Tài liệu tập huấn Sử dụng hiệu quả phế phụ phẩm trong nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt) và sau khí sinh học để sản xuất phân bón hữu cơ theo chuỗi giá trị

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN NÔNG LÂM NGHIỆP  
======000=======  
TÀI LIỆU TẬP HUẤN  
SỬ DỤNG HIỆU QUẢ PHẾ PHỤ PHẨM TRONG NÔNG NGHIỆP  
(CHĂN NUÔI, TRỒNG TRỌT) VÀ SAU KHÍ SINH HỌC ĐỂ SẢN XUẤT  
PHÂN BÓN HỮU CƠ THEO CHUỖI GIÁ TRỊ  
CÁN BỘ BIÊN SOẠN  
TS. Bùi Huy Hiền  
PGS.TS. Phạm Văn Toản  
Hà Nội tháng 5/2017  
PHẦN 1. PHÂN BÓN VÀ PHÂN BÓN HỮU CƠ  
1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM  
Theo dự thảo nghị định chính phủ về quản lý phân bón ở Việt Nam, một số khái  
niệm, thuật ngữ liên quan đến phân bón đượ hiểu như sau:  
1. Phân bón là sản phẩm có chức năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng  
hoặc có tác dụng cải tạo đất để tăng năng suất, chất lượng cây trồng.  
2. Nhóm phân bón vô cơ (còn gọi là phân bón hóa học) là các loại phân bón được  
sản xuất từ nguyên liệu chính là các chất vô cơ hoặc hữu cơ tổng hợp, được xử lý qua  
quá trình hóa học hoặc khai khoáng, gồm:  
a) Phân bón đa lượng là phân bón trong thành phần chất dinh dưỡng chính chứa ít  
nhất 01 (một) nguyên tố dinh dưỡng đa lượng, bao gồm phân bón đơn, phân bón phức  
hợp, phân bón hỗn hợp.  
b) Phân bón trung lượng là phân bón hóa học trong thành phần chất dinh dưỡng  
chính chứa ít nhất 01 (một) nguyên tố dinh dưỡng trung lượng, không bao gồm vôi,  
marl, plaster, gypsum, dolimite ở dạng khai thác tự nhiên chưa qua quá trình xử lý, sản  
xuất thành phân bón.  
c) Phân bón vi lượng là phân bón trong thành phần chất dinh dưỡng chính chứa ít  
nhất 01 (một) nguyên tố dinh dưỡng vi lượng.  
d) Phân bón đất hiếm là phân bón trong thành phần có chứa nguyên tố Scandium  
(số thứ tự 21) hoặc Yttrium (số thứ tự 39) hoặc một trong các nguyên tố thuộc dãy  
Lanthanides (số thứ tự từ số 57-71: Lanthanum, Cerium, Praseodymium, Neodymium,  
Promethium, Samarium, Europium, Gadolinium, Terbium, Dysprosium, Holmium,  
Erbium, Thulium, Ytterbium, Lutetium) trong bảng tuần hoàn Menđêlêep;  
e) Phân bón khoáng hữu cơ là các loại phân bón vô cơ quy định tại các điểm a, b,  
c, d của khoản này được bổ sung chất hữu cơ và có thể thêm các chất sinh học hoặc vi  
sinh vật có ích, bao gồm phân bón khoáng hữu cơ, phân bón khoáng hữu cơ sinh học,  
phân bón khoáng hữu cơ vi sinh.  
3. Nhóm phân bón hữu cơ là các loại phân bón được sản xuất từ nguyên liệu  
chính là các chất hữu cơ tự nhiên (không bao gồm các chất hữu cơ tổng hợp), được xử  
lý thông qua quá trình vật lý (làm khô, nghiền, sàng, phối trộn, làm ẩm) hoặc sinh học  
(ủ, lên men, chiết), gồm:  
a) Phân bón hữu cơ là phân bón trong thành phần chính chỉ có chất hữu cơ và các  
chất dinh dưỡng có nguồn gốc từ chất hữu cơ, không bao gồm các phân bón có bổ  
1
sung các chất tăng hiệu suất sử dụng, chất cải tạo đất, vi sinh vật, chất sinh học, chất  
điều hòa sinh trưởng hay các chất làm thay đổi tính chất, công dụng, hiệu quả sử dụng;  
b) Phân bón hữu cơ vi sinh là phân bón hữu cơ được bổ sung ít nhất 01 (một)  
loài vi sinh vật có ích;  
c) Phân bón hữu cơ sinh học là phân bón hữu cơ được sản xuất thông qua quá  
trình sinh học hoặc được bổ sung ít nhất 01 (một) chất có nguồn gốc sinh học (axít  
humic, axít fulvic, axít amin, vitamin,...);  
d) Phân bón hữu cơ khoáng là phân bón hữu cơ được bổ sung ít nhất 01 (một)  
chất dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng;  
đ) Phân bón hữu cơ truyền thống là phân bón có nguồn gốc từ chất thải động vật  
hoặc từ các phụ phẩm cây trồng hoặc các loại thực vật và chất thải hữu cơ sinh hoạt  
khác mà không bao gồm các phân bón có bổ sung các chất tăng hiệu suất sử dụng,  
chất cải tạo đất, vi sinh vật, chất sinh học, chất điều hòa sinh trưởng hay các chất làm  
thay đổi tính chất, công dụng, hiệu quả sử dụng.  
4. Nhóm phân bón sinh học là các loại phân bón được sản xuất thông qua quá  
trình sinh học trong thành phần có chứa các vi sinh vật có ích hoặc có chứa một hoặc  
nhiều chất có nguồn gốc sinh học, gồm:  
a) Phân bón vi sinh vật là phân bón có chứa vi sinh vật có ích có khả năng tạo ra  
các chất dinh dưỡng hoặc chuyển hóa thành các chất dinh dưỡng trong đất mà cây  
trồng có thể sử dụng được hoặc cải thiện tính chất hóa, lý, sinh học của đất tạo thuận  
lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng; hoặc các vi sinh vật đối kháng có tác  
dụng ức chế các vi sinh vật gây hại vùng rễ cây trồng.  
b) Phân bón sinh học là loại phân bón được sản xuất thông qua quá trình sinh  
học, trong thành phần có chứa một hoặc nhiều chất có nguồn gốc sinh học như axít  
humic, axít fulvic, axít amin, vitamin hoặc các chất sinh học khác.  
5. Phân bón đơn là phân bón vô cơ đa lượng trong thành phần chất chính chỉ chứa  
01 một nguyên tố dinh dưỡng đa lượng;  
6. Phân bón phức hợp là phân bón vô cơ đa lượng trong thành phần chất chính có  
chứa ít nhất 02 (hai) nguyên tố dinh dưỡng đa lượng được liên kết với nhau bằng các  
liên kết hóa học;  
7. Phân bón hỗn hợp (còn gọi là phân bón hỗn hợp đa lượng, phân bón NPK) là  
phân bón vô cơ đa lượng trong thành phần chất dinh dưỡng chính có chứa ít nhất 02  
(hai) nguyên tố dinh dưỡng đa lượng được sản xuất bằng cách phối trộn từ các loại  
phân bón khác nhau.  
2
8. Phân bón có chất điều hòa sinh trưởng là phân bón quy định tại các khoản 2, 3,  
4, 5, 6, 7 Điều này được bổ sung một hoặc nhiều chất điều hòa sinh trưởng có trong  
Danh mục thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát  
triển nông thôn ban hành, có tổng hàm lượng các chất điều hòa sinh trưởng nhỏ hơn  
0,5% khối lượng.  
9. Phân bón cải tạo đất là phân bón quy định tại các Khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 Điều  
này trong thành phần chứa các chất có tác dụng cải thiện tính chất lý, hoá, sinh học  
của đất để tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng, phát triển và đã được cơ  
quan nhà nước có thẩm quyền cho phép sử dụng trong phân bón.  
10. Phân bón rễ là loại phân bón được sử dụng để cung cấp chất dinh dưỡng cho  
cây trồng thông qua bộ rễ.  
11. Phân bón lá là loại phân bón được sử dụng để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây  
trồng thông qua thân lá.  
12. Yếu tố hạn chế trong phân bón là những yếu tố có nguy cơ gây độc hại, ảnh  
hưởng tới an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường, gồm:  
a) Các nguyên tố Arsen (As), cadimi (Cd), chì (Pb) và thủy ngân (Hg);  
b) Vi khuẩn E. Coli, Salmonella và các vi sinh vật gây hại cây trồng, gây bệnh  
cho người, động vật được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xác định.  
13. Chất chính (còn gọi chất dinh dưỡng chính) trong phân bón là chất dinh  
dưỡng có trong thành phần đăng ký quyết định tính chất, công dụng của phân bón  
được quy định tại Phụ lục V của Nghị định này.  
14. Nguyên tố dinh dưỡng trong phân bón là các nguyên tố hóa học cần thiết cho  
sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, gồm:  
a) Nguyên tố dinh dưỡng đa lượng là các nguyên tố đạm (N), lân (P), kali (K) ở  
dạng cây trồng có thể hấp thu được;  
b) Nguyên tố dinh dưỡng trung lượng là các nguyên tố canxi (Ca), magie (Mg),  
lưu huỳnh (S), silic (Si) ở dạng cây trồng có thể hấp thu được;  
c) Nguyên tố dinh dưỡng vi lượng là các nguyên tố bo (B), côban (Co), đồng  
(Cu), sắt (Fe), mangan (Mn), molipđen (Mo), kẽm (Zn) ở dạng cây trồng có thể hấp  
thu được.  
15. Sản xuất phân bón là việc thực hiện một phần hoặc toàn bộ hoạt động tạo ra  
sản phẩm phân bón thông qua phản ứng hóa học, sinh hóa, sinh học hoặc các quá trình  
vật lý như nghiền, trộn, sàng, sấy, bọc, tạo hạt, viên hoặc khuấy trộn, lọc hoặc chỉ  
đóng gói phân bón.  
3
16. Đóng gói phân bón là việc sử dụng máy móc, thiết bị để san chiết phân bón từ  
dung tích lớn sang dung tích nhỏ, từ bao bì lớn sang bao bì nhỏ hoặc là hình thức đóng  
gói từ dung tích, khối lượng cố định vào bao bì theo một khối lượng nhất định mà  
không làm thay đổi bản chất, thành phần, hàm lượng, màu sắc, dạng phân bón.  
17. Phân bón không bảo đảm chất lượng là phân bón có hàm lượng định lượng  
các chất chính hoặc có thành phần không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng  
hoặc quy chuẩn kỹ thuật tương ứng hoặc quy định của cơ quan có thẩm quyền.  
18. Phân bón mới là phân bón chưa có tên trong Danh mục phân bón được lưu  
hành tại Việt Nam hoặc đã có tên trong Danh mục phân bón được lưu hành tại Việt  
Nam nhưng thay đổi thành phần, hàm lượng chỉ tiêu chất lượng đã đăng ký.  
2. VAI TRÒ CỦA PHÂN BÓN  
2.1. Phân bón và an ninh lƣơng thực  
An ninh lương thực được bảo đảm khi tất cả mọi người dân đều được tiếp cận  
các nguồn lương thực thực phẩm với số lượng đầy đủ, chất lượng tốt, an toàn và giàu  
dinh dưỡng. An ninh dinh dưỡng có nghĩa là bảo đảm cho người dân có khả năng tiếp  
cận và sử dụng thích hợp các chất dinh dưỡng trong thực phẩm để sống một cuộc sống  
lành mạnh và tích cực.  
Từ năm 1961 đến đến 2008, dân số thế giới đã tăng từ 3,1 tỷ lên 6,8 tỷ người.  
Trong cùng thời gian đó, sản lượng ngũ cốc toàn cầu đã tăng từ 900 triệu lên 2,5 tỷ  
tấn, phần lớn là do gia tăng lượng phân bón được sử dụng, từ 30 triệu lên đến hơn 150  
triệu tấn. Nếu không sử dụng phân bón, sản lượng ngũ cốc toàn cầu sẽ chỉ bằng một  
nửa hiện nay. Việc sử dụng phân bón đã và đang đóng vai trò quan trọng cho cho mục  
đích tăng cường khả năng tiếp cận của con người đối với lương thực thực phẩm.  
Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người dân trên trái đất đều có khả năng tiếp  
cận đầy đủ các nguồn lương thực thực phẩm. Vào năm 2009, tình trạng đói ăn kinh  
niên vẫn đe dọa sự tồn tại của một phần sáu dân số thế giới. Vì vậy, theo Tổ chức  
Nông lương Liên hợp quốc (FAO) sản lượng lương thực thực phẩm của nhân loại đến  
năm 2050 cần phải tăng 70% so với thời gian 2005-2007. Trong tương lai, các tiến bộ  
về nghiên cứu gien sẽ giúp cải thiện các giống cây trồng, tạo ra các giống cây trồng  
năng suất cao và chịu sâu bệnh tốt, nhưng khả năng gia tăng năng suất thu hoạch vẫn  
sẽ phụ thuộc phần lớn vào việc cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng thông qua  
phân bón để bổ sung các chất dinh dưỡng cho đất đã bị lấy đi thông qua các sản phẩm  
trồng trọt.  
2.2. Phân bón và an ninh dinh dƣỡng của con ngƣời  
Việc cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng không chỉ đóng vai trò quan trọng đối  
với năng suất thu hoạch mà còn ảnh hưởng đến các thành phần dinh dưỡng thiết yếu  
của con người, bao gồm các hydratcacbon, protein, dầu, vitamin và khoáng chất. Hàm  
lượng nhiều thành phần dinh dưỡng của thực phẩm được gia tăng nếu cây trồng được  
4
cung cấp đủ các chất dinh dưỡng thích hợp, đặc biệt là hàm lượng các nguyên tố vi  
lượng.  
Trong thời gian qua, tình trạng thiếu các chất vi dinh dưỡng trong bữa ăn của  
người dân đang gia tăng, một phần là do hậu quả của việc gia tăng sản lượng các cây  
ngũ cốc truyền thống. Cải thiện chất lượng cây trồng theo phương pháp sinh học có  
thể là chiến lược hữu hiệu để cung cấp sắt (Fe), vitamin A và kẽm (Zn) cho nhiều  
người dân đang bị thiếu hụt những chất vi dinh dưỡng này. Việc lựa chọn phương  
pháp sinh học hoặc phương pháp nông nghiệp để tăng cường chất lượng cây trồng sẽ  
phụ thuộc vào từng loại vi dinh dưỡng riêng rẽ.  
Hai phương pháp sinh học và nông nghiệp cũng có thể được kết hợp với nhau. ở  
những cây trồng chính, phương pháp sinh học (biến đổi gien) là phương pháp hiệu quả  
nhất để bổ sung sắt và vitamin A, trong khi đó phương pháp nông nghiệp (đặc biệt là  
sử dụng phân bón) có thể giúp tăng mạnh hàm lượng kẽm, iốt và selen trong thực  
phẩm. Trong khi tình trạng thiếu iốt và selen không hạn chế sự tăng trưởng của cây  
trồng, việc điều chỉnh tình trạng thiếu kẽm có thể có lợi cả cho cây trồng lẫn người sử  
dụng các sản phẩm từ cây trồng. Bổ sung Zn và Fe cho các cây ngũ cốc sẽ giúp cải  
thiện cả hàm lượng và tính khả dụng sinh học của các nguyên tố vi lượng này. Ngày  
nay, một lượng lớn (49%) diện tích đất trên toàn thế giới hiện được coi là thiếu Zn. Tỷ  
lệ những người có rủi ro thiếu vi chất dinh dưỡng Zn cũng khá cao, tuy thay đổi khác  
nhau tùy theo khu vực.  
Ca, Mg và K là các chất dinh dưỡng dạng khoáng chất thiết yếu đối với con  
người. Chức năng cơ bản của những khoáng chất này trong cơ thể con người cũng  
tương tự như trong cây trồng, ngoại trừ vai trò đặc biệt quan trọng của canxi đối với  
xương và răng. Hàm lượng các chất dinh dưỡng này trong cây trồng phụ thuộc vào  
nguồn cung từ đất. Vì vậy, ngoài việc đảm bảo sản lượng cây trồng tối ưu, các phương  
pháp bón phân có thể góp phần đáp ứng nhu cầu đối với những khoáng chất này trong  
chế độ dinh dưỡng của con người. Tình trạng thiếu canxi hiện đang xảy ra ở những  
quốc gia mà người dân sử dụng nhiều ngũ cốc cũng như gạo xay kỹ (ví dụ Băng-la-đét  
và Nigiêria).  
Kết quả của nhiều nghiên cứu khoa học trong thời gian qua đã cho thấy, nhiều  
người lớn - kể cả ở những nước phát triển như Mỹ - không hấp thụ đủ lượng Mg cần  
thiết. Tương tự, chỉ có 10% đàn ông và chưa đầy 1% phụ nữ tại Mỹ hấp thụ đủ liều  
lượng K khuyến cáo là 4,7 g/ngày.  
Đối với hydratcacbon, protein và dầu việc bón phân đạm cho ngũ cốc sẽ giúp  
tăng cường lượng protein trong sản phẩm tạo ra, trong đố đối với lúa gạo, phân đạm  
giúp gia tăng nhẹ hàm lượng và chất lượng protein, vì nó giúp gia tăng hàm lượng  
glutelin với hàm lượng cao axit amin thiết yếu là lyzin. Hàm lượng protein trong ngô  
và lúa mì cũng có thể được gia tăng nếu bón phân đạm nhiều hơn so với mức cần thiết  
để đạt sản lượng tối ưu. Nhưng phương pháp cải thiện giá trị dinh dưỡng như vậy  
thường bị hạn chế do hàm lượng lyzin thấp. Đối với khoai tây, phân đạm giúp tăng  
5
hàm lượng tinh bột và protein, còn phân bón với các thành phần P, K và S giúp tăng  
cường giá trị sinh học của protein. Thành phần của dầu trong cây trồng chỉ thay đổi ít  
khi bón các loại phân khác nhau, vì việc tạo ra dầu trong cây trồng luôn gia tăng bất  
cứ khi nào tình trạng thiếu hụt các chất dinh dưỡng được cải thiện.  
Nhiều bằng chứng khoa học từ các nguồn khác nhau cho thấy, việc quản lý  
phân bón một cách hợp lý có thể giúp gia tăng năng suất thu hoạch và giá trị thị trường  
cũng như các tính chất hỗ trợ sức khỏe của các loại rau quả. Hàm lượng carotenoit  
(tiền chất vitamin A) có xu hướng gia tăng khi cây trồng được bón phân đạm, trong  
khi đó hàm lượng vitamin C giảm. Phân kali dạng bón lá, được bổ sung lưu huỳnh, sẽ  
giúp tăng độ ngọt, cấu trúc, màu sắc, hàm lượng vitamin C và beta-caroten của rau  
quả, cũng như hàm lượng axit folic trong các loại dưa quả. Đối với các loại cam ruột  
đỏ, phân kali bón lá giúp tăng hàm lượng beta-caroten và vitamin C. Một số nghiên  
cứu về chuối cũng cho thấy việc bổ sung chất dinh dưỡng K làm tăng chất lượng của  
loại quả này, như tăng hàm lượng đường và axit ascorbic, đồng thời làm giảm độ axit  
của chuối.  
Ngoài ra phân bón còn có ảnh hưởng đến hàm lượng những hợp chất trong cây  
trồng với tác dụng hỗ trợ sức khỏe của con người. Đậu nành trồng ở các vùng đất thiếu  
K tại Ontario (Canađa) có hàm lượng isoflavon cao hơn 13% khi được bón phân kali.  
Kali cũng giúp gia tăng hàm lượng lycopen trong bưởi và cà chua. Bông cải xanh và  
đậu nành là ví dụ về những loại cây trồng có thể góp phần tăng hàm lượng Ca và Mg  
trong bữa ăn của con người.  
Khi trồng những loại cây trồng như vậy trên đất có tính axit mà chỉ được bón  
phân một cách hạn chế, việc bón bổ sung vôi có thể tăng mạnh hàm lượng của các  
khoáng chất quan trọng. Nhìn chung, hàm lượng các chất chống oxy hóa có ích lợi  
tiềm năng cao như lutein và beta caroten tăng khi cây trồng được bón phân đạm. Cùng  
với các vitamin A, C và E, các chất này giúp giảm rủi ro thoái hóa điểm đen võng mạc  
do tuổi già, một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến chứng mù lòa.  
2.3. Phân bón và bệnh dịch hại cây trồng  
Bệnh dịch cây trồng: Bệnh nấm cựa ở ngũ cốc thiếu đồng (Cu) là ví dụ về rủi ro  
an ninh lương thực do bệnh dịch cây trồng gây ra mà có thể được kiểm soát bằng cách  
cung cấp các vi dinh dưỡng cần thiết, trong trường hợp này là bón phân bổ sung Cu.  
Các loại mầm bệnh cạnh tranh giành chất dinh dưỡng với cây trồng, vì vậy chúng làm  
giảm hàm lượng khoáng chất, chất lượng dinh dưỡng và sự an toàn của các sản phẩm  
thu được từ cây trồng.  
Tuy hiện đã có những biện pháp hữu hiệu để kiểm soát nhiều loại bệnh dịch và  
đảm bảo hàm lượng dinh dưỡng của cây trồng, nhưng chúng ta vẫn còn thiếu những  
kiến thức cần thiết về chế độ dinh dưỡng tối ưu để kiểm soát những loại bệnh dịch có  
ảnh hưởng quan trọng nhất đến sự an toàn của các sản phẩm lương thực thực phẩm.  
6
Nhìn chung, việc quản lý tốt các chất dinh dưỡng sẽ tác động đến bệnh dịch cây  
trồng và giúp kiểm soát chúng. Chiến lược giảm dịch hại cây trồng thông qua việc  
cung cấp các chất dinh dưỡng bao gồm:  
- Phát triển những loại cây trồng có khả năng hấp thụ Mn hiệu quả hơn.  
- Cung cấp cân đối các chất dinh dưỡng với hàm lượng tối ưu của từng loại chất dinh  
dưỡng.  
- Lựa chọn dạng và nguồn chất dinh dưỡng thích hợp cho cây trồng (ví dụ lựa chọn  
giữa nitrat và amoni, clorua và sunphat).  
- Lựa chọn thời điểm bón phân thích hợp, ví dụ bón phân đạm trong các điều kiện có  
lợi cho sự hấp thụ chất dinh dưỡng và sự tăng trưởng của cây trồng.  
- Kết hợp với làm đất, luân canh và vi khuẩn đất.  
3. VAI TRÒ CỦA PHÂN BÓN HỮU CƠ  
3.1. Vai trò cung cấp và lƣu giữ chất dinh dƣỡng  
Phân hữu cơ là loại phân bón được sản xuất từ nguồn nguyên liệu hữu cơ thông  
qua quá trình chuyển hóa tự nhiên (phân hữu cơ truyền thống) hoặc thông qua các quá  
trình chuyển hóa sinh học (phân hữu cơ sinh học). Phân hữu cơ có tác dụng:  
- Cung cấp chất dinh dưỡng cho đất để nuôi cây, chủ yếu là đạm (N), lân (P), lưu  
huỳnh (S) cùng một số chất vi lượng như: sắt (Fe), magiê (Mg), môlipđen (Mo);  
- Giữ và nhả từ từ các chất dinh dưỡng, tăng hiệu suất của phân hóa học (phân vô cơ,  
phân khoáng), hạn chế hiện tượng mất các nguyên tố dinh dưỡng do bốc hơi và rửa  
trôi;  
- Gia tăng hoạt động của vi sinh vật đất, qua đó cung cấp trực tiếp hoặc chuyển hóa  
dinh dưỡng khó tan thành hữu hiệu đối với cây trồng hoặc gian tiếp nâng cao hiệu quả  
sử dụng dinh dưỡng của cây trồng.  
3.2. Vai trò cải thiện độ phì nhiêu đất trồng trọt  
Chất hữu cơ đất quyết định tính ổn định độ phì nhiêu đất. Mất chất hữu cơ, đất  
mất khả năng canh tác và nếu muốn canh tác thì phải có đầu tư lớn. Bón chất hữu cơ  
sẽ cải thiện được tính chất vật lý đất (độ xốp, độ ẩm, dung tích hấp thu, kho chứa) của  
đất; cải thiện hóa tính đất (nâng cao hàm lượng các chất đa lượng, trung lượng và vi  
lượng); giảm nhẹ tính độc hại của một số nguyên tố nhôm, sắt; giảm bớt sự cố định lân  
trong đất dưới tác dụng kết hợp Al+3, Fe+3 dưới dạng phức chất; nâng cao sự hòa tan  
lân ở dạng phốt phát sắt ba hóa trị dưới tác dụng khử ôxy. Bón phân hữu cơ còn có tác  
dụng nâng cao hoạt động sinh khối của vi sinh vật và tổng hoạt tính sinh học của đất.  
3.3. Vai trò nâng cao hiệu quả sử dụng và tiết kiệm phân bón vô cơ  
Bón phân hữu cơ làm tăng hiệu lực của phân lân, phân đạm vô cơ. Chất hữu cơ  
có tác dụng liên kết với Al+3, Fe+3 di động dưới dạng phức. Do đó khi bón các dạng  
lân hòa tan (SSP, DAP, TSP...) vào đất sự cố định sẽ được giảm bớt, cây dễ dàng hấp  
7
thụ dẫn đến hiệu quả bón phân lân cao hơn. Bón phân hữu cơ có tác dụng giảm rửa  
trôi, giảm bốc hơi của phân đạm bón vào. Do đó, hiệu quả sử dụng của phân đạm tăng  
lên, hiệu suất sử dụng phân đạm của lúa có thể tăng lên 30-40% trên nền bón phân hữu  
cơ so với nền không bón.  
Phân hữu cơ có chứa các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng (N, P, K), trung lượng  
(Ca, Mg, S) và các nguyên tố vi lượng (Cu, Zn, Mo, B...) nhất là N, K và một số  
nguyên tố vi lượng. Vì vậy, bón phân hữu cơ sẽ làm giảm được một số lượng phân vô  
cơ không cần bón, nhất là phân kali. Kết quả nghiên cứu và điều tra cho thấy nếu bón  
10 tấn phân chuồng thì có thể giảm bớt 40%-50% lượng phân kali cần bón. Do đó rất  
có ý nghĩa kinh tế đối với nông dân.  
Phân hữu cơ truyền thống (phân chuồng, phân bắc) được người nông dân ta sử  
dụng từ lâu đời, góp phần quan trọng nâng cao và bảo vệ độ phì nhiêu đất, nâng cao  
năng suất cây trồng và chất lượng nông sản, nhưng đồng thời phân hữu cơ cũng gây ra  
ô nhiễm môi trường không khí, đất và nước ở nông thôn nếu chúng ta không bảo quản,  
chế biến, sử dụng hợp lý. Sự ô uế không khí trong khu ở gia đình, sự ô uế các giếng  
đào nước ăn, ao hồ tắm giặt và các vùng đất canh tác ở nông thôn phần lớn là do bảo  
quản, sử dụng phân chuồng, phân bắc không hợp vệ sinh. Hàm lượng NH3, H2S trong  
không khí, hàm lượng các vi sinh vật gây bệnh như: Coliform, Faecal coliform, trứng  
giun trong nước, trong đất tăng lên, thậm chí mật độ chúng trên một số loại rau cũng  
tăng lên đáng kể, vượt quá ngưỡng tối đa cho phép.  
4. PHÂN LOẠI PHÂN BÓN HỮU CƠ  
4.1 Phân hữu cơ truyền thống (phân hữu cơ nhà nông)  
Trước công nguyên hơn 2000 năm loài người đã biết dùng phân hữu cơ bón  
ruộng cải tạo đất, nâng cao năng suất cây trồng. Theo Phratus (372-287 trước công  
nguyên) phân hữu cơ đã được phân cấp chất lượng như sau: Tốt nhất là phân người và  
lần lượt là các loại phân lợn, dê, cừu, bò cái, bò đực và 3kém hơn cả là phân ngựa.  
Có thể chia phân hữu cơ truyền thống thành 4 nhóm, gồm Phân chuồng; Phân  
rác; Phân than bùn và Phân xanh.  
4.1.1 Phân chuồng  
Phân chuồng chứa nhiều nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng như  
đạm, lân, kali, canxi, magiê, natri, silic và các nguyên tố vi lượng như đồng, kẽm,  
mangan, coban, bo, môlipden,... Tuy hàm lượng không cao, nhưng không một loại  
phân bón vô cơ nào có thể so sánh được với phân chuồng về thành phần các chất dinh  
dưỡng. Ngoài ra, phân chuồng cung cấp chất mùn làm kết cấu của đất tốt lên, tơi xốp  
hơn, hỗ trợ bộ rễ cây trồng phát triển mạnh, hạn chế quá trình bốc hơi nước bề mặt của  
đất trồng, hạn chế được hạn, xói mòn. Tổng hợp hàm lượng NPK trong phân chuồng  
có nguồn gốc từ chất thải đại gia súc thể hiện ở bảng 1.  
8
Bảng 1. Thành phần phân tươi của các loại gia súc*  
Loại gia súc  
Mức  
Thành phần, %  
N
P2O5  
K2O  
Trâu  
Tối đa  
Tối thiểu  
0,358  
0,246  
0,306  
0,205  
0,155  
0,174  
1,600  
1,129  
1,360  
Trung bình  
Bò  
Tối đa  
Tối thiểu  
0,380  
0,302  
0,341  
0,294  
0,164  
0,227  
0,992  
0,924  
0,958  
Trung bình  
Lợn  
Tối đa  
Tối thiểu  
0,861  
0,537  
0,669  
1,959  
0,932  
1,253  
1,412  
0,954  
1,194  
Trung bình  
Nguồn: Lê Văn Căn, 1975  
Bảng 2. Hàm lƣợng dinh dƣỡng vi lƣợng trong phân tƣơi  
Loại vi lƣợng  
Hàm lƣợng (mg/kg)  
Tối đa  
1300  
13720  
120  
Tối thiểu  
112  
Trung bình  
505  
B
Mn  
Co  
Cu  
Zn  
Mo  
1825  
6
5000  
26  
1020  
6180  
105  
190  
390  
1070  
21  
2400  
51  
Nguồn: Lê Văn Căn, 1975  
Phân chuồng có nguồn gốc từ phân gia cầm (phân gà, vịt, ngan, ngỗng, bồ câu).  
Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong phân gia cầm được tổng hợp trong bảng 3.  
Thông thường tỷ lệ % các chất đinh dưỡng đa, trung lượng trong phân gia cầm tươi  
gồm: Nước: 56,0-77,5%; N: 0,55-1,76%; P2O5: 0,54-1,78%; K2O: 0,62-1,00%; CaO:  
0,84-2,40%; MgO: 0,20- 0,74%.  
Bảng 3. Hàm lƣợng dinh dƣỡng đa, trung lƣợng của phân tƣơi gia cầm  
Phân gia cầm  
% tỷ lệ các chất dinh dƣơng đa, trung lƣợng  
H2O  
56,0  
56,6  
77,1  
54,9  
N
P2O5  
1,54  
1,40  
0,54  
1,78  
K2O  
0,85  
0,62  
0,95  
1,00  
CaO  
2,4  
MgO  
0,74  
0,35  
0,20  
0,50  
Gà  
1,63  
1,00  
0,55  
1,76  
Vịt  
1,70  
0,84  
1,60  
Ngan-Ngỗng  
Bồ câu  
9
Nguồn: Lê Văn Căn, 1975  
Người nông dân sử dụng 10 tấn phân chuồng tươi cho một ha đất trồng đồng  
nghĩa với việc cung cấp cho đất 30-67 kg N, 17 -125 kg P2O5, 95 -136 kg K2O, 11-130  
g B, 182-1.372 g Mn, 0,6 -12 g Co, 19 -100 g Cu, 100 -1.600 g Zn, 8 -10 g Mo. Trong  
thực tế nông dân không bón phân chuồng tươi mà bón phân chuồng độn rơm rạ, thân  
lá ngô, các phụ phẩm hữu cơ khác nên chất dinh dưỡng bổ sung cho cây và đất trồng  
thường thấp hơn.  
Phân chuồng có nhược điểm: hàm lượng chất dinh dưỡng thấp nên phải bón  
lượng lớn, đòi hỏi chi phí lớn để vận chuyển, ngoài ra nếu không chế biến kỹ có thể  
mang đến một số nấm bệnh cho cây trồng.  
4.1.2. Phân rác  
Phân rác được sản xuất từ phụ phẩm trồng trọt (rơm rạ, thân lá cây ngô, đậu đỗ,  
vỏ lạc, trấu, bã mía, v.v...). Tùy theo nguyên liệu và kỹ thuật ủ, thành phần trung bình  
(%) của phân rác như sau: 0,5-0,6 N; 0,4-0,6 P2O5; 0,5-0,8 K2O; 3-6 CaO.  
4.1.3. Than bùn  
Trong quá trình cấu tạo địa chất, một số rừng cây bị phù sa vùi lấp lâu ngày,  
phân giải yếm khí, tạo thành một lớp màu nâu đen gọi là than bùn. Đặc điểm dinh  
dưỡng của một số than bùn ở Việt Nam được tổng hợp trong bảng 4.  
Bảng 4. Một số tính chất hóa học của than bùn Việt Nam  
Chỉ tiêu và đơn  
vị tính  
Vùng khai thác  
Miền Bắc  
Nam trung bộ,  
Đồng bằng  
Cả nƣớc  
đông NB, TN  
sông CL  
3,47  
4,12  
3,95  
3,97  
pHKCl  
OC (%)  
(2,40-6,40)  
(3,74-4,58)  
(3,18-4,78)  
(2,40-6,40)  
19,80  
21,81  
29,75  
22,55  
(8,58-43,08)  
(16,45-26,54)  
(10,71-40,69)  
(8,58-43,08)  
N tổng số (%)  
0,45  
1,35  
0,96  
1,12  
(0,20-0,72)  
(0,88-1,91)  
(0,34-1,54)  
(0,20-1,91)  
0,054  
0,162  
0,062  
0,141  
P2O5 tổng số  
(%)  
(0,03-0,09)  
(0,08-1,50)  
(0,02-0,13)  
(0,02-1,50)  
0,039  
0,136  
0,652  
0,191  
K2O tổng số  
(%)  
(0,02-0,06)  
(0,10-0,20)  
(0,33-2,26)  
(0,02-2,26)  
S tổng số (%)  
Fe (mg/100 g)  
Cu (Ppm)  
0,46  
0,31  
0,08  
0,31  
(0,20-1,85)  
(0,09-1,49)  
(0,02-0,19)  
(0,02-1,85)  
107,25  
20,72  
130,23  
53,43  
(0-502,2)  
(9,80-44,10)  
(12,32-744,8)  
(0-744,8)  
19,28  
20,96  
12,02  
19,35  
10  
(5,00-35,78)  
(14,30-42,30)  
(8,44-19,54)  
(5,00-42,30)  
Zn (Ppm)  
Al (mg/100 g)  
Pb (Ppm)  
81,20  
39,89  
53,80  
49,99  
(26,70-110,2)  
(19,80-98,8)  
(20,7-124,0)  
(19,8-124,0)  
75,40  
0,30  
3,80  
15,55  
(0-520,1)  
(0,10-1,34)  
(0,60-8,50)  
(0-520,1)  
33,79  
22,61  
48,57  
28,51  
(11,60-48,20)  
(11,60-38,5)  
(20,26-71,1)  
(11,60-71,1)  
Cd (Ppm)  
0,64  
1,28  
6,24  
1,86  
(0,17-0,99)  
(0,36-3,19)  
(2,55-10,18)  
(0,17-10,18)  
Căn cứ độ dày và mức độ phân giải, than bùn được chia làm 3 nhóm: Than bùn  
tầng thượng có độ phân giải kém, Than bùn tầng hạ có độ phân giải > 50% và than  
bùn tầng trung gian chuyển tiếp giữa than bùn tầng thượng và than bùn tầng hạ. Trong  
khi than bùn tầng thượng không được sử dụng bón trực tiếp cho cây trồng, mà chỉ sử  
dụng làm vật liệu hữu cơ cải tạo đất, than bùn tầng hạ và trung gian có thể bón trực  
tiếp cho cây trồng có tác dụng cải thiện lý tính đất trồng.  
4.1.4. Phân xanh  
Phân xanh là tên gọi chung các cây hoặc lá cây tươi được ủ hay vùi thẳng xuống  
đất để bón ruộng. Đồng thời với tác dụng làm phân bón, cây phân xanh có thể phủ đất,  
chống xói mòn, bảo vệ đất, và làm cây che bóng. Hàm lượng một số chất dinh dưỡng  
của một số cây phân xanh được tổng hợp trong bảng 5.  
Trong quá trình vùi vào đất, sinh khối cây phân xanh bị phân giải chuyển hóa và  
tạo thành nhiều hợp chất độc hại đối với cây trồng như H2S, axit butiric, CH4, C2H2,  
v.v... (đặc biệt trong điều kiện ngập nước). Các nhà khoa học khuyến cáo vì vậy, cần  
bón vôi, lân kèm theo để hạn chế việc hình thành các khí thải độc hại và cần xác định  
thời kỳ vùi vào đất thích hợp.  
Bảng 5. Hàm lƣợng N, P2O5 trong một số loại cây phân xanh  
TT  
Loại cây  
% chất khô  
TT  
Loại cây  
% chất khô  
N
P2O5  
0,395  
0,325  
0,172  
0,279  
0,624  
0,202  
0,638  
N
P2O5  
1
2
3
4
5
6
7
Muồng lá tròn  
Muồng lá dài  
Muồng sợi  
Điền thanh  
Keo giậu  
2,744  
3,135  
1,219  
2,660  
2,849  
2,275  
4,750  
8
Bèo Nhật Bản  
Cỏ lào  
1,790  
3,655  
2,797  
1,694  
2,430  
2,376  
2,380  
0,164  
0,494  
0,393  
0,319  
0,269  
0,399  
0,507  
9
10  
11  
12  
13  
14  
Bèo tấm  
Đậu đen  
Cốt khí  
Bèo cái  
Đậu mèo đỏ  
Chàm 12 lá  
Bèo hoa dâu  
Nguồn: Lê Văn Căn, 1975  
11  
4.1.5. Các loại phân hữu cơ khác  
Phân bắc  
Phân bắc có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao. Bình quân 1 người lớn thải ra  
trong 24 giờ 133 g phân tươi tương đương có 25 g chất khô, trong đó có 2 g N, 4,5 g  
tro, 1,35 g P2O5 và 0,64 g K2O. Thành phân các chất dinh dưỡng của phân bắc được  
tổng hợp trong bảng 6.  
Bảng 6. Thành phần dinh dưỡng của phân bắc tươi  
Thành phần  
Tỷ lệ % trong phân  
Tỷ lệ % trong  
nƣớc giải  
Tỷ lệ % trong hỗn hợp  
phân, nƣớc giải  
Nước  
Chất khô  
Chất hữu cơ  
Tro  
77,2  
22,8  
19,4  
3,4  
94,8  
5,2  
93,0  
7,0  
4,2  
5,7  
1,0  
1,3  
N
1,6  
1,0  
1,1  
P2O5  
1,2  
0,15  
0,18  
0,26  
0,22  
K2O  
0,55  
Nguồn: Lê Văn Căn, 1975  
Bùn ao, bùn hồ, bùn sông  
Mặc dù các loại bùn đều có chứa H2S, nhưng bùn có hàm lượng mùn trung bình  
4,90% (dao động trong khoảng 1,65 –14,90%), N tổng số: 0,23% (dao động 0,11 –  
0,52%), P2O5 tổng số: 0,29% (dao động 0,21- 0,48%), K2O tổng số: 0,40% (dao động  
0,13-0,70%), H2S trung bình là 7,1 mg/100g bùn (dao động 3,4 -13,6 mg/100g). Nông  
dân ở nhiều vùng có thói quen sử dụng bùn ao, song, hồ làm nguồn cung cấp chất hữu  
cơ và dinh dưỡng khoáng cho đất và cây trồng, theo đó bùn được khai thác, phơi khô  
và bón trực tiếp vào vùng rễ cây hoặc khai thác và bón trực tiếp vào gốc cây, đặc biệt  
là cây trồng lâu năm.  
Khô dầu, bánh dầu, xác mắm  
Các phụ phẩm chế biến dầu, làm mắm được nông dân địa phương tận dụng làm  
nguồn phân bón cho đất và cây trồng, tùy thuộc vào thành phần, liều lượng sử dụng  
mỗi loại ở các địa phương khác nhau, không giống nhau. Bảng 7 tổng hợp thành phần  
dinh dưỡng của một số loại khô dầu.  
Bảng 7. Thành phần dinh dƣỡng một số loại khô dầu (bánh dầu)  
TT  
Loại khô dầu  
Tên khoa học  
Tỷ lệ % chất khô  
N
P2O5  
1,70  
0,88  
K2O  
1
2
Ve (thù đủ tía)  
Bồ hòn  
Ricinus communis  
Sapindus mukorossi  
5,70  
2,42  
1,00  
1,28  
12  
3
4
5
6
7
8
9
Cồng  
Schleichera trijuga  
Litsea citrifolia  
2,42  
2,14  
4,00  
3,64  
0,86  
5,74  
1,98  
1,96  
5,91  
6,41  
6,31  
6,24  
5,82  
7,13  
3,30  
3,48  
2,22  
2,61  
0,74  
0,73  
1,47  
0,99  
0,33  
1,78  
0,73  
0,82  
0,70  
0,45  
1,03  
1,12  
1,95  
1,52  
0,88  
1,38  
4,57  
0,90  
2,60  
2,60  
0,90  
-
Bời lời chanh  
Gội  
Amoora gigantea  
Jatropha cureas  
Camelia drupifera  
Aleurites montana  
Paranephelium Spireiri  
Oesculus sinensis  
Garcinia tonkinensis  
Arachis hypogea  
Ricinus major  
Cọc giậu  
Sở  
0,94  
1,44  
1,16  
1,13  
0,29  
0,30  
0,36  
0,28  
0,28  
1,88  
0,63  
1,23  
0,99  
0,32  
Trẩu  
Mạc kẹng  
10 Mạc niếng  
11 Gióc  
12 Lạc (đâụ phụng)  
13 Ve xanh  
14 Dầu lai  
Aleurites moluccana  
Sesamum indicum  
Soya hispida  
15 Vừng trắng (mè)  
16 Đậu tương (đậu nành)  
17 Hạt bưởi  
Citrus decumana  
Gossypyium herbaceum  
Oryza sativa  
18 Hạt bông  
19 Cám gạo  
20 Vừng (mè) đen  
Sesamum nigrum  
Nguồn: Lê Văn Căn, 1975  
Nước phù sa  
“Phù sa” là khái niệm dung để chỉ hạt đất có kích thước từ thô đến mịn bị cuốn  
theo các dòng chảy (sông, suối) hay sóng biển và được lắng đọng xuống ở ven sông,  
suối, cửa sông hay gần bờ biển. Phù sa sông là phù sa do các sông cuốn về. Phù sa  
biển là phù sa do sóng biển đưa lại. Phù sa cổ là phù sa của các sông trong các thời kỳ  
địa chất xa xưa bồi đắp. Phù sa mới là phù sa của các con sông hiện đại đã và đang bồi  
đắp nên những châu thổ của các sông ấy như phù sa sông Hồng, phù sa sông Cửu  
Long. Nước sông Hồng chứa trung bình 0,5 kg/m3 phù sa lúc bình thường và đến  
tháng 6, khi bắt đầu có lũ thì lên 1,8 kg/m3 và lũ to có thể đến 3,5 kg/m3. Thành phần  
phù sa sông Hồng như sau: pH 7,4-7,6, mùn –0,84-1,36%, N tổng số 0,10-0,15%,  
P2O5 tổng số 0,13-0,17%, K2O tổng số: 0,95- 1,43%. Thành phần nước phù sa sông  
Hồng như sau: chất hòa tan- 100 mg/lit, chất hữu cơ -20 mg/lit, pH 6,8, CaO - 40  
mg/lit, MgO - 60 mg/lit, K2O - 20 mg/lit, P2O5 – vết, N – vết. Sử dụng nước phù sa  
tưới cho đất, cây trồng cung cấp không chỉ chất hữu cơ mà còn các nguyên tố dinh  
dưỡng như canxi, magiê, kali...  
4.2. Phân hữu cơ công nghiệp  
13  
Phân hữu cơ công nghiệp là loại phân bón được sản xuất từ các nguồn hữu cơ  
khác nhau theo một quy trình công nghiệp nhất định để tạo thành một loại phân hữu  
cơ bón vào đất. Trên cơ sở nguồn nguyên liệu hữu cơ người ta có thể sản xuất các loại  
hữu cơ khoáng, hữu cơ vi sinh vật, khoáng hữu cơ, khoáng hữu cơ sinh học, khoáng  
hữu cơ vi sinh vật.  
Phần 2. QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÂN BÓN HỮU CƠ VÀ TIÊU  
CHUẨN CHẤT LƢỢNG PHÂN BÓN HỮU CƠ  
1. QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÂN BÓN  
1.1. Chính sách của Nhà nƣớc về phân bón  
- Nhà nước có chính sách về tín dụng, thuế, quỹ đất cho việc nghiên cứu, chuyển  
giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, sản xuất và sử dụng phân bón hữu cơ.  
- Khuyến khích áp dụng công nghệ tiên tiến cho việc sản xuất các loại phân bón  
thế hệ mới để nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng phân bón.  
- Đầu tư và xã hội hóa đầu tư nâng cao năng lực hoạt động thử nghiệm, chứng  
nhận sự phù hợp phục vụ công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát chất lượng phân bón.  
- Khuyến khích phát triển xã hội hóa các dịch vụ công trong lĩnh vực phân bón.  
Các hành vi dưới đây bị nghiêm cấm:  
- Sản xuất phân bón khi chưa được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất  
phân bón, trừ trường hợp phân bón sản xuất để nghiên cứu, khảo nghiệm, phân bón  
sản xuất trong khuôn khổ dự án sản xuất thử nghiệm, chương trình hỗ trợ ứng dụng  
chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và công nghệ trong thời gian thực hiện dự án, chương  
trình.  
- Buôn bán phân bón khi chưa được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán  
phân bón.  
- Sản xuất, buôn bán, xuất khẩu, nhập khẩu phân bón giả, không bảo đảm quy  
chuẩn kỹ thuật quốc gia, phân bón đã hết hạn sử dụng.  
- Sản xuất, buôn bán, nhập khẩu, trao đổi, tiếp thị phân bón chưa có quyết định  
công nhận được phép lưu hành tại Việt Nam, trừ trường hợp sản xuất, nhập khẩu để  
xuất khẩu, để nghiên cứu, khảo nghiệm, thử nghiệm; sản xuất trong khuôn khổ dự án  
sản xuất thử nghiệm, chương trình hỗ trợ ứng dụng chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và  
công nghệ trong thời gian thực hiện dự án, chương trình và các trường hợp khác theo  
quy định pháp luật.  
- Cung cấp sai hoặc giả mạo kết quả thử nghiệm, kiểm tra, giám định, chứng  
nhận chất lượng phân bón.  
14  
- Thông tin, quảng cáo sai sự thật hoặc có hành vi gian dối về chất lượng, công  
dụng phân bón, nguồn gốc và xuất xứ phân bón; che giấu thông tin về khả năng gây  
mất an toàn của phân bón đối với con người và môi trường.  
1.2. Đăng ký lƣu hành phân bón ở Việt Nam  
Phân bón là sản phẩm, hàng hóa nhóm 2; kinh doanh có điều kiện được cơ quan  
quản lý nhà nước có thẩm quyền công nhận, tổng hợp thành Danh mục phân bón được  
lưu hành tại Việt Nam và đăng tải trên Cổng thông tin điện tử. Thời gian lưu hành của  
các sản phẩm phân bón tại Việt Nam là 05 năm kể từ ngày được công nhận. Trước khi  
hết thời gian lưu hành 03 tháng tổ chức, cá nhân có nhu cầu phải thực hiện đăng ký lại  
theo quy định của Nghị định. Tổ chức, cá nhân được nhập khẩu, sản xuất, buôn bán,  
sử dụng phân bón có trong Danh mục. Tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài  
(có văn phòng đại diện, công ty, chi nhánh công ty đang được phép hoạt động tại Việt  
Nam) được đứng tên đăng ký phân bón. Mỗi tổ chức, cá nhân chỉ được đứng tên đăng  
ký 01 tên thương phẩm cho mỗi công thức thành phần, hàm lượng dinh dưỡng phân  
bón đăng ký.  
Các loại phân bón không được đăng ký lưu hành gồm: Phân bón có chứa các yếu  
tố hạn chế vượt mức giới hạn tối đa theo quy định tại các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia  
(QCVN), Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) và các quy định khác có liên quan; Phân bón  
có nguy cơ cao ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, môi trường; Phân bón trùng  
tên thương phẩm với phân bón khác đã có trong Danh mục.  
Các loại phân bón bị đưa ra khỏi Danh mục nếu có bằng chứng khoa học về phân  
bón có nguy cơ cao ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, môi trường; Phân bón hết  
thời gian lưu hành mà không đăng ký lại và Phân bón do tổ chức, cá nhân đề nghị đưa  
ra khỏi Danh mục.  
Đăng ký lưu hành phân bón gồm đăng ký lần đầu đối với phân bón mới được  
nghiên cứu và tạo ra trong nước; phân bón mới được nhập khẩu lần đầu tiên vào Việt  
Nam; Phân bón có chỉ tiêu chất lượng thay đổi so với các chỉ tiêu chất lượng đã có  
trong Danh mục; Phân bón đăng ký tên thương phẩm mới đối với các loại phân bón có  
chỉ tiêu chất lượng đã có trong Danh mục và Đăng ký lại đối với sản phẩm phân bón  
hết thời gian lưu hành;Thay đổi thông tin tổ chức, cá nhân đăng ký; Chuyển nhượng  
tên thương phẩm; Thay đổi tên thương phẩm.  
Hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký lưu hành phân bón tại Việt Nam được chi tiết cụ  
thể trong Nghị định.  
1.3. Khảo nghiệm phân bón  
15  
Tất cả các loại phân bón phải khảo nghiệm trước khi được công nhận để đưa vào  
Danh mục trừ phân bón hữu cơ sử dụng bón rễ không bổ sung các chất tăng hiệu suất  
sử dụng, chất cải tạo đất, vi sinh vật, chất sinh học, chất điều hòa sinh trưởng hay các  
chất làm thay đổi tính chất, công dụng, hiệu quả sử dụng và Phân bón hữu cơ truyền  
thống; Phân bón đơn, phân bón phức hợp không bổ sung các chất tăng hiệu suất sử  
dụng, chất cải tạo đất, vi sinh vật, chất sinh học, chất điều hòa sinh trưởng hay các  
chất làm thay đổi tính chất, công dụng, hiệu quả sử dụng phân bón; các loại phân bón  
mới là kết quả của các công trình, đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Bộ được công  
nhận là tiến bộ kỹ thuật.  
Khảo nghiệm phân bón do tổ chức khảo nghiệm được công nhận thực hiện ở cả  
diện rộng và diện hẹp, trong đó khảo nghiệm diện rộng chỉ được tiến hành sau khi kết  
thúc khảo nghiệm diện hẹp. Việc khảo nghiệm phân bón thực hiện theo Quy chuẩn kỹ  
thuật quốc gia (QCVN) hoặc Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN). Lượng phân bón được  
phép sản xuất, nhập khẩu để khảo nghiệm được xác định dựa trên liều lượng bón cho  
từng loại cây trồng và diện tích khảo nghiệm thực tế nhưng không được vượt quá  
lượng sử dụng cho 10 héc ta đối với khảo nghiệm cây trồng hàng năm và 20 héc ta đối  
với khảo nghiệm cây trồng lâu năm.  
Hồ sơ đăng ký, trình tự thủ tục khảo nghiệm phân bón được cụ thể chi tiết trong  
Nghị định.  
1.4. Điều kiện sản xuất phân bón  
Cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền (Cục Bảo vệ thực vật) cấp Giấy  
chứng nhận đủ điều kiện sản xuất phân bón cho các tổ chức, cá nhân nếu đáp ứng các  
điều kiện:  
- Là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật;  
- Có địa điểm sản xuất, diện tích nhà xưởng phù hợp với công suất của dây chuyền,  
máy thiết bị sản xuất phân bón;  
- Dây chuyền, máy móc thiết bị sản xuất từ khâu xử lý nguyên liệu đến sản phẩm cuối  
cùng đáp ứng được công suất sản xuất và quy trình công nghệ, trong đó máy móc thiết  
bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn và thiết bị đo lường thử nghiệm phải được kiểm  
định, hiệu chuẩn, hiệu chỉnh theo quy định của pháp luật;  
- Có khu vực chứa nguyên liệu và khu vực thành phẩm riêng biệt; có kệ hoặc bao lót  
để xếp đặt hàng;  
- Có phòng thử nghiệm được công nhận hoặc có hợp đồng với tổ chức thử nghiệm  
được chỉ định để đánh giá các chỉ tiêu về chất lượng của phân bón do mình sản xuất;  
16  
- Có hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với ISO 9001 hoặc tương đương, đối với cơ  
sở mới thành lập, muộn nhất sau một năm kể từ ngày thành lập.  
- Có đủ các điều kiện về phòng, chống cháy nổ, bảo vệ môi trường theo quy định hiện  
hành;  
- Người trực tiếp quản lý, điều hành sản xuất có trình độ đại học trở lên một trong các  
chuyên ngành về lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, nông hóa thổ nhưỡng, nông học,  
hóa học, sinh học.  
Hồ sơ đăng ký, trình tự thủ tục cấp chứng nhận đủ điều kiện sản xuất phân bón  
được cụ thể, chi tiết trong Nghị định.  
1.5. Điều kiện buôn bán phân bón  
Cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền (Sở Nông nghiệp và PTNT) cấp Giấy  
chứng nhận đủ điều kiện buôn bán phân bón cho các tổ chức, cá nhân nếu đáp ứng các  
điều kiện:  
- Tổ chức, cá nhân được đăng ký hoặc thành lập theo quy định của pháp luật;  
- Có cửa hàng hoặc địa điểm buôn bán phân bón. Cửa hàng hoặc địa điểm buôn bán,  
nơi bày bán phân bón phải có biển hiệu, có bảng giá bán công khai từng loại phân bón,  
niêm yết tại nơi dễ thấy, dễ đọc;  
- Có khu vực chứa phân bón; có kệ hoặc bao lót để xếp đặt hàng;  
- Người trực tiếp bán phân bón phải có Giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn về  
phân bón. Trừ trường hợp đã có trình độ trung cấp trở lên một trong các chuyên ngành  
về lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, nông hóa thổ nhưỡng, nông học, hóa học, sinh  
học.  
Hồ sơ đăng ký, trình tự thủ tục cấp chứng nhận đủ điều kiện buôn bán phân bón  
được cụ thể, chi tiết trong Nghị định.  
1.6. Xuất khẩu phân bón  
Phân bón xuất khẩu phải đảm bảo phù hợp với quy định của nước nhập khẩu, hợp  
đồng, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế thừa nhận lẫn nhau về kết quả đánh giá sự  
phù hợp với nước, vùng lãnh thổ liên quan.  
Ngoài các giấy tờ, tài liệu theo quy định về xuất khẩu hàng hóa thì tổ chức, cá  
nhân xuất khẩu phân bón phải xuất trình cho cơ quan hải quan các giấy tờ, tài liệu sau:  
- Bản sao chứng thực hoặc bản sao mang theo bản chính để đối chiếu Giấy chứng  
nhận đủ điều kiện sản xuất phân bón, trong đó có tên loại phân bón xuất khẩu (chỉ xuất  
trình khi xuất khẩu lần đầu).  
17  
- Trường hợp có yêu cầu kiểm tra chất lượng của tổ chức, cá nhân nước nhập khẩu:  
nộp phiếu kết quả thử nghiệm chất lượng lô phân bón xuất khẩu phù hợp với quy định  
của hợp đồng xuất khẩu do Phòng thử nghiệm phân bón được chỉ định cấp hoặc Phiếu  
kết quả thử nghiệm/Giấy chứng nhận do một tổ chức thử nghiệm hoặc tổ chức chứng  
nhận phân bón của nước ký kết Hiệp định/Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (Mutual  
Recognition Arrangements/Agreements - MRA) với Việt Nam cấp.  
1.7. Nhập khẩu phân bón  
Tổ chức, cá nhân được nhập khẩu hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác nhập  
khẩu phân bón trong Danh mục do mình đứng tên, không cần giấy phép nhập  
khẩu.Trường hợp nhập khẩu phân bón chưa có tên trong Danh mục, các loại phân bón  
nhập khẩu phải có Giấy phép nhập khẩu gồm: Phân bón để khảo nghiệm; Phân bón  
chuyên dùng cho sân thể thao, khu vui chơi giải trí; Phân bón chuyên dùng của các  
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để phục vụ cho sản xuất trong phạm vi của  
doanh nghiệp; sử dụng trong các dự án của nước ngoài tại Việt Nam; Phân bón tham  
gia hội chợ, triển lãm; Phân bón phục vụ nghiên cứu khoa học; Phân bón nhập khẩu để  
sản xuất phân bón xuất khẩu; Phân bón làm quà tặng; làm hàng mẫu.  
Tổ chức, cá nhân nhập khẩu phân bón ngoài các giấy tờ, tài liệu theo quy định về  
nhập khẩu hàng hóa thì phải nộp cho cơ quan hải quan Thông báo kết quả kiểm tra nhà  
nước đạt yêu cầu chất lượng nhập khẩu của cơ quan kiểm tra nhà nước theo quy định.  
Hồ sơ đăng ký, trình tự thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu phân bón được cụ thể,  
chi tiết trong Nghị định.  
1.8. Quản lý chất lƣợng phân bón  
Phân bón được quản lý chất lượng theo quy định của pháp luật về chất lượng sản  
phẩm, hàng hóa.  
Việc chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy về phân bón thực hiện theo quy định  
của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Căn cứ để chứng nhận hợp quy,  
công bố hợp quy về phân bón là các chỉ tiêu kỹ thuật được quy định trong Quy chuẩn  
kỹ thuật quốc gia (QCVN). Trường hợp chưa có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, việc  
quản lý chất lượng phân bón được thực hiện theo các chỉ tiêu kỹ thuật, phương pháp  
thử quy định của Nghị định Chính phủ về quản lý phân bón này cho đến khi quy  
chuẩn kỹ thuật quốc gia được ban hành và có hiệu lực.  
Tổ chức đánh giá sự phù hợp có nhu cầu tham gia hoạt động thử nghiệm, giám  
định, kiểm định, chứng nhận chất lượng đối với phân bón phải được công nhận theo  
quy định của Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính  
phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp và được Bộ Nông  
18  
nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ định theo quy định tại Nghị định 132/2008/NĐ-CP  
ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của  
Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và văn bản liên quan.  
1.9. Kiểm tra nhà nƣớc về chất lƣợng phân bón nhập khẩu  
Phân bón nhập khẩu phải được kiểm tra nhà nước về chất lượng trừ trường hợp  
phân bón nhập khẩu được cấp giấy phép nhập khẩu, phân bón tạm nhập tái xuất, phân  
bón quá cảnh, chuyển khẩu; phân bón gửi kho ngoại quan. Cơ quan kiểm tra nhà nước  
về chất lượng phân bón nhập khẩu là Cục Bảo vệ thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và  
Phát triển nông thôn hoặc được Cục Bảo vệ thực vật ủy quyền thực hiện. Lô phân bón  
nhập khẩu chỉ được thông quan khi có thông báo về kết quả kiểm tra nhà nước đạt yêu  
cầu chất lượng nhập khẩu.. Phân bón được phép đưa về kho bảo quản trước khi có kết  
quả kiểm tra được thực hiện theo quy định về thủ tục kiểm tra, giám sát hải quan đối  
với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Hồ sơ kiểm tra nhà nước về chất lượng phân bón  
nhập khẩu phải được lưu trong thời hạn 03 năm kể từ ngày ban hành thông báo kết quả  
kiểm tra.  
1.10. Đặt tên, nhãn phân bón  
Việc đặt tên phân bón phải bảo đảm các nguyên tắc:  
- Tên thương phẩm của mỗi công thức thành phần, hàm lượng dinh dưỡng phân bón  
khi đăng ký không được trùng tên thương phẩm đã có trong Danh mục.  
- Tên thương phẩm không làm hiểu sai lệch về bản chất, công dụng và thành phần của  
phân bón. Tên thương phẩm phải thể hiện cách nhận biết về chủng loại phân bón,  
thành phần dinh dưỡng, thể hiện phương thức sử dụng bón lá hoặc bón rễ.  
- Tên thương phẩm không được vi phạm thuần phong mỹ tục truyền thống của Việt  
Nam; không trùng cách đọc hoặc cách viết với tên của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh  
nhân, địa danh của Việt Nam hoặc nước ngoài, các loại thực phẩm, đồ uống, dược  
phẩm.  
Phân bón lưu thông trong nước, phân bón nhập khẩu phải ghi nhãn theo quy định  
của Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa.  
Nhãn phân bón ngoài nội dung bắt buộc theo quy định tại khoản 1, Điều 10 Nghị định  
số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa thì phải ghi thêm  
loại phân bón và số quyết định công nhận phân bón được phép lưu hành tại Việt Nam.  
Nội dung ghi trên nhãn phải đúng với sản phẩm phân bón được ghi tại quyết định công  
nhận phân bón được phép lưu hành tại Việt Nam.  
1.11. Quảng cáo, hội thảo, trình diễn phân bón  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 48 trang yennguyen 14942 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu tập huấn Sử dụng hiệu quả phế phụ phẩm trong nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt) và sau khí sinh học để sản xuất phân bón hữu cơ theo chuỗi giá trị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_tap_huan_su_dung_hieu_qua_phe_phu_pham_trong_nong_n.pdf