Sử dụng phương pháp tiếp cận chỉ số mờ tích hợp để phân tích các yếu tố tác động đến quyết định thuê ngoài dịch vụ logistics: Nghiên cứu trường hợp chuỗi cung ứng nông sản tại đồng bằng sông Cửu Long

226(08): 335 - 347  
TNU Journal of Science and Technology  
USING THE INTEGRATED FUZZY LINGUISTIC APPROACH TO ANALYZE  
ENABLERS OF THE LOGISTICS OUTSOURCING DECISION MAKING:  
MEKONG DELTA AGRICULTURAL PRODUCTS SUPPLY CHAIN CONTEXT  
Nguyen Thi Thanh Ngan1, Nguyen Thang Loi2*, Ho Thi Thu Hoa3  
1Can Tho University  
2FPT Can Tho University  
3International University - Vietnam National University HCM City  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
Logistics outsourcing is becoming a trend of logistics activities of  
enterprises, especially agribusiness enterprises in Vietnam. The purpose  
of this paper is to analyze the factors affecting the decision to outsource  
logistics services. This study presents an integrated fuzzy index  
approach including fuzzy inferred structure model (FISM), fuzzy cross-  
effect matrix multiplication for factor group classification (FMICMAC)  
to determine the importance actually of the elements. The results  
showed that 14 factors have the greatest impact on the decision to  
outsource logistics services in the Mekong Delta region.  
Received:  
Revised:  
24/4/2021  
18/6/2021  
21/6/2021  
Published:  
KEYWORDS  
Logistics Outsourcing  
Supply chain of agricultural  
products  
Fuzzy ISM-MICMAC  
Triangular linguistic  
Mekong Delta  
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CHỈ SỐ MỜ TÍCH HỢP ĐỂ PHÂN TÍCH  
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THUÊ NGOÀI DỊCH VỤ  
LOGISTICS: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CHUỖI CUNG ỨNG NÔNG SẢN  
TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  
Nguyễn Thị Thanh Ngân1, Nguyễn Thắng Lợi2*, Hồ Thị Thu Hòa3  
1Trường Đại học Cần Thơ  
2Trường Đại học FPT Cần Thơ  
3Trường Đại học Quốc tế - ĐH Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Ngày nhận bài: 24/4/2021  
Ngày hoàn thiện: 18/6/2021  
Ngày đăng: 21/6/2021  
TÓM TẮT  
Thuê ngoài logistics đang trở thành xu thế của hoạt động logistics của  
các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh nông sản  
tại Việt Nam. Mục đích của bài báo này là phân tích các yếu tố tác  
động đến quyết định thuê ngoài dịch vụ logistics. Nghiên cứu này trình  
bày phương pháp tiếp cận chỉ số mờ tích hợp bao gồm mô hình cấu  
trúc diễn dịch mờ (FISM), phép nhân ma trận tác động chéo mờ cho  
phân loại nhóm yếu tố (FMICMAC) để xác định tầm quan trọng thực  
sự của các yếu tố. Kết quả cho thấy 14 yếu tố có tác động lớn nhất đến  
quyết định thuê ngoài dịch vụ logistics trong khu vực đồng bằng Sông  
Cửu Long.  
TỪ KHÓA  
Thuê ngoài dịch vụ logistics  
Chuỗi cung ứng hàng nông sản  
Phân tích ISM-MICMAC mờ  
Ngôn ngữ tam giác  
Đồng bằng Sông Cửu Long  
* Corresponding author. Email: [email protected]n  
335  
226(08): 335 - 347  
TNU Journal of Science and Technology  
1. Giới thiệu  
Nhiều năm qua, ngành nông nghiệp luôn khẳng định được vị thế đóng góp cho kinh tế của đất  
nước. Tiếp cận sự phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam dưới góc chuỗi cung ứng sẽ từ các  
hộ sản xuất nông nghiệp, thương lái, nhà sản xuất công nghiệp, nhà phân phối đến khách hàng  
tiêu dùng cuối cùng. Trong thực tế thì chuỗi cung ứng nông nghiệp Việt Nam đa dạng và phức  
tạp hơn nhiều, được chi tiết theo từng sản phẩm hay nhóm sản phẩm, bao gồm các hoạt động có  
liên quan đến chuỗi các nhà cung cấp các dịch vụ từ khâu giống, cung ứng vật tư, vận tải, hải  
quan… Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNN), hiện Việt  
Nam có khoảng 700 chuỗi cung ứng nông sản trên toàn quốc. Xem xét chuỗi cung ứng nông sản  
một cách toàn diện hơn, hoạt động chuỗi cung ứng sẽ bao gồm logistics. Châu thổ đồng bằng  
Sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng trọng điểm kinh tế, đóng góp khoảng 90% sản lượng gạo, 65%  
sản lượng thủy sản và 70% sản lượng trái cây cho xuất khẩu cả nước. Theo báo cáo xuất nhập  
khẩu của Bộ Công thương năm 2020, tổng giá trị xuất khẩu mặt hàng nông sản đạt 3,27 tỷ USD;  
trong đó ĐBSCL chính là trung tâm xuất khẩu chủ lực. Tính đến nay, nông sản Việt Nam đã hiện  
diện ở hơn 170 quốc gia, tập trung ở thị trường Trung Quốc, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc [1]. Tuy nhiên,  
qua các số liệu thống kê trong ít nhất 5 năm trở lại đây cho thấy, chi phí logistics cho xuất khẩu  
nông sản chiếm tỷ lệ vào khoảng 20-25%, như vậy là khá cao so với các nước trong khu vực (vào  
khoảng 10-15%). Hằng năm, nhu cầu vận chuyển hàng hóa xuất khẩu trong khu vực ĐBSCL  
khoảng 17-18 triệu tấn/năm nhưng 70% lượng hàng hóa xuất khẩu này phải chuyển tải về các  
cảng lớn ở TP. Hồ Chí Minh và cảng Cái Mép, khiến doanh nghiệp phải gánh chi phí vận tải cao  
hơn từ 10-40% tùy từng tuyến. Điều dễ nhận thấy là ĐBSCL còn thiếu các cảng biển, nhất là các  
cảng nước sâu đủ khả năng phục vụ tàu vận chuyển container xuất khẩu. Bên cạnh đó, khó khăn  
của ngành hàng nông sản xuất khẩu là thiếu xe lạnh cho các khâu vận chuyển, trang bị cho các xe  
lạnh còn thiếu các thiết bị phụ trợ khác giúp bảo quản nông sản tốt hơn ngoài thiết bị làm lạnh;  
dịch vụ vận tải quốc tế từ Việt Nam đi nhiều khu vực trên thế giới thường phải qua trung chuyển  
mất thời gian. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Thị Thu Hòa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát  
triển logistics Việt Nam chia sẻ: “Khi doanh nghiệp lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ logistics  
thường dựa vào các tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá như chất lượng dịch vụ, giá cả, sự linh  
hoạt, thời gian. Do đó, các đơn vị cung cấp dịch vụ logistics cần liên kết để tạo chuỗi dịch vụ tại  
ĐBSCL, cải thiện chất lượng, giá cả, tính linh hoạt, rút ngắn thời gian nhằm tạo sự tin tưởng cho  
chủ hàng. Liên kết cung cấp chuỗi dịch vụ logisics khép kín không chỉ phát triển dịch vụ logistics  
kho hàng xuất khẩu mà còn cho hàng nội địa, hàng thương mại điện tử” [2].  
Theo thông tin từ Bộ Công thương, cả nước hiện nay có khoảng 3.000 công ty tham gia cung  
cấp các loại hình dịch vụ logistics, trong số đó 70% có trụ sở ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh  
và có khoảng 30 công ty logistics đa quốc gia [1]. Dịch vụ này đã trở thành sự lựa chọn ưu tiên  
với các công ty (hay còn được gọi là các chủ hàng: các chủ sở hữu hàng hóa vận chuyển) doanh  
nghiệp thích thuê ngoài LSP (nhà cung cấp dịch vụ logistics-Logistics Service Provider) cho các  
vấn đề logistics của họ, điều này đã hỗ trợ họ đạt được lợi thế nhất định về chi phí và khơi dậy  
hiệu quả hoạt động tổng thể của hệ thống, đặc biệt là hoạt động logistics [3].  
Thuê ngoài (Outsourcing) là chuyển toàn bộ hoặc một phần chức năng logistics trong chuỗi  
cung ứng logistics đến các nhà cung cấp dịch vụ logistics giờ đây đã trở thành tiêu chuẩn chung  
trong toàn ngành. Theo Bask (2002) nhu cầu sử dụng logistics Outsourcing đã tăng nhanh trong  
vài năm qua và trở thành hiện tượng thu hút được sự chú ý ngày càng tăng, đổi mới dịch vụ hậu  
cần là động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng hiệu suất LSP [4]. Bên cạnh đó, Cichosz (2017) cho  
rằng tích hợp khách hàng vào quy trình đổi mới hậu cần có thể làm tăng sự hài lòng của họ và  
tăng cường hiệu suất đổi mới của LSP [5]. Theo Huo (2015) sự phụ thuộc và cam kết mối quan  
hệ thể hiện vai trò trực tiếp của các yếu tố liên quan đến thuê ngoài dịch vụ logistics [6].  
Tuy nhiên, tỷ lệ thuê ngoài của ngành dịch vụ logistics Việt Nam hiện nay đạt khoảng 35-  
40%. Nguyên nhân chủ yếu là chưa có sự phối hợp, hợp tác giữa các nhà cung cấp dịch vụ  
logistics với các nhà sản xuất và các nhà xuất nhập khẩu [1]. Sự chưa hợp lý trong phối hợp đến  
336  
226(08): 335 - 347  
TNU Journal of Science and Technology  
từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Vấn đề này đang tạo thành các rào cản trong quá trình ra quyết  
định của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng hàng nông sản, mặc dù thuê ngoài logistics giúp  
doanh nghiệp tiết kiệm được rất nhiều tài nguyên và nguồn lực cho họ. Thấy được tầm quan  
trọng của vấn đề, nghiên cứu này sẽ cung cấp một phương pháp mô hình hoá hỗ trợ việc phân  
tích các yếu tố tác động đến quyết định thuê ngoài dịch vụ logistics hướng đến việc xây dựng giải  
pháp nâng cao hiệu quả hoạt động logistics cho công ty chế biến trong chuỗi cung ứng hàng nông  
sản tại đồng bằng Sông Cửu Long.  
2. Cơ sở lý thuyết  
Các yếu tố tác động đến mối quan hệ LO được xác định căn cứ theo nghiên cứu tài liệu, hoạt  
động logistics thực tế và ý kiến của các chuyên gia. Nghiên cứu sử dụng các tài liệu giai đoạn 2000  
– 2020. Kết quả cho thấy có 14 yếu tố tác động đến quyết định thuê ngoài dịch vụ logistics (Bảng 1).  
Bảng 1. Các yếu tố tác động đến mối quan hệ thuê ngoài dịch vụ Logistics  
trong chuỗi cung ứng hàng nông sản  
STT  
Các yếu tố  
Tài liệu tham khảo  
Ireland và cộng sự (2020) [7]; Queiroz và cộng sự (2019)  
[8]; Yuan và cộng sự (2020) [9];  
1 Sự bảo hộ của quản lý cấp cao  
2 Mối quan hệ cá nhân  
3 Cam kết hoặc tin cậy  
Shou và cộng sự (2017) [10]; Liu và cộng sự (2018) [11];  
Yuan và cộng sự (2018) [12]; Gao và cộng sự (2017) [13];  
Dai và cộng sự (2018) [14]; Schuetz và cộng sự (2020)  
[15]; Dubey và cộng sự (2019) [16];  
4 Văn hóa  
Chuyên môn dịch vụ khách hàng 3PL  
(Chủ hàng)  
Ellinger và cộng sự (2008) [17]; Jean-François và cộng sự  
(2018) [18];  
5
6 Hiệu suất logistics  
7 Tuân thủ hệ thống  
8 Tiêu chuẩn hóa  
9 Thời hạn hợp đồng  
Williamson (2018) [19]; Karia và Wong (2013) [20];  
Sinkovics và cộng sự (2011)[21];Chang và cộng sự (2019)[22];  
Manrodt và cộng sự (2004) [23] Marchet (2016) [24];  
Rajesh (2011) [25]; Helo và Hao (2019)[26];  
Hald và Mouritsen (2018)[27];DUC và Cộng sự. (2018) [28];  
10 Phối hợp/ Hợp tác giữa người mua-3PL  
11 Sự gia tăng về năng suất và lợi thế cạnh tranh Angelis và Silva (2019) [29]; Montecchi và Cộng sự (2019) [30]  
12 Hiệu suất được đánh giá của nhà cung cấp Hald và Mouritsen (2018) [27]; Krishnan (2016) [31];  
TQM và JIT của Nhà cung cấp được thêm  
13  
Ranjith và Bijuna (2013) [32]; Green và cộng sự (2019) [33];  
Brinch (2018) [34]; Belvedere và cộng sự (2017) [35].  
vào (giá trị đặc biệt được thêm vào)  
14 Tài nguyên dành riêng  
Theo Ireland và cộng sự (2020), sự bảo hộ của quản lý cấp cao là điều kiện tiên quyết và cần  
thiết để cho phép hợp tác trong chuỗi cung ứng [7].  
1. Sự bảo hộ của quản lý cấp cao như một yếu tố chính để bộ phận logistics có thể có nhiều  
quyền hạn hơn để hợp tác với Nhà cung cấp logistics bên thứ ba (3PL) và nếu cần, sự hợp tác có  
thể được đưa lên một cấp độ chuyên biệt hơn [7]. Queiroz và cộng sự (2019) lập luận rằng: “Cam  
kết đã có tác động tích cực đến hiệu suất trong chuỗi cung ứng” và cũng đã chứng minh rằng:  
“Cam kết đã trở thành giai đoạn trung gian trong mối quan hệ giữa hiệu suất phối hợp và sự tin  
cậy” [9]. Các cá nhân tin tưởng nhau sẵn sàng bộc lộ ý kiến riêng, trao đổi thông tin, thiết lập và  
làm rõ mục tiêu, giải quyết vấn đề và có thể làm việc cùng nhau để nâng cao hiệu quả hợp tác [8].  
Yuan và cộng sự (2020) nhấn mạnh vai trò quan trọng của lãnh đạo cao nhất trong việc dàn xếp  
các thuộc tính giao dịch để thực hành hiệu quả của chúng đối với thành công của LO [9].  
2. Về mối quan hệ cá nhân: Mối quan hệ cá nhân đại diện cho một công ty và một nguồn nhân  
lực quan trọng trong cộng đồng doanh nghiệp và các vấn đề cần được triển khai để nâng cao lợi  
thế cạnh tranh của một công ty [10]. Mối quan hệ cá nhân đã giúp các nhà cung cấp dịch vụ  
logistics toàn cầu đảm bảo thị phần của riêng họ tại thị trường Trung Quốc bằng cách ký các hợp  
đồng chiến lược với các LSP trong nước [11].  
3. Cam kết hoặc tin cậy: Trong bối cảnh liên tổ chức, tin cậy có thể được định nghĩa là "niềm  
tin rằng đối tác của một người sẽ hành động theo cách có thể đoán trước được, sẽ giữ lời và sẽ  
hành xử theo cách không ảnh hưởng tiêu cực đến bên kia" [12]. Niềm tin cũng được định nghĩa là  
337  
226(08): 335 - 347  
TNU Journal of Science and Technology  
một quyết định dựa trên quan hệ đối tác với triển vọng rằng đối tác sẽ hành động theo thỏa thuận  
chung. Gao và cộng sự [13] nhận thấy rằng sự tương đồng của các đối tác và khả năng quản lý  
liên minh góp phần vào sự ổn định của liên minh và hiệu quả của mối quan hệ. Một số nghiên  
cứu chính cho thấy lĩnh vực này là một lĩnh vực tương đối “mới” đối với việc quản lý chuỗi cung  
ứng; thiếu thống nhất về tên của thuật ngữ.  
4. Văn hóa: Sự không tương thích về văn hóa được bộc lộ, thường dẫn đến sự thất bại của  
quan hệ đối tác 3PL [14]. Ngoài ra, văn hóa tổ chức bao gồm các kiểu hành vi và thực hành của  
mọi người trong công ty logistics vận tải hàng hóa là một yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn  
sử dụng hoặc không sử dụng các công nghệ để cải thiện hiệu suất [15]. Dubey và cộng sự (2019)  
[16] đã đề cập đến những ưu điểm của cách thiết lập văn hóa đối với cách doanh nghiệp có thể  
phản ứng với các áp lực bên ngoài và cách đưa ra các quyết định chiến lược.  
5. Chuyên môn dịch vụ khách hàng 3PL (Chủ hàng): Ngày nay, các hoạt động gia công hậu cần  
thường bao gồm quy trình chuỗi cung ứng phức tạp và công nghệ thông tin tiên tiến được tùy chỉnh  
cho những người tiêu dùng quan trọng hoặc các tài khoản quan trọng. Do đó, sự hiểu biết của nhân  
viên 3PL về các vấn đề và yêu cầu về hiệu suất của khách hàng chính và mối quan hệ của họ với  
nhân viên của đồng nghiệp là những nguồn lực chính để tạo sự khác biệt [17]. Có hai cách tiếp cận  
chính để đo lường chất lượng dịch vụ. Một trong những cách tiếp cận này là chủ quan hoặc nội bộ,  
nơi các công ty xây dựng các thông số kỹ thuật để đánh giá dịch vụ của họ [18].  
6. Hiệu suất logistics: Các đổi mới cũng có thể nhắm mục tiêu đến nhiều khách hàng - toàn bộ  
cơ sở khách hàng tiềm năng của họ hoặc một tập hợp con của họ. Những đổi mới này cải thiện  
khả năng cạnh tranh của LSP và có thể được sử dụng cho các dịch vụ được cung cấp dưới hình  
thức trao đổi thị trường nơi xảy ra sự thích ứng tự trị, cũng như cho các dịch vụ được cung cấp  
trong các mối quan hệ LO sắp tới hoặc hiện tại dưới dạng hợp tác thích ứng [19]. Họ cũng sử  
dụng các biến về hoạt động và hiệu quả liên quan trực tiếp đến các dịch vụ logistics như dịch vụ  
tốt hơn, tỷ lệ giao hàng đúng hạn cao hơn và độ chính xác, phản ứng nhanh, giải pháp độc đáo  
hơn, hài lòng hơn với mức độ dịch vụ, nhiều dịch vụ bổ sung hơn, chi phí cơ sở vật chất thấp  
hơn, chi phí phân phối thấp hơn [20]. Ngoài ra, một số tác giả nhận thấy rằng giảm chi phí  
logistics là yếu tố quan trọng nhất để cải thiện hệ thống logistics của Việt Nam, tiếp theo là dịch  
vụ logistics. Họ lưu ý tầm quan trọng của LSP nhưng cũng cho rằng các công ty logistics Việt  
Nam thiếu khả năng cạnh tranh quốc tế.  
7. Tuân thủ hệ thống: Một số tác giả tin rằng các dự án tích hợp Công nghệ thông tin (CNTT)  
sẽ phù hợp với các yêu cầu kỹ thuật chính xác hơn khi thông tin liên lạc thường xuyên và nâng  
cao được thực hiện đúng cách và được kiểm soát chặt chẽ và họ lập luận rằng CNTT giữa tất cả  
các bên của chuỗi cung ứng càng cao có thể dẫn đến tăng tính minh bạch trong hoạt động, do đó  
thúc đẩy sự tin tưởng [21], và nhấn mạnh mối liên hệ tiến bộ giữa công nghệ thu thập dữ liệu với  
hiệu quả và hiệu suất. Mặt khác, số hóa là một mô hình quan hệ mới trên toàn bộ mạng lưới  
chuỗi cung ứng. Số hóa giúp doanh nghiệp được hỗ trợ tốt hơn bao giờ hết khi các hoạt động biểu  
diễn thủ công sẽ được thay thế bằng hệ thống công nghệ truyền thông và liên lạc điện tử [22].  
8. Chuẩn hóa: Manrodt và Vitasek (2004) nhấn mạnh rằng việc thực hiện tiêu chuẩn hóa quy  
trình đi kèm với những thách thức về địa lý và văn hóa cần được xem xét khi kinh doanh xuyên  
biên giới [23]. Một số tác giả đồng ý rằng 3PL áp dụng các tiêu chuẩn của người gửi hàng để  
đảm bảo năng suất được cải thiện. Cụ thể, các tác giả giải thích rằng 3PL tập trung vào hiệu quả  
có xu hướng cung cấp các giải pháp được tiêu chuẩn hóa nhằm đạt được tỷ suất lợi nhuận cao  
như cách khai thác lợi thế theo quy mô và đạt được "sự thích ứng với khách hàng" sâu hơn, đòi  
hỏi năng lực cao hơn từ mỗi chủ hàng [24].  
9. Chiều dài hợp đồng: Thỏa thuận dài hạn phải phù hợp với điều kiện thị trường thay đổi, công  
nghệ công cộng và nhu cầu của khách hàng. Quan niệm như vậy có thể hỗ trợ cho lập luận của một  
tác giả khác [25], bằng cách đề xuất xem xét cẩn thận biên độ tự do của 3PL khi thiết lập các thỏa  
thuận. Hơn nữa, hợp đồng thông minh có thể kiểm soát các hoạt động kỹ thuật số một cách hiệu  
quả, do đó làm tăng chi phí thuê ngoài, đơn giản hóa quy trình quản lý và giảm thiểu rủi ro [26].  
338  
226(08): 335 - 347  
TNU Journal of Science and Technology  
10. Phối hợp/ Hợp tác người mua-3PL: Trong các nghiên cứu hiện tại, sự hợp tác giữa LSP và  
Nhà cung cấp được coi là một dạng năng lực để hỗ trợ Nhà cung cấp phát triển quyền sở hữu quyết  
định và trách nhiệm với LSP chính của mình. Trạng thái của mối quan hệ người mua-nhà cung cấp  
cũng có thể có ảnh hưởng đến các chỉ số hoạt động [27] và mức độ mối quan hệ. Đức và cộng sự  
[28] đã đề cập đến vai trò quan trọng của hậu cần và các mối quan hệ LO trong việc xây dựng một  
mô hình toán học xoay quanh các đối tác trong SuC để tối đa hóa hoạt động của SuC.  
11. Nâng cao năng suất và lợi thế cạnh tranh: Áp lực cạnh tranh là một yếu tố quan trọng gây  
ra sự thôi thúc liên tục giữa các công ty logistics trong việc chứng minh năng lực của họ với các  
đối tác hoặc nhà đầu tư [29]. Ngoài ra, rất khó để các công nghệ mới có thể được áp dụng trong  
ngành hậu cần trừ khi có sự hỗ trợ của chính phủ và ban hành các quy tắc và quy định, ví dụ,  
công nghệ blockchain [30].  
12. Hiệu suất được đánh giá của nhà cung cấp: Một số nghiên cứu cung cấp bằng chứng cho  
thấy tiêu chuẩn của hệ thống đóng vai như một nhà quản trị năng suất giúp tạo lợi thế cho công ty  
và hạn chế cơ hội của doanh nghiệp trên thị trường kinh doanh quốc tế. Mối quan hệ chiến lược  
giữa người mua và nhà cung cấp đang thu hút sự chú ý ngày càng tăng trong các tài liệu. Mối  
quan hệ này ngày càng quan trọng hơn trong việc quản lý các giao dịch [27]. Việc sử dụng thông  
tin về hiệu quả và kết quả có thể khác nhau giữa các nhà cung cấp chiến lược và các nhà máy chiến  
lược và không có chiến lược nào [31].  
13. Quản lý chất lượng toàn diện (TQM) và đúng thời điểm (JIT) của Nhà cung cấp được  
thêm vào (giá trị đặc biệt được thêm vào): Gia tăng giá trị khác biệt thông qua TQM và tập trung  
vào yếu tố JIT của Nhà cung cấp dịch vụ logistics sẽ giúp các doanh nghiệp nâng cao được lợi  
thế cạnh tranh [32]. Hơn nữa, Green và cộng sự (2019) [33] gợi ý “mô hình sản xuất ba không”  
để yêu cầu các nhà quản lý sản xuất cần đồng thời đạt được không có khuyết tật, không có chất  
thải/phát thải ra môi trường và không có hàng tồn kho. Mô hình ba không này đã được các tác giả  
chứng minh tính khả thi với các định hướng hỗ trợ bao gồm “Đúng sản phẩm – với đúng số  
lượng – tại đúng nơi – vào đúng thời điểm cần thiết” (Just In Time – JIT) và “Quản lý chất lượng  
tổng thể (Total Quality Management – TQM).  
14. Tài nguyên dành riêng: LO giúp giải quyết những hạn chế của chủ hàng trong việc đầu tư  
vào yêu cầu cơ sở hạ tầng logistics trong khi những chủ hàng này có thể chăm sóc khách hàng  
của họ tốt nhất có thể. Các nhà cung cấp dịch vụ logistics hoàn toàn có thể tạo ra Tài nguyên  
dành riêng để phục vụ các chủ hàng của mình một cách tốt hơn, đặc biệt là Công nghệ Thông tin  
(CNTT). Các công ty đầu tư đúng mức nguồn lực CNTT sẽ tạo ra ảnh hưởng tích cực đến chất  
lượng, hiệu quả sản xuất và giá trị gia tăng trong lĩnh vực hậu cần và quản lý chuỗi cung ứng  
[34]. Ngoài ra, Belvedere và Grando [35] đã chứng minh rằng hiệu quả từ CNTT trong cuộc cách  
mạng chuyển đổi số hiện nay có thể tạo động lực cho mọi hoạt động logistics. Các hoạt động này  
thường bao gồm vận chuyển, bảo quản và kiểm soát kho hàng.  
3. Phương pháp nghiên cứu và kết quả ước lượng mô hình  
Nghiên cứu này phát triển một cách tiếp cận phân tích tích hợp để mô hình hóa các yếu tố tác  
động đến quyết định thuê ngoài dịch vụ logistics bằng cách sử dụng phương pháp Mô hình cấu  
trúc diễn giải theo ngôn ngữ mờ (FISM) và phép nhân ma trận tác động chéo mờ cho phân loại  
nhóm yếu tố theo ngôn ngữ mờ (FMICMAC). Trong cách tiếp cận này, trước hết tác giả xác định  
các yếu tố tác động đến quyết định thuê ngoài dịch vụ logistics và các tiêu chí phụ trong mỗi yếu  
tố đó. Tiếp theo, phương pháp FISM tích hợp với FMICMAC được sử dụng bằng cách đưa ra  
một bộ bảng câu hỏi khác, qua đó xác định được sự tương tác giữa các tiêu chí và giữa các tiêu  
chí phụ đã chọn. Việc kết hợp lý thuyết mờ với ISM và MICMAC giúp giảm sự mơ hồ của các  
câu trả lời và kết quả phân nhóm sẽ thuyết phục hơn.  
3.1. Phương pháp mô hình hóa cấu trúc mờ F-ISM  
Phương pháp mô hình hóa cấu trúc ISM (Interpretive Structural Modeling) được John N.  
Warfield phát triển vào năm 1973. Warfield đề xuất sử dụng ISM như một phương pháp hiệu quả  
339  
226(08): 335 - 347  
TNU Journal of Science and Technology  
để phân tích các vấn đề phức tạp và tìm ra giải pháp cho vấn đề [36]. ISM tạo ra một quy trình  
thực hiện để xem xét và giải quyết các vấn đề, đồng thời thực hiện so sánh các cặp yếu tố để biến  
đổi một vấn đề phức tạp thành một mô hình cấu trúc dễ hiểu hơn.  
Tuy nhiên, việc khảo sát ý kiến chuyên gia về các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ LO là  
phán đoán chủ quan, không chắc chắn. Vì vậy, nghiên cứu sử dụng phương pháp F - ISM đưa các  
chỉ số mờ vào. F - ISM là phần mở rộng của ISM, trong đó số mờ là một cách biểu diễn chính  
xác hơn việc gán cho thông tin định tính một giá trị cụ thể nào đó. Trong nghiên cứu của Wang  
và cộng sự (2018), phương pháp F-ISM được sử dụng để xác định mối quan hệ tương tác giữa  
các yếu tố tác động và biểu diễn thứ bậc của các yếu tố được xem xét [37].  
Nghiên cứu này sử dụng dạng số mờ tam giác, thang đo ngôn ngữ mờ bao gồm năm cấp độ  
ảnh hưởng của các yếu tố với năm bộ giá trị tương ứng được trình bày trong Bảng 2 [38].  
Bảng 2. Thang đo ngôn ngữ mờ  
Mô tả ngôn ngữ  
Không ảnh hưởng  
Ảnh hưởng rất thấp  
Ảnh hưởng thấp  
Ảnh hưởng cao  
Ảnh hưởng rất cao  
Ký hiệu  
Số mờ tam giác  
(0,00; 0,00; 0,25)  
(0,00; 0,25; 0,50)  
(0,25; 0,50; 0,75)  
(0,50; 0,75; 1,00)  
(0,75; 1,00; 1,00)  
Mức độ ảnh hưởng  
N
VL  
L
H
VH  
0
1
2
3
4
(Nguồn: Li, 1999 [38])  
Trong nghiên cứu này, 14 yếu tố được xem xét bao gồm: (C1) Sự bảo hộ của quản lý cấp cao,  
(C2) Mối quan hệ cá nhân, (C3) Cam kết hoặc tin cậy, (C4) Văn hóa, (C5) Chuyên môn dịch vụ  
khách hàng 3PL (Chủ hàng), (C6) Hiệu suất logistics, (C7) Tuân thủ hệ thống, (C8) Tiêu chuẩn  
hóa, (C9) Thời hạn hợp đồng, (C10) Phối hợp/ Hợp tác giữa người mua-3PL, (C11) Nâng cao  
năng suất và lợi thế cạnh tranh, (C12) Đánh giá hiệu suất nhà cung cấp, (C13) TQM và JIT của  
nhà cung cấp được thêm vào (giá trị đặc biệt được thêm vào), (C14) Tài nguyên dành riêng.  
Từ đó, tác giả thiết lập mối quan hệ giữa các biến phụ (i và j) bằng cách so sánh một cặp biến,  
là kết quả dữ liệu từ một hội đồng gồm 10 chuyên gia/ nhà nghiên cứu và 130 doanh nghiệp  
(tương ứng là 13 tỉnh / thành phố ĐBSCL) có các giải pháp quản lý/ vận hành logistics được thu  
thập. Chúng đã được tiếp cận với các dịch vụ LO trong hơn hai năm.  
Bốn biểu tượng đã được sử dụng để thiết lập mối quan hệ giữa hai biến (i và j) như sau: V =  
Biến i sẽ giúp đạt được biến j; A = Biến j sẽ đạt được bằng biến i; X = Biến i và j sẽ giúp đạt  
được nhau; O = Các biến i và j không liên quan.  
Bảng 3. Ma trận tự tương tác tổng hợp SSIM có sử dụng các biến ngôn ngữ mờ  
Yếu tố C1 C2 C3 C4  
C5  
V(H) V(H)  
A(L) V(VH)  
C6  
C7  
O
O
C8  
O
O
O
O
C9  
V(H)  
O
O
V(L)  
C10  
V(H)  
O
C11  
V(H) V(H)  
O
C12  
C13  
V(L) V(H)  
O
C14  
1 A(L) V(H)  
O
C1  
C2  
C3  
1
O
1
O
O
O
O
1
O
V(VH) A(H)  
V(VH) V(H) V(VH) V(VH) V(L)  
V(L)  
O
V(L) V(L)  
O
O
O
O
V(L)  
A(H)  
O
O
O
O
O
C4  
1
O
1
V(L) A(H)  
V(VH) A(H)  
C5  
C6  
C7  
C8  
A(VH) A(VH) A(VH) A(VH) V(VH) A(H) A(VH)  
1
A(L) V(H)  
1
V(H)  
O
O
V(L)  
V(H)  
V(H)  
V(VH)  
1
V(H)  
O
A(L)  
O
A(H)  
1
O
O
O
1
A(L) V(L)  
V(H)  
C9  
1
O
C10  
C11  
C12  
C13  
C14  
A(H) A(VH)  
A(VH) V(H)  
1
V(VH)  
1
Bốn ký tự V, A, X, O là bốn biến chữ thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố nhưng lại chưa thể  
hiện rõ mức độ ảnh hưởng của từng mối quan hệ. Các mối quan hệ LO thuộc về bản chất của mối  
quan hệ đối tác của họ, xác định các yếu tố trung thành giữa các đối tác tương ứng. Từ đó ma trận  
tương tác cấu trúc (Structural self-interaction matrix – SSIM) được hình thành. Trong nghiên cứu  
340  
226(08): 335 - 347  
TNU Journal of Science and Technology  
này, chúng tôi sử dụng kết hợp SSIM và thang đo ngôn ngữ mờ để thiết lập nên SSIM tổng hợp  
như kết quả trong Bảng 3.  
Từ kết quả bảng 3, các ký hiệu V, X, A, O kết hợp ngôn ngữ mờ được diễn giải như sau:  
- C13 dẫn đến C14 với mức độ ảnh hưởng rất cao. Do đó V(VH) được gán cho ô có được  
bằng cách giao giữa hàng C13 và cột C4.  
- C2 đạt được nhờ C4 nhưng với mức độ ảnh hưởng thấp. Do đó A(L) được gán cho ô có được  
bằng cách giao giữa hàng C2 và cột C14.  
Ma trận SSIM tổng hợp được chuyển đổi tạo thành ma trận khả năng tiếp cận ban đầu sử dụng  
các biến ngôn ngữ mờ được trình bày trong Bảng 4.  
Bảng 4. Ma trận khả năng tiếp cận ban đầu sử dụng các biến ngôn ngữ mờ  
Yếu tố C1  
C2  
NO  
1
C3  
H
NO  
1
C4  
NO  
NO  
NO  
1
NO  
NO  
NO  
NO  
NO  
NO  
NO  
NO  
NO  
NO  
C5  
H
C6  
H
C7  
NO NO  
C8  
C9 C10 C11 C12 C13 C14  
1
L
H
H
H
NO  
H
NO  
VH  
VH  
L
H
H
VH  
1
H
H
L
H
NO  
L
NO  
NO  
NO  
NO  
NO  
L
H
NO  
H
VH  
1
C1  
C2  
VH NO NO NO NO NO  
NO VH NO NO NO VH  
L
1
NO  
NO VH  
NO VH  
NO  
VH  
NO  
NO  
NO  
H
NO  
NO  
NO  
NO  
1
NO  
VH  
L
NO NO  
NO  
C3  
C4  
L
NO  
L
NO NO  
NO NO  
NO NO NO NO  
L
L
NO NO NO  
NO NO NO  
L
NO NO  
NO  
NO  
NO  
NO  
NO  
NO  
NO  
NO  
1
C5  
C6  
1
NO NO  
H
1
L
NO  
1
H
H
C7  
NO NO NO  
NO NO NO  
NO NO NO  
NO NO NO  
NO NO NO  
NO NO NO  
NO NO NO  
NO NO  
1
C8  
C9  
H
VH NO NO  
NO  
1
NO VH NO NO NO  
NO NO NO NO NO NO  
H
H
C10  
C11  
C12  
C13  
C14  
H
NO NO  
L
L
NO  
NO  
VH NO NO  
H
VH  
NO  
NO NO NO NO NO NO  
VH  
NO  
Từ Bảng 4, mô hình phân cấp của F - ISM cũng được xây dựng. Các biến ngôn ngữ được  
thay thế bằng giá trị nhị phân 0 và 1, V và VH trong ma trận được thay thế bằng 1 và tất cả các  
biến ngôn ngữ còn lại (A, VL, L, v.v.) được thay thế bằng 0) được trình bày trong Bảng 5 [39].  
Đồng thời, kiểm tra tính liên quan của các mối quan hệ theo nguyên tắc bắc cầu “Nếu yếu tố  
C1 ảnh hưởng tới yếu tố C2 và yếu tố C2 ảnh hưởng tới yếu tố n3 thì yếu tố n1 cũng ảnh hưởng  
tới yếu tố N3”.  
Bảng 5. Ma trận khả năng tiếp cận được làm mờ  
Yếu tố  
C1  
C2  
C3  
C4  
C5  
C6  
C7  
C8  
C1 C2 C3  
C4 C5 C6 C7 C8 C9 C10 C11  
C12 C13 C14  
1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
1
0
1
0
0
0
1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
1
1
0
0
1
0
0
0
1
0
0
1
1
0
1
0
1
0
0
1
1
1
1
1
0
1
1
0
0
0
0
0
0
0
1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
1
0
0
0
0
0
0
1
0
0
0
0
0
1
0
1
0
0
0
0
0
1
0
1
0
0
0
1
0
0
1
0
0
0
0
1
0
1
0
1
1
0
1
1
1
1
1
1
1
1
0
1
0
0
0
1
0
0
0
0
1
1
0
0
0
1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
1
0
1
0
0
0
0
0
0
0
0
1
0
1
1
1
C9  
C10  
C11  
C12  
C13  
C14  
Ma trận khả năng tiếp cận cuối cùng thu được bằng cách kết hợp giá trị trung gian được liên  
kết bắc cầu (Bảng 6), trong đó giá trị trung gian được đánh dấu là 1a. Ma trận này được sử dụng  
để tính toán phân vùng mức F – ISM để tìm thứ bậc của từng biến.  
341  
226(08): 335 - 347  
TNU Journal of Science and Technology  
Bảng 6. Ma trận khả năng tiếp cận được làm mờ cuối cùng với các liên kết bắc cầu  
Sự  
Yếu tố C1 C2 C3 C4  
C5  
C6  
C7  
C8  
C9  
C10 C11 C12 C13 C14 độc  
lập  
1
0
1
0
0
0
0
0
0
1
0
1
0
0
0
1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
1
1
1
0
1
1a  
0
1a  
0
1
0
1
0
1
1
0
1
0
1
1
0
1
1
1
1
1
1
1
1
0
1
0
0
0
1
0
1a  
0
1
0
0
0
0
0
1
0
12  
3
C1  
C2  
C3  
C4  
C5  
C6  
C7  
C8  
C9  
C10  
C11  
C12  
C13  
C14  
Sự  
1a  
1a  
0
1a  
0
1a  
0
1a  
0
1a  
0
1a 12  
0
0
0
0
1a  
1a  
0
1
9
9
7
9
1a  
1a  
1a  
1a  
1a  
1a  
1
1
1a  
1
0
0
1
0
0
0
0
1a  
1a  
0
1a  
1a  
1
1a  
1a  
1
1a  
0
1
1
1
1
0
1
1a  
1a  
1a  
0
1a  
1
1
1a  
1
1a  
1a  
1
1a  
1a 1a  
1a  
1a  
0
0
0
1a 10  
1a  
0
0
0
1a  
0
1a  
0
1a  
0
1a  
0
1
0
1
1
1
11  
1
12  
13  
11  
0
1a 1a  
1a 1a  
1a  
1a  
1a  
1
0
1a  
1a  
1a  
1a  
1a  
1a  
1a  
1a  
1a  
1
1a  
1
1
1
1a  
0
1
1a  
0
1a  
1a  
1a  
1a  
12  
4
11  
1
11  
11  
4
10  
11  
11  
11  
7
6
10 120  
phụ  
thuộc  
Bảng 7. Ma trận hình nón  
C4 C11 C2 C7 C5 C6 C8 C9 C1 C3 C10 C12 C13 C14  
Yếu tố  
C4  
C11  
C2  
C7  
C5  
C6  
C8  
C9  
C1  
1
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
1
0
0
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
0
0
1
0
0
0
0
1
0
0
0
1
1
0
0
0
0
1
0
0
0
0
1
1
0
0
1
0
0
0
1
0
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
0
0
0
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
0
0
0
0
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
0
0
0
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
0
0
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
0
0
0
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
0
0
0
0
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
0
0
0
0
0
0
0
0
1
1
1
1
1
1
0
0
0
0
0
0
0
0
1
1
1
1
1
1
0
0
0
0
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
C3  
C10  
C12  
C13  
C14  
Bảng 8. Phân cấp thứ bậc các yếu tố  
Yếu tố  
Khả năng tiếp cận  
Tiền đề  
Giao nhau  
4
Cấp độ  
4
11  
4
I
I
II  
III  
IV  
IV  
IV  
IV  
V
V
V
V
V
C4  
C11  
C2  
C7  
C5  
C6  
C8  
C9  
C1  
1,3,5,6,8,9,10,11,12,13,14  
2,9,12,13  
11  
1,2,5  
3,6,7,9,10,12  
8,14  
1,2,5  
3,6,7,9,10,12  
8,14  
1,3,7,13  
1,2,3,5,6,8,9,12,13,14  
1,3,5,6,7,8,9,10,12,13,14  
1,3,5,6,8,9,10,12,13,14  
1,3,5,6,7,8,9,10,12,13,14  
1,2,3,5,6,7,8,9,10,12,13,14  
1,3,5,6,7,8,9,10,12,13,14  
1,3,5,6,7,8,9,10,12,13,14  
1,3,7,10,12,13,14  
8,14  
8,14  
8,14  
13  
13  
13  
12,13  
12,13  
12,13  
8,14  
8,14  
8,14  
13  
13  
13  
12,13  
12,13  
12,13  
C3  
C10  
C12  
C13  
C14  
1,3,10,12,13,14  
1,3,5,6,8,9,10,12,13,14  
V
342  
226(08): 335 - 347  
TNU Journal of Science and Technology  
Bảng 9. Ma trận khả năng tiếp cận mờ ban đầu sử dụng số mờ  
Yếu tố  
C1  
C2 (0.25,0.5,0.75)  
C3  
C4  
C1  
(1,1,1)  
C2  
C3  
C4  
C5  
C6  
C7  
C8  
C9  
C10  
C11  
(0.5,0.75,1) (0.5,0.75,1) (0.25,0.5,0.75) (0.5,0.75,1)  
(0,0,0.25) (0,0,0.25) (0,0,0.25) (0,0,0.25)  
(0.5,0.75,1) (0.75,1,1)  
C12  
C13  
C14  
(0,0,0.25) (0.5,0.75,1) (0,0,0.25) (0.5,0.75,1)  
(1,1,1)  
(0,0,0.25)  
(0.5,0.75,1)  
(0,0,0.25)  
(0.75,1,1)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0.5,0.75,1)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0.5,0.75,1)  
(0,0,0.25)  
(0.75,1,1)  
(0,0,0.25) (0,0,0.25) (0.75,1,1)  
(1,1,1) (0,0,0.25) (0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0.75,1,1) (0.25,0.5,0.75)  
(0,0,0.25) (0.25,0.5,0.75) (0,0,0.25) (1,1,1) (0.25,0.5,0.75) (0.25,0.5,0.75) (0,0,0.25)  
(0,0,0.25) (0.25,0.5,0.75) (0.25,0.5,0.75) (0,0,0.25)  
(0,0,0.25) (0.25,0.5,0.75) (0,0,0.25)  
C5  
C6  
C7  
C8  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25) (0,0,0.25)  
(0,0,0.25) (0,0,0.25) (0,0,0.25)  
(1,1,1)  
(0,0,0.25)  
(1,1,1)  
(0.75,1,1)  
(0,0,0.25) (0.25,0.5,0.75) (0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0.75,1,1)  
(0.75,1,1)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(1,1,1)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(1,1,1)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0.5,0.75,1)  
(0,0,0.25)  
(1,1,1)  
(0,0,0.25) (0.5,0.75,1) (0,0,0.25) (0,0,0.25)  
(0.5,0.75,1) (0.25,0.5,0.75) (0.5,0.75,1) (0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25) (0,0,0.25) (0,0,0.25)  
(0,0,0.25) (0,0,0.25) (0.5,0.75,1)  
(0,0,0.25) (0,0,0.25) (0,0,0.25)  
(0,0,0.25) (0,0,0.25) (0,0,0.25)  
(0,0,0.25) (0,0,0.25) (0.5,0.75,1)  
(0,0,0.25) (0,0,0.25) (0.5,0.75,1)  
(0,0,0.25) (0,0,0.25) (0,0,0.25)  
(0.75,1,1) (0.25,0.5,0.75)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(1,1,1)  
(0.5,0.75,1) (0,0,0.25)  
(0.5,0.75,1) (0,0,0.25)  
(0.75,1,1)  
(1,1,1)  
(0.5,0.75,1)  
(0.5,0.75,1) (0.75,1,1)  
(0.75,1,1) (0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25) (0.25,0.5,0.75)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(1,1,1)  
C9  
(0.75,1,1)  
(0.75,1,1)  
(0,0,0.25)  
(0.5,0.75,1)  
(0.75,1,1)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
C10  
C11  
C12  
C13  
C14  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(1,1,1)  
(0.5,0.75,1)  
(0,0,0.25)  
(0.5,0.75,1)  
(0.75,1,1)  
(1,1,1)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25) (0.25,0.5,0.75) (0,0,0.25)  
(0,0,0.25) (0.25,0.5,0.75) (0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
(0,0,0.25)  
Xác định các yếu tố có tập hợp các mối quan hệ theo hàng và giao điểm giữa hàng và cột giống nhau sẽ được chia bậc và loại bỏ ở quá trình xếp bậc  
tiếp theo. Các bước lặp tiếp theo được lặp lại cho đến khi thu được mức độ của mỗi biến (Bảng 7). Ma trận khả năng tiếp cận cuối cùng được phân cấp sẽ  
giúp tạo ra ma trận hình nón được trình bày trong Bảng 8. Cuối cùng thu được mô hình phân cấp F – ISM thể hiện thứ bậc của các yếu tố được thể hiện  
trong Hình 1.  
Hình 1. Mô hình phân cấp F – ISM  
Hình 2. Biểu đồ phân tích F – MICMAC  
343  
226(08): 335 - 347  
TNU Journal of Science and Technology  
3.2. Phương pháp phân tích F – MICMAC  
Từ Bảng 4, ma trận khả năng tiếp cận ban đầu được thiết lập với các giá trị số mờ tam giác,  
các biến ngôn ngữ mờ được thay thế bằng các giá trị số mờ tương ứng trong Bảng 2, được mô tả  
trong Bảng 9.  
Để xác định giá trị sắc nét (Crisp Value - CV) của các yếu tố thứ i và thứ j, các công thức theo  
từng bước thực hiện từ phương pháp khử mờ trong nghiên cứu của [40] được sử dụng trong  
nghiên cứu này là:  
Bước 1: Xác định các giá trị L, R, ∆  
L = min(lk); R = max(uk); k = 1, 2, 3,…n và = R – L  
(1)  
(2)  
Bước 2:  
     
