Bước đầu đánh giá tác động của tế bào gốc trung mô từ dây rốn trên mô hình chuột tổn thương gan do tắc mật
Nguyễn Minh Thư và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1), ...-...
3
Bước đầu đánh giá tác động của tế bào gốc trung mô từ dây rốn trên
mô hình chuột tổn thương gan do tắc mật
Preliminary evaluating the effects of umbilical cord-derived
mesenchymal stem cells on bile duct ligation induced liver injury mice
Nguyễn Minh Thư1, Lê Văn Trình2, Đặng Minh Thành2, Trương Hải Nhung2*
1Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
2Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TPHCM, Việt Nam
THÔNG TIN
TÓM TẮT
DOI:10.46223/HCMCOUJS.
Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm đánh giá tính an toàn và
hiệu quả của tế bào gốc trung mô trên mô hình chuột tổn thương
gan do tắc ống dẫn mật. Phương pháp: Chuột Swiss được tiến
hành phẫu thuật thắt ống dẫn mật (BDL) để gây bệnh xơ gan. Sau
BDL 7 ngày, chuột được tiêm tế bào gốc trung mô từ mô dây rốn
(umbilical cord blood-derived - UCB-MSC) với liều 5x105
tb/con. Hiệu quả điều trị được đánh giá thông qua tỉ lệ sống chết,
các chỉ số sinh hóa (AST, ALT, Albumin) và thay đổi cấu trúc
mô học (nhuộm H&E), sự tích lũy collagen trong mô gan (nhuộm
Sirius Red), sự hoạt hóa tế bào hình sao (nhuộm hóa mô miễn
dịch với marker α-SMA). Kết quả: Sau 12 ngày điều trị, so với
nhóm đối chứng-PBS, chuột tiêm MSC có tỉ lệ sống cao (100%),
giảm tổn thương gan (chỉ số sinh hóa men gan Alb, AST và ALT
trung bình lần lượt là 2.016 Dg/L, 432.9 UI/L và 417.7 UI/L),
giảm diện tích xơ gan thông qua diện tích hoại tử trung bình là
7.529%, sự tích lũy collagen trong gan trung bình là 1.968% và
tỷ lệ dương tính của protein α-SMA là 1.42725%. Kết luận:
Bước đầu đánh giá được tính an toàn và hiệu quả điều trị chuột
tổn thương gan do tắc ống dẫn mật bằng tế bào gốc trung mô
(MSC).
Ngày nhận: 09/04/2021
Ngày nhận lại: 10/05/2021
Duyệt đăng: 25/05/2021
Từ khóa:
chuột tắc mật, liệu pháp tế bào
gốc, điều trị tắc mật, bệnh lý gan,
bệnh hẹp đường mật
ABSTRACT
Keywords:
Objective: The purpose of this research is to evaluate
effective treatment of mesenchymal stem cells due to bile duct
obstruction on mouse models with liver damage underwent bile
duct ligation (BDL). Method: Swiss mice underwent bile duct
surgery (BDL) to cause cirrhosis. After 7 days of BDL, mice were
injected with mesenchymal stem cells isolated from umbilical
cord blood-derived (UCB-MSC) at a dose of 5x105cell/mice.
Treatment efficacy was assessed through mortality, biochemical
indices (AST, ALT, Albumin) and histological changes (H&E
staining), collagen accumulation in liver tissue (Sirious Red
bile duct ligated mice, stem cell
therapy, bile disease treatment,
liver disease, biliary astresia
4
Nguyễn Minh Thư và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1), ...-...
staining), astrocytes activation (immunohistochemistry with α-
SMA marker). Result: After 12 days of treatment, compared to
the PBS-control group, mice injected with MSC had a high
survival rate (100%), reduced liver damage (average liver
enzymes of Alb, AST and ALT, respectively 2.016 Dg/L, 432.9
UI/L and 417.7 UI/L,), reducing the area of cirrhosis through an
average necrotic area of 7.529%, the mean liver collagen
accumulation 1.968%, and the positive rate of α-SMA protein is
1,42725%. Conclusion: Initially assess the safety and treatment
effectiveness with liver damage caused by bile duct obstruction
by mesenchymal stem cells (MSC).
1. Giới thiệu
Tắc mật bẩm sinh hay thủng đường mật ở những trẻ sơ sinh dù hiếm gặp nhưng nếu
không được phát hiện sớm và điều trị sẽ dẫn đến suy gan hay xơ gan (Bates, Bucuvalas,
Alonso, & Ryckman, 1998). Dữ liệu thống kê cho thấy tỉ lệ mắc bệnh ở các nước Châu Á cao
hơn so với châu Âu và châu Mỹ, chẳng hạn như tỉ lệ mắc bệnh ở Mỹ là 1:19.000, ở Anh và
các nước châu Âu 1:16.000, trong khi đó tỉ lệ mắc bệnh ở các nước châu Á như Nhật Bản và
Trung Quốc khoảng 1:9.600, đặc biệt khá cao ở Việt Nam với tỉ lệ 1:2400 (T. Liu, Wang,
Karsdal, Leeming, & Genovese, 2012).
Khi ống dẫn mật bị tắt nghẽn thì dịch mật bị ứ đọng lại có thể gây ra các tình trạng bệnh
lý nghiêm trọng như xơ gan, nhiễm trùng đường mật, nhiễm trùng máu... Tắc mật trong thời
gian dài sẽ dẫn đến tình trạng gan bị xơ hóa, khi gan bị xơ hóa thì tổn thương gan lúc này sẽ
thường không phục hồi (Nam, Ko, & Sohn, 2019). Phương pháp điều trị hiện nay là tiến hành
phẫu thuật Kasai (được phát triển bởi bác sĩ người Nhật, Morio Kasai). Phương pháp này giúp
giảm bớt sự tắc mật bằng cách phẫu thuật nối hỗng tràng với nhánh nhỏ mật trong gan
(portoentersstomy). Các trường hợp bệnh nhân không được tiến hành phẫu thuật thì sẽ tử vong
trong vòng 2 năm, với thời gian sống trung bình là 8 tháng (Bates et al., 1998). Tuy nhiên sau
khi tiến hành phẫu thuật Kasai, bệnh nhân vẫn cần phải tiến hành ghép gan. Tỷ lệ sống sót sau
5 năm không ghép gan thay đổi từ 32% đến 63% và tỷ lệ phẫu thuật Kasai thất bại cao (62%)
(Shinkai et al., 2009). Mặc dù có nhiều tác dụng phụ, nhưng kháng sinh, thuốc vận mật
(choleretics) và steroid thường được chỉ định sau phẫu thuật Kasai. Bệnh nhi bị hẹp đường
mật bẩm sinh cần kiểm soát tình trạng suy gan mật để chuẩn bị cho việc ghép gan sau đó. Tình
trạng khan hiếm nguồn tạng ghép và thời gian sống sót của bệnh nhi sau phẫu thuật Kasai là
thách thức lớn của y khoa.
2. Cơ sở lý thuyết
Tế bào gốc trung mô (Mesenchymal stem cell- MSC) là tế bào gốc trưởng thành đa chức
năng có thể được phân lập từ nhiều nguồn khác nhau như từ tủy xương (bone marrow), dây rốn
(umbilical cord), mô mỡ (adipose tissue), nội mạc tử cung (endometrium), nước ối (amniotic
fluid), mô răng (dental tissue) (Ullah, Subbarao, & Rho, 2015). MSC có khả năng tăng sinh và
biệt hóa thành nhiều loại tế bào, lợi thế của MSC là có thể thu nhận dễ dàng, có các đặc tính
điều hòa miễn dịch, sản sinh các chất tiết như các yếu tố tăng trưởng, cytokine giúp cho MSC
trở thành công cụ hiệu quả để điều trị các bệnh viêm mạn tính (Ullah et al., 2015). Ngoài ra,
MSC còn có khả năng đi đến mô tổn thương, ngăn chặn các phản ứng viêm, giảm “apotosis” tế
bào gan, tăng tái tạo tế bào, hồi phục xơ gan và tăng cường chức năng gan (Kyung Ah Cho et
Nguyễn Minh Thư và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1), ...-...
5
al., 2009; Kyung‐Ah Cho, Woo, Seoh, Han, & Ryu, 2012). Tế bào gốc được phân lập từ dây
rốn (UCB-MSC) (M. B. Liu et al., 2017; Lou, Chen, Zheng, & Liu, 2017) có tỷ lệ tăng sinh tế
bào cao và sự biểu hiện các dấu hiệu lão hóa thấp hơn đáng kể so với các nguồn thu nhận từ tủy
xương hay mô mỡ. Ngoài ra UCB-MSC còn có khả năng chống viêm cao hơn so với nguồn thu
nhận từ tuỷ xương hay mỡ, nên UCB-MSC trở thành một mô hình hữu ích cho các ứng dụng
lâm sàng của liệu pháp tế bào như liệu pháp điều trị viêm gan (Eom, Shim, & Baik, 2015; Jin
et al., 2013; Lou et al., 2017; Wang, Yuan, & Xie, 2018). Ngoài ra, MSC có khả năng điều hòa
miễn dịch, tương tác với hàng rào miễn dịch do có thể hoạt động như những tế bào trình diện
kháng nguyên nên giúp giảm thiểu thải ghép với vật chủ cũng là mối quan tâm của các nhà khoa
học (Castillo, Liu, Bonilla, & Rameshwar, 2007). Vì MSC có tiềm năng biệt hóa thành tế bào
gan (Ullah et al., 2015), giảm viêm gan và thúc đẩy tái tạo gan (Kyung Ah Cho et al., 2009)
nên đây sẽ là con đường phát triển đầy tiềm năng cho việc điều trị bệnh lý gan. Tại Việt Nam,
một số công trình nghiên cứu sử dụng MSC để điều trị bệnh xơ gan như: sử dụng tế bào gốc
trung mô từ tủy xương để đánh giá hiệu quả điều trị xơ gan trên mô hình chuột CCl4 (N. H.
Truong, Trình, et al., 2016) hay MSC từ mô mỡ người kết hợp huyết tương giàu tiểu cầu và yếu
tố tăng trưởng tế bào gan làm giảm xơ hóa gan ở chuột CCl4 (N. H. Truong, Nguyen, et al.,
2016); hay sử dụng tế bào gốc tủy xương tự thân trong điều trị xơ gan mất bù do virus viêm gan
B (G. D. Truong et al., 2018). Hiện chưa có nhiều nghiên cứu tiếp cận điều trị tổn thương gan
do tắc mật trên chuột thực nghiệm bằng liệu pháp tế bào gốc. Do đó trong nghiên cứu này,
chúng tôi bước đầu đánh giá tính an toàn và hiệu quả của liệu pháp ghép tế bào gốc trung mô
từ mô dây rốn (UCB-MSC) (5x105 tb/con) trên mô hình chuột Swiss tổn thương gan do tắc mật
nhằm chỉ ra tiềm năng điều trị của tế bào trên bệnh lý tắc mật nói riêng và tổn thương gan nói
chung.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Đối tượng thí nghiệm
Chuột Swiss 6-8 tuần tuổi trọng lượng 25-30g (do Phòng thí nghiệm chăm sóc và sử
dụng Động vật, Viện tế bào gốc, trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia TPHCM cung
cấp) được phẫu thuật thắt ống dẫn mật (BDL) để tạo mô hình tổn thương gan do tắc ống dẫn
mật. Sau 7 ngày chuột có biểu hiện vàng tai, vàng đuôi sẽ được phân thành 2 nhóm thí nghiệm
(đối chứng tiêm PBS, ghép tế bào gốc UCB-MSC được cung cấp bởi Viện tế bào gốc, Trường
ĐH Khoa học tự Nhiên, ĐH Quốc gia TPHCM với liều 5x105 tế bào/con).
3.2. Tạo mô hình chuột tổn thương do tắc ống dẫn mật bằng phương pháp phẫu thuật
thắt ống dẫn mật (BDL)
Chuột nhịn đói 1 giờ trước khi tiến hành phẫu thuật thắt ống dẫn mật. Sau khi gây mê
(hỗn hợp thuốc mê Xylazine - Zoletil), cố định chuột trên khay, cạo lông và khử trùng vùng
bụng bằng thuốc sát khuẩn Povidine, tiến hành mở khoang bụng ngay vị trí ống mật chủ, dưới
cơ hoành. Xác định ống mật chủ, dùng chỉ vô trùng thắt chặt ống mật chủ ở 2 vị trí một là vùng
gần cửa gan và một ở vùng gần tá tràng (Hình 1). Mục đích của phương pháp này là gây tắc
ống dẫn mật làm mật bị ứ đọng trong gan, mô phỏng lại bệnh lý tắc mật ở người.
6
Nguyễn Minh Thư và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1), ...-...
Hình 1. Phẫu thuật thắt ống dẫn mật (BDL) ở chuột Swiss
3.3. Tiêm MSC
Chuột sau BDL 7 ngày được tiêm 1ml dịch huyền phù UCB-MSC (nồng độ
5x105tb/con) trong Ringer Lactat vào tĩnh mạch đuôi.
3.4. Đánh giá tỷ lệ sống sót, sự thay đổi khối lượng cơ thể và gan
Chuột được theo dõi về tình trạng sống/chết hằng ngày và cân đo khối lượng cơ thể theo
các mốc 3 ngày, 7 ngày, 19 ngày. Khối lượng gan được cân ở ngày thứ 19 sau BDL để tiến
hành đánh giá.
3.5. Đánh giá chỉ số bạch cầu để xác định tình trạng viêm ở chuột tổn thương gan
Máu tĩnh mạch được thu nhận và chuẩn bị tiêu bản máu trên lame, để tiêu bản khô tự
nhiên, cố định bằng cồn và nhuộm với thuốc nhuộm Giemsa để xác định công thức bạch cầu.
Để xác định số lượng bạch cầu tổng, máu được trộn trong ống trộn bạch cầu và đếm số
lượng trên buồng đếm.
3.6. Định lượng các chỉ số sinh hóa máu để đánh giá chức năng gan
Huyết thanh chuột được chuẩn bị từ 500 µl máu theo quy trình đông máu tự nhiên trong
1 giờ và ly tâm ở 3000rpm/30 phút để thu phần huyết thanh. AST (Aspartate transaminase),
ALT (Alanine tranaminase) trong huyết thanh được xác định bằng bộ kit SGOT/SGPT
(HUMAN Diagnostics, Germany) theo hướng dẫn của nhà sản xuất và máy đọc đĩa DTX 880
Multidector ở bước sóng 340nm. Albumin trong huyết thanh được xác định bằng bộ KIT
QuantiChrom TM BCG Albumin Assay kit (BioAssay Systems, USA) theo hướng dẫn của nhà
sản xuất và máy đọc đĩa DTX 880 Multidector ở bước sóng 620nm.
3.7. Đánh giá mô học
3.7.1. Nhuộm Hematoxylin và Eosin để đánh giá vùng viêm và hoại tử
Lát cắt mô được khử parafin sau đó nhuộm với Hematoxylin và Eosin. Hình ảnh mô
học được chụp bằng kính hiển vi AxioVision. Các vùng hoại tử được xác định bằng cách khoanh
vùng trên hình chụp bằng phần mềm Axio Vision SE64 Rel.4.9.1. Việc đo và tính toán vùng
hoại tử được tiến hành theo phương pháp mù (blinded).
3.7.2. Nhuộm Sirius Red để đánh giá sự tích luỹ collagen trong gan
Nguyễn Minh Thư và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1), ...-...
7
Lát cắt mô được khử parafin sau đó nhuộm với thuốc nhuộm Picrosirius Red F3B
(PolyScience, Mỹ) theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Các vùng bắt màu đỏ của thuốc nhuộm là
vùng dương tính collagen. Hình ảnh được chụp bằng kính hiển vi Axio Vision. Tỉ lệ diện tích
vùng dương tính colagen được tính bằng phần mềm ImageJ.
3.7.3. Nhuộm hóa mô miễn dịch (IHC) để đánh giá các protein gây viêm gan, xơ gan
Lát cắt mô gan được khử paraffin và phục hồi kháng nguyên bằng dung dịch đệm Tris
EDTA (pH=9). Nhuộm IHC theo quy trình của nhóm nghiên cứu (N. H. Truong, Trình, et al.,
2016) và nhân tế bào được nhuộm với Hematoxylin (Merck Millipore, Đức). Tỉ lệ diện tích
vùng dương tính colagen được tính bằng phần mềm ImageJ.
3.8. Phương pháp thống kê
Các số liệu trong thí nghiệm được xử lý bằng phần mềm GraphPad Prism 8: Phương
pháp thống kê student t-test. Khác biệt có ý nghĩa thống kê khi pvalue ≤ 0.05.
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Kết quả tạo mô hình chuột tổn thương do tắc ống dẫn mật bằng phương pháp
phẫu thuật thắt ống dẫn mật (BDL)
4.1.1. Biểu hiện hình thái bên ngoài
Kết quả thí nghiệm thắt ống dẫn mật tạo ra sự tắc nghẽn dòng chảy của mật xuống ruột
non khiến cho túi mật căng to do tích lũy các acid/muối mật. Chuột sau BDL thành công sẽ có
các biểu hiện rõ rệt về hình thái của bệnh lý viêm gan như vàng da (tai và đuôi) (Hình 2B) và
sụt cân.
A
B
Hình 2. So sánh hình thái bên ngoài của chuột thường (Normal) và chuột BDL sau 19 ngày
A: Chuột Normal tai, đuôi màu trắng
B: Chuột BDL có tai, đuôi màu vàng
4.1.2. Đánh giá tỷ lệ sống chết ở mô hình chuột thắt ống dẫn mật
8
Nguyễn Minh Thư và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1), ...-...
Biểu đồ 1. Tỉ lệ sống chết giữa nhóm Normal và nhóm BDL
Từ biểu đồ 1 cho thấy tỉ lệ sống của nhóm chuột Normal là 100% trong khi nhóm BDL
chỉ 66.67% sau 19 ngày thắt ống mật. Điều này chứng tỏ thắt ống dẫn mật gây tổn thương gan
dẫn tới tử vong ở chuột Swiss.
4.1.3. Kết quả sự thay đổi khối lượng cơ thể và gan
A
B
Biểu đồ 2. Sự thay đổi khối lượng cơ thể và gan giữa nhóm Normal và nhóm BDL
Biểu đồ 2 cho thấy chuột bình thường (Normal) tăng cân còn chuột tổn thương do tắc
ống dẫn mật (BDL) thì bị sụt cân (p<0.001). Chuột bị tổn thương gan có sự thay đổi về cân
nặng so với chuột bình thường.
Khối lượng gan ở chuột Normal nhỏ hơn so với chuột BDL (p<0.001) (biểu đồ 2).
4.1.4. Kết quả đánh giá chỉ số bạch cầu xác định tình trạng viêm ở chuột tổn thương
gan
Nguyễn Minh Thư và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1), ...-...
9
Biểu đồ 3. So sánh bạch cầu giữa nhóm Normal và nhóm BDL sau 19 ngày thắt ống dẫn mật
Nhóm chuột BDL có tỉ lệ bạch cầu tổng và bạch cầu trung tính tăng cao hơn so với
Normal (p>0.05) (Biểu đồ 3) chứng tỏ nhóm chuột BDL có xuất hiện phản ứng viêm.
4.1.5. Kết quả định lượng các chỉ số sinh hóa máu
Biểu đồ 4. Chỉ số sinh hóa máu giữa nhóm Normal và nhóm BDL
Kết quả ghi nhận cho thấy men gan AST/ALT tăng cao ở nhóm BDL so với nhóm
Normal (p<0.01) (Biểu đồ 4).
Albumin trên nhóm chuột BDL giảm so với chuột Normal (p<0.05) (Biểu đồ 4).
4.1.6. Kết quả đánh giá mô học
- Kết quả nhuộm Hematoxylin và Eosin
10 Nguyễn Minh Thư và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1), ...-...
Vùng hoại tử
Normal
BDL
Hình 3. Kết quả nhuộm H&E giữa nhóm Normal và nhóm BDL.
Kết quả mô học cho thấy, gan chuột BDL xuất hiện tình trạng viêm và hoại tử (Hình 3).
Kết quả này khác biệt so với Normal (p<0.01).
- Kết quả nhuộm Sirius Red
BDL
Normal
Dương tính
Hình 4. Kết quả nhuộm Sirius Red giữa nhóm Normal và nhóm BDL
Kết quả nhuộm collagen cho thấy nhóm BDL có các dãy xơ ở vùng có cấu trúc ống mật.
Kết quả này khác biệt với nhóm Normal (p<0.05).
- Kết quả nhuộm hóa mô miễn dịch (IHC) để đánh giá các protein gây viêm gan, xơ gan
• α-SMA
Dương tính
Dương tính
Normal
BDL
Hình 5. Kết quả nhuộm α-SMA giữa nhóm Normal và nhóm BDL
Nguyễn Minh Thư và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1), ...-... 11
Kết quả nhuộm IHC mô gan với kháng thể là α-SMA cho thấy nhóm BDL xuất hiện
nhiều vùng dương tính với α-SMA khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm Normal
(p<0.001).
4.2. Kết quả đánh giá tính an toàn và hiệu quả điều trị bằng MSC cho chuột bị tổn
thương gan do tắc ống dẫn mật
4.2.1. Ghép UCB-MSC cải thiện biểu hiện hình thái bên ngoài và gan chuột BDL
Chuột sau khi ghép tế bào gốc 12 ngày, có giảm vàng da (đuôi, tai), lông mượt (hình 6).
Hình 6. Chuột nhóm đối chứng (BDL-PBS) và nhóm tiêm MSC (BDL-MSC)
Sau 12 ngày, nhóm BDL-PBS xuất hiện các mảng xơ gan, gan nhạt màu trong khi nhóm
BDL-MSC thì đại thể gan đồng nhất màu đỏ đậm, ngoại trừ túi mật to thì không thấy rõ các
mảng xơ (Hình 7).
Hình 7. So sánh gan của chuột BDL-PBS và nhóm BDL-MSC
4.2.2. Ghép UCB-MSC cải thiện tỷ lệ sống chết ở mô hình chuột thắt ống dẫn mật
Biểu đồ 5. Tỉ lệ sống chết giữa nhóm BDL-PBS và nhóm BDL-MSC
12 Nguyễn Minh Thư và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1), ...-...
Từ biểu đồ 5 cho thấy tỉ lệ sống chết của nhóm chuột BDL-MSC có tỉ lệ sống cao
(100%) hơn nhóm BDL-PBS (66.67%) sau 19 ngày.
4.2.3. Sự thay đổi khối lượng cơ thể và khối lượng gan
Biểu đồ 6. Sự thay đổi khối lượng cơ thể và % gan so với khối lượng cơ thể giữa nhóm BDL-
PBS và nhóm BDL-MSC
Biểu đồ 6 cho thấy nhóm BDL-MSC cải thiện cân nặng tốt hơn so với nhóm BDL-PBS
tại thời điểm sau ghép 12 ngày (p<0.01). Kết quả tại thời điểm 19 ngày sau BDL, cả 2 nhóm
chuột đều giảm khối lượng, tuy nhiên nhóm BDL-PBS giảm khối lượng nhiều hơn so với nhóm
BDL-MSC (p<0.05)
Kết quả ghi nhận khối lượng gan trên 2 nhóm chuột không có sự khác biệt ý nghĩa thống
kê (p>0.05), mặc dù nhóm BDL-MSC có khối lượng gan trung bình thấp hơn so với nhóm
BDL-PBS.
4.2.4. Kết quả đánh giá chỉ số bạch cầu
Biểu đồ 7. So sánh bạch cầu giữa nhóm BDL-PBS và nhóm BDL-MSC
Nguyễn Minh Thư và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1), ...-... 13
Kết quả từ biểu đồ 7 sự thay đổi bạch cầu tổng không khác biệt có ý nghĩa trên 2 nhóm
thí nghiệm (p>0.05), trong khi đó nhóm BDL-PBS phục hồi số lượng bạch cầu trung tính
(p<0.05).
4.2.5. Định lượng các chỉ số sinh hóa máu
Biểu đồ 8. Chỉ số sinh hóa máu giữa nhóm BDL-PBS và nhóm BDL-MSC
Kết quả các chỉ số sinh hóa máu (Biểu đồ 8), men gan AST/ALT ở nhóm BDL-PBS ở
mức cao so với nhóm BDL-MSC, tuy nhiên kết quả khác biệt này không có ý nghĩa thống kê
(p>0.05). Trong khi đó, chỉ số Albumin nhóm BDL-MSC cải thiện tốt hơn so với nhóm chuột
BDL-PBS (p<0.001), kết quả này cho thấy nhóm chuột BDL-MSC phục hồi chức năng sản xuất
Albumin ở gan.
4.2.6. Kết quả đánh giá mô học
- Kết quả nhuộm Hematoxylin và Eosin
BDL-PBS
BDL-MSC
Vùng hoại tử
Vùng hoại tử
Hình 8. Kết quả nhuộm H&E giữa nhóm BDL-PBS và nhóm BDL- MSC
Kết quả nhuộm H&E cho thấy diện tích hoại tử ở gan trên nhóm BDL-MSC có cải thiện
so với nhóm BDL-PBS, khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0.05).
- Nhuộm Sirius Red để đánh giá lượng collagen trong gan
14 Nguyễn Minh Thư và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1), ...-...
BDL-PBS
BDL-MSC
Dương tính
Dương tính
Hình 9. Kết quả nhuộm Sirius Red giữa nhóm BDL-PBS và nhóm BDL-MSC
Kết quả nhuộm Sirius Red (Hình 9) cho thấy nhóm BDL-PBS có các dãy xơ lan rộng ở
vùng có cấu trúc ống mật trong khi các dãy xơ này giảm đáng kể ở nhóm BDL-MSC, điều này
cho thấy sự cải thiện hình thành collagen trên nhóm BDL-MSC, khác biệt này không có ý nghĩa
thống kê (p>0.05).
- Kết quả nhuộm hóa mô miễn dịch (IHC)
• α-SMA
BDL-MSC
BDL-PBS
Dương tính
Dương tính
Hình 10. Kết quả nhuộm α-SMA giữa nhóm BDL-PBS và nhóm BDL-MSC
Kết quả nhuộm IHC với kháng thể là α-SMA cho thấy nhóm BDL-MSC có ít vùng
dương tính protein α-SMA hơn so với nhóm BDL-PBS (p<0.01), việc ghép MSC có tác dụng
hạn chế sự biểu hiện α-SMA trên HSC (tế bào hình sao gan)
4.2.7. Bàn luận
Phẫu thuật BDL gây ra sự ứ mật trong gan, mật không xuống ruột gây ra sự thiếu hụt
dinh dưỡng, túi mật căng phồng chứa dịch mật bên trong, tăng nồng độ bilirubin trong máu gây
hiện tượng vàng da, nước tiểu vàng, phân bạc màu. Mật ứ đọng gây chết tế bào gan, viêm vùng
cửa, tăng sinh mạnh mẽ của các tế bào đường mật dẫn đến phản ứng ống dẫn mật (nhuộm
H&E), sự hoạt hóa của các tế bào hình sao sản xuất chất nền ngoại bào gây xơ hóa (nhuộm
Sirius Red). Thắt ống mật chủ (BDL) là một mô hình thực nghiệm thích hợp để nghiên cứu
đánh giá cơ chế sinh lý bệnh và điều trị xơ gan ứ mật. Mặc dù cơ chế xơ hóa ở gan ứ mật rất
Nguyễn Minh Thư và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1), ...-... 15
phức tạp, nhưng người ta đã xác định rõ rằng sự tích tụ của muối mật độc và kỵ nước trong gan,
làm thay đổi cân bằng oxy hóa có lợi cho sự gia tăng hoạt động của các loại oxy phản ứng
(ROS) và các chất tự do thúc đẩy phản ứng viêm, kích hoạt tế bào hình sao sản sinh collagen
gây xơ gan. Stress oxy hóa trong bệnh gan ứ mật đóng vai trò là mối liên hệ giữa tổn thương
gan và xơ hóa gan ở cả người và động vật (Ale-Ebrahim, Mahsa Eidi, Akram Mortazavi, Pejman
Tavangar, & Minai, 2015).
Kết quả biểu hiện ứ mật trong nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với các công bố:
Tag và cộng sự năm 2015 (Tag et al., 2015), Garrido và cộng sự năm 2017 (Garrido et al.,
2017), Yang và cộng sự năm 2015 (Yang et al., 2015). Tại thời điểm 7 ngày sau phẫu thuật
BDL, sự giảm khối lượng cơ thể chuột cùng xu hướng với công bố của Garrido và cộng sự
(2017) (Garrido et al., 2017), Ale-Ebrahim và cộng sự (2015) (Ale-Ebrahim et al., 2015). Ở
chuột bình thường và chuột cống khỏe mạnh, khối lượng gan/khối lượng cơ thể có tỷ lệ 4.5–
5%. Sự tắc nghẽn ống dẫn mật có liên quan đến tăng áp lực tĩnh mạch cửa gây lách to
(Kountouras, Billing, & Scheuer, 1984).
Kết quả men gan ALT, AST tăng cao cũng tương đồng với công bố Tag và cộng sự năm
2015 (Tag et al., 2015), Garrido và cộng sự năm 2017 (Garrido et al., 2017), Zhen và cộng sự
năm 2015 (Zhen et al., 2015), Lang và cộng sự năm 2018 (Lang et al., 2018), Ale-Ebrahim và
cộng sự (2015) (Ale-Ebrahim et al., 2015), Hargrove và cộng sự (2017) (Laura Hargrove et al.,
2017), Shin và cộng sự (2017) (Seung Kak Shin et al., 2017), Eshraghi và cộng sự (2015)
(Eshraghi, Eidi, Mortazavi, Asghari, & Tavangar, 2015). Tắc mật sau 21 ngày phẫu thuật BDL,
ALB ở chuột BDL giảm so với chuột bình thường (P<0,001) (Eshraghi et al., 2015).
Kết quả mô học H&E trong nghiên cứu này tương tự với các công bố của Shin và cộng
sự (2017) (Seung Kak Shin et al., 2017), nhuộm H&E của gan từ mô hình tổn thương mãn tính
cho thấy thâm nhiễm tế bào viêm gia tăng với hoại tử bắc cầu và sự xen kẽ của dãy sợi (S. K.
Shin et al., 2017). Công bố của L. Hargrove và cộng sự (2017) (Laura Hargrove et al., 2017),
chuột BDL có biểu hiện tăng hoại tử, viêm vùng cửa, sự gia tăng hầu hết các ống mật lớn cũng
được quan sát thấy sau BDL (L. Hargrove et al., 2017).
Kết quả nhuộm Sirius Red cho thấy sự tương đồng với công bố của Garrido và cộng sự
(2017) (Garrido et al., 2017), Vartak và cộng sự (2016) (Vartak et al., 2016), Yang và cộng sự
(2017) (Yang et al., 2015), Eshraghi và cộng sự (2015) (Eshraghi et al., 2015), Shin và cộng sự
(2017) (Seung Kak Shin et al., 2017) cho thấy kết quả nhuộm Sirius Red có sự tích tụ collagen
ở nhóm BDL. Trong mô hình tổn thương cấp tính, mức độ dương tính collagen (%) trong đối
chứng và BDL lần lượt là 0.22 ± 0.04%, 1.64 ± 0.53% (S. K. Shin et al., 2017), diện tích
collagen trên tổng diện tích mô gan trung bình là 2.5% ở nhóm đối chứng và 6.5% ở chuột BDL
ở tuần thứ 2 (p <0,001) (Garrido et al., 2017). Khi gan bị tổn thương, tế bào hình sao ở gan
(hepatic stellate cells) sẽ chuyển sang dạng hoạt hóa dưới tác động của các phân tử tín hiệu gây
viêm và chuyển dạng thành các nguyên bào sợi cơ (myofibroblast) tăng sinh nhanh và tăng tích
lũy collagen (Ale-Ebrahim et al., 2015)
Trong 7 ngày đầu BDL, nguyên nhân chết của nhóm mô hình là do nhiễm trùng ổ bụng
3.64% (2/55), áp xe 1.82% (1/55), vỡ túi mật 5.45% (3/55), nhiễm trùng huyết hoặc không rõ
lý do 3.64% (2/55). Tỷ lệ sống của nhóm đối chứng là 100%, tương đồng với nhiều nghiên cứu.
Tỷ lệ sống của nhóm mô hình sau 7 ngày và 19 ngày phẫu thuật lần lượt là 85.45% và 66.67%,
trên chuột cống, trọng lượng cơ thể 220-250g, nhóm đối chứng có tỷ lệ sống 100%, nhóm tạo
16 Nguyễn Minh Thư và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1), ...-...
mô hình BDL có tỷ lệ tử vong là 42.5% (17/40). Đa số tử vong xảy ra trong hai tuần đầu tiên
sau khi BDL và hầu hết các trường hợp tử vong là do vỡ ống mật hoặc rò rỉ mật, nhiễm trùng.
Tỷ lệ sống của nhóm mô hình là 66.67%, thấp hơn so với công bố Garrido và C. Escobar năm
2017 (Garrido et al., 2017), BDL chuột cống 3 tuần tuổi, khối lượng cơ thể 49.5g (48.3-55.6),
nhóm đối chứng có tỷ lệ sống 100% (21/21), nhóm tạo mô hình có tỷ lệ sống 90.5% (19/21),
thời gian thí nghiệm là 2-6 tuần. Công bố của Tag và cộng sự (Tag et al., 2015) phẫu thuật BDL
40 chuột nhắt đực có trọng lượng cơ thể 18-20g, tỷ lệ sống đạt 95% trong thời gian tiến hành
thí nghiệm là 3-60 ngày.
Khi tiến hành cấy ghép MSC cho nhóm chuột Swiss BDL bước đầu ghi nhận có sự thúc
đẩy quá trình phục hồi một phần chức năng gan và ức chế viêm gan thông qua việc giảm nồng
độ men gan trong máu, cải thiện nồng độ Albumin, giảm kích thước gan, giảm vàng da (đuôi
và tai) và giảm xơ trong mô gan. Tại thời điểm 12 ngày sau ghép, tỉ lệ sống sót của nhóm chuột
thắt mật được điều trị với nhóm điều trị MSC 5x105tb/con là 100%. Kết quả men gan ALT,
AST giảm ở nhóm điều trị bằng MSC so với nhóm đối chứng cho thấy có hiệu quả giảm viêm,
giảm sự hình thành các dãy xơ hóa ở gan, giảm AST và ALT, ổn định nồng độ Albumin huyết
thanh, dấu hiệu gan được phục hồi. Các kết quả cũng cho thấy sự tương đồng với các nhóm
nghiên cứu của Carvalho và cộng sự (2008) (Carvalho et al., 2008), Trương và cộng sự (N. H.
Truong, Nguyen, et al., 2016), Cho và cộng sự (Kyung‐Ah Cho et al., 2012) với công bố MSC
bảo vệ tế bào gan bằng cách giảm thiệt hại ROS do TAA gây ra cả in vivo và in vitro, MSC
vượt qua stress oxy hóa do CCl4. Kết quả nhuộm H&E và Sirius Red tương tự với công bố của
Quintanilha và cộng sự (Quintanilha et al., 2014) và Gressner và cộng sự (Gressner,
Weiskirchen, & Gressner, 2007), MSC giúp giảm xơ gan như giảm vùng hoại tử (6.11% so với
nhóm mô hình là 13.14%) và giảm sự tích tụ collagen (1.81% so với nhóm mô hình là 2.83%),
gen α-SMA cũng giảm hoạt động (1.06% so với nhóm đối chứng là 3.15%). Kết quả đánh giá
tại thời điểm ngày thứ 19 sau BDL (ngày thứ 12 sau khi tiêm MSC), chuột ở nhóm MSC cho
thấy có sự giảm viêm gan, chức năng gan có cải thiện so với nhóm BDL-PBS.
Trên thế giới có rất nhiều dẫn chứng từ các công trình nghiên cứu cho thấy hiệu quả
điều trị viêm gan từ các nguyên nhân khác nhau của MSC, từ các nguồn khác nhau như Zhao
và cộng sự sử dụng BM-MSC cùng loài để điều trị xơ gan do CCl4 trên (Zhao et al., 2018), Cho
và cộng sự nghiên cứu tiềm năng tái tạo mô gan của tế bào gốc trung mô. Gần đây nhất là
Wanatabe và cộng sự năm 2019 (Watanabe et al., 2019) sử dụng MSC kết hợp với yếu tố kích
thích đại thực bào factor-1 có nguồn gốc từ tủy xương để cải thiện và tái tạo xơ hóa ở gan. Shao
và cộng sự năm 2020 (Shao et al., 2020) dùng exosome có nguồn gốc từ UCB-MSC để cải thiện
tình trạng tổn thương gan cấp tính do IL-6 gây ra thông qua miR-455-3p. Angioni và cộng sự
năm 2020 (Angioni et al., 2020) nghiên cứu dùng các túi ngoại bào (extracellular vesicles-Evs)
từ tế bào gốc trung mô tủy xương người (BM-MSC) nhằm giảm viêm và xơ hóa gan ở chuột.
Các công trình nghiên cứu này là tiên phong trong việc tiếp cận điều trị bệnh gan từ MSC.
Trong nghiên cứu điều trị tình trạng tắc mật trên chuột bằng liệu pháp tế bào gốc trung mô của
chúng tôi cũng cho các kết quả tạo tiền đề để các nghiên cứu tiếp theo sâu hơn về chứng minh
cơ chế điều trị và mở ra triển vọng cho điều trị tồn thương gan nói chung và tổn thương gan do
tắc mật nói riêng.
5. Kết luận và gợi ý
Trong giới hạn của nghiên cứu, việc ghép MSC trên chuột tắc mật có tính an toàn, cải
thiện tỉ lệ sống của chuột (sau 12 ngày ghép). Tiêm MSC cải thiện chức năng gan, giảm tình
trạng viêm, hoại tử và xơ hoá gan trên mô hình chuột tổn thương gan do tắc mật.
Nguyễn Minh Thư và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1), ...-... 17
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia
(NAFOSTED) trong đề tài mã 108.05-2017.30.
Tài liệu tham khảo
Ale-Ebrahim, Mahsa Eidi, Akram Mortazavi, Pejman Tavangar, S. M. T., & Minai, D. (2015).
Hepatoprotective and antifibrotic effects of sodium molybdate in a rat model of bile
duct ligation. Journal of Trace Elements in Medicine and Biology, 29, 242-248.
Angioni, R., Calì, B., Vigneswara, V., Crescenzi, M., Merino, A., Sánchez-Rodríguez, R.,
Viola, A. (2020). Administration of Human MSC-Derived Extracellular Vesicles for the
Treatment of Primary Sclerosing Cholangitis: Preclinical Data in MDR2 Knockout
Mice. Molecular Sciences, 21(22).
Bates, M. D., Bucuvalas, J. C., Alonso, M. H., & Ryckman, F. C. (1998). Biliary atresia:
pathogenesis and treatment. Semin Liver Dis, 18(3), 281-293.
Carvalho, A. B., Quintanilha, L. F., Dias, J. V., Paredes, B. D., Mannheimer, E. G., Carvalho,
F. G., Resende, C. M. C. (2008). Bone marrow multipotent mesenchymal stromal cells
do not reduce fibrosis or improve function in a rat model of severe chronic liver injury.
Stem Cells, 26(5), 1307-1314.
Castillo, M., Liu, K., Bonilla, L., & Rameshwar, P. (2007). The immune properties of
mesenchymal stem cells. Int J Biomed Sciences, 3(2), 76-80.
Cho, K. A., Ju, S.-Y., Cho, S. J., Jung, Y.-J., Woo, S.-Y., Seoh, J.-Y., Ryu, K.-H. (2009).
Mesenchymal stem cells showed the highest potential for the regeneration of injured
liver tissue compared with other subpopulations of the bone marrow. Cell Biology
International, 33(7), 772-777.
Cho, K. A., Woo, S. Y., Seoh, J. Y., Han, H. S., & Ryu, K. H. (2012). Mesenchymal stem cells
restore CCl4‐induced liver injury by an antioxidative process. Cell Biology
International, 36(12), 1267-1274.
Eom, Y. W., Shim, K. Y., & Baik, S. K. (2015). Mesenchymal stem cell therapy for liver
fibrosis. Korean J Intern Med, 30(5), 580-589.
Eshraghi, T., Eidi, A., Mortazavi, P., Asghari, A., & Tavangar, S. M. (2015). Magnesium
protects against bile duct ligation-induced liver injury in male Wistar rats.
Researchgate, 28(1), 32-45.
Garrido, M., Escobar, C., Zamora, C., Rejas, C., Varas, J., Párraga, M., Montedónico, S. (2017).
Bile duct ligature in young rats: A revisited animal model for biliary atresia. European
journal of histochemistry : EJH, 61(3), 2803-2803.
Gressner, O. A., Weiskirchen, R., & Gressner, A. M. (2007). Evolving concepts of liver
fibrogenesis provide new diagnostic and therapeutic options. Comparative hepatology,
6(1), 1-13.
Hargrove, L., Kennedy, L., Demieville, J., Jones, H., Meng, F., DeMorrow, S., Francis, H.
(2017). Bile duct ligation–induced biliary hyperplasia, hepatic injury, and fibrosis are
reduced in mast cell–deficient KitW‐sh mice. Hepatology, 65(6), 1991-2004.
Jin, H. J., Bae, Y. K., Kim, M., Kwon, S.-J., Jeon, H. B., Choi, S. J., Chang, J. W. (2013).
Comparative analysis of human mesenchymal stem cells from bone marrow, adipose
tissue, and umbilical cord blood as sources of cell therapy. Int J Mol Sci, 14(9), 17986-
18001.
18 Nguyễn Minh Thư và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1), ...-...
Kountouras, J., Billing, B. H., & Scheuer, P. J. (1984). Prolonged bile duct obstruction: a new
experimental model for cirrhosis in the rat. Br J Exp Pathol, 65(3), 305-311.
Lang, E., Pozdeev, V. I., Shinde, P. V., Xu, H. C., Sundaram, B., Zhuang, Y., Lang, P. A.
(2018). Cholestasis induced liver pathology results in dysfunctional immune responses
after arenavirus infection. Scientific Reports, 8(1), 12179.
Liu, M. B., Huong, T. B., Hoang, X., Doan, L., Trinh, S., Anh Nguyen, H. P., Holterman, A.
X. (2017). Biliary atresia in Vietnam: Management and the burden of disease. Surgery,
161(2), 533-537.
Liu, T., Wang, X., Karsdal, M. A., Leeming, D. J., & Genovese, F. (2012). Molecular serum
markers of liver fibrosis. Biomark Insights, 7, 105-117.
Lou, G., Chen, Z., Zheng, M., & Liu, Y. (2017). Mesenchymal stem cell-derived exosomes as
a new therapeutic strategy for liver diseases. Exp Mol Med, 49(6), e346.
Nam, Y., Ko, S. K., & Sohn, U. D. (2019). Hepatoprotective effect of ultrasonicated ginseng
berry extract on a rat mild bile duct ligation model. Journal of Ginseng Research, 43(4),
606-617.
Quintanilha, L. F., Takami, T., Hirose, Y., Fujisawa, K., Murata, Y., Yamamoto, N., Sakaida,
I. (2014). Canine mesenchymal stem cells show antioxidant properties against
thioacetamide-induced liver injury in vitro and in vivo. Hepatology Research, 44(10),
E206-E217.
Shao, M., Xu, Q., Wu, Z., Chen, Y., Shu, Y., Cao, X., Yao, R. (2020). Exosomes derived from
human umbilical cord mesenchymal stem cells ameliorate IL-6-induced acute liver
injury through miR-455-3p. Stem cell researchtherapy, 11(1), 1-13.
Shin, S. K., Kwon, O. S., Lee, J. J., Park, Y. H., Choi, C. S., Jeong, S. H., Kim, J. H. (2017).
Effect of Rifaximin on Hepatic Fibrosis in Bile Duct-ligated Rat Model. The Korean
journal of gastroenterology, 70(5), 239-246.
Shin, S. K., Kwon, O. S., Lee, J. J., Park, Y. H., Choi, C. S., Jeong, S. H., Kim, J. H. (2017).
Effect of Rifaximin on Hepatic Fibrosis in Bile Duct-ligated Rat Model. Korean J
Gastroenterol, 70(5), 239-246.
Shinkai, M., Ohhama, Y., Take, H., Kitagawa, N., Kudo, H., Mochizuki, K., & Hatata, T.
(2009). Long-term outcome of children with biliary atresia who were not transplanted
after the Kasai operation: >20-year experience at a children's hospital. J Pediatr
Gastroenterol Nutr, 48(4), 443-450.
Tag, C. G., Sauer-Lehnen, S., Weiskirchen, S., Borkham-Kamphorst, E., Tolba, R. H., Tacke,
F., & Weiskirchen, R. (2015). Bile duct ligation in mice: induction of inflammatory
liver injury and fibrosis by obstructive cholestasis. Journal of visualized experiments:
JoVE(96).
Truong, G. D., Van, T. N., Anh, T. T. T., Binh, A. N., Tien, S. B., Tuan, K. L., Tien, T. N.
(2018). Kết quả nghiên cứu bước đầu sử dụng tế bào gốc tủy xương tự thân trong điều
trị xơ gan mất bù do virus viêm gan B. Tạp chí Y Dược lâm sàng, 13(7), 109-115.
Truong, N. H., Nguyen, N. H., Le, T. V., Vu, N. B., Huynh, N., Nguyen, T. V., Pham, P. V.
(2016). Comparison of the Treatment Efficiency of Bone Marrow-Derived
Mesenchymal Stem Cell Transplantation via Tail and Portal Veins in CCl4 - Induced
Mouse Liver Fibrosis. Stem Cells Int, 2016, 5720413.
Truong, N. H., Trình, L. V., Nam, N. H., Phúc, P. V., Ngọc, P. K., Đạt, N. Q., Thanh, N. V.
(2016). Đánh giá hiệu quả điều trị xơ gan của việc ghép tế bào gốc trung mô tủy xương
trên mô hình chuột. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 4(4).
Nguyễn Minh Thư và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1), ...-... 19
Ullah, I., Subbarao, Raghavendra B., & Rho, Gyu J. (2015). Human mesenchymal stem cells -
current trends and future prospective. Bioscience Reports, 35(2).
Vartak, N., Damle‐Vartak, A., Richter, B., Dirsch, O., Dahmen, U., Hammad, S., & Hengstler,
J. G. (2016). Cholestasis‐induced adaptive remodeling of interlobular bile ducts.
Hepatology, 63(3), 951-964.
Wang, M., Yuan, Q., & Xie, L. (2018). Mesenchymal Stem Cell-Based Immunomodulation:
Properties and Clinical Application. Stem Cells Int, 2018, 3057624.
Watanabe, Y., Tsuchiya, A., Seino, S., Kawata, Y., Kojima, Y., Ikarashi, S., Kawai, H. (2019).
Mesenchymal stem cells and induced bone marrow‐derived macrophages
synergistically improve liver fibrosis in mice. Stem cells translational medicine, 8(3),
271-284.
Yang, Y., Chen, B., Chen, Y., Zu, B., Yi, B., & Lu, K. (2015). A comparison of two common
bile duct ligation methods to establish hepatopulmonary syndrome animal models.
Laboratory animals, 49(1), 71-79.
Zhao, M., Li, P., Xu, H., Pan, Q., Zeng, R., Ma, X., Lin, H. (2018). Dexamethasone-Activated
MSCs Release MVs for Stimulating Osteogenic Response. Stem Cells Int, 2018,
7231739-7231739.
Zhen, Y.-Z., Li, N.-R., He, H.-W., Zhao, S.-S., Zhang, G.-L., Hao, X.-F., & Shao, R.-G. (2015).
Protective effect of bicyclol against bile duct ligation-induced hepatic fibrosis in rats.
World journal of gastroenterology, 21(23), 7155-7164.
Bạn đang xem tài liệu "Bước đầu đánh giá tác động của tế bào gốc trung mô từ dây rốn trên mô hình chuột tổn thương gan do tắc mật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
buoc_dau_danh_gia_tac_dong_cua_te_bao_goc_trung_mo_tu_day_ro.pdf

