Giáo trình mô đun Chuẩn bị nuôi trùn - Nghề: Nuôi trùn quế từ phân gia súc, gia cầm và chất thải nông nghiệp

0
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN  
CHUẨN BỊ NUÔI TRÙN  
MÃ SỐ: MĐ 01  
NGHỀ: NUÔI TRÙN QUẾ TỪ PHÂN GIA SÚC,  
GIA CẦM VÀ CHẤT THẢI NÔNG NGHIỆP  
Trình độ: Sơ cấp nghề  
Hà nội, 2017  
LỜI NÓI ĐẦU  
Ô nhiễm môi trường chăn nuôi hiện đang là vấn đề bức xúc ở nhiều  
vùng nông thôn Việt Nam. Ở nhiều địa phương, nguồn nước quanh các khu  
vực dân cư có các trang trại chăn nuôi đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh  
hưởng đến sức khỏe và môi trường sống của người dân.  
Nhiều công nghệ xử lý ô nhiễm chất thải chăn nuôi đã và đang được áp  
dụng như công nghệ khí sinh học, ủ phân hữu cơ, nuôi giun, …. Do mỗi công  
nghệ có những ưu điểm và hạn chế riêng đòi hỏi phải được áp dụng ở những  
điều kiện phù hợp và nhiều khi cần phải có một tổ hợp các công nghệ khác  
nhau áp dụng cho một trang trại chăn nuôi nhằm xử lý toàn diện, triệt để các  
loại hình ô nhiễm của môi trường chăn nuôi.  
Một trong những mục tiêu chính của Dự án Hỗ trợ Nông nghiệp Các bon  
thấp (LCASP) là hỗ trợ kỹ thuật cho các chủ trang trại, các hộ chăn nuôi xử lý  
bền vững môi trường chăn nuôi thông qua sử dụng chất thải chăn nuôi làm  
nguồn nguyên liệu tạo ra các sản phẩm có giá trị, vừa giúp nâng cao thu nhập  
của người dân, vừa giúp giảm ô nhiễm môi trường.  
Hiện nay một số trang trại, hộ chăn nuôi đã ứng dụng các công nghệ để sử  
dụng phân gia súc, gia cầm và phế thải nông nghiệp để nuôi trùn quế, .... Tuy  
vậy, do chưa có tài liệu hướng dẫn chi tiết và người dân chưa được học nghề để  
làm việc này, nên hiệu quả chưa cao. Xuất phát từ thực tế từ trước đến nay  
chưa có tài liệu đào tạo nghề về lĩnh vực này, Dự án LCASP đã phối hợp với  
Cục Kinh tế hợp tác, Bộ Nông nghiệp và PTNT, biên soạn bộ giáo trình đào tạo  
sơ cấp nghề “Nuôi trùn quế từ phân gia súc, gia cầm và phế thải nông  
nghiệp” nhằm giúp các hộ chăn nuôi có thêm kiến thức và kỹ năng để xử lý  
hiệu quả môi trường chăn nuôi thông qua các hoạt động tạo thu nhập từ ứng  
dụng công nghệ nuôi trùn quế từ chất thải chăn nuôi.  
Bộ giáo trình được xây dựng với các mô đun, bài giảng lý thuyết và thực  
hành có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Các thông tin trong giáo trình này có giá  
trị hướng dẫn giáo viên thiết kế, tổ chức giảng dạy và vận dụng phù hợp với điều  
kiện, bối cảnh thực tế của từng vùng trong quá trình dạy học.  
Quá trình biên soạn giáo trình mặc dù đã hết sức cố g ng nhưng ch c ch n  
không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp  
từ các chuyên gia, các độc giả để giáo trình được điều chỉnh, bổ sung ngày càng  
hoàn thiện hơn.  
Để hoàn thiện được cuốn giáo trình này chúng tôi đã nhận được sự giúp  
đỡ của các nhà khoa học, các cán bộ phụ trách kỹ thuật nông nghiệp, các thành  
viên trong hội đồng nghiệm thu, các cán bộ và chuyên gia từ dự án Hỗ trợ nông  
nghiệp các bon thấp, Trường Cao đẳng Cơ điện và Nông nghiệp Nam Bộ, Cục  
Kinh tế Hợp tác, … đã tham gia đóng góp ý kiến chuyên môn và tạo mọi điều  
kiện tốt nhất để hoàn thành xây dựng chương trình và biên soạn giáo trình này.  
Hà Nội, tháng 6 năm 2017  
TS. Nguyễn Thế Hinh, Giám đốc dự án LCASP  
1
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN  
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được  
phép dùng nguyên bản hoặc trích dẫn dùng cho các mục đích về đào tạo và  
tham khảo.  
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh  
doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.  
MÃ TÀI LIỆU: MĐ 01  
2
LỜI GIỚI THIỆU  
Mô đun “Chuẩn bị nuôi trùn” là một trong sáu mô đun của bộ giáo trình  
sơ cấp nghề “Nuôi trùