Giáo trình mô đun Vi sinh vật - Nghề: Thú y
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI
GIÁO TRÌNH
MÔ ĐUN: VI SINH VẬT
NGHỀ: THÚ Y
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG, TRUNG CẤP
(Ban hành kèm theo Quyết định số:
/QĐ – CĐLC ngày
tháng năm
của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Lào Cai)
Lào Cai, năm 20
1
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng
nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu
lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.
2
LỜI GIỚI THIỆU
Vi sinh vật là môn học cơ sở quan trọng trong ngành chăn nuôi, thú y được học
trước môn Phòng trị bệnh truyền nhiễm thú y. Giáo trình vi sinh vật thú y dùng cho học
sinh, sinh viên hệ cao đẳng ngành chăn nuôi thú y nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản
về dịch bệnh, hiểu được quy luật phát sinh, phát triển của dịch bệnh và cách phòng chống
dịch bệnh.
Giáo trình giúp học sinh có những kiến thức cơ bản về hình thái, kích thước và đặc
tính sinh học, chẩn đoán vi khuẩn học và cách phòng trị bệnh do vi khuẩn, vi rút, nấm là
cơ sở cho môn học chuyên ngành Phòng trị bệnh truyền nhiễm Thú y.
Chúng tôi biên soạn giáo trình này dựa trên cơ sở tham khảo các giáo trình, tài liệu
của các tác giả trong nước. Trong quá trình biên soạn dù đã cố gắng để tổng hợp và cập
nhật nhiều vấn đề, nhưng chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn
các ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp, học sinh và bạn đọc cho lần tái bản sau
được hoàn thiện.
TÁC GIẢ
3
Chương 1: GIỚI THIỆU MÔN HỌC
1. Định nghĩa đại cương về vi sinh vật
1.1. Vi sinh vật:
* Khái niệm: Vi sinh vật là sinh vật đơn bào, chỉ nhìn được bằng kính hiển vi (quang
học hoặc điện tử). Cụ thể đơn vị để đo kích thước của chúng chỉ tính bằng (nanomet),
(micromet): 10A0 = 1 = 10-3 = 10-6mm = 10-9m
* Một số đặc điểm của vi sinh vật
Kích thước nhỏ bé:
Vi khuẩn đo bằng micromet (μ). Các cầu khuẩn có đường kính trung bình 1μ và trực
khuẩn 1μ x 5μ. Các virut bé hơn nhiều và đo bằng nanomet (η). Do kích thước nhỏ bé nên
diện tích bề mặt của một lượng nhất định rất lớn, ví dụ một lượng cầu khuẩn có thể tích
1cm3 sẽ có diện tích bề mặt 6m2.
Chuyển hóa nhanh và hấp thu nhiều:
Vi khuẩn Lactobacilli trong 1 giờ có thể chuyển hóa một lượng đường lactose bằng
1000 lần khối lượng của chính nó. Đặc điểm này được ứng dụng trong vi sinh vật công
nghiệp và xử lí chất thải.
Sinh trưởng nhanh và phát triển mạnh:
Các vi khuẩn thường phân chia 20-30 phút một lần. Từ 1 vi khuẩn ban đầu, nuôi cấy
ở nhiệt độ và môi trường thích hợp, sau 24h có thể thu được 272 (4 722 366 482 869 645
213 696) vi khuẩn. Đặc điểm này được ứng dụng để sản xuất các sinh khối và các chất do
vi khuẩn tạo ra như sản xuất vacxin, kháng sinh.
Thích ứng mạnh:
Các vi sinh vật có khả năng thích ứng rất nhanh với môi trường. Enzim thích ứng của
vi khuẩn chiếm 10% lượng protein của tế bào vi khuẩn, do vậy khả năng thích ứng của
chúng thường rất lớn. Chúng có thể tồn tại và phát triển được trong những khoảng cách
nhiệt độ, áp lực của môi trường rất lớn.
Dễ dàng biến dị:
Do bộ gen của vi sinh vật rất ít nên chúng dễ biến dị. Đây là một đặc điểm nguy hiểm
vì nhiều vi sinh vật (đặc biệt là vi rut) biến dị trở thành tác nhân gây bệnh nguy hiểm.
Nhiều chủng loại và phân bố rộng:
Thế giới động vật bao gồm 1,5 triệu loài, thực vật có 0,5 triệu loài và vi sinh vật có
khoảng 0,1 triệu loài. Chúng phân bố khắp nơi trên trái đất, dưới biển sâu hàng ngàn mét,
trên cao 85km cũng vẫn có các vi sinh vật.
1.2. Các nhóm vi sinh vật chủ yếu:
Có nhiều loại vi sinh vật, có thể chia thành các nhóm sau:
- Nhóm vi khuẩn: là một nhóm vi sinh vật đơn bào có kích thước rất nhỏ, thường có
cấu trúc tế bào đơn giản. Vi khuẩn có thể hiện diện khắp nơi, nhiều vi khuẩn là tác nhân
gây bệnh cho vật nuôi.
5
- Nhóm nấm có kích thước hiển vi, có cấu tạo nhân điển hình. Vi nấm gồm 2 nhóm
lớn: nấm men và nấm sợi, nấm men có cấu trúc đơn bào, nấm sợi có cấu trúc đa bào,
- Nhóm xạ khuẩn: có kích thước rất nhỏ, nhân giống với vi khuẩn, không có màng
nhân và tiểu hạch, phân bố nhiều trong tự nhiên
- Nhóm Mycoplasma: là vi sinh vật ngoại bào nhỏ nhất, không có thành tế bào, đặc
tính này làm cho chúng kháng tự nhiên với nhiều loại kháng sinh phổ biến như penicillin
hoặc các kháng sinh nhóm β - lactam khác tác động vào thành tế bào
- Nhóm nguyên sinh động vật: là một dạng sống đon giản, mặc dù cơ thể chỉ có một
tế bào, nhưng có khả năng thực hiện đầy đủ các hoạt động sống như một cơ thể đa bào
hoàn chỉnh, chúng có thể lấy thức ăn, tiêu hóa, hô hấp, bài tiết, điều hòa ion, điều hòa áp
suất thẩm thấu, chuyển động và sinh sản...
- Nhóm Rickettsia: là những vi sinh vật có cấu trúc giống tế bào vi khuẩn, sống ký
sinh nội bào bắt buộc, nên sự tồn tại phụ thuộc vào sự tồn tại, phát triển và nhân rộng trong
tế bào chất của nhân tế bào chủ
- Nhóm virut: là một tác nhân truyền nhiễm chỉ nhân lên được khi ở trong tế bào.
Virut có thể xâm nhiễm vào tất cả các dạng sinh vật: động vật, thực vật, vi khuẩn.
1.3. Phân loại vi sinh vật học
Vi sinh vật học là ngành khoa học nghiên cứu về hoạt động sống của vi sinh vật, từ
những quy luật chung đến những quy luật riêng, cụ thể của từng nhóm vi sinh vật. Bao
gồm có các loại khoa học vi sinh như sau:
a. Vi sinh học cơ bản: Nghiên cứu những quy luật chung về hình thái, sinh lý, đặc tính
di truyền, phân loại vi sinh vật, các kỹ thuật nghiên cứu vi sinh vật cũng như những quy luật
cơ bản về sự sinh tồn của vi sinh vật.
b. Vi sinh học công nghiệp: Nghiên cứu quá trình áp dụng vi sinh vật trong công
nghiệp, cụ thể nhiều nhất là trong công nghệ vi sinh: áp dụng quá trình lên men vi sinh vật
để sản xuất rượu, bia, mì chính…, sản xuất men, sản xuất các loại dược phẩm (kháng sinh),
các loại vi ta min, các loại hoá chất, độc tố.
c. Vi sinh học nông nghiệp: Nghiên cứu tác dụng của vi sinh vật trong việc làm phì
nhiêu đất đai (vi sinh đất), tìm tòi những tác động có lợi, có hại của vi sinh vật đối với cây
trồng, nhằm đề ra các biện pháp chống các bệnh nhiễm trùng của thực vật.
d. Vi sinh y học: Nghiên cứu những vi sinh vật gây bệnh cho người, các biện pháp
chẩn đoán, phòng, chống những bệnh đó, nghiên cứu tính chất liên quan giữa người và
động vật trong cơ chế mắc bệnh do vi sinh vật gây ra. Ngành học này luôn gắn liền và là
cơ sở của bệnh truyền nhiễm trong nhân y.
e. Vi sinh vật thú y: Nghiên cứu những vi sinh vật gây bệnh cho gia súc và gia cầm
cũng như các loài động vật khác. Tìm hiểu các phương pháp để chẩn đoán, phòng chống
các bệnh đó.
6
2. Đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ của vi sinh vật học
* Đối tượng
- Nghiên cứu các đặc điểm cơ bản về hình thái, cấu tạo, sinh lý, sinh học, di
truyền…của các nhóm vi sinh vật thường gặp trong tự nhiên
- Nghiên cứu vai trò nhiều mặt của các vi sinh vật này, khai thác mặt lọi, hạn chế
do vi sinh vật gây ra
- Trên cơ sở nghiên cứu các đặc điểm sinh vât, hoá học của các nhóm vi sinh vật,
tìm giải pháp để nuôi cấy thích hợp nâng cao hiệu quả và ứng dụng của vi sinh vât trong
cuộc sống
* Nhiệm vụ của vi sinh vật học
- Nghiên cứu về vi sinh vật để tìm ra phương pháp phòng, trị, chẩn đoán...
- Nghiên cứu về vi sinh vật tăng cường mặt tích cực áp dụng rộng rãi trong cuộc
sông trên rất nhiều lĩnh vực...
3. Lịch sử phát triển của vi sinh vật học
* Sự phát hiện vi sinh vật
Sự phát hiện vi sinh vật gắn liền với sự phát minh kính hiển vi. Anton van
Leeuwenhoek (1632 - 1723) người Hà Lan, là người đầu tiên ở thế kỷ XVII nhìn thấy vi
sinh vật nhờ những kính hiển vi độ phóng đại 270 - 300 lần mà ông đã chế tạo (1676). Do
sự hạn chế về độ phóng đại và độ phân giải của kính hiển vi cho nên những nghiên cứu
hiển vi của cơ thể sống rất bị hạn chế và mãi đến đầu thế kỷ XIX chiếc kính hiển vi hoàn
chỉnh đầu tiên mới ra đời và từ đó cho đến nay con người đã lần lượt sáng tạo ra hàng loạt
các loại kính hiển vi quang học khác nhau thì nhiều sự kiện quan trọng mới được phát hiện.
* Sự trưởng thành của vi sinh vật học
Trong thế kỷ XVII và suốt thế kỷ XVIII vi sinh vật học chỉ chú trọng về phần mô
tả, tuy nhiên cũng có một số công trình xuất sắc như Spallanzani sử dụng môi trường nuôi
cấy khử khuẩn bằng nhiệt, Edward Jenner phát minh vaccine đậu mùa, Zinke phát hiện tác
nhân của bệnh dại ở trong nước bọt của chó bị dại.
Thế kỷ XIX mới cho thấy những bước phát triển lớn về vi sinh vật học nhờ công
lao của Louis Pasteur và Robert Koch.
- L.Pasteur (1822 - 1895) hoàn chỉnh việc nghiên cứu vi sinh vật. Vi sinh vật không
những được mô tả chính xác mà còn được khảo sát đầy đủ về những tính chất sinh lý.
L.Pasteur là nhà vi sinh vật học vĩ đại đã có công:
- Phát hiện tác nhân của sự lên men như lên men rượu, lên men thối là vi sinh vât:
các vi sinh vật phát triển đã tạo thành các enzyme chịu trách nhiệm về hiện tượng lên men.
- Xác định vai trò tác nhân gây bệnh của các vi sinh vật trong bệnh nhiễm trùng
- Khái quát hóa vấn đề vaccine và tìm ra phương pháp điều chế một số vaccine
phòng bệnh như vaccine bệnh than, vaccine bệnh tả gà... và phát minh vaccine dại.
7
Robert Koch (1843 - 1910) cùng đóng góp lớn lao cho vi sinh vật học nhờ những
công trình:
- Phát triển những kỹ thuật cố định và nhuộm vi khuẩn.
- Sử dụng môi trường đặc để phân lập vi khuẩn ròng.
- Nêu tiêu chuẩn xác định bệnh nhiễm trùng.
- Khám phá vi khuẩn lao, vi khuẩn tả.
Nhờ công lao của L.Pasteur, R.Koch và nhiều nhà bác học khác, phần lớn các vi
khuẩn gây bệnh ở người và động vật đều được khám phá ở đầu thế kỷ XX. Lúc bấy giờ vi
sinh học đã trở thành một khoa học ứng dụng quan trọng trong lĩnh vực y học, nông nghiệp
và công nghiệp.
Trong lâm sàng, khoa lây đã thành lập để tiếp nhận bệnh nhân nhiêm trùng, khoa
ngoại đã sử dụng phương pháp phẩu thuật sát trùng, tiền đề của phương pháp phẩu thuật
vô trùng ngày nay.
* Những thành tựu hiện đại
Trong những thập kỷ gần đây từ một khoa học ứng dụng, vi sinh vật học đã trở thành
một khoa học cơ bản làm phát sinh một ngành khoa học mới: sinh học phân tử và dưới
phân tử và cùng với các ngành khoa học khác tạo nên một cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật hiện đại.
Nhờ những hiểu biết về di truyền học hiện đại mà mô hình nghiên cứu là E.coli,
Watson và Crick đã phát hiện mẫu cấu trúc của ADN và cơ chế sao chép bán bảo tồn làm cơ
sở cho sự hình thành sinh học phân tử và dưới phân tử. Những phát hiện kỳ diệu về cơ cấu
của mã di truyền và các cấu trúc khác của tế bào sống được sử dụng làm cơ sở cho sự phát
triển công nghiệp sinh học, ngành công nghiệp cho phép con người can thiệp vào quá trình
hình thành và phát triển của sinh vật để phục vụ lợi ích của con người.
Gần đây những kỹ thuật tổng hợp gen, tháo ghép gen làm cho công nghệ sinh học
trở thành một lực lượng sản xuất mũi nhọn của nền kinh tế thế giới. Trong lĩnh vực y học
những kỹ thuật trên có nhiều triển vọng giải quyết các bệnh di truyền, phòng chống các
bệnh nhiễm trùng, bệnh ung thư...
Câu hỏi ôn tập chương 1
1. Vi sinh vật là gì? Đặc điểm của vi sinh vật?
2. Các nhóm vi sinh vật chủ yếu?
3. Phân loại vi sinh vật học?
4. Đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ của vi sinh vật học?
8
Chương 2: HÌNH THÁI, KÍCH THƯỚC VÀ CẤU TẠO CỦA VI KHUẨN
1. Hình thái, kích thước và cấu tạo của vi khuẩn.
1.1. Hình thái, kích thước
Vi khuẩn là loại vi sinh vật mà cơ thể chỉ là 1 tế bào duy nhất có kích thước nhỏ (dài
1 - 10, rộng 0,2 - 1)
Hình thái của các loại vi khuẩn
Cầu khuẩn (Coccus):
Là loại vi khuẩn có hình cầu, có thể có dạng gần như dấu phảy (phế cầu khuẩn).
Tuỳ theo cách phân chia lúc sinh sản và đặc tính dính nhau sau phân chia mà chia
thành các giống cầu khuẩn khác nhau:
+ Vi cầu khuẩn (Micro coccus): thường đứng riêng lẻ, đa số sống hoại sinh trong đất,
nước, không khí, một số có khả năng gây bệnh.
+ Song cầu khuẩn (Diplococcus): khi phân chia, dính nhau từng đôi như lậu cầu khuẩn
(Streptococcus).
+ Liên cầu khuẩn dính nhau thành chuỗi dài khi phân chia điển hình là Streptococcus
Lactic (vi khuẩn tham gia muối dưa), Streptococcus pyogenes (vi khuẩn sinh mủ).
+ Tụ cầu khuẩn (Staphylococcus): dính nhau thành đám như chùm nho. Điển hình
là tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) gây mủ áp xe.
Trực khuẩn:
Là loại vi khuẩn có hình que, hình gậy, đầu tròn hoặc vuông. Một số họ trực khuẩn
gây bệnh thường gặp như: Bacillus, Bacterium, Clostridium, E.Coli...
Cầu trực khuẩn (Coccobacillus):
Là dạng trung gian giữa cầu và trực khuẩn, có hình bầu dục, hình trứng. Đại diện là
Pasteurella Multocida.
Xoắn khuẩn (Spirillum): bao gồm tất cả các vi khuẩn có từ 2 vòng xoắn trở lên, là vi
khuẩn Gram dương và di động được. Có 2 đại diện quan trọng là: Treponema pallidum
(xoắn khuẩn giang mai) và Leptospira pomona (gây bệnh nghệ).
Phảy khuẩn:
Hình ngọn nến, que, dấu phảy. Đại diện là phảy khuẩn tả (Vibrio cholerae).
1.2. Cấu tạo của vi khuẩn
Cơ thể vi khuẩn là một tế bào duy nhất, do vậy về cơ bản, cấu tạo của nó giống với
cấu tạo tế bào. Bên cạnh đó có những điểm khác biệt nhất định giúp cho chúng bảo đảm
được chức năng của mình.
9
g
Hình 1. Cấu tạo vi khuẩn
a. Lông; b. Vi lông (pili) c. Nhân; d. Riboxom; e. Nguyên sinh chất;
f. Màng sinh chất; g. Màng Peptidoglycan; h. Giáp mô
a. Thành tế bào
Thành tế bào là lớp ngoài cùng bao bọc vi khuẩn, giữ cho chúng có hình dạng nhất
định, chiếm 15 - 30% trọng lượng khô của tế bào. Thành tế bào có chức năng sinh lý rất
quan trọng như duy trì hình thái tế bào và áp suất thẩm thấu bên trong tế bào, bảo vệ tế bào
trước những tác nhân vật lý, hoá học của môi trường.
Thành tế bào chính là nơi bám của Phage và chứa nội độc tố của một số vi khuẩn
có độc tố.
Thành phần hoá học của thành tế bào vi khuẩn rất phức tạp, bao gồm nhiều
hợp chất khác nhau như Peptidoglycan, Polisaccarit, Protein, Lipoprotein, Axit
techoic, Lipoit v.v.... Dựa vào tính chất hoá học của thành tế bào và tính chất bắt màu của
nó, người ta chia ra làm 2 loại vi khuẩn Gram dương và Gram âm, với cùng một phương
pháp nhuộm như nhau, trong đó có hai loại thuốc nhuộm Gentiana màu tím và Fuchsin
màu đỏ hồng, vi khuẩn Gram dương bắt màu tím, vi khuẩn Gram âm bắt màu đỏ hồng.
Nguyên nhân là do cấu tạo thành tế bào của hai loại khác nhau. Ngoài hai loại trên, còn có
loại gram biến đổi (gram variable) có khả năng biến đổi từ gram dương sang gram âm và
ngược lại.
Hình 1.3. Sơ đồ cấu tạo của thành tế bào vi khuẩn E.coli.
10
* Màng peptidoglycan
Nằm ngoài cùng của cơ thể vi khuẩn (ở vi khuẩn có giáp mô thì nó nằm trong giáp mô).
Màng bao gồm rất nhiều lớp, chiếm 10 – 20% trọng lượng vi khuẩn, màng này là
nòng cốt của kháng nguyên thân.
Màng có thành phần hoá học phức tạp: Glucopeptid, Polysaccaris, một số vi khuẩn
có chứa Lipid ở màng này (điều này làm thay đổi tính chất bắt màu của vi khuẩn – vi khuẩn
bắt màu đỏ hồng – gram âm).
Peptidoglycan
Peptidoglycan
Màng sinh chất
Màng sinh chất
Lipo polysacarit và
Gram (-)
Gram (+)
Hình 1.4. Sơ đồ các màng của vi khuẩn gr(+) và gr(-)
Màng có chức năng:
- Giúp cho cơ thể vi khuẩn chịu được áp lực thẩm thấu của nội cũng như ngoại bào.
- Là cái khung giữ cho vi khuẩn có hình dạng nhất định.
* Màng sinh chất
Màng này chiếm 10 - 15% tổng trọng lượng, chứa một số men và một số phần tử tế
bào để tại đây xảy ra quá trình sinh tổng hợp một số chất thành phần của màng tế bào, giáp
mô và nội bào.
Màng cấu tạo bởi 2 lớp phospholipid (PL), chiếm 30-40% khối lượng của màng, và
các protein (nằm trong, ngoài hay xen giữa màng), chiếm 60-70% khối lượng của màng.
Đầu phosphat của PL tích điện, phân cực, ưa nước; đuôi hydrocarbon không tích điện,
không phân cực, kỵ nước. Sự phân bố protit và photpholipit khác nhau ở từng vùng trên
màng vi khuẩn đã tạo ra các lỗ hổng, ở đó có chứa một loại protit đặc biệt có tác dụng vận
chuyển thức ăn được gọi là các protein vận chuyển.
+ Màng sinh chất thực hiện một số chức năng quyết định sự tồn tại của vi khuẩn. Nó
là cơ quan hấp thu và đào thải chọn lọc các chất nhờ 2 cơ chế khuếch tán bị động và vận
chuyển chủ động. Với cơ chế bị động, các chất được hấp thu và đào thải nhờ áp lực thẩm
thấu. Các chất có phân tử lượng nhỏ hơn vài trăm dalton và hòa tan trong nước sẽ được
11
vận chuyển theo cơ chế này. Với cơ chế chủ động cần tới enzym, năng lượng và sự làm
việc của các protein vận chuyển.
+ Màng sinh chất là nơi tổng hợp các enzym ngoại bào
+ Màng sinh chất cũng là nơi tổng hợp các thành phần của vách vi khuẩn.
+ Màng sinh chất là nơi tồn tại hệ thống enzym hô hấp tế bào, nơi thực hiện quá trình
trao đổi năng lượng của tế bào. Do vậy màng sinh chất thay thế chức năng của ty thể.
+ Màng sinh chất còn tham gia vào quá trình phân bào của vi khuẩn.
b. Nguyên sinh chất
Là thành phần chính của vi khuẩn, có dạng keo bán lỏng, chứa 80 - 90% nước, còn
lại là Lipoproteid.
Khi tế bào còn non thì nguyên sinh chất đồng nhất, bắt màu đều. Khi tế bào già do
xuất hiện không bào và các thể vùi cho nên nó bắt màu không ổn định.
Trong nguyên sinh chất cũng có Lysosom, Riboxom, các không bào và thể vùi (các
hạt dự trữ) tương tự như tế bào ở sinh vật đa bào.
c. Nhân
Không có màng nhân, chứa thông tin di truyền.
Có cấu trúc sợi nhỏ chứa ADN nhưng điều đặc biệt ở đây ADN chỉ là 1 sợi độc nhất,
các Nucleotid dính chặt nhau tạo thành vòng kín. Quá trình phân bào xảy ra bằng cách cắt
đôi vòng tròn đó.
Số lượng nhân khác nhau giữa các loại vi khuẩn, ví dụ cầu khuẩn chỉ có 1 nhân, cầu
trực khuẩn có 2 nhân…
Ngoài nhiễm sắc thể chứa AND nói trên, một số vi khuẩn còn có di truyền ngoài
nhiễm sắc thể đó là các plasmid
d. Các cấu trúc đặc biệt
* Giáp mô: Ở một số loại vi khuẩn, ngoài cùng có một lớp vỏ nhầy dày 10, gọi là giáp
mô. Thành phần của giáp mô thay đổi tuỳ loài vi khuẩn, chủ yếu là Polysaccarid (một số ít
là polypeptid như vi khuẩn dịch hạch, trực khuẩn nhiệt thán), phần còn lại là nước (có tới
98%).
Giáp mô được hình thành khi vi khuẩn gặp điều kiện bất lợi, giúp vi khuẩn có sức đề
kháng mạnh hơn, nó tăng cường khả năng gây bệnh của vi khuẩn (tăng độc lực), nó giúp
vi khuẩn chống lại hiện tượng thực bào của cơ thể.
Bằng kính hiển vi, muốn nhìn được giáp mô phải dùng phương pháp nhuộm đặc biệt
(ở phương pháp nhuộm Hiss giáp mô bắt màu xanh nhạt của CuSO4).
* Nha bào:
Ở một số loài vi khuẩn, trong quá trình phát triển ở một thời gian nhất định, trong
một điều kiện nhất định sẽ hình thành nha bào.
Nha bào có hình tròn, bầu dục.
12
Nha bào là hình thức sống tiềm sinh của vi khuẩn, giúp vi khuẩn bảo đảm khả năng
tồn tại của mình trong điều kiện bất lợi.
Sự hình thành nha bào: ban đầu nguyên sinh chất và chất nhân được tập trung tại một
điểm, sau đó được cô đặc dần, cuối cùng hình thành nên rất nhiều lớp màng bao bọc (tiền
nha bào). Sau đó tuỳ vào vị trí tiền nha bào được bọc thêm một số lớp màng khác nữa và
đổi vị trí thành nha bào.
Thời gian hình thành nha bào là 80/ - 20h.
Cấu tạo của nha bào rất đặc biệt: khối nguyên sinh chất và nhân đông đặc được bao
bọc bởi rất nhiều lớp màng cuộn chặt nhau (mục đích ngăn chặn sự trao đổi nước và các
chất hoà tan qua màng).
Sức đề kháng của nha bào: nha bào kháng lại các yếu tố lý hoá rất tốt. Cụ thể nếu đun
sôi 5 ngày liền mới có thể diệt được nha bào, ở 1800C nha bào của vi khuẩn độc thịt vẫn chịu
được ít nhất là 10 phút, ở nhiệt độ thấp và khô cạn nha bào lại càng sống lâu (nha bào nhiệt
thán sống được 18 năm trong phòng thí nghiệm).
Sự tồn tại của nha bào trong thiên nhiên là nguồn bệnh vô cùng nguy hiểm. Cần phải
hết sức tránh tạo điều kiện cho vi khuẩn hình thành nha bào. Nha bào có sức đề kháng cao
là vì các lý do:
+ Nước trong nha bào rất ít (10-20%) và phần lớn ở trạng thái liên kết, không có khả
năng làm biến tính Prôtein khi nhiệt độ tăng cao.
+ Các Enzim trong nha bào và các chất hoạt động sinh học khác đều ở trạng thái
không hoạt động.
Sự nảy mầm: khi gặp điều kiện thuận lợi (t0, ẩm độ, dinh dưỡng,…) nha bào nảy mầm
tạo thành 1 vi khuẩn mới. Có thể coi nha bào là một tế bào tiếp hợp tất cả các phần nguyên
sinh chất, nhân rồi được đổi mới và tạo thành vi khuẩn mới. Như vậy nha bào là một hình thức
sinh sản của vi khuẩn.
Vị trí của nha bào: nha bào thường tồn tại ở những vi khuẩn Gr(+) điển hình nhất là
nhóm trực khuẩn hiếu khí (vi khuẩn nhiệt thán) và trực khuẩn yếm khí (Clostridium)
* Lông và khả năng di động của vi khuẩn:
Một số loại vi khuẩn có thể di động được nhờ có
lông trên thân. Lông có cấu tạo từ protid và protid này
chính là kháng nguyên H (vi khuẩn không lông thì không
có kháng nguyên H).
* Lông nhung (pili):
Ngoài lông ra, một số vi khuẩn còn có lông
nhung, lông nhung ngắn, mảnh (0,01 x 0,3 - 1), phân
Hình 1.6. Pili của vi khuẩn
bố rất đều trên bề mặt tế bào vi khuẩn, có nhiệm vụ duy
nhất là giúp vi khuẩn bám chặt lên bề mặt cơ chất
13
2. Một số loài vi khuẩn gây bệnh ở vật nuôi
2.1. Cầu khuẩn
2.1.1. Tụ cầu khuẩn
Tụ cầu khuẩn là các vi khuẩn hình cầu, tụ lại thành từng đám giống hình chùm nho.
Có nhiều loài nhưng Staphylococcus aureus là loài gây bệnh thường gặp nhất, vi khuẩn
này tồn tại trên da, niêm mạc, gây hiện tượng mưng mủ, nhiễm trùng huyết, bại huyết, độc
tố trong thực phẩm.
a. Đặc tính sinh học
* Hình thái, tính chất bắt màu
Tụ cầu khuẩn hình cầu, đường kính 0,7 - 1, không di động, không hình thành nha
bào và thường không có vỏ, không lông. Vi khuẩn bắt màu gram dương, xếp thành từng
đám giống chùm nho.
* Đặc tính nuôi cấy
Tụ cầu khuẩn sống hiếu khí hoặc kị khí tuỳ tiện, nhiệt độ thích hợp là 32-370C, pH
thích hợp 7,2-7,6; dễ mọc trên các môi trường nuôi cấy thông thường.
* Các chất do tụ cầu gây bệnh tiết ra
- Độc tố:
+ Độc tố dung huyết: có 4 loại α, , , nhưng quan trọng nhất là độc tố α.
+ Nhân tố diệt bạch cầu: làm bạch cầu mất khả năng di động, mất hạt, nhân bị phá huỷ.
+ Độc tố ruột: gây triệu chứng tiêu hoá (viêm ruột cấp, nhiễm độc thức ăn).
- Các enzym
+ Men làm đông huyết tương
+ Men làm tan tơ huyết: làm cho cục máu vỡ thành những mảnh nhỏ sau đó gây tắc
mạch và mưng mủ.
+ Men Dezoxyribonucleaza: thuỷ phân axit Dezoxyribonucleic và gây tổn thương tổ chức.
* Sức đề kháng: tụ cầu có sức đề kháng kém đối với nhiệt độ và hoá chất: 700C chết
sau 1 giờ, 800C chết sau 10 - 30 phút, 1000C chết sau vài phút. Axit phenic 3-5% diệt vi
khuẩn sau 3-5 phút, Formol 1% diệt vi khuẩn sau 1 giờ. Ở nơi khô hanh và đóng băng vi
khuẩn có sức đề kháng tốt. Ở nơi khô ráo vi khuẩn sống được trên 200 ngày.
* Tính gây bệnh: trong tự nhiên tụ cầu thường kí sinh trên da, niêm mạc của người và
gia súc. Khi sức đề kháng của cơ thể kém, hoặc tổ chức bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập
và gây bệnh. Vi khuẩn có thể gây những ổ mủ ngoài da, niêm mạc. Một số trường hợp vi
khuẩn vào máu gây nhiễm trùng huyết, huyết nhiễm mủ.
Ngoài ra ở người còn thấy độc tố ruột do tụ cầu tiết ra gây nên nhiễm độc thức ăn và
viêm ruột cấp tính.
* Mức độ cảm nhiễm: ngựa dễ mắc bệnh nhất sau đó đến chó, bò, lợn, cừu. Gà, vịt ít
mẫn cảm. Người dễ mẫn cảm với vi khuẩn
14
b. Chẩn đoán
* Chẩn đoán vi khuẩn học
- Lấy bệnh phẩm cần đúng kĩ thuật, tuyệt đối vô trùng. Trường hợp lấy ở ổ áp xe thì
dùng seringer hút mủ.
- Kiểm kính: làm tiêu bản, đem nhuộm gram rồi quan sát dưới kính hiển vi quang học
- Nuôi cấy vào môi trường thích hợp: bệnh phẩm được nuôi cấy vào môi trường
nước thịt, thạch máu.
* Chẩn đoán huyết thanh học: thường không sử dụng vì ít có giá trị thực tế.
c. Phòng và trị bệnh
* Phòng bệnh:
- Vệ sinh phòng bệnh: chủ yếu là giữ vệ sinh chung, trong các thao tác sản khoa, ngoại
khoa phải đảm bảo vô trùng, các vết thương phải được điều trị để tránh trở thành nơi xâm
nhập của vi khuẩn gây nhiễm khuẩn nặng.
- Phòng bệnh bằng vacxin: ít có hiệu quả
* Trị bệnh: Dùng thuốc kháng sinh: do tụ cầu rất dễ kháng thuốc nên khi dùng kháng
sinh cần làm kháng sinh đồ. Các loại kháng sinh thường dùng là:
- Nhóm - Lactamin
- Nhóm aminosid thường hay dùng Kanamycin và Gentamycin
2.1.2. Liên cầu khuẩn (Streptococcus)
Liên cầu khuẩn là những vi khuẩn hình cầu xếp thành chuỗi, dài ngắn khác nhau, có
ở khắp nơi trong tự nhiên, có một số loài gây bệnh.
a. Đặc tính sinh học
* Hình thái, tính chất bắt màu
Liên cầu khuẩn có dạng hình cầu hoặc hình bầu dục, đường kính có khi tới 1, bắt
màu gram dương, không di động.
* Đặc tính nuôi cấy
Liên cầu khuẩn hiếu khí hay yếm khí tuỳ tiện, mọc tốt ở tất cả các môi trường.
- Môi trường nước thịt: vi khuẩn hình thành những hạt hoặc cụm bông rồi lắng xuống
đáy ống.
- Môi trường thạch thường: vi khuẩn hình thành khuẩn lạc dạng S nhỏ, bóng, màu
hơi xám.
- Môi trường thạch máu: vi khuẩn làm dung huyết.
* Các chất do liên cầu tiết ra:
- Độc tố: có bản chất protein, gây các nốt ban đỏ.
- Dung huyết tố: gây dung huyết và làm chết súc vật do gây độc với tim, não.
15
* Các enzym
- Hyaluronidaza: thuỷ phân axit hyaluronic là chất xi măng gắn các tế bào, giúp cho
vi khuẩn dễ lan tràn.
- Diphotpho-Pyridin-Nucleotidaza: có khả năng làm chết bạch cầu.
* Sức đề kháng
- Liên cầu khuẩn có sức đề kháng kém với nhiệt độ và hoá chất: ở 70oC chết sau 35-
40 phút; 100oC chết sau 1 phút. Các chất sát trùng thông thường dễ tiêu diệt được liên cầu.
* Tính gây bệnh
Trong tự nhiên liên cầu khuẩn có ở khắp nơi trên cơ thể người và động vật, bình thường
chúng cư trú ở họng và ruột, nhiều liên cầu có khả năng gây bệnh như liên cầu khuẩn nhóm A
gây một số nhiễm khuẩn và bệnh:
- Nhiễm khuẩn tại chỗ: viêm họng, eczema, chốc lở, nhiễm khuẩn các vết thương,
viêm tai giữa, viêm hạch, viêm phổi, viêm đường sinh dục...
- Nhiễm khuẩn thứ phát: từ những nhiễm khuẩn tại chỗ có thể gây nhiễm trùng
huyết, viêm màng tim.
- Các bệnh khác: viêm cầu thận, bệnh thấp tim thường xuất hiện sau viêm họng,
viêm da do liên cầu A từ 2 đến 3 tuần. Các bệnh này có nguyên nhân là kháng thể chống
liên cầu đã chống lại cả các tế bào họng, tim do các tế bào này có cấu trúc kháng nguyên
giống liên cầu khuẩn.
b. Chẩn đoán vi khuẩn học
Lấy bệnh phẩm: có thể lấy máu ở ổ áp xe hoặc mủ ở da, niêm mạc.
Kiểm tra bằng kính hiển vi: làm thành tiêu bản đem nhuộm gram rồi quan sát dưới
kính hiển vi để xác định hình thái và tính chất bắt màu của vi khuẩn.
Nuôi cấy vào môi trường thích hợp: bệnh phẩm được cấy vào môi trường nước thịt,
thạch máu, theo dõi tính chất mọc, khuẩn lạc, sự tan máu.
c. Phòng và trị bệnh
* Phòng bệnh
Công tác này còn có nhiều khó khăn, hiện nay chưa có vacxin hiệu lực cao.
* Trị bệnh: Dùng thuốc kháng sinh dựa trên kết quả của kháng sinh đồ.
2.1.3. Giống phế cầu khuẩn (Diplococcus pneumoniae)
a. Đặc tính sinh học
* Hình thái, tính chất bắt màu
Phế cầu là những vi khuẩn hình cầu, một đầu nhọn như ngọn lửa nến, thường xếp
thành đôi ít khi đứng riệng lẻ, không di động, không sinh nha bào, không hình thành giáp
mô, gram dương.
* Đặc tính nuôi cấy
16
Phế cầu khuẩn hiếu khí hay yếm khí tuỳ tiện, nhiệt độ thích hợp 370C, pH thích hợp
từ 7,2 đến 7,5.
- Môi trường nước thịt có huyết thanh: sau 24h nuôi cấy, môi trường đục nhẹ, có
khi có ít cặn ở đáy ống.
- Môi trường thạch huyết thanh: khuẩn lạc tròn, trong suốt như giọt sương.
- Môi trường thạch máu: khuẩn lạc trong suốt, xung quanh có vòng tan máu.
* Sức đề kháng: Phế cầu dễ bị tiêu diệt bởi các chất sát trùng thông thường và nhiệt
độ cao. Ở 600C vi khuẩn bị diệt sau 10 phút.
* Tính gây bệnh: Phế cầu có khả năng gây bệnh cho người và gia súc như gây viêm
đường hô hấp, viêm tai, viêm xoang, viêm màng não, viêm màng bụng, màng tim, viêm
thận, viêm dịch hoàn, viêm dạ dày, ruột, khớp…
b. Chẩn đoán vi khuẩn học
Lấy bệnh phẩm: máu, chất dịch đường hô hấp…
Kiểm tra bằng kính hiển vi: làm thành tiêu bản đem nhuộm gram rồi quan sát dưới
kính hiển vi để xác định hình thái và tính chất bắt màu của vi khuẩn.
Nuôi cấy vào môi trường thích hợp: bệnh phẩm được cấy vào môi trường thạch
huyết thanh, thạch máu, theo dõi tính chất mọc, khuẩn lạc.
c. Phòng và trị bệnh
* Phòng bệnh: Chưa có vacxin hiệu lực cao.
* Trị bệnh: các loại thuốc như sulfamid, penicillin, tetrracyclin... đều có tác dụng diệt
phế cầu rất tốt.
2.2. Trực khuẩn
2.2.1. Trực khuẩn đóng dấu lợn (Erysipelothrix rhusiopathiae)
a. Đặc tính sinh học
* Hình thái, tính chất bắt màu
Erysipelothrix rhusiopathiae là một trực khuẩn nhỏ, thẳng hoặc hơi cong, kích
thước 0,2 - 0,4 x 1 - 1,5.
Vi khuẩn không lông, không di động, không hình thành nha bào và giáp mô. Vi khuẩn
bắt màu Gram dương, hiếu khí.
* Đặc tính nuôi cấy:
Vi khuẩn hiếu khí nhưng cũng có thể sinh trưởng trong môi trường yếm khí, nhiệt độ
thích hợp là 370C, pH thích hợp là 7,2 - 7,6
Trong môi trường nước thịt: sau khi cấy 24h, môi trường hơi đục rồi trong, lắc có vẩn
như mây bay, đáy ống môi trường có cặn trắng nhầy màu tro. Nếu cho thêm glucoz và 10%
huyết thanh vào môi trường thì vi khuẩn mọc rất tốt.
17
Trong môi trường thạch thường: vi khuẩn hình thành khuẩn lạc nhỏ, bóng láng, hình
tròn, rìa gọn, trong như hạt sương.
Trong môi trường thạch máu: sau 24-48h, có khuẩn lạc nhỏ, tròn, óng ánh như hạt sương.
Trong môi trường gelatin: cấy theo đường cấy chích sâu, nuôi ở nhiệt độ 280C sau 5 ngày
vi khuẩn mọc theo hình giống bàn chải rửa ống nghiệm
* Sức đề kháng:
Trong phủ tạng của lợn chết thối, vi khuẩn sống được 4 tháng, lợn chết chôn dưới
đất, vi khuẩn sống được 9 tháng, nếu sấy khô vi khuẩn chết sau 3 tuần, trong chỗ ẩm, tối ở
370C vi khuẩn sống 1 tháng, có ánh sáng mặt trời thì chỉ sống 12 ngày.
Nhiệt độ cao dễ dàng diệt vi khuẩn: trong canh khuẩn, đun 700C chết sau 5 phút,
1000C vi khuẩn chết ngay. Trong thịt có vi khuẩn, nếu cắt dày 15cm phải luộc 1000C/2h30/
mới diệt được vi khuẩn.
Tiêu diệt vi khuẩn này nên dùng NaOH 2% trong nước vôi 20%, các chất sát trùng,
khử trùng thông thường.
* Tính gây bệnh:
Trong tự nhiên, vi khuẩn gây bệnh đóng dấu lợn. Lợn là loài cảm thụ với vi khuẩn
nhất, trong đó lợn 3 - 4 tháng dễ mắc bệnh, lợn dưới 1,5 tháng và lợn trưởng thành ít mắc
bệnh hơn.
Vi khuẩn cũng lây bệnh ở người với biểu hiện sốt cao nổi nốt đỏ trên da, đầu các khớp
xương và hạch sưng.
Trong phòng thí nghiệm chuột bạch, chuột nhắt trắng dễ cảm nhiễm nhất rồi đến bồ câu.
b. Chẩn đoán vi khuẩn học
- Lấy bệnh phẩm: máu tim, lách (thể cấp), gan, thận (bại huyết), tuỷ xương (mãn)
- Kiểm tra bằng kính hiển vi: làm thành tiêu bản đem nhuộm gram rồi quan sát dưới
kính hiển vi để xác định hình thái và tính chất bắt màu của vi khuẩn
- Nuôi cấy vào môi trường thích hợp, quan sát tính chất mọc của vi khuẩn
c. Phòng và trị bệnh
* Phòng bệnh
Vacxin đóng dấu lợn formol keo phèn: tiêm dưới da với liều 5ml/con, thời gian miễn
dịch kéo dài 5 - 6 tháng.
Vacxin đóng dấu lợn nhược độc (còn gọi là vacxin VR2): hiện nay nước ta đang sử
dụng rộng rãi loại vacxin này. Vacxin an toàn và có tính miễn dịch cao cho lợn. Vacxin
tiêm vào dưới da cho lợn từ 2 tháng tuổi trở lên (cần thiết có thể tiêm cho lợn 1 tháng rưỡi).
Thời gian miễn dịch kéo dài 7 - 9 tháng và có thể kéo dài hơn nếu tiêm phòng các lần sau.
Có thể tiêm thẳng vacxin vào ổ dịch (do vacxin cho miễn dịch mạnh). Liều dùng
0,5ml cho lợn dưới 30kg, 1ml cho lợn từ 30kg trở lên, vacxin phải được bảo quản trong
ngăn mát tủ lạnh.
Vacxin tụ - dấu: đây là loại vacxin nhị giá kết hợp 2 loại vi khuẩn nhược độc đóng
dấu lợn và nhược độc tụ huyết trùng, vacxin được chế tạo trên thạch lỏng bán cố thể. Vacxin
18
an toàn, sử dụng thuận lợi, hiệu lực. Khi dùng tiêm dưới da cho lợn với liều 2 - 3ml/con.
Thời gian miễn dịch 4 - 6 tháng, sau tiêm 14 ngày có miễn dịch.
Vacxin có thể tiêm cùng một lúc với vacxin nhược độc dịch tả lợn, tụ huyết trùng lợn mà
không bị ảnh hưởng xấu đến tính miễn dịch của vacxin.
* Trị bệnh:
- Kháng huyết thanh: tiêm dưới da 5 - 10ml cho lợn dưới 5kg, 30-50ml cho lợn dưới
50kg; 50-75ml cho lợn trên 50kg (nếu tiêm nửa liều vào dưới da, nửa liều vào tĩnh mạch
thì kết quả sẽ tốt hơn).
- Kháng sinh: có thể dùng Penicillin, Gentamycin, Ampicillin, Cephalixin ....
2.2.2. Giống Salmonella
a. Đặc tính sinh học
* Hình thái, tính chất bắt màu
Salmonella có hình gậy ngắn, 2 đầu tròn, kích thước 0,4-0,6 x 1-3, không hình thành giáp
mô và nha bào. Đa số các loài Salmonella đều có khả năng di động mạnh do có từ 7-12 lông xung
quanh thân (trừ Sal. gallinarum, Sal. pullorum).
Salmonella là vi khuẩn gram âm.
* Đặc tính nuôi cấy
Salmonella vừa hiếu khí vừa kị khí không bắt buộc, dễ nuôi cấy, nhiệt độ thích hợp
370C nhưng có thể phát triển được ở nhiệt độ 6 - 420C, pH thích hợp là 7,6; phát triển được
ở pH 6-9.
Salmonella gây bệnh cho gia súc sinh trưởng tốt trong điều kiện hiếu khí, kém hơn ở
điều kiện kị khí.
- Môi trường nước thịt: sau cấy vài giờ đã đục nhẹ, sau 18h đục đều, nuôi lâu ở đáy
ống nghiệm có cặn, trên mặt môi trường có màng mỏng
- Môi trường thạch thường: vi khuẩn mọc thành các khuẩn lạc tròn, trong sáng hoặc
xám, nhẵn bóng, hơi lồi lên ở giữa, nhỏ và trắng hơn khuẩn lạc của E.Coli.
Một số loài Salmonella cấy trên thạch pepton dày sau 1 - 2 ngày khuẩn lạc hình thành
1 bờ chất dính, chất keo bao bọc.
Trên thạch thỉnh thoảng có thể thấy khuẩn lạc dạng R, nhám, mặt trong mờ.
* Sức đề kháng:
Salmonella tồn tại trong nước thường 1 tuần, trong nước đá có thể sống 2 - 3 tháng,
trong xác động vật chết chôn ở bùn, cát vi khuẩn sống từ 2 -3 tháng.
Vi khuẩn có sức đề kháng yếu với nhiệt độ cao, 500C/1 giờ; 700C/20/; 1000C/5phút.
Các chất diệt trùng thông thường dễ phá huỷ vi khuẩn hoàn toàn: HgCl2 1/500; formol
1/500 diệt vi khuẩn trong 15 - 20 phút.
Đặc biệt Salmonella có thể sống trong thịt ướp muối nồng độ 29% được 4 - 8 tháng
ở nhiệt độ từ 6 - 120C.
Xử lý miếng thịt nhiễm trùng bằng hơ lửa hay nướng ít có tác dụng diệt vi khuẩn ở
bên trong.
19
* Độc tố
Salmonella sinh 2 loại độc tố:
- Nội độc tố: rất mạnh, gây xung huyết ruột non, phù nề mảng payer, đôi khi hoại tử,
độc thần kinh, hôn mê, co giật.
- Ngoại độc tố: chỉ phát hiện được khi nuôi vi khuẩn có độc tính cao trong cơ thể
động vật, ít độc.
* Tính gây bệnh:
Bệnh xảy ra ở hầu hết các loại lợn, nhưng thường diễn ra cấp tính và nặng ở lợn con
và lợn choai, ở lợn trưởng thành bệnh diễn ra khá kín đáo. Người bị ngộ độc do ăn thịt lợn
và sản phẩm thịt lợn sống hoặc chưa chín. Chó và bò cũng có thể mắc bệnh.
Trong phòng thí nghiệm, chuột bạch, thỏ, chuột lang cảm thụ với bệnh.
b. Chẩn đoán vi khuẩn học
- Lấy bệnh phẩm: máu, phủ tạng, dịch tiết, tuỷ xương và phân
- Kiểm tra bằng kính hiển vi: làm thành tiêu bản đem nhuộm gram rồi quan sát dưới
kính hiển vi để xác định hình thái và tính chất bắt màu của vi khuẩn
- Nuôi cấy vào môi trường thích hợp, quan sát tính chất mọc của vi khuẩn
c. Phòng và trị bệnh
* Phòng bệnh
- Vệ sinh phòng bệnh
+ Nhốt riêng lợn mới mua ít nhất 15 ngày.
+ Cách ly triệt để lợn bệnh, lợn ốm muốn làm thịt phải vệ sinh triệt để, thịt độc cho
người sử dụng, phân và dạ dày, ruột phải đem chôn, lợn chết dịch chôn sâu giữa 2 lớp vôi
bột, lợn mắc bệnh mãn tính cần loại khỏi đàn.
+ Chuồng lợn ốm phải tiêu độc triệt để bằng cách đơn giản nhất là hơ lửa, đốt, rắc vôi
bột, quét nước vôi 20%.
+ Cải thiện điều kiện vệ sinh, chăm sóc, thức ăn, chuồng trại, vận chuyển gia súc.
- Phòng bằng vacxin
+ Vacxin phó thương hàn formol keo phèn: chế từ toàn bộ canh khuẩn vi khuẩn phó
thương hàn lợn (bao gồm cả độc tố và vi khuẩn) đem vô hoạt bằng formol, cho thêm chất
bổ trợ là keo phèn.
Tiêm 2 lần, cách nhau 1 - 2 tuần với liều 3 -4ml (lợn con 20 ngày tuổi); 5ml (lợn cai sữa).
Có thể tiêm cho lợn mẹ đang mang thai vừa phòng bệnh cho mẹ, vừa phòng bệnh cho con
(miễn dịch cho lợn con tới 3-4 tuần sau khi sinh), với liều 5ml/con. Tiêm dưới da cổ, hoặc
dưới da bẹn.
+ Vacxin phó thương hàn lợn nhược độc đông khô: do Xí nghiệp thuốc thú y Trung
ương sản xuất (thường đóng lọ 10 liều tiêm), khi dùng pha với 10ml nước sinh lý tiêm
1ml/con cho miễn dịch 6 tháng.
* Trị bệnh:
- Dùng kháng huyết thanh phó thương hàn lợn: chế từ bò đực thiến tối miễn dịch.
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình mô đun Vi sinh vật - Nghề: Thú y", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_mo_dun_vi_sinh_vat_nghe_thu_y.pdf