     
 
     
 
 
 
   
 
;   
 
;     
   
.
   
 
 
 
Bước 3: Tính toán các giá trị chuẩn hóa bên trái và bên phải  
 
   
   
 
 
(3)  
(4)  
 
       
   
   
 
   
   
 
 
 
       
   
   
Bước 4: Tính tổng giá trị sắc nét đã chuẩn hóa  
   
   
   
((    )      )  
 
 
 
      
 
 
(5)  
(6)  
   
   
 
       
 
 
̃
Bước 5: Tính toán giá trị sắc nét cuối cùng   
 
      
      
̃
 
        
    
 
 
Kết quả tính toán giá trị mờ và giá trị sắc nét về sự độc lập và phụ thuộc của các yếu tố được  
trình bày trong Bảng 10.  
Bảng 10. Giá trị mờ và giá trị sắc nét cuối cùng về sự độc lập và phụ thuộc của các yếu tố  
Sự phụ thuộc  
(giá trị mờ)  
Sự phụ thuộc  
(CV)  
Sự độc lập  
(giá trị mờ)  
Sự độc lập  
(CV)  
Yếu tố  
(1.25, 1.50, 4.75)  
(1.25, 1.50, 4.75)  
(2.00, 2.50, 5.75)  
(1.00, 1.00, 4.25)  
(4.00, 5.50, 8.50)  
(6.75, 9.00, 10.75)  
(1.25, 1.50, 4.75)  
(1.25, 1.50, 4.75)  
(2.75, 4.00, 7.25)  
(3.00, 4.00, 7.00)  
(7.25, 10.00, 12.25)  
(3.50, 4.50, 7.25)  
(2.25, 3.00, 6.00)  
(3.75, 5.25, 8.25)  
2.0043  
2.0043  
3.0502  
1.4617  
5.8455  
8.8142  
2.0043  
2.0043  
4.4778  
4.4645  
9.7321  
4.9097  
3.4890  
5.6043  
(5.25, 7.50, 10.75)  
(2.00, 2.50, 5.50)  
(4.75, 6.25, 8.50)  
(2.50, 4.00, 7.25)  
(2.00, 2.50, 5.50)  
(1.75, 2.00, 5.00)  
(4.00, 5.50, 8.50)  
(2.50, 3.25, 6.25)  
(3.00, 4.00, 7.00)  
(3.00, 3.75, 6.50)  
(1.00, 1.00, 4.25)  
(3.25, 4.50, 7.75)  
(4.50, 6.00, 8.50)  
(1.75, 2.00, 5.00)  
7.5420  
3.0160  
6.3830  
4.4266  
3.0160  
2.5136  
5.8086  
3.7514  
4.4584  
4.2021  
1.4875  
4.9497  
6.1911  
2.5136  
C1  
C2  
C3  
C4  
C5  
C6  
C7  
C8  
C9  
C10  
C11  
C12  
C13  
C14  
Sau khi có được giá trị mờ và giá trị sắc nét cuối cùng về sự độc lập và phụ thuộc của các yếu  
tố ảnh hưởng đến mối quan hệ thuê ngoài dịch vụ logistics, một biểu đồ được vẽ giữa CV của sự  
độc lập và sự phụ thuộc của phương pháp phân tích F-MICMAC [41].  
Bằng cách sử dụng F-MICMAC, các yếu tố được phân loại dựa trên mức độ độc lập và phụ  
thuộc. Biểu đồ Hình 2 được chia thành bốn vùng: (I) vùng tự trị, (II) vùng phụ thuộc, (III) vùng  
liên kết và (IV) vùng độc lập.  
- Các yếu tố thuộc vùng (I) là yếu tố có độ độc lập và phụ thuộc đều thấp. Vùng (I) chứa yếu  
tố C2 và C8.  
- Các yếu tố thuộc vùng (II) là yếu tố có độ độc lập thấp và phụ thuộc mạnh vào các yếu tố  
khác. Vùng (II) bao gồm các yếu tố C5, C6, C11 và C14.  
344  
226(08): 335 - 347  
TNU Journal of Science and Technology  
- Các yếu tố thuộc vùng (III) là yếu tố vừa phụ thuộc vừa có tầm ảnh hưởng đối với những  
yếu tố khác. Vùng (III) chứa yếu tố C12.  
- Các yếu tố thuộc vùng (IV) là tập hợp yếu tố có ảnh hưởng mạnh đến các yếu tố khác. Vùng  
(IV) bao gồm các yếu tố C1, C3, C4, C7, C9, C10 và C13.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, (C11) Nâng cao năng suất và lợi thế cạnh tranh là yếu tố  
phụ thuộc mạnh mẽ vào các yếu tố khác. Các yếu tố có độ độc lập thấp, độ phụ thuộc cao là  
những yếu tố mà người chủ hàng mong muốn đạt được trong mối quan hệ thuê ngoài dịch vụ  
logistics. (C1) Sự bảo hộ của quản lý cấp cao là yếu tố độc lập có tầm ảnh hưởng lớn đến các yếu  
tố khác. Các yếu tố có mức độ độc lập cao là những yếu tố hỗ trợ giúp đạt được các yếu tố kết  
quả xuất hiện ở đầu phân cấp F - ISM. Do đó, điều quan trọng cần lưu ý là ban quản lý nên đưa ra  
các chiến lược để tăng cường triển khai các biến hỗ trợ để tăng cường năng suất và khả năng cạnh  
tranh trong mối quan hệ thuê ngoài dịch vụ logistics.  
4. Kết luận  
Trong nghiên cứu này, 14 yếu tố tác động đến quyết định thuê ngoài dịch vụ logistics đã được  
xác thực thông qua ý kiến của các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực logistics. Các yếu tố bao  
gồm: (C1) Sự bảo hộ của quản lý cấp cao, (C2) Mối quan hệ cá nhân, (C3) Cam kết hoặc tin cậy,  
(C4) Văn hóa, (C5) Chuyên môn dịch vụ khách hàng 3PL (Chủ hàng), (C6) Hiệu suất logistics,  
(C7) Tuân thủ hệ thống, (C8) Tiêu chuẩn hóa, (C9) Thời hạn hợp đồng, (C10) Phối hợp/ Hợp tác  
giữa người mua-3PL, (C11) Nâng cao năng suất và lợi thế cạnh tranh, (C12) Đánh giá hiệu suất  
nhà cung cấp, (C13) TQM và JIT của Nhà cung cấp được thêm vào (giá trị đặc biệt được thêm  
vào), (C14) Tài nguyên dành riêng. Thông qua phương pháp tiếp cận chỉ số mờ tích hợp, nhóm  
tác giả đã tiến hành phân tích mối quan hệ và xác định mức độ độc lập và phụ thuộc, đồng thời  
xây dựng hệ thống phân cấp thứ bậc các yếu tố này bằng cách sử dụng phương pháp F- ISM.  
Phương pháp F – MICMAC cũng được áp dụng để phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố. Kết  
quả của bài báo này giúp các nhà quản lý của các công ty chế biến nông sản ở Đồng bằng sông  
Cửu Long hiểu được khả năng phát triển LO bền vững. FISM-FMICMAC trong bài báo này cũng  
cung cấp thêm một cái nhìn tổng quan sâu sắc về các yếu tố thúc đẩy mối quan hệ LO bền vững  
bằng cách phát triển và phân loại.  
Giới hạn và phạm vi cho công việc trong tương lai:  
Trong bài báo này, chỉ có mười bốn biến cần xem xét cho việc lựa chọn sử dụng dịch vụ LO.  
Cần thêm nhiều yếu tố hỗ trợ ảnh hưởng đến mối quan hệ LO để phát triển FISM nhằm làm  
phong phú thêm tính năng động phù hợp với các lĩnh vực khác thay vì các mối quan hệ LO, giúp  
nâng cao hiệu quả lựa chọn dịch vụ logitics của doanh nghiệp. Do đó, việc phát triển một mô  
hình chặt chẽ hơn với sự kết hợp của nhiều loại F-ISM khác nhau đã được đề xuất cho các nghiên  
cứu trong tương lai.  
Mặc dù các yếu tố hỗ trợ được xác định từ các tạp chí có uy tín và các chuyên gia trong ngành  
hậu cần và các nhà thực hành thực tế và phương pháp luận FISM-FMICMAC được thiết lập, bản  
chất của nghiên cứu này một phần là các đánh giá chủ quan. Nghiên cứu trong tương lai cần được  
mở rộng để xác định hầu hết các yếu tố thúc đẩy quan trọng trong các ngành khác nhau của các  
lĩnh vực ở Việt Nam bằng nhiều phương pháp luận và cách tiếp cận.  
Lời cám ơn  
Công trình này được tài trợ từ đề tài mang mã số: ĐHFPT/2020/02, Đại học FPT.  
Nghiên cứu sinh Nguyễn Thắng Lợi được tài trợ bởi Tập đoàn Vingroup và hỗ trợ bởi chương  
trình học bổng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ trong nước của Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF),  
Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn (VinBigdata), mã số VINIF.2020.TS.26.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1] Ministry of Industry and Trade of Vietnam, Vietnam Logistics report 2021, “Logistics: from planning  
to action”. Industry and trade publisher, Vietnam, Hanoi, 2021.  
345  
226(08): 335 - 347  
TNU Journal of Science and Technology  
[2] N. Huong and K. Loan, “Logistics in the Mekong Delta: If you want to be durable, you must be  
methodical”, (in Vietnamese), VOV Traffic Channel - Voice of Vietnam Radio, 2019.  
[3] P. Evangelista, R. Mogre, A. Perego, A. Raspagliesi, and E. Sweeney, “A survey-based analysis of it  
adoption and 3PLs” performance,” Supply chain management: an international journal, vol. 17, no. 2,  
pp. 172-186, 2012.  
[4] Bask, “Developing a Framework for Supply Chain Management,” The International Journal of  
Logistics Management, vol. 13, no. 1, pp. 73-88, 2002.  
[5] Cichosz, “Innovation in logistics outsourcing relationship - in the search of customer satisfaction,”  
Logforum, vol. 13, no. 2, pp. 209-219, 2017.  
[6] Huo, "Effect of information sharing and process coordination on logistics outsourcing," Industrial  
Management and Data Systems, vol. 115, no. 1, pp. 41-63, 2015.  
[7] Ireland, Ron and R. Bruce, “CPFR: Only the Beginning of Collaboration,” Supply Chain Management  
Review, vol. 4, no. 4, pp. 80-88, 2020.  
[8] M. M. Queiroza and S. F. Wanba, “Blockchain Adoption Challenges in Supply Chain: An Empirical  
Investigation of The Main Drivers in India and the USA,” Int. J. Inf. Manage, vol. 46, pp. 70-82, 2019.  
[9] Y. Yuan, Z. Chu, F. Lai, and H. Wu, “The impact of transaction attributes on logistics outsourcing success: a  
moderated mediation model,” International journal of production economics, vol. 219, pp. 54-65, 2020.  
[10] Y. Shou, J. Shao, and A. Chen, “Relational Resources and Performance of Chinese Third-Party  
Logistics Providers, The Mdediating Role of Innovation Capability,” International Journal of  
Physitical Distribtuion and Logistics Management, vol. 47, no. 9, pp. 864-883, 2017.  
[11] X. Liu, K. Zhang, B. Chen, J. Zhou, and L. Miao, “Analysis of Logitics Service Supply Chain for the  
One Belt nd One Road Initiative of China,” Transportation Research Part E: Logistics and  
Transportation Review, vol. 117, pp. 23-39, 2018.  
[12] Y. Yuan, F. Bo, F. Lai, and C. J. Brian, “The role of trust, commitment, and learning orientation on  
logistics service effectiveness,” Journal of Business Research, vol. 93, pp. 37-50, 2018.  
[13] H. Gao, J. Yang, H. Yin, and Z. Ma, “The Impact of Partner Simiarity on Alliance Management Capabillity,  
Stability and Performance, Empirical Evidence of Horizontal Logistics Alliance in China,” International  
Journal of Phystical Distribution & Logistics Management, vol. 47, no. 9, pp. 906-926, 2017.  
[14] J. Dai, H. K. Chan, and R. W. Y. Yee, “Examining moderating effect of organizational culture on the  
relationship between market pressure and corporate environment strategy,” Ind. Mark. Manage, vol.  
74, pp. 227-236, 2018.  
[15] S. Schuetz and V. Venkatesh, “Blockchain, adoption, and financial inclusion in India: Research  
opportunities,” International Journal of Information Management, vol. 52, pp. 1-8, 2020.  
[16] R. Dubey, A. Gunasekaran, S. J. Chide, Dd. Roubaud, S. F. Wamba, M. Giannakis, C. Foropon, “Big  
data analytics and organizational culture as complements to swift trust and collaborative performance  
in the humanitarian supply chain,” Int. J. Prod. Econ, vol. 210, pp. 120-136, 2019.  
[17] A. E. Ellinger, D. J. Ketchen, G. Tomas, L. Hult, A. B. Elmada, and R. G. Richey Jr, “Market-  
Orientation, Employee Development Practices and Performance,” Industrial Marketing Management,  
vol. 37, no. 4, pp. 353-366, 2008.  
[18] A. Jean-François, O. Lauri, W. Christina, S. Ben, R. Anasuya, D. Karlygash, and K. Tuomas,  
Connecting to compete 2018: Trade logistics in the global economy. The logistics performance index  
and its indicators. New York: World Bank, 2018.  
[19] O. E. Williamson, “Outsourcing: Transaction Cost Economics and Supply Chain Management,”  
Journal of Supply Chain Management, vol. 44, no. 2, pp. 5-16, 2018.  
[20] N. Karia and C. Y. Wong, “The impact of logistics resources on the performance of Malaysian  
logistics service providers,” Production Planning and Control, vol. 24, no. 7, pp. 589-606, 2013.  
[21] R. R. Sinkovics, R. J. B. Jean, A. S. Roath, and S. T. Cavusgil, “Does IT Integration Really Enhance  
Supplier Responsiveness in Global Supply Chains?” Management International Review, vol. 51, no. 2,  
pp. 193-212, 2011.  
[22] S. E. Chang, Y.-C. Chen, and M.-F. Lu, “Supply chain re-engineering using blockchain technology: A  
case of smart contract-based tracking,” Technol. Forecast. Soc.Chang, vol. 144, pp. 1-11, 2019.  
[23] K. B. Manrodt and K. Vitasek, “Global Process Standardization: A Case Study,” Journal of Business  
Logistics, vol. 25, no. 1, pp. 1-23, 2004.  
346  
226(08): 335 - 347  
TNU Journal of Science and Technology  
[24] G. Marchet, M. Melacini, C. Sassi, and E. Tappia, “Assessing Efficiency and Innovation in the 3PL  
Industry: An Empirical Analysis,” International Journal of Logistics Research and Applications, vol.  
20, no. 1, pp. 53-72, 2016.  
[25] R. Rajesh, S. Pugazhendhi, K. Ganesh, D. Yves, S. C. Lenny Koh, and C. Muralidharan, “Perceptions of  
Service Providers and Customers of Key Success Factors of Third-party Logistics Relationships – An  
Empirical Study,” International Journal of Logistics Research and Applications, vol. 14, no. 4, pp.  
221-250, 2011.  
[26] P. Helo and Y. Hao, “Blockchains in operations and supply chains: A model and reference  
implementation. Comut,” Ind. Eng, vol. 136, pp. 242-251, 2019.  
[27] K. S. Hald and J. Mouritsen, “The evolution of performance measurement systems in a supply chain:  
A longitudinal case study on the role of interorganisational factors,” International Journal of  
Production Economics, vol. 205, pp. 256-271, 2018.  
[28] T. T. H. Duc, T. L. Nguyen, and J. Buddhakulsomsiri, “Buyback contract in a risk-averse supply chain  
with a return policy and price dependent demand,” International Journal of Logistics Systems and  
Management, vol. 30, no. 3, pp. 298-329, 2018.  
[29] J. Angelis and R. da Silva, “Blockchain adoption: A value diver perspective,” Bus. Horiz, vol. 62, no.  
3, pp. 307-314, 2019.  
[30] Montecchi, M., Plangger, K. and Etter, M. (2019), “It”s real, trust me! Establishing supply chain  
provenance using blockchain”, Business Horizons, Vol. 62 No. 3, pp. 283-293.  
[31] R. Krishnan, I. Geyskens, and J. B. E. Steenkamp, “The effectiveness of contractual and trust-based  
governance in strategic alliances under behavioral and environmental uncertainty,” Strategic  
Management Journal, vol. 37, no. 12, pp. 2521-2542, 2016.  
[32] V. K. Ranjith and C. Bijuna, “Outsourcing and Competitive Advantage,” International Journal of  
Research in Commerce and Management, vol. 4, no. 5, pp. 107-111, 2013.  
[33] K. W. Green, R. A. Inman, V. E. Sower, and P. J. Zelbst, “Impact of JIT, TQM and green supply  
chain practices on environmental sustainability,” Journal of Manufacturing Technology Management,  
vol. 30, no. 1, pp. 26-47, 2019.  
[34] M. Brinch, J. Stentoft, J. K. Jensen, and C. Rajkumar, "Practitioners understanding of big data and its  
applications in supply chain management," The International Journal of Logistics Management, vol.  
29, no. 2, pp. 555-574, 2018.  
[35] V. Belvedere and A. Grando, “Sustainable operations and supply chain management”,(Book) John  
Wiley & Sons, 242 pages, ISBN: 978-1-119-28495-6. 2017.  
[36] J. N. Warfield, “Binary matrices in system modeling. IEEE Transactions: System,” Man and  
Cybernetics, vol. SMC-3, no. 5, pp. 441–449, 1973.  
[37] W. Wang, X. Liua, Y. Qin, J. Huang, and Y. Liu, “Assessing contributory factors in potential systemic  
accidents using AcciMap and integrated fuzzy ISM - MICMAC approach,” International Journal of  
Industrial Ergonomics, vol. 68, pp. 311-326, 2018.  
[38] R. J. Li, “Fuzzy method in group decision making,” Computers and Mathematics with Applications,  
vol. 38, no. 1, pp. 91-101, 1999.  
[39] Z. Luo, R. Dubey, T. Papadopoulos, B. Hazen, and D. Roubaud, “Explaining environmental  
sustainability in supply chains using graph theory,” Computational Economics, vol. 52, no. 4, pp.  
1257-1275, 2018.  
[40] S. Opricovic and G. H. Tzeng, “Defuzzification within a multicriteria decision model,” International  
Journal of Uncertainty, Fuzziness and Knowledge-Based Systems, vol. 11, no. 5, pp. 635-652, 2003.  
[41] G. Khatwani, S. P. Singh, A. Trivedi, and A. Chauhan, “Fuzzy-TISM: a fuzzy extension of TISM for group  
decision making,” Global Journal of Flexible Systems Management, vol. 16, no. 1, pp. 97-112, 2015.  
347  
pdf 13 trang yennguyen 14400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sử dụng phương pháp tiếp cận chỉ số mờ tích hợp để phân tích các yếu tố tác động đến quyết định thuê ngoài dịch vụ logistics: Nghiên cứu trường hợp chuỗi cung ứng nông sản tại đồng bằng sông Cửu Long", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_dung_phuong_phap_tiep_can_chi_so_mo_tich_hop_de_phan_tich.pdf