng quan hệ tới việc đóng gói hoặc xuất nhập kho.  
1.4.2. Tính tự phân cấp.  
Trong khối hạt bao gồm: các hạt có kích thước, hình dạng, trọng lượng khác nhau;  
các tạp chất khác nhau. Khi ta đổ khối hạt trên xuống sàn, các hạt có tính chất tương tự  
nhau ví dụ hạt chắc có xu hướng rơi nhanh và nằm ở dưới đống hoặc giữa đống. Các hạt  
lép, nhẹ, tạp chất nhẹ thường rơi sau và nằm ở trên, ở xung quanh đống thóc. Sở dĩ có  
hiện tượng tự phân cấp như trên là do tính tan rời khác nhau dẫn tới. Sự khác nhau về tính  
tan rời liên quan tới lực ma sát giữa các phần tủ khác nhau (do khối lượng khác nhau) tác  
dụng lên các phần tử.  
2. Các yếu tố gây hư hỏng nông sản  
Nông sản phẩm sau khi thu hoạch, sơ chế (làm sạch, làm khô) được đưa vào bảo  
quản trong các kho trong điều kiện môi trường nhất định. Sự thay đổi của các yếu tố môi  
trường (nhiệt độ, độ ẩm không khí) có ảnh hưởng nhiều tới trạng thái của nông sản.  
Trường hợp khi nông sản có những biến đổi về sinh lý, hoá sinh, ... cũng tác động trở lại  
môi trường. Yếu tố đại khí hậu ảnh hưởng trực tiếp tới yếu tố tiểu khí hậu và vi khí hậu.  
Mức độ ảnh hưởng này phụ thuộc vào cấu trúc của kho, sự ngăn cách giữa khối hạt và  
môi trường xung quanh.  
Yếu tố tiểu khí hậu tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo quản. Nâng cao chất  
lượng nông sản trước khi đưa vào bảo quản (độ sạch, độ khô của sản phảm) góp phần  
giảm ảnh hưởng của vi khí hậu, làm giảm tác động xấu của vi sinh vật tới nông sản.  
Nhiệt độ cao, làm tăng các quá trình hoá sinh, sinh hoá trong hạt.  
15  
Độ ẩm bình quân hàng năm của không khí 80%, làm tăng thuỷ phần của sản phẩm.  
Sự thay đổi thuỷ phần của nông sản phụ thuộc nhiều vào loại kho và tình trạng bảo quản.  
2.1. Ảnh hưởng của các tính chất  
Nông sản khi thu hoạch lúc đầu đều chịu ảnh hưởng của các tính chất (vật lý, hoá  
học, ...) ở mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào thời kỳ và phương pháp thu hoạch. Những  
ảnh hưởng này đã tác động đến khối hạt trong khi bảo quản và mang tính chất tương hỗ.  
Đối với bắp ngô, ngoài hạt ra, lõi với khối lượng lớn dễ hút nước, dễ cho vi sinh  
vật xâm nhập và phát triển (khi bảo quản cả bắp).  
Hạt có phôi lớn, phôi cũng hút nước nhiều. Trong phôi chủ yếu là chất béo,  
protein, cacbon hydrat, đặc biệt lượng men, đã có ảnh hưởng tới cường độ hoạt động của  
vi sinh vậtvà sinh hoá của hạt. Trong hạt ngô chứa nhiều vi sinh vật, chủ yếu là nấm mốc.  
Nấm mốc cũng thấy ngay khi ngô có độ ẩm cao mới nhập kho.  
2.2. Nhiệt độ  
Nhiệt độ là yếu tố có ảnh hưởng quyết định nhất đến quá trình sống của nông sản  
khi tồn trữ, cũng như phẩm chất của nó. Tăng nhiệt độ sẽ làm tăng cường độ phản ứng  
các quá trình cơ bản trong trao đổi chất. Theo định luật Van’t.Hoff. Khi tăng nhiệt độ lên  
100C thì tốc độ phản ứng tăng lên khoảng hai lần. Tuy nhiên, phạm vi tăng nhiệt độ để  
tăng cường độ hô hấp cũng bị giới hạn. Nghĩa là cường độ hô hấp tăng đến tối đa ở một  
nhiệt độ nhất định, sau đó giảm đi. Khi giảm từ 250C đến 50C thì cường độ giảm nhanh  
và khi nhiệt độ giảm đến gần điểm đóng băng thì sự giảm cường độ hô hấp chậm lại.  
Đối với rau quả, để tồn trữ lâu cần giảm nhiệt độ, nhưng không được dưới nhiệt độ  
đóng băng để không gây ra phá huỷ tế bào do các tinh thể nước. Điểm đóng băng của rau  
quả từ -20C đến -40C và dịch bào thường chứa các chất hoà tan. Một số rau như hành tây,  
cải bắp do khả năng trương nguyên sinh của tế bào rất cao, nên có thể tồn trữ ở dưới 00C  
(hành tây -30C, cải bắp -10C) mà tế bào vẫn hồi phục bình thường về trạng thái ban đầu  
sau khi làm tan giá chậm (cần lưu ý, nếu làm lạnh lần thứ hai xuống dưới 00C, thì khả  
năng phục hồi không còn nữa).  
Các đặc tính sinh lý riêng có thể phá huỷ quá trình trao đổi chất, huỷ hoại cấu trúc  
tế bào của rau quả.  
Ví dụ cà chua và họ quả có múi tồn trữ dưới 3 ÷50C, mất khả năng chín.  
Mỗi loại rau quả có nhiệt độ tồn trữ nhất định, ở đó cường độ hô hấp (hiếu khí)  
thấp nhất, đó là nhiệt độ tối ưu:  
Rau quả  
Nhiệt độ tối ưu (0C)  
Dưa chuột  
10 ÷ 12  
1
Cà chua chín  
Cam, bưởi, chanh xanh  
Cam, bưởi, chanh chín  
4 ÷6  
1 ÷2  
16  
Một số loại củ như khoai tây, cần thay đổi nhiệt độ tồn trữ ở từng thời kỳ bảo quản  
theo sự phát triển và biến đổi trạng thái sinh lý của chúng.  
Người ta cũng có thể tăng nhiệt độ để đẩy mạnh quá trình sinh lý, sinh hoá theo  
yêu cầu sản xuất. Ví dụ tăng nhiệt độ đẩy nhanh quá trình chín ở các lô nguyên liệu cần  
chín trước để đưa vào sản xuất, hay cần giảm lượng đường trong khoai tây đến mức tối  
thiểu để đưa vào sản xuất một số sản phẩm.  
Trong quá trình bảo quản cần ổn định chế độ nhiệt độ. Việc thay đổi chế độ nhiệt  
độ đột ngột gây ra các hiện tượng bệnh lý trong rau quả do cường độ hô hấp thay đổi đột  
ngột.  
2.3. Độ ẩm tương đối của không khí và độ ẩm của nông sản  
Độ ẩm của sản phẩm khi bảo quản ảnh hưởng đến chất lượng rõ rệt. Ví dụ ngô bắp  
ở 250C, bị nấm mốc làm hại ở độ ẩm cao sau 6 năm bảo quản. Đối với ngô vàng độ ẩm  
13,8 ÷14% là độ ẩm tới hạn khi bảo quản.  
Đối với rau quả, độ ẩm tương đối của không khí trong phòng bảo quản ảnh hưởng  
nhiều tới sự bốc hơi nước của rau quả. Độ ẩm không khí thấp, làm tăng quá trình bốc hơi  
nước của rau quả, giảm khối lượng của nó và làm héo sản phẩm (cả bên ngoài và bên  
trong). Quá trình héo xuất hiện hiện tượng co nguyên sinh, làm rối loạn sự trao đổi chất,  
giảm khả năng đề kháng, ...  
Quá trình tăng ẩm khi bảo quản do hai nguyên nhân: Do chính quá trình hô hấp  
của rau quả và tăng ẩm nhân tạo. Quá trình bốc hơi phụ thuộc vào cấu trúc, độ háo nước  
của hệ keo trong mô bì. Tầng cutin và lớp sáp bên ngoài vỏ rau quả, có tác dụng chống  
bốc ẩm cao. Độ ẩm thấp sẽ hạn chế sự phát triển của vi sinh vật gây hư hỏng cho sản  
phẩm. Rau quả trong thời gian tồn trữ cần duy trì độ ẩm không khí khoảng 80 ÷90%.  
2.4. Ảnh hưởng của thời gian bảo quản  
Người ta đã nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian bảo quản ngô bắp ở 50C, độ ẩm  
17 ÷19%, độ nẩy mầm của hạt ít bị ảnh hưởng, ít bị phân huỷ tinh bột, chất béo và tiêu  
thụ sản phẩm thuỷ phân trong quá trình sinh hoá. Chỉ số axit của chất béo và độ axit của  
bột không tăng khi bảo quản 120 ÷210 ngày.  
Khi độ ẩm hạt từ 17 ÷19% và nhiệt độ dương, bảo quản trên 4 tháng thì thành  
phần hoá học và hoạt động sống của hạt ngô thay đổi rõ rệt. Trong điều kiện không thuận  
lợi, chỉ số axit béo thay đổi. Cần xác định thời gian bảo quản an toàn của ngô cũng như  
các sản phẩm khác nhằm giúp xác định được thời gian kiểm tra cần thiết và có kế hoạch  
sử dụng sản phẩm hợp lý. Đồ thị dưới cho ta xác định được thời gian bảo quản an toàn  
ngô bắp và ngô hạt.  
2.5. Thành phần khí của không khí trong kho  
Thành phần khí trong kho ảnh hưởng nhiều tới cường độ hô hấp, đến quá trình  
trao đổi chất.  
17  
Tăng hàm lượng CO2 và giảm ôxi trong không khí làm hạn chế hô hấp. Khi hàm  
lượng CO2 tăng từ 3 ÷5% và lượng ôxi giảm đi tương ứng (chỉ còn 16 ÷18%) thì thời  
gian tồn trữ rau quả có thể tăng 3 ÷4 lần so với điều kiện bình thường. Khi CO2 tăng quá  
10%, sẽ phá vỡ quá trình cân bằng sinh lý, làm mất khả năng đề kháng tự nhiên và làm rau  
quả thâm đen, hư hỏng.  
Tăng hàm lượng N2 cũng là thời gian kéo dài tồn trữ. ảnh hưởng của sự thay đổi  
thành phần không khí đến trao đổi chất của rau quả khá phức tạp, làm giảm cường độ hô  
hấp và làm chậm quá trình chín tiếp. Lượng đường giảm, độ axit tăng do tạo ra axit  
xuxinic. Clorofin ổn định. Khi duy trì thành phần khí thích hợp thì chất lượng rau quả có  
thể cao hơn bảo quản lạnh. Người ta dùng khí hyđrocacbon không no (như êtylen,  
axêtylen,propylen, ...) làm chuối chín nhanh.  
2.6. Các hệ vi sinh vật  
Hạt là cơ chất chứa nhiều protein, cacbon hydrat là chất cần cho hoạt động sống  
của vi sinh vật. Có nhiều vi sinh vật tập trung trên bề mặt hạt (khuẩn hoại vật  
saphrophyte). Trong hạt tìm thấy đủ các loại vi sinh vật.  
Sự phát triển của vi sinh vật và ảnh hưởng của chúng tới chất lượng hạt phụ thuộc  
vào điều kiện bảo quản.  
Một số loại khác trong điều kiện bình thường không có hại đến chất lượng hạt,  
nhưng trong điều kiện thích hợp lại phá hoại hạt.  
Đối với ngô, nấm phát triển làm kém chất lượng hạt.  
3. Những biến đổi của nông sản trong quá trình bảo quản  
Trong quá trình bảo quản, khối hạt là một tập thể vật thể sống nên nó diễn biến  
thường xuyên, không những ở ngoài đồng ruộng mà ngay sau khi đã gặt và trong quá  
trình bảo quản. Quá trình hoạt động này phức tạp, ảnh hưởng tới chất lượng, số lượng  
thành phần cấu tạo trong hạt lương thực.  
Chúng ta cần nghiên cứu để hiểu các hoạt động sinh lý nội tại của lương thực và  
các điều kiện khách quan làm ảnh hưởng tới những hoạt động đó, để có những biện pháp  
bảo quản thích hợp, nhằm hạn chế các thiệt hại. Trong hoạt động sống của hạt, thì chất  
lượng của hạt là yếu tố chi phối hàng đầu. Ngũ cốc nhập kho có chất lượng khác nhau,  
ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện sống của hạt. Những yếu tố kể trên, kết hợp với nấm  
mốc và côn trùng, những hạt bị bệnh, tạp chất hữu cơ, hoạt động của men trong hạt, thúc  
đẩy quá trình hoạt động sống của hạt. Hoạt động sống mạnh dần lên và lan toả ra cả khối  
hạt, làm chúng bị hư hỏng.  
Rau quả tươi trong bảo quản có một số biến đổi vật lý làm giảm chất lượng và  
khối lượng rau quả (bay hơi nước, giảm khối lượng tự nhiên, ...). Quá trình mất nước gây  
rối loạn sinh lý, giảm khả năng kháng khuẩn dẫn, làm cho rau quả chóng hư hỏng.  
3.1. Sự hô hấp của lương thực  
18  
Hạt và một số sản phẩm nông nghiệp như rau quả, trong quá trình bảo quản vẫn  
xảy ra quá trình hô hấp. Chỉ khi nào lương thực bị chết (rang, nấu) thì mới ngừng sự hô  
hấp.  
Quá trình hô hấp chịu ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm và độ thông thoáng của đống  
hạt, ...  
Ở nhiệt độ < 80C hô hấp yếu. Tăng nhiệt độ, hô hấp tăng dần và khi tới quá 450C  
hô hấp lại giảm nhanh chóng. Ở độ ẩm 10% hạt không hô hấp, hoạt động sống ngừng. Ở  
14% hô hấp của hạt yếu, tiêu hao dinh dưỡng và toả nhiệt kém. Độ ẩm 15÷16% ứng với  
lượng ẩm thích hợp của hô hấp, hạt hô hấp gấp 10 lần ở hạt có độ ẩm 14% ở độ ẩm 20%,  
hao hụt tới 100 lần so với hạt ở độ ẩm 14%.  
Cường độ hô hấp được xác định theo ba hướng:  
- Xác định lượng O2 hấp thụ vào hoặc CO2 nhả ra.  
- Xác định lượng vật chất khô hao tổn.  
- Xác định lượng nhiệt năng tỏa ra.  
Quá trình hô hấp đối với nông sản khi bảo quản gây ra một số tác hại:  
- Quá trình hô hấp là quá trình phân huỷ các chất dinh dưỡng tạo ra nhiệt. Ví dụ  
khi hạt nảy mầm, hô hấp chiếm 40 ÷60% chất dinh dưỡng.  
- Khi hô hấp, gluxit, protein và chất béo thay đổi làm biến đổi một số chỉ tiêu sinh  
hoá.  
- Hô hấp làm tăng CO2 và hơi nước, do đó làm tăng thuỷ phần khối hạt, tạo điều  
kiện cho vi sinh vật phát triển. Nhiệt độ của khối hạt tăng lên, làm tăng khả năng tự bốc  
nóng của khối hạt.  
Ở nhiệt độ cao thì độ ẩm của hạt ngô không nên vượt quá 12 ÷ 13%. Khi tăng độ  
ẩm của hạt lên 1%, cường độ hô hấp của hạt tăng gấp đôi. Để đảm bảo an toàn cho hạt  
ngô (khả năng sống), nếu ngô có độ ẩm 24,3% thì chỉ nên làm nóng tới 450C. Ở nhiệt độ  
cao hơn, làm nguyên sinh chất của tế bào bị tổn thất, làm giảm khả năng sống của hạt.  
3.2. Độ chín sau của hạt  
Nông sản sau khi thu hoạch vẫn tiếp tục chín sinh lý và sinh hoá, tiếp tục hoàn  
thành việc trao đổi hoàn chỉnh các chất dinh dưỡng trong hạt. Nhiều tác giả cho rằng,  
nhiệt độ dương ảnh hưởng sâu xa đến vỏ hạt và độ nẩy mầm của hạt. Độ nẩy mầm thấp là  
do độ chín và độ thấm hơi nước, ôxy của vỏ hạt không tốt. Trong khi chín hạt thúc đẩy  
quá trình tổng hợp polysaccarit, chất béo, protit; còn hoạt động của men trong các phần  
catalaza và tirolaza bị yếu đi. Lượng chất béo của hạt tăng, chỉ số axit giảm xuống. Việc  
tổng hợp protit hoàn thành bằng cách sử dụng đạm không protit để tổng hợp protit và  
tăng chất lượng hạt. Các loại rau ăn lá, ăn củ, rễ không cần giai đoạn chín sau. Các loại  
hạt chín sau dài cho tỷ lệ nẩy mầm thấp và sức nẩy mầm không đều. Giai đoạn chín sau  
ngắn rất dễ bị nẩy mầm ngay ngoài đồng hoặc trong kho khi độ ẩm cao.  
19  
3.3. Trạng thái nghỉ của hạt giống và hạt nông sản  
Hạt nông sản còn sống nhưng không nẩy mầm gọi là hạt nghỉ. Nguyên nhân hạt  
nghỉ là do: phôi của hạt chưa chín hoặc tổ chức của phôi phân hoá chưa hoàn thành, hạt  
chưa hoàn thành giai đoạn chín sau, ảnh hưởng trạng thái vỏ hạt (không thấm nước,  
không hút khí, ...).  
Đối với những hạt giống, trong thời gian bảo quản, cần kéo dài thời gian nghỉ,  
bằng cách ức chế sự hình thành tế bào mầm củ (đối với khoai tây người ta dùng hoá chất  
M - 1 hoặc M - H).  
3.4. Hiện tượng nẩy mầm của hạt và củ giống trong thời gian bảo quản  
Yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng lớn  
tới sự nẩy mầm của hạt. Ví dụ nếu môi  
trường xung quanh ẩm ướt, ngô sẽ hút nước,  
kết hợp với nhiệt độ thích hợp, lượng ôxy  
hút vào, sẽ làm cho hạt nẩy mầm. Nước là  
môi trường cần thiết cho các loại men hoạt  
động. Nhiệt độ 20 ÷ 350C là nhiệt độ thích  
hợp cho hạt nẩy mầm. Nếu để hạt nẩy mầm  
thì sẽ xảy ra quá trình biến đổi phức tạp và  
làm giảm giá trị dinh dưỡng của hạt.  
Biện pháp đề phòng hạt mọc mầm  
trong khi bảo quản là phải kiểm soát các yếu  
tố như nhiệt độ, ôxy và độ ẩm. Việc khống  
chế nhiệt độ và ôxy do cấu trúc của kho  
tàng. Khống chế độ ẩm do việc bảo đảm tiêu  
Hình 6: Hạt giống nảy mầm trong quá  
trình bảo quản  
chuẩn chất lượng khi nhập kho.  
Khi phát hiện trong kho hạt có hiện tượng nẩy mầm, cần phải phơi, sấy ngay, mầm  
non sẽ bị quắt đi do men ở bên trong bị tiêu diệt, hạn chế được một phần thiệt hại. Phải  
duy trì độ ẩm của hạt thấp hơn độ ẩm cần thiết để hạt nẩy mầm, nghĩa là đảm bảo độ ẩm  
an toàn trước khi nhập kho. Hạt có dầu duy trì độ ẩm < 8 ÷ 9%, hạt chứa nhiều gluxit độ  
ẩm < 13,5%.  
3.5. Tính bốc nóng của khối hạt  
Một trong những quá trình gây nguy hiểm cho khối hạt, là quá trình bốc nóng.  
Nguyên nhân của quá trình bốc nóng trong khối hạt là hoạt động hô hấp của nông sản.  
Khả năng dẫn nhiệt của sản phẩm kém, do đó nhiệt tích tụ dần không thoát ra ngoài kịp  
làm tăng nhiệt độ của khối lương thực. Hoạt động sinh hoá của khối hạt càng mạnh, gây  
tổn thất các chất dinh dưỡng, tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển. Như vậy nguồn  
nhiệt do chính nông sản và hô hấp của vi sinh vật là nguồn chủ yếu làm nhiệt độ khối hạt  
và độ ẩm của nó tăng liên tục. Khi bốc nóng thì nhiệt độ tăng nhanh và xuất hiện mùi lạ.  
Mùi nặng dần thành mùi hôi dầu và sau thành mùi ẩm thối mục. Khối hạt nhiều hạt xanh,  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 63 trang yennguyen 89902 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Kỹ thuật bảo quản nông sản - Nghề: Khuyến nông lâm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_ky_thuat_bao_quan_nong_san_nghe_khuyen_nong_lam.pdf