Giải pháp tăng cường tưới tiên tiến, tiết kiệm nước trong điều kiện thực thi luật thuỷ lợi ở Việt Nam
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TƯỚI TIÊN TIẾN, TIẾT KIỆM NƯỚC
TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC THI LUẬT THUỶ LỢI Ở VIỆT NAM
Lê Văn Chính
Trường Đại học Thủy lợi
Tóm tắt: Khu vực nông nghiệp được tưới là hộ sử dụng nước lớn nhất trên thế giới nói chung
cũng như ở Việt Nam nói riêng. Cải thiện hiệu quả sử dụng nước trong khu vực nông nghiệp đã
và đang được quan tâm ở nhiều nước. Hiệu quả sử dụng nước từ công trình thuỷ lợi ngày càng
được quan tâm cải thiện trong bối cảnh nhu cầu dùng nước ngày càng cạnh tranh dưới áp lực
phát triển kinh tế xã hội và biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, tiếp cận quản lý cầu để nâng cao hiệu quả
sử dụng nước còn tương đối hạn chế.
Nghiên cứu này tập trung về nội dung tưới tiên tiến, nước tiết kiệm nước cho lúa và cây trồng cạn ở
Việt Nam và đã chỉ ra rằng kết quả đạt được là rất đáng ghi nhận. Diện tích một số cây trồng cạn có
giá trị kinh tế cao áp dụng tưới tiên tiến, tiết kiệm nước đã tăng gần 17 lần chỉ trong giai đoạn từ 2013-
2017, đạt mục tiêu đề ra của ngành. Tuy nhiên, diện tích lúa áp dụng tưới tiết kiệm nước còn rất hạn
chế với khoảng 5% diện tích đất canh tác lúa hai vụ và khó có khả năng đạt được mục tiêu của ngành
đến năm 2020. Căn cứ vào khung thể chế của Luật Thuỷ lợi mới ban hành và thực trạng tưới tiên tiến,
tiết kiệm nước cho cây trồng trong khu vực nông nghiệp, một số các giải pháp chính được đề xuất theo
tiếp cận quản lý cầu sử dụng nước gồm: ứng dụng công nghệ, cơ chế chính sách và quản lý vận hành
công trình để tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho cây trồng.
Từ khoá: tưới tiên tiến, tiết kiệm nước, quản lý cầu, sử dụng nước, công trình thuỷ lợi.
Summary: Irrigated agriculture is the largerst water user not only in Vietnam but also all over
the world. Improved water use efficiency in agriculture sector has been carried out carefully in
many countries. Water use efficiency in irrigation systems in Vietnam is increasingly considered
in the context of high water demand and climate change. However, demand management approach
for enhancing the water efficicency through water pricing, water saving technologies and
practices, and water user’s awareness remains limited.
This paper focuses on advanced irrigation and/or water saving irrigation for paddy and upland
crops in Vietnam. It points out that the application of advanced irrigation is considerable.
Advanced irrigation areas of cash crops like flowers, vegetables, coffee-trees, pepper-trees, etc.,
increase remarkable as much as 17 times from 2013 to 2017 maching the target of the sector.
However, advanced irrigation area of paddy, a largest water consuming crop, is still limited with
only 5% of paddy area. Based on research results and the legal framework given by the Law on
Hydraulic works, a number of solutions to advanced irrigation and water saving irrigation are
proposed toward water demand management approach.
Key words: advanced irrigation, water saving irrigation, demand management, water use.
1. GIỚI THIỆU*
cầu về nước ngày càng tăng nhanh dưới áp lực
của việc gia tăng dân số, quá trình đô thị hoá
và phát triển công nghiệp [Ghazali et al.,
2009]. Sự gia tăng về nhu cầu sử dụng nước
nước dẫn đến tình trạng khan hiếm nước ngày
Nguồn nước được xem là nhân tố sống còn cho
sự sống trên trái đất và đóng vai trò quan trọng
cho phát triển kinh tế. Trong thời gian qua, nhu
Ngày nhận bài: 02/4/2019
Ngày duyệt đăng: 05/6/2019
Ngày thông qua phản biện: 20/5/2019
1
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
càng trầm trọng ở nhiều nơi trên thế giới. Một
số nghiên cứu gần đây về quản lý nước chỉ ra
rằng khoảng 30% dân số của các nước đang
phát triển đang phải đương đầu và hứng chịu
tình trạng khan hiếm nước [Kijne et al., 2003].
hoàn thiện hệ thống thủy lợi, thúc đẩy áp dụng
tưới tiết kiệm nước phục vụ canh tác tiên tiến,
huy động sự tham gia của các thành phần kinh
tế trong đầu tư, quản lý, vận hành công trình.
Để giải quyết vấn đề này đòi hỏi các chính sách
đưa ra cần phải đổi mới và phù hợp theo xu
hướng quản lý cầu người sử dụng.
Bình quân hàng năm lượng nước sử dụng cho
nông nghiệp chiếm khoảng 70% tổng nhu cầu
sử dụng nước trên toàn cầu [Faurèsa et al.,
2003]. Ở Việt Nam, lượng nước tưới chiếm trên
82% tổng lượng nước sử dụng hàng năm [KBR.,
Bên cạnh các chính sách hiện hành hỗ trợ về
tưới tiên tiến, tiết kiệm nước, phát triển thuỷ lợi
nội đồng, kiên cố hoá kênh mương, Việt Nam
2009; MARD-BNNPTNT, 2004]. Khi nhu cầu đã ban hành Luật Thuỷ lợi, có hiệu lực từ năm
2018. Luật này đã tạo nền tảng cho việc phát
triển và quản lý hệ thống thuỷ lợi hiện đại và
bền vững về mặt tài chính, đảm bảo đáp ứng yêu
cầu về an ninh lương thực, quản lý rủi ro thiên
tai, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi
khí hậu. Luật Thuỷ lợi quy định khung pháp lý
cho việc cải thiện dịch vụ tưới tiêu thông qua
việc thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong quản
lý vận hành cải thiện số lượng và chất lượng
nguồn nước, cũng như hiệu quả khai thác công
trình thuỷ lợi (CTTL).
sử dụng nước của các ngành ngày càng có tính
cạnh tranh cao sẽ tạo áp lực và thách thức không
nhỏ cho việc phát triển nông nghiệp đứng trên
góc độ sử dụng nước. Vì vậy, sử dụng nước cho
khu vực nông nghiệp được xem là nhân tố quan
trọng dẫn đến khan hiếm nguồn nước. Do vậy,
sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả trong khu vực
nông nghiệp là rất cần thiết.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng nước trong các
ngành nói chung cũng như trong khu vực nông
nghiệp nói riêng, xu hướng sử dụng các công cụ
quản lý cầu nước ngày càng trở nên thông dụng
và chứng minh được tính ưu việt thay cho tiếp
cận quản lý cung về nước truyền thống như
trước kia. Quản lý cầu sử dụng nước bao gồm
các nội dung sau: (i) tái sử dụng nước trong và
ngoài hệ thống, (ii) công nghệ tiêu dùng, đặc
biệt là ở cấp sử dụng nước cuối cùng – hộ gia
đình, (iii) quy hoạch sử dụng đất nhất là ở cấp
lưu vực, (iv) giáo dục thuyết phục người sử
dụng nước tiết kiệm và (v) định giá nước.
Nghiên cứu này, tập trung về nội dung tưới tiết
kiệm nước trong các hệ thống thuỷ lợi sử dụng
công nghệ tiên tiến (sau đây gọi là tưới tiên tiến,
tiết kiệm nước) nhằm nâng cao hiệu quả và giá
trị khu vực trồng trọt.
Đã có nhiều nghiên cứu về sử dụng nước tiết
kiệm, hiệu quả trong khu vực nông nghiệp được
tưới ở Việt Nam. Tuy nhiên, chưa có một
nghiên cứu nào đưa ra những giải pháp để giải
quyết vấn đề trên trong bối cảnh thực thi Luật
Thuỷ lợi. Do vậy, mục tiêu tổng quát của nghiên
cứu này là nhằm đưa ra những cải thiện cho việc
nâng cao hiệu quả sử dụng nước trong các hệ
thống CTTL ở Việt Nam. Mục tiêu cụ thể bao
gồm: (i) Phân tích và đánh giá thực trạng tưới
tiên tiến, tiết kiệm nước cho các loại cây trồng
trong các hệ thống CTTL ở Việt Nam; (ii) Đề
xuất giải pháp nâng cao việc sử dụng hiệu quả
nước trong khu vực nông nghiệp được tưới
trong điều kiện thực thi Luật Thuỷ lợi.
2. PHƯƠNG PHÁP
Hiện nay ở Việt Nam, trong bối cảnh thực hiện
tái cơ cấu ngành nông nghiệp và biến đổi khí
hậu cần nâng cao hiệu quả khai thác công trình
thủy lợi, chủ động phòng, chống hạn hán, xâm
nhập mặn. Bên cạnh các giải pháp công trình,
cần đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế, chính sách
Khung nghiên cứu
Khung lý luận về tác động tưới tiết kiệm trong
khu vực nông nghiệp được tưới được xây dựng
để phân tích và lượng hoá hiệu quả sử dụng
nước từ hệ thống CTTL tại một số vùng, miền.
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
Nghiên cứu xem xét giả thuyết chính liên quan thông qua khảo sát thực địa và thông tin thứ
hoạt động tưới tiết kiệm nước đến hiệu quả sử cấp. Khung nghiên cứu được thể hiện ở Hình
dụng nước trong khu vực nông nghiệp được 1.
tưới. Giả thuyết này được đề cập và phân tích
Giả thuyết nghiên cứu:
Khung lý luận về tưới tiết kiệm
nước trong nông nghiệp
- Tưới tiết kiệm nước đóng vai trò quan trọng trong
việc cải thiện hiệu quả hiệu quả sử dụng nước trong
nông nghiệp được tưới
Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu điển hình tại hệ thống theo khu vực
- Điều tra, phỏng vấn
Phân tích, đánh giá
Hình 1: Khung nghiên cứu
Khảo sát và phân tích số liệu
Vị trí nghiên cứu
Các số liệu sơ cấp được khảo sát, thu thập tại 14
tỉnh, thông qua bảng câu hỏi, được thiết kế
trước và gửi lấy ý kiến của các địa phương.
Ngoài ra, còn tổ chức khảo sát, phỏng vấn trực
tiếp thông qua việc làm việc với Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh An
Giang, Lâm Đồng, Nam Định, Phú Thọ. Số liệu
được khảo sát bao gồm các nội dung về thực
trạng, kết quả tưới tiên tiến, tiết kiệm nước
trong khu vực nông nghiệp được tưới cho 2
nhóm cây trồng là lúa và cây trồng cạn; những
hạn chế tồn tại trong việc triển khai thực hiện
tưới tiết kiệm nước bao gồm cả khía cạnh kỹ
thuật và thể chế, chính sách.
Nghiên cứu này được thực hiện trên toàn quốc,
tập trung tại một số ở vùng trọng điểm về tưới
tiết kiệm nước cho lúa và cây trồng cạn ở Miền
núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Miền
Trung, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu
Long. Số liệu khảo sát sơ cấp được thực hiện
cho 14 tỉnh kết hợp với số liệu thứ cấp được
thực hiện trong toàn quốc về tưới tiết kiệm
nước trong nông nghiệp. Khảo sát số liệu sơ
cấp tại 14 tỉnh đặc trưng thuộc các vùng (i)
Miền núi phía Bắc (Hà Giang, Bắc Giang); (ii)
Đồng bằng sông Hồng (Vĩnh Phúc, Hà Nam,
Thái Bình, Nam Định); (iii) Miền Trung (Nghệ
An, Quảng Trị, Bình Định, Bình Thuận); (iv)
Tây Nguyên (Lâm Đồng, Đăk Nông, Kon
Tum); và (v) Đồng bằng sông Cửu Long (An
Giang).
Khảo sát này được thực hiện trong thời gian từ
tháng 3-6 năm 2018, số liệu lấy đến năm 2017,
thời điểm trước khi Luật Thuỷ lợi có hiệu lực
thi hành. Các khảo sát này được thực hiện nhờ
sự hỗ trợ của Tổng cục Thuỷ lợi, các Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn.
Trong nghiên cứu này, dữ liệu thu thập bao gồm
số liệu, tài liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp. Số liệu
thứ cấp bao gồm các văn bản, tài liệu, báo cáo
liên quan đến tưới tiên tiến, tiết kiệm nước ở cả
cấp Trung ương và địa phương. Luật Thuỷ lợi
và các văn bản liên quan về hướng dẫn, triển
khai thực hiện Luật Thuỷ lợi.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Luật Thuỷ lợi và các quy định về tưới
tiết kiệm nước cho khu vực nông nghiệp
Công tác thủy lợi đã góp phần quan trọng vào
quá trình phát triển kinh tế-xã hội, đưa Việt
3
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
Nam từ quốc gia thiếu lương thực, đã trở
thành một trong những nước xuất khẩu nông
nguồn nước hiệu quả theo tiếp cận quản lý
cầu.
sản hàng đầu tre
nước đứng trước thách thức lớn từ biến đổi
khí hậu, tác động của phát triển thuợng nguồn,
nguy co về an ninh nguồn nuớc, để có căn cứ
pháp lý bảo đảm phát triển bền vững công tác
thủy lợi, phục vụ đáp ứng yeu cầu của tái co
cấu nền kinh tế, phù hợp với co chế thị truờng
và hội nhạp quốc tế, Luật Thủy lợi (số
08/2017/QH14) đã được Quốc hội ban hành
và có hiẹu lực thi hành từ ngày 1/7/2018.
̂n thế giới. Trong bối cảnh đất
Hai là, xã hội hóa trong công trình thủy lợi
với mục tiêu huy động tối đa nguồn lực từ tư
nhân cho lĩnh vực này là nội dung chính và
điểm mới tiếp theo của Luật Thuỷ lợi. Theo
đó, Nhà nước chỉ tập trung đầu tư các công
trình thủy lợi quan trọng đặc biệt, công trình
thủy lợi lớn, kết hợp phục vụ quốc phòng, an
ninh, phòng, chống thiên tai; công trình ở
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn. Các hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm
đầu tư xây dựng thủy lợi nhỏ, nội đồng, nhưng
có chính sách hỗ trợ của Nhà nước khi xây
dựng.
̛
̛
̛
̂
̛
̛
̛
̂
̂
Sau khi Luật Thuỷ lợi được ban hành, một số
văn bản hướng dẫn thi hành Luật này liên quan
đến sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả cũng đã
được xây dựng và ban hành, cụ thể là: (i) Nghị
định 62/2018/NĐ-CP, quy định về hỗ trợ kinh
Ba là, thủy lợi phục vụ đa ngành, đa mục tiêu,
góp phần phòng, chống giảm nhẹ thiên tai, bảo
vệ môi trường sinh thái, thích ứng với biến đổi
khí hậu, nước biển dâng. Phân định rõ trách
nhiệm của các cơ quan ở Trung ương và chính
phí sử dụng sản phẩm, dịch vụ co
lợi; (ii) Nghị định 77/2018/NĐ-CP, quy định hỗ
trợ phát triển thủy lợi nhỏ, thủy lợi nọi đồng và
tuới tiên tiến, tiết kiệm nuớc; (iii) Nghị định
̂ng ích thủy
̂
̛
̛
96/2018/NĐ-CP, quy định chi tiết về giá sản quyền các cấp ở địa phương; quyền và trách
phẩm, dịch vụ thủy lợi và hỗ trợ tiền sử dụng nhiệm của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động
về lĩnh vực thủy lợi. Điều này hàm ý các chính
sách nâng cao hiệu quả sử dụng nước, bao gồm
cả tưới tiết kiệm nước cần các giải pháp tổng
thể, tiếp cận đa ngành và hướng về phía cầu sử
dụng nước.
sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi.
Những nội dung chính, điểm mới của Luật Thuỷ
lợi
Một là, chuyển từ cơ chế “thủy lợi phí” sang
“giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi” để thay đổi
nhận thức coi công tác thủy lợi mang tính
phục vụ sang tính dịch vụ. Đây là điểm mới
quan trọng đưa hoạt động thủy lợi tiếp cận
với cơ chế thị trường. Thực hiện cơ chế giá
sẽ làm thay đổi nhận thức của xã hội, gắn
trách nhiệm của bên cung cấp dịch vụ thủy
lợi và bên sử dụng dịch vụ thủy lợi. Đồng
thời nâng cao ý thức, trách nhiệm của người
sử dụng dịch vụ thủy lợi, góp phần sử dụng
hiệu quả dịch vụ, đặc biệt sử dụng nước tiết
kiệm. Đây là một điểm mới quan trọng thể
chế hoá các quan điểm, nguyên tắc quản lý
Những thách thức khi thực hiện Luật Thuỷ lợi
về sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả
Sử dụng nước có hiệu quả trong hệ thống CTTL
là một trong những nội dung lớn của ngành thuỷ
lợi, đặc biệt là trong bối cảnh thực hiện tái cơ
cấu ngành nông nghiệp theo định hướng nâng
cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, thích
ứng với biến đổi khí hậu. Đây cũng là nội dung
trọng tâm được quy định trong Luật Thuỷ lợi,
bao gồm các khía cạnh từ nguyên tắc, chính
sách đến các giải pháp ứng dụng khoa học công
nghệ, quản lý vận hành.
Bảng 1: Các điều, khoản liên quan đến tưới tiết kiệm, sử dụng nước hiệu quả
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
Điều
3
Tên điều
Khoản
4
Nội dung (tóm tắt)
Nguyên tắc trong hoạt động thủy lợi
Sử dụng nước tiết kiệm, an toàn, hiệu quả,
đúng mục đích; bảo đảm số lượng, chất
lượng nước trong công trình thủy lợi.
4
Chính sách của Nhà nước trong hoạt
động thủy lợi
3
Hỗ trợ tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng
mới, SCNC HTTL nhỏ, thủy lợi nội đồng;
hệ thống tưới tiên tiến, tiết kiệm nước; hệ
thống tưới, tiêu tiên tiến và hiện đại; hệ
thống xử lý nước thải để tái sử dụng.
5
6
Tiết kiệm nước trong hoạt động thủy 1, 2 Quy hoạch, quản lý, sử dụng nước tiết
lợi
kiệm, hiệu quả
Khoa học và công nghệ trong hoạt
động thủy lợi
2
Ứng dụng công nghệ tiên tiến để tiết kiệm
và tái sử dụng nước
25 Vận hành CTTL phục vụ sản xuất 1, 2, 4 Ứng dụng công nghệ, kỹ thuật tưới phù
nông nghiệp
hợp cho từng loại cây để tiết kiệm nước.
Vân hành đáp ứng quy trình kỹ thuật canh
tác tiên tiến, hiện đại, tiết kiệm, hiệu quả
34 Nguyên tắc và căn cứ định giá sản 1, 2, 3 Nguyên tắc và căn cứ định giá sản phẩm
phẩm dịch vụ, thuỷ lợi dịch vụ, thuỷ lợi
35 Thẩm quyền quyết định giá sản 1, 2, 3, Thẩm quyền quyết định giá sản phẩm, dịch
phẩm, dịch vụ thuỷ lợi
4
vụ thuỷ lợi
49 Yêu cầu phát triển thủy lợi nhỏ, thủy
lợi nội đồng
3
Áp dụng công nghệ, giải pháp kỹ thuật
tiên tiến, tiết kiệm nước, chống thất thoát
nước trong đầu tư xây dựng, quản lý, khai
thác.
54 Quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá 15 Sử dụng công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm
nhân khai thác CTTL
nước
55 Quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá
nhân sử dụng sản phẩm, dịch vụ thủy
lợi
2
Sử dụng nước tiết kiệm, an toàn, hiệu quả
Nguồn: Tổng hợp từ Luật Thuỷ lợi.
Như vậy, tổng cộng có tới 10 Điều (18 Khoản) trong lĩnh vực thuỷ lợi bao gồm từ quy hoạch,
trong tổng số 60 Điều của Luật Thuỷ lợi (chiếm đầu tư xây dựng đến quản lý, khai thác và sử
16,7% số Điều) quy định về các nội dung có liên dụng nước trong hoạt động thuỷ lợi đều phải
quan trực tiếp đến vấn đề sử dụng nước tiết tuân thủ nguyên tắc sử dụng nước tiết kiệm,
kiệm từ CTTL. Trong đó, có riêng một Điều 5 hiệu quả đúng mục đích. Nguyên tắc này cũng
quy định về nội dung tiết kiệm nước trong hoạt cũng là một trong 6 nguyên tắc được quy định
động thuỷ lợi. Theo đó, toàn bộ các hoạt động tại Khoản 4 Điều 3.
5
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
Trong 8 chính sách lớn của Nhà nước về hoạt nước. Trong đó vùng phát triển mạnh nhất là
động thuỷ lợi, việc sử dụng nước tiết kiệm, hiệu Đông Nam bộ (116.900 ha, tương đương với
quả liên quan đến 2 chính sách là về đầu tư và 42,3% diện tích toàn quốc) và Tây Nguyên
đào tạo nâng cao năng lực, ứng dụng khoa học (77.700 ha, 28,1%), cả hai vùng này chiếm 70%
công nghệ. Quản lý khai thác, trách nhiệm của diện tích cây trồng cạn được tưới tiên tiến tiết
các tổ chức cá nhân trong việc cung cấp và sử kiệm nước. Tiếp đến là các vùng đồng bằng
dụng nước tiết kiệm, hiệu quả cũng được quy sông Cửu Long 17%, Duyên hải Nam Trung bộ
định trong các điều 25, 54, 55. Đặc biệt, giá dịch 7% (Bảng 1).
vụ thuỷ lợi, một trong những công cụ quan
trọng và có hiệu quả trong việc kiểm soát và tạo
động lực cho người sử dụng nước tiết kiệm,
được quy định tại Điều 54 và 55 của Luật. Đây
là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xây dựng
và áp dụng cơ chế giá dịch vụ thuỷ lợi (quản lý
nước theo cầu sử dụng) ở Việt Nam trong thời
gian tới.
Bảng 1: Diện tích cây trồng cạn tưới tiên
tiến, tiết kiệm nước, phân theo vùng
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ so với cả
nước (%)
Vùng
MNPB
ĐBSH
BTB
9.122
2.040
3.3
0.7
5.893
2.1
3.2. Kết quả tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho
cây trồng cạn trên toàn quốc
NTB
18.228
77.710
116.891
46.210
276.094
6.6
TN
28.1
42.3
16.7
100.0
Theo số liệu báo cáo của các tỉnh, thành phố, tính
đến cuối năm 2017, diện tích cây trồng có tưới
tiên tiến, tiết kiệm nước trên cả nước tại đạt trên
276.000 ha. Trong vòng 5 năm, diện tích này đã
tăng gần 260.000 ha, từ 16.547 ha năm 2013 lên
276.000 ha năm 2017, gấp 16,7 lần, bình quân
gần 52.000 ha/năm. Tuy nhiên, diện tích cây
trồng cạn được tưới TT, TKN vẫn còn rất thấp so
với tổng diện tích cây trồng được tưới (8,9 triệu
ha), chỉ đạt 3,1% ở quy mô toàn quốc, và bằng
7% tổng diện tích cây trồng cạn.
DNB
ĐBSCL
Cả nước
Nguồn: Số liệu Tổng cục Thuỷ lợi, 2018
Hầu hết các cây trồng cạn (theo nhóm và loại cây
trồng) đã được tưới tiên tiến, tiết kiệm nước.
Theo nhóm cây trồng, cây trồng hàng năm và cây
trồng lâu năm chiếm 55% diện tích, trong đó
riêng cây trồng lâu năm là 35%. Đối với loại cây
trồng, cà phê và rau, hoa là được áp dụng tưới
tiên tiến, tiết kiêm nước nhiều nhất, chiếm 35%
diện tích, tiếp đó là đến chè, hồ tiêu (Bảng 2).
Đây cũng là các loại cây trồng cạn mang lại giá
trị kinh tế cao trên thị trường.
Về công nghệ, tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho
cây trồng cạn bao gồm 2 loại hình chính là tưới
nhỏ giọt và tưới phun mưa. Trong đó, tưới phun
mưa chiếm 79%, tưới nhỏ giọt chiếm 12%
(trong đó, nhỏ giọt kết hợp bón phân chiếm
50%), nhà lưới, nhà kính chiếm 9%. Phần lớn
công nghệ, thiết bị tưới có xuất xứ từ nước
ngoài (Israel, Đài Loan, Hàn Quốc,...) và chỉ
Hình 2: Diễn biến diện tích tưới tiên tiến,
tiết kiệm nước giai đoạn 2013 - 2017
Việc áp dụng tưới tiên tiến, tiết kiệm nước đã
được áp dụng ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
một phần nhỏ được sản xuất trong nước thông qua cải tiến công nghệ của nước ngoài.
Bảng 2: Diện tích tưới kiệm nước theo loại cây trồng, vùng áp dụng
Loại cây trồng
Cà phê
Chè
Diện tích (ha)
50.000
17.000
25.000
800
Vùng áp dụng chủ yếu
TN và Đông Nam bộ
TN và MNPB
Hồ tiêu
Điều
Đông Nam bộ và TN
Đông Nam bộ
Mía
12.000
14.000
6.000
Đông Nam bộ và Miền Trung
Đông Nam bộ, ĐBSCL, MNPB
ĐNB, ĐBSCL, DHNTB
ĐBSCL, MNPB
Cam
Xoài
Chuối
Sắn
1.700
17.400
7.000
Đông Nam bộ và ĐBSCL
Đông Nam bộ và ĐBSCL
TN, ĐBSCL và Đông Nam bộ
Ngô
Rau và hoa
47.000
Nguồn: Số liệu Tổng cục Thuỷ lợi, 2018
Bảng 3: Diện tích lúa tưới tiết kiệm nước,
theo vùng
3.3. Kết quả tưới tiết kiệm nước cho lúa trên
toàn quốc
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ so với cả
nước (%)
Vùng
Lúa là cây trồng chủ đạo có diện tích canh tác
lớn nhất trong số các cây nông nghiệp ở Việt
Nam. Trong 5 năm qua, diện tích trồng lúa
được tưới hàng năm bình quân dao động
khoảng 7,2 triệu ha trong tổng số 3,2 triệu ha
đất canh tác lúa 2 vụ. Đây cũng là cây trồng
sử dụng nước lớn nhất theo biện pháp canh tác
truyền thống là tưới ngập. Trong thời gian
qua, một số biện pháp tưới tiết kiệm cho lúa
đã được ứng dụng như: Nông - Lộ - Phơi, tưới
khô ẩm xen kẽ (AWD) và hệ thống thâm canh
lúa cải tiến (SRI), trong đó SRI là hình thức
canh tác lúa bao gồm cả việc ứng dụng tưới
tiết kiệm nước.
MNPB
ĐBSH
BTB
13.820,1
56.301,7
20.009,1
8.021,0
0,7
8,4
34,2
12,1
4,9
NTB
TN
0,0
DNB
-
0,0
ĐBSCL
Cả nước
66.700,0
164.852,6
40,5
100.0
Nguồn: Số liệu Tổng cục Thuỷ lợi, 2017
Đến hết năm 2017, theo số liệu của các tỉnh trên
toàn quốc, cả nước có 164.800 ha lúa được tưới
tiết kiệm nước có áp dụng công nghệ tưới tiên
7
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
tiến (AWD), kết hợp với tưới tiết kiệm truyền lớn nhất so với cả nước (chiếm 41% và 34%).
thống (Nông - Lộ - Phơi). Như vậy đến thời Tiếp theo là Bắc Trung Bộ với 12%. Khu vực
điểm hết năm 2017, tỷ lệ diện tích lúa được tưới Tây Nguyên và Đông Nam Bộ hầu như chưa có
tiên tiến, tiết kiệm nước mới chiếm khoảng diện tích lúa được tưới tiết kiệm nước.
5,2% diện tích đất canh tác lúa 2 vụ (3,2 triệu
ha) trên cả nước. Diện tích lúa được tưới tiên
3.4. Kết quả thực hiện tại một số địa phương
trong vùng khảo sát
tiến, tiết kiệm nước có sự khác biệt tương đối
Trong 14 tỉnh khảo sát về tưới tiên tiến, tiết
lớn giữa các vùng, miền. Khu vực đồng bằng
kiệm nước cho cây trồng, có Hà Giang chưa
với lợi thế về địa hình, quy mô và cơ sở hạ tầng
triển khai cho cả lúa và cây trồng cạn. Có 03
thuỷ lợi nội đồng có thể kiểm soát được lượng
tỉnh (Bình Thuận, Đăk Nông, Kon Tum) mới áp
nước tưới có tỷ lệ diện tích được tưới tiết kiệm
dụng tưới tiết kiệm nước cho cây trồng cạn còn
nước lớn hơn hẳn so với các vùng còn lại. Cụ
10 tỉnh còn lại đã áp dụng tưới tiết kiệm nước
thể là đồng bằng Sông Cửu Long và Đồng bằng
cho cả lúa và cây trồng cạn với quy mô khác
Sông Hồng, hai vựa lúa của cả nước cũng là 2
nhau từ một vài ha đến vài chục nghìn ha.
vùng có diện tích lúa được tưới tiết kiệm nước
Bảng 4: Diện tích tưới tiên tiến, tiết kiệm nước trong vùng khảo sát
Diện tích cây trồng
được tưới (ha)
43.355,0
DT lúa được tưới tiết
kiệm nước (ha)
-
DT cây trồng cạn được
Tỉnh
tưới tiết kiệm nước (ha)
Hà Giang
Bắc Giang
Hà Nam
-
131.100,0
1.086,0
3.009,0
156,1
500,0
26,2
77.970,0
1.200,0
Nam Định
Thái Bình
Vĩnh Phúc
Nghệ An
Quảng Trị
Bình Định
Bình Thuận
DakNong
Lâm Đồng
Kontum
187.450,0
3.120,0
187.105,0
7.706,0
78.200,0
194.120,0
54.510,0
1.500,0
1.690,0
1.850,0
775,0
-
121,0
1.705,0
218,9
100.280,0
105.800,0
9.775,0
1.700,0
17.982,0
1.500,0
51.799,0
7.052,0
6.338,0
92.107,2
-
334.650,0
14.260,0
0,7
-
An Giang
Tổng
755.550,0
2.274.125,0
15.500.0
34.427,7
Nguồn: Số liệu khảo sát năm 2018
Tổng diện tích cây trồng cạn áp dụng tưới phun diện tích cây trồng được tưới là 4,1% cao hơn
mưa hoặc nhỏ giọt trong khu vực nghiên cứu là mức bình quân toàn quốc năm 2018 là 3,1%.
92.100 ha chiếm 34,5% diện tích cây trồng cạn Đối với lúa, diện tích lúa được tưới tiết kiệm
được tưới tiết kiệm nước toàn quốc. Kết quả nước trong vùng nghiên cứu là 34.400 ha,
khảo sát cho thấy, tỷ lệ diện tích cây trồng cạn chiếm 21% diện tích lúa được tưới tiết kiệm
được tưới trong vùng nghiên cứu so với tổng trong vùng nghiên cứu. Tỷ lệ diện tích lúa được
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
tưới tiết kiệm nước so với tổng diện tích cây mía), giảm đáng kể chi phí công lao động để
trồng được tưới trong vùng nghiên cứu là 1,5%, tưới và chăm sóc, tăng thu nhập của hộ gia đình
thấp hơn tỷ lệ này của toàn quốc là 1,85%.
từ 20%-50% và tiết kiệm nước so với tưới
truyền thống từ 20% - 40%; giảm nguy cơ ô
nhiễm môi trường do giảm lượng phân bón (từ
5-30%) trong quá trình canh tác.
Diện tích lúa được tưới tiên tiến, tiết kiệm nước
tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc khu vực
Đồng bằng sông Hồng (31%) và Đồng bằng
sông Cửu Long (46%). Qua khảo sát đây cũng
là những vùng có hệ thống thuỷ lợi tương đối
hoàn chỉnh, đặc biệt là hệ thống thuỷ lợi nội
đồng cơ bản hoàn thiện, mặt ruộng tương đối
bằng phẳng giúp cho việc quản lý tưới, tiêu
được kiểm soát dễ dàng, thuận lợi cho áp dụng
phương thức canh tác lúa tiên tiến (SRI, 1 phải
5 giảm) có áp dụng biện pháp tưới AWD. Đối
với cây trồng cạn, diện tích tưới tiên tiến, tiết
kiệm nước có kết hợp bón phân được thực hiện
ở nhiều tỉnh trong vùng khảo sát. Tuy nhiên,
phần lớn tập trung ở khu vực miền núi, Tây
Nguyên, đặc biệt là tỉnh Lâm Đồng, chiếm tới
56% trong 14 tỉnh khảo sát. Các cây trồng cạn
tưới tiên tiến, tiết kiệm nước chủ yếu là rau, hoa,
cây trồng cạn có giá trị kinh tế cao.
Đối với cây lúa, hệ thống thâm canh lúa cải
tiến (SRI) đã được ứng dụng tại Việt Nam từ
năm 2003 và liên tục được mở rộng tại nhiều
địa phương. Đến năm 2014, đã có khoảng 30
tỉnh, thành phố triển khai ứng dụng SRI, với
tổng diện tích trên 367.000 ha. Trong đó, diện
tích áp dụng SRI toàn phần (có áp dụng kỹ
thuật tưới tiên tiến, tiết kiệm nước) khoảng
100.000 ha (chiếm gần 30%). Phương thức
SRI được chứng minh có hiệu quả vượt trội
so với canh tác truyền thống, như: lượng thóc
giống giảm từ 40-70%, phân đạm giảm 20-
28%, tăng năng suất bình quân 9-15%, giảm
chi phí bảo vệ thực vật 39-62%, giảm lượng
nước tưới từ 20-30% so với sản xuất truyền
thống. Kết quả về tiết kiệm nước tưới cho lúa
này tương tự như kết quả nghiên cứu của
Phạm Tất Thắng và Lê Văn Hùng [2012],
Đoàn Doãn Tuấn [2011] và nghiên cứu thực
nghiệm của Nguyễn Việt Anh và Trần Viết Ổn
[2009].
3.5. Hiệu quả áp dụng tưới tiên tiến, tiết kiệm
nước cho cây trồng
Cả lý luận và thực tiễn trong những năm qua
cho thấy, bên cạnh các công nghệ, biện pháp
thực hành nông nghiệp tiên tiến khác, áp dụng
công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước đã đóng
góp hữu hiệu vào phát triển nền nông nghiệp
hiện đại và tạo ra sản phẩm sạch. Qua đó, góp
phần nâng cao giá trị gia tăng, ứng phó với biến
đổi khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường cũng
như tạo ra tiền đề quan trọng để hoạch định các
chính sách khai thác hiệu quả hơn tiềm năng
đất, nước. Hiệu quả này được thể hiện quả các
mặt chủ yếu sau:
Ứng phó với hạn hán và biến đổi khí hậu, bảo
vệ môi trường
Tưới tiết kiệm nước ở những vùng bị ảnh hưởng
mạnh mẽ bởi hạn hán, xâm nhập mặn và biến
đổi khí hậu như Tây Nguyên, Duyên hải miền
Trung, Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu
Long, ngày càng được người dân quan tâm, áp
dụng rộng rãi. Đặc biệt là với cây trồng cạn, tỷ
lệ ứng dụng tăng rõ rệt, nhất là sau năm 2016
(tăng từ 37% - 236% với tỷ lệ tăng cao nhất diễn
ra ở các vùng bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi hạn
hán và xâm nhập mặn năm 2016 là Tây Nguyên
(236%) và Đồng bằng sông Cửu Long (115%).
Thực tế này cho thấy tưới tiết kiệm nước đã và
đang chứng tỏ là một giải pháp thích hợp để chủ
động thích ứng, ứng phó hiệu quả với hạn hán,
Tăng hiệu quả sản xuất, hiệu quả sử dụng tài
nguyên đất và nước
Áp dụng công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm
nước cho cây trồng đã mang lại hiệu quả rõ rệt
và thiết thực về nhiều mặt: tăng năng suất cây
trồng từ 10% - 50% tùy theo loại cây trồng
(thậm chí có thể tăng 80-120% như đối với cây
9
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
thiếu nước, xâm nhập mặn và biến đổi khí hậu. trồng cạn được áp dụng công nghệ tưới tiết
kiệm nước đạt gần 450.000 ha. Đặc biệt là sự
phát triển và tăng trưởng về diện tích tưới tiết
Tạo cơ sở để khai thác hiệu quả tiềm năng đất
dốc, đất cát, sa mạc hóa, hoang hóa
kiệm nước cho cây trồng cạn có giá trị kinh tế
Tưới tiết kiệm nước sử dụng hệ thống đường
cao. Chỉ trong vòng 5 năm từ 2013-2017, diện
ống đã và đang tạo sự đổi mới trong tư duy và
tích cây trồng cạn được áp dụng công nghệ tưới
biện pháp thủy lợi ngay trên những vùng có
tiết kiệm nước tăng gần 17 lần, bình quân
tiềm năng về diện tích nhưng không thuận lợi
52.000 ha. Với diện tích tưới tiên tiến cho cây
cho sản xuất nông nghiệp thông thường. Đó là
trồng cạn năm 2017 đạt 276.000 ha đã đạt và
vùng đất dốc vùng đồi núi, đất cát ven biển, sa
vượt mục tiêu (200.000 ha) trong Đề án nâng
mạc và hoang hóa. Đã có những mô hình tưới
cao hiệu quả quản lý khai thác CTTL, và có khả
tiết kiệm nước ở những vùng này mang lại hiệu
năng đạt mục tiêu đặt ra đạt 500.000 ha năm
quả, điển hình như hàng trăm mô hình tưới tiết
2020.
kiệm nước cho cà phê, hồ tiêu và cây ăn quả
trên đất dốc ở Tây Nguyên, Đông Nam bộ; mô
hình tưới tiết kiệm nước cho 300 ha chuối trên
đất đồi huyện Bảo Thẳng, tỉnh Lào Cai; mô hình
Với hiệu quả và lợi ích lớn từ việc áp dụng biện
pháp tưới tiết kiệm nước cho các cây trồng cạn
có giá trị kinh tế cao cũng như những chính
sách hỗ trợ của Nhà nước đã thu hút sự tham gia
tưới cho trên 50 ha rau, củ, quả trên vùng đất
ngày càng nhiều của doanh nghiệp, tổ chức kinh
cát hoang hóa ven biển huyện Thạch Hà, tỉnh
tế tập thể và người dân. Do những ưu điểm vượt
Hà Tĩnh; hàng trăm mô hình tưới tiết kiệm nước
trội, công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước
cho rau quy mô hộ gia đình trên vùng đất cát
luôn là mối quan tâm, lựa chọn của doanh
huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
nghiệp để ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp
Góp phần cải thiện diện mạo, phát triển bền
vững nông thôn mới
sạch, thông minh trong quá trình sản xuất theo
chuỗi giá trị nông sản để năng suât, chất lượng,
Công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cùng tăng tính cạnh tranh của sản phẩm. Bên cạnh đó,
với các giải pháp công nghệ về giống, phân bón, ưu thế về vốn và khả năng tiếp cận công nghệ
tự động hóa đã được ứng dụng hiệu quả cao, giúp nhiều doanh nghiệp lớn đã chọn nông
góp phần cải thiện đáng kể diện mạo, phát triển nghiệp công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao
nông thôn mới. Điển hình là các mô hình nông với sự kết hợp và ứng dụng đồng bộ giữa công
thôn mới áp dụng hệ thống tưới tiết kiệm nước nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước với các công
ở Lâm Đồng, Đồng Nai, Hà Tĩnh,.... Ứng dụng nghệ khác, cơ giới hóa, tự động hóa,... làm một
công nghệ tưới tiết kiệm nước đã được một số trong những hướng đi chính và đã đạt được
địa phương xem là một trong các tiêu chí về mô những thành công rõ rệt, trở thành những
hình nông thôn mới kiểu mẫu.
thương hiệu lớn trên thị trường. Một số doanh
nghiệp lớn liên kết sản xuất với các hộ nông dân
là đầu tàu phát triển tưới tiết kiệm nước cho
những vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ
3.6. Một số phát hiện
Kết quả đạt được và nguyên nhân
Trong thời gian qua, diện tích cây trồng áp dụng cao có quy mô lớn. Tập đoàn TH True Milk đầu
tưới tiết kiệm nước ở Việt Nam có sự gia tăng tư tưới cho trên 700 ha cỏ, ngô phục vụ sản xuất
rất mạnh mẽ. Cả lúa và cây trồng cạn đều được thức ăn thô xanh để nuôi bò sữa), Hoàng Anh
người dân và các địa phương trên toàn quốc Gia Lai, đầu tư trên 12.500 ha diện tích nhiều
quan tâm áp dụng các biện pháp canh tác tiên loại cây trồng khác nhau như cao su, cở, xoài,
tiến, trong đó có sử dụng công nghệ tưới tiên thanh long, ớt, chuối,…).
tiến, tiết kiệm nước. Tổng diện tích lúa và cây
Bên cạnh các doanh nghiệp lớn, ngày càng
10
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
nhiều doanh nghiệp nông nghiệp vừa và nhỏ, Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc áp
HTX nông nghiệp ở nhiều địa phương (Lâm dụng tưới tiết kiệm nước cho cây trồng còn rất
Đồng với trên 7000 ha rau, hoa), đã mạnh dạn hạn chế, nhất là cho lúa. Tỷ lệ diện tích cây
tham gia, ứng dụng công nghệ tưới tiên tiến, tiết trồng được tưới tiết kiệm nước của cả nước mới
kiệm nước cũng như các biện pháp thực hành chiếm khoảng 5% tổng diện tích cây trồng được
nông nghiệp tiên tiến khác để nâng cao hiệu quả tưới, trong vùng nghiên cứu tỷ lệ này là 5,6%
sản xuất, kinh doanh, để làm giàu. Nhiều hộ còn rất thấp, đặc biệt là lúa (chưa đến 2%) so
nông dân cũng đã nhạy bén, mạnh dạn, chủ với quy mô và lợi thế tiềm năng có thể đem lại
động đầu tư, áp dụng công nghệ tưới tiên tiến, từ trồng trọt. Mục tiêu đặt ra đến năm 2020, có
tiết kiệm nước trong sản xuất nông nghiệp. Năm 30% diện tích canh tác lúa được tưới tiết kiệm
2017, ước tính có hàng trăm ngàn hộ gia đình. nước rất khó khả năng đạt được.
Phần lớn diện tích tưới tiên tiến, tiết kiệm nước
cho cây trồng cạn đạt được là do người dân tự
Hạn chế về chính sách tưới tiết kiệm nước: Hiện
đã có nhiều chính sách nhằm phát triển nông
đầu tư, áp dụng. Tốc độ gia tăng liên tục và duy
nghiệp cũng như một số chính sách khuyến
trì ở mức cao diện tích này (như đã nêu ra ở
khích ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước
trên) cho thấy ngày càng nhiều hộ gia đình,
của nhà nước được triển khai thực hiện. Tuy
người dân áp dụng. Một số nghiên cứu của
nhiên, các cơ chế chính sách của nhà nước còn
Douglas [2018] chỉ ra rằng tăng cường áp dụng
nhiều hạn chế, thủ tục vay vốn còn nhiều khó
công nghệ tưới tiết kiệm nước thông qua các
khăn; người dân tiếp cận các cơ chế, chính sách,
hình thức tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt hoặc tái
ưu đãi trong tưới tiết kiệm nước còn nhiều hạn
sử dụng nước thải để tưới cho cây trồng cũng là
chế. Một số chính sách hỗ trợ được ban hành,
một trong những biện pháp canh tác hữu hiệu ở
tuy nhiên trong quá trình triển khai chưa có sự
Israel và Saudi Arabia.
phối hợp đồng bộ của các cơ quan chuyên môn
Kết quả khảo sát cho thấy, trên địa bàn các tỉnh
thực hiện khảo sát, đã có nhiều chính sách nhằm
phát triển nông nghiệp cũng như một số chính
sách khuyến khích ứng dụng công nghệ tưới tiết
kiệm nước của nhà nước được triển khai thực
hiện. Cụ thể là Về chính sách tín dụng phục vụ
phát triển nông nghiệp nông thôn (Nghị định
55/2015/NĐ-CP), chính sách hỗ trợ nhằm giảm
tổn thất trong nông nghiệp (Quyết định
68/2013/QĐ-TTg), ưu đãi đối với hoạt động sử
dụng nước tiết kiệm, hiệu quả (Nghị định
54/2015/NĐ-CP). Trong những năm gần đây,
ngày càng nhiều các dự án tưới tiết kiệm nước
theo phương pháp nhỏ giọt và phun mưa bắt đầu
được triển khai tại các địa phương như Lâm
Đồng, Gia Lai, Đăk Lăk, Đồng Nai… với nhiều
loại cây trồng khác nhau theo các mô hình: Nhà
nước đầu tư 100%, Nhà nước hỗ trợ một phần
thông qua chương trình cụ thể, do người dân
hoặc doanh nghiệp tự đầu tư.
ở cả Trung ương và địa phương. Do vậy, hiệu
ích của chính sách đã không tới được với những
đối tượng hưởng lợi. Ngoài ra, nhiều đối tượng
hưởng lợi từ chính sách không được cung cấp
thông tin hoặc có thông tin không đầy đủ nên
khó có cơ hội tiếp cận đến chính sách.
Hiện có ít nhất 5 văn bản quy phạm pháp luật
quy định liên quan đến việc sử dụng nước hiệu
quả, tiết kiệm. Điều này cho thấy sự chưa đồng
bộ, tản mát trong việc ban hành chính sách
khiến cho việc theo dõi, tổng hợp làm cơ sở cho
việc đánh giá, điều chỉnh chính sách phù hợp
với thực tiễn khó khăn. Ngoài ra, sự chồng chéo
trong quá trình thực thi, đặc biệt là về kinh phí,
đối tượng và cơ chế có thể xảy ra, ảnh hưởng
đến hiệu quả của chính sách. Điều này đặt ra
vấn đề là có thể cần đến một văn bản hướng dẫn
chung, tích hợp cho tất cả các chính sách liên
quan đến sử dụng nước hiệu quả, tiết kiệm.
Chính sách tạo động lực ứng dụng khoa học
Một số khó khăn và hạn chế
11
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
công nghệ trong thuỷ lợi, đặc biệt tưới tiên tiến mương nội đồng đạt chưa đến 20%. Công trình
tiết kiệm nước còn thiếu. Qua khảo sát cho thấy, nội đồng vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn
các cơ chế chính sách chưa tạo được mối gắn rất manh mún và không đồng đều, chưa đáp ứng
kết giữa các doanh nghiệp với nông dân trong được cho nhu cầu chuyển dịch cơ cấu mùa vụ,
thực hiện chính sách hỗ trợ. Chính sách hỗ trợ cây trồng và vật nuôi. Tại khu vực Miền núi
nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp theo phía Bắc, Miền trung và Tây Nguyên, nhiều
Quyết định 68/2013/QĐ-TTg có dư nợ còn rất CTTL hiện có phần lớn được xây dựng từ lâu,
hạn chế, nhất là sử dụng để lắp đặt hệ thống tưới chưa hoàn chỉnh và đã xuống cấp. Nhiều công
tiết kiệm nước. Các ngân hàng thương mai trình là phai đập tạm cấp nước theo thời vụ,
không mặn mà cho vay theo Quyết định này do không ổn định. Công trình dẫn nước không
phải đợi cấp bù lãi suất thấp.
hoàn chỉnh, hầu hết là kênh đất không đảm bảo
mặt cắt thiết kế nên tổn thất lớn và xuống cấp.
Chính sách hiện tại chưa thu hút được sự vào
cuộc mạnh mẽ của khu vực tư nhân, nhất là các
doanh nghiệp, hợp tác xã. Số lượng doanh
nghiệp quan tâm ứng dụng công nghệ tưới tiên
tiến, tiết kiệm nước còn rất hạn chế; giá thành
công nghệ, thiết bị tưới còn cao so với thu nhập
của phần lớn người dân, trong khi thị trường
tiêu thụ còn nhiều bất ổn, chưa hình thành được
các chuỗi sản xuất ổn định. Các thủ tục để thực
hiện hỗ trợ đối với tưới tiết kiệm nước (phải
đảm bảo thiết kế được phê duyệt, đúng quy
hoạch…) vẫn còn quá khả năng của người dân.
Nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn ở
trên: Nhận thức của một bộ phận cán bộ ở một
số địa phương, người dân về sử dụng nước hiệu
quả, tiết kiệm, ứng dụng công nghệ tưới tiên
tiến, tiết kiệm nước còn hạn chế; vẫn còn chưa
thực sự tin tưởng vào hiệu quả đầu tư áp dụng
hệ thống tưới tiết kiệm nước; tâm lý trông chờ,
ỷ lại vào Trung ương vẫn còn phổ biến.
Công tác tuyên truyền, phổ biến sử dụng nước
hiệu quả, tiết kiệm, áp dụng công nghệ tưới tiên
tiến, tiết kiệm nước ở nhiều địa phương chưa
được thường xuyên; chưa coi tưới tiên tiến, tiết
kiệm nước là một giải pháp căn cơ để phát triển
nông nghiệp của địa phương.
Công tác ban hành quy trình công nghệ, tiêu
chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật, nhất là công tác ban
hành định mức, đơn giá cho các thiết kế mẫu
công nghệ, mô hình mẫu, chính sách khuyến
khích áp dụng tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho
các cây trồng chủ lực còn rất chậm.
Nguồn ngân sách Trung ương và địa phương
hạn chế là một trong những nguyên nhân quan
trọng khiến cho kinh phí hỗ trợ, khuyến khích
sử dụng nước hiệu quả, tiết kiệm mới chỉ đáp
ứng được một phần nhỏ nhu cầu thực tế, chưa
tạo được động lực thúc đẩy được các bên liên
quan (người cung cấp dịch vụ và người sử
dụng) trong việc đầu tư trang thiết bị, thực hiện
quản lý, sử dụng nước hiệu quả, tiết kiệm.
Hạn chế về cơ sở hạ tầng: Đối với việc áp dụng
tưới tiết kiệm cho lúa, việc mở rộng diện tích
canh tác áp dụng tưới theo công nghệ khô ẩm
xen kẽ (AWD) hoặc tưới Nông - Lộ - Phơi với
tốc độ tương đối chậm, vì nhiều nguyên nhân
khác nhau, trong đó có việc cơ sở hạ tầng, công
trình nội đồng ở nhiều địa phương chưa đáp ứng
được yêu cầu, và áp dụng kỹ thuật tưới tiên tiến
chưa chú trọng phổ biến. Ở vùng Đồng bằng
sông Hồng, quy mô các ô, thửa ruộng tương đối
nhỏ, trồng hai vụ lúa và thêm một vụ màu. Hệ
thống CTTL ở khu vực này tương đối hoàn
chỉnh và khép kín tuy nhiên công trình nội đồng
còn chưa đảm bảo, tỷ lệ kiên cố hoá kênh
Tiếp cận chính sách trong đầu tư, quản lý khai
thác và sử dụng nước hiệu quả, tiết kiệm còn
chưa đa chiều, toàn diện, chưa có sự phối hợp
đồng bộ của các lĩnh vực, ngành có liên quan,
chưa triển khai đầy đủ các bước trong chu trình
chính sách. Mặc khác, việc giám sát, đánh giá
chính sách trong quá trình thực thi để kịp thời
điều chỉnh phù hợp, kịp thời với với yêu cầu
12
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
thực tiễn còn rất hạn chế.
lượng và hiệu quả. Rà soát, nghiên cứu bổ sung
để hoàn thiện quy trình công nghệ tưới tiên
tiến, tiết kiệm nước cho các cây trồng chủ lực
phù hợp với từng vùng, miền; Ban hành các tài
liệu, sổ tay hướng dẫn kỹ thuật, các thiết kế
mẫu, mô hình mẫu về tưới tiết kiệm nước.
Một nghiên cứu về tác động của chính sách
miễn giảm TLP đến hiệu quả tưới nội đồng chỉ
một năm sau khi chính sách có hiệu lực thi hành
của nghiên cứu này cho thấy chất lượng cung
cấp dịch vụ tưới không được đảm bảo [Lê Văn
Chính, 2016] và [Lê Văn Chính, 2018]. Cụ thể Đối với lúa Tưới khô ẩm xen kẽ (AWD) cho lúa
là hiệu quả tưới nội đồng đều bị giảm sút. Đồng là biện pháp tưới tiết kiệm nước cho lúa do Viện
thời việc miễn, giảm thuỷ lợi phí cũng không nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) nghiên cứu phát
cải thiện được năng suất lao động cũng như triển từ thập kỷ 90. So với phương pháp tưới lúa
năng suất lúa trong vùng nghiên cứu.
truyền thống (tưới ngập) thì việc ứng dụng
phương pháp AWD với các đợt tưới sau đó để
ruộng khô trước khi tưới đợt tiếp theo (trừ giai
đoạn bén rễ, làm đòng) có thể giảm được từ 15-
40% lượng nước tiêu thụ mà không ảnh hưởng
đến năng suất lúa. Áp dụng trên diện rộng biện
pháp này vừa tiết kiệm được lượng nước tưới,
vừa làm tăng hiệu suất sử dụng nước. Tuy
nhiên, cần phải khắc phục, cải thiện một số hạn
chế sau:
3.7. Đề xuất một số giải pháp
Căn cứ vào thực trạng tưới tiên tiến, tiết kiệm
nước trong khu vực nông nghiệp và khung thể
chế về sử dụng nước tiết kiệm theo Luật Thuỷ
lợi mới ban hành, một số giải pháp của nghiên
cứu được đề xuất dựa trên nguyên tắc cầu sử
dụng nước hiệu quả bao gồm:
Ứng dụng công nghệ sử dụng nước tiết kiệm,
hiệu quả
CTTL nội đồng bị xuống cấp hoặc thiếu nên
Đẩy mạnh việc áp dụng các tiến bộ khoa học
không kiểm soát được nước tưới hoặc tiêu.
công nghệ, hướng dẫn thiết kế phục vụ lắp đặt Mặt ruộng không bằng phẳng dẫn đến việc
hệ thống tưới tiên tiết, tiết kiệm nước; nghiên
không kiểm soát được mực nước mặt ruộng.
cứu chuyển giao công nghệ sản xuất, chế tạo
Thiếu kinh phí và đội ngũ được đào tạo kiến
cấu kiện, thiết bị để có thể áp dụng phương pháp thức thức về tưới tiết kiệm nước.
canh tác nông nghiệp tiên tiến, đáp ứng yêu cầu Cơ chế giá dịch vụ tưới tiêu theo diện tích
chuyển dịch cơ cấu theo quy hoạch tái cơ cấu chưa tạo được động lực cho người dân sử dụng
nước tiết kiệm. Đặc biệt là việc miễn, giảm thuỷ
lợi phí trong giai đoạn hiện nay.
của từng vùng, từng hệ thống. Ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật để hoàn thiện hệ thống
thủy nông nội đồng trên diện rộng phục vụ
canh tác nông nghiệp tiên tiến. Xây dựng cơ sở
dữ liệu, chỉ tiêu để giám sát, đánh giá việc phát
triển tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho các địa
phương trên toàn quốc. Khuyến khích áp dụng
công nghệ quản lý, sử dụng nước tiết kiệm từ
hệ thống CTTL. Cụ thể như sau:
Giải pháp về thể chế, chính sách
Xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn
Luật Thuỷ lợi và các nghị định liên quan đến sử
dụng nước hiệu quả và tiết kiệm, đặc biệt là
chính sách hỗ trợ phát triển thuỷ lợi nội đồng,
tưới tiên tiến, tiết kiệm nước và chính sách về
giá dịch vụ thuỷ lợi:
Đối với cây trồng cạn, cần áp dụng trên diện
rộng tưới tiên tiến, tiết kiệm nước bằng kỹ
thuật tưới phun mưa hoặc tưới nhỏ giọt kết hợp
bón phân cho các cây trồng cạn chủ lực có thị
trường (cà phê, hồ tiêu, điều, mía, chè, cây ăn
quả, rau, hoa) nhằm nâng cao năng suất, chất
Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm
pháp luật về quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn,
định mức kinh tế kỹ thuật trong quản lý khai
thác CTTL; biện pháp tưới tiết kiệm.
Quy trình, quy phạm, hướng dẫn phương
13
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
pháp xác định và xây dựng phương án giá sản đầu tư ở các địa phương là rất cần thiết.
phẩm, dịch vụ thủy lợi cho các tổ chức khai thác
công trình thủy lợi.
4. KẾT LUẬN
Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên quan
Ban hành chính sách hỗ trợ cho các đối tượng
trọng của xã hội loài người đồng thời cũng là
áp dụng tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho lúa và
nguồn lực kinh tế. Nước sử dụng trong khu vực
cây trồng cạn, với quy định cụ thể về mức hỗ trợ,
nông nghiệp, vốn chiếm tới trung bình khoảng
cơ chế và điều kiện hỗ trợ theo cây trồng và
70% lượng nước khai thác hàng năm trên toàn
vùng, miền. Hướng dẫn trình tự, thủ tục hỗ trợ
cầu. Do vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng
về tài chính để thực hiện các chính sách sách hỗ
nước trong khu vực nông nghiệp là rất cần thiết.
trợ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước.
Ở Việt Nam, tiếp cận nâng cao hiệu quả sử dụng
nước mới chỉ tập trung về quản lý cung cấp bao
gồm cơ sở hạ tầng và tổ chức quản lý khai thác.
Giải pháp cải thiện quản lý vận hành theo
hướng sử dụng nước tiết kiệm
Tthực hiện kiểm kê nguồn nước, nhu cầu sử
dụng nước theo định kỳ để xây dựng kế hoạch
và tổ chức thực hiện điều hòa, phân phối, sử
dụng nước hợp lý, chống thất thoát nước. Xây
dựng và áp dụng định mức kinh tế kỹ thuật
trong quản lý khai thác CTTL, đặc biệt là định
mức sử dụng nước tại mặt ruộng và trong hệ
thống. Nghiên cứu, xây dựng và đưa vào áp
dụng bộ chỉ số giám sát đánh giá hoạt động khai
thác, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả trên các
hệ thống công trình thủy lợi theo nguyên tắc đã
quy định tại Luật Thủy lợi. Đẩy mạnh việc
hướng dẫn, áp dụng khoa học công nghệ, phục
vụ chỉ đạo vận hành, bảo đảm an toàn CTTL.
Tiếp cận quản lý cầu để nâng cao hiệu quả sử
dụng nước thông qua việc áp dụng các công cụ
về giá, công nghệ, cách thức và ý thức sử dụng
còn tương đối hạn chế. Thông qua khảo sát,
nghiên cứu này đã chỉ ra rằng tưới tiên tiến,
nước tiết kiệm nước cho khu vực nông nghiệp
ở Việt Nam đã và đang triển khai thực hiện ở
nhiều địa phương trên toàn quốc và đạt được
những kết quả đáng ghi nhận bước đầu.
Trong bối cảnh đòi hỏi nâng cao năng suất và
giá trị sản xuất nông nghiệp từ các cây trồng
được tưới, việc áp dụng tưới tiên tiến, tiết kiệm
nước cho cây trồng, đặc biệt là cây trồng cạn
chính là một giải pháp căn bản để phát triển
nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia
tăng và phát triển bền vững của địa phương nói
riêng và quốc gia nói chung, ứng phó hữu hiệu
với hạn hán và biến đổi khí hậu. Kết quả tích
cực đạt được trong thời gian qua về việc áp
dụng tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho cây trồng
cạn ở trên là những thành quả ban đầu nhận
được từ tổng hợp các yếu tố về sự nhận thức,
đóng góp về nguồn lực của người dân, doanh
nghiệp và chính quyền các cấp trong đổi mới,
áp dụng phương thức canh tác trong sản xuất
nông nghiệp có ứng dụng tưới tiên tiến, tiết
kiệm nước, cũng như việc triển khai thực hiện
các chính sách hỗ trợ của nhà nước về tưới tiên
tiến, tiết kiệm nước.
Giải pháp đầu tư xây dựng hoàn thiện hệ thống
CTTL
Hoàn thiện các hệ thống cơ sở hạ tầng công
trình thủy lợi, ưu tiên hệ thống thủy lợi nội
đồng, hệ thống thủy lợi phục vụ chuyển đổi cơ
cấu để áp dụng các biện pháp canh tác tiên tiến,
tưới tiết kiệm nước. Đối với các dự án đầu tư cơ
sở hạ tầng, sửa chữa nâng có mục tiêu hỗ trợ
phát triển tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cần thực
hiện theo quy hoạch chuyển đổi sản xuất vùng
dự án và kế hoạch hành động phát triển tưới tiên
tiến, tiết kiệm nước là điều kiện cần khi phê
duyệt dự án, làm cơ sở để đánh giá kết quả/hiệu
quả thực hiện dự án. Nghiên cứu giao chỉ tiêu
phát triển tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho cây
trồng cạn theo vùng, địa phương làm cơ sở hàng
năm đánh giá và xét hỗ trợ ứng phó hạn hán và
Đối với sản xuất lúa, một loại cây trồng tiêu thụ
nước lớn nhất trong sản xuất nông nghiệp, các
14
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
biện pháp canh tác sử dụng nước tiết kiệm cũng nước và chính sách giá dịch vụ thuỷ lợi. Căn cứ
đã và đang được áp dụng nhưng quy mô và kết vào khung thể chế này và kết quả phân tích về
quả đạt được còn rất hạn chế so với tiềm năng thực trạng tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho cây
của loại cây trồng này. Khả năng đạt được mục trồng trong khu vực nông nghiệp ở Việt Nam,
tiêu tham vọng của ngành nông nghiệp đến năm nghiên cứu đề xuất một nhóm các giải pháp theo
2020 là một thử thách lớn.
tiếp cận về quản lý cầu sử dụng nước gồm: ứng
dụng công nghệ, quản lý vận hành, cơ chế chính
sách cho tưới tiên tiến, tiết kiệm nước. Đồng
thời giải pháp về đầu tư xây dựng để hoàn thiện
cơ sở hạ tầng cũng được đưa ra nhằm đảm bảo
tính đồng bộ và hiệu quả cho nhóm giải pháp về
quản lý cầu nêu trên.
Luật Thuỷ lợi mới được ban hành và có hiệu lực
từ giữa năm 2018 có nhiều nội dung mới có tính
đột phá quan trọng hướng tới quản lý cầu sử
dụng nước như tạo hành lang pháp lý, cơ chế và
chính sách về sử dụng nước tiết kiệm đặc biệt
là áp dụng công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đoàn Doãn Tuấn (2011) Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ phòng
chống hạn hán phục vụ phát triển NN bền vững ở các tỉnh MNPB, Đề tài cấp Nhà nước.
[2] Douglas J. Merrey (2018), Asessment on Policy and Institutional Options to Enhance Water
Use Efficiency in the Irrigation Sector in Vietnam, World Bank, Washington, DC.
[3] Faurèsa, J. M., J. Hoogeveena and J. Bruinsmab (2003), The FAO irrigated area forcast for
2030, FAO, Rome.
[4] Ghazali, M., A. Jalal, S. Ahmad and H. Arrif (2009), Review of water pricing theories and
related models , African Journal of Agricultural Research, 4(11), 1536-1544.
[5] KBR. (2009), Vietnam Water Sector Review, Kellogg Brown & Root Pty Ltd , Australia.
[6] Kijne, J. W., R. Barker and D. Molden (2003), Water Productivity in Agriculture: Limits
and Opportunities for Improvement, CAB International.
[7] Le, C. and J. Jensen (2014b), Individual lift irrigation: a case study in the Cau Son irrigation
and drainage area, Red River Basin, Vietnam, Paddy and Water Environ, 12(1), 223-238.
[8] Le, V. C. (2012), Return flow and reuse of drainage water in a rice-based irrigation and
drainage area in the Red River Basin, Vietnam, PhD dissertation, 1-157. Department of Basic
Sciences and Environment, University of Copenhagen, Denmark.
[9] Lê Văn Chính (2018), Tác động của chính sách miễn giảm thuỷ lợi phí đến hiệu quả CTTL,
hiệu quả tưới mặt ruộng và kinh tế hộ gia đình ở lưu vực sông Hồng, Tạp chí KH&CN thuỷ
lợi, Số 43, Tháng 4 năm 2018.
[10] Luật Thuỷ lợi, 2017
[11] MARD (2004), Báo cáo về đổi mới, nâng cao hiệu quả QLKTCTTL, Bộ NNPTNT.
[12] MARD (2014), Đề án nâng cao hiệu quả quản lý KTCTTL, ban hành kèm theo Quyết định
số 784/QD-BNN-TL, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
[13] Miguel, S. and F. G. Villarreal (1999), The Dublin Principles for Water as Reflected in a
Comparative Assessment of Institutional and Legal Arrangements for Integrated Water
Resources Management, Global Water Partnership, S105-25 Stockholm, Sweden.
15
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019
CHUYỂN GIAO
CÔNG NGHỆ
[14] Molle, F. and J. Berkoff (2007), Irrigation Water Pricing, CAB International,
Oxfordshire, UK.
[15] Nguyễn Việt Anh, Trần Viết Ổn (2009) Báo cáo kết quả thí nghiệm thực hiện quy trình tưới
tiết kiệm nước cho lúa tại xã Quỳnh Hồng, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, Tạp chí Khoa
học kỹ thuật Thuỷ lợi và Môi trường, 2009.
[16] Nippon (2003), Modernization of Cam Son - Cau Son irrigation project: Feasibility study
report, Nippon Koei Co., Ltd (Nippon), Tokyo, Japan.
[17] Phạm Tất Thắng và Lê Văn Hùng (2012) Đánh giá hiệu quả một số quy trình tưới tiết kiệm
cho lúa áp dụng trên địa bàn Hà Nội, Tạp chí Khoa học KTTL và Môi trường số 38, Tháng
9/2012.
[18] Robert, C. J. (2000), Pricing Irrigation water: A literature survey, The World Bank,
Wasington D.C.
[19] Trần Việt Dũng và Phạm Văn Hiệp (2015), Nghiên cứu công nghệ tưới tiết kiệm nước cho
một số cây trồng cạn ở vùng Bắc trung bộ, Tạp chí KH và CN thuỷ lợi số 30-2015.
16
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp tăng cường tưới tiên tiến, tiết kiệm nước trong điều kiện thực thi luật thuỷ lợi ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giai_phap_tang_cuong_tuoi_tien_tien_tiet_kiem_nuoc_trong_die.pdf

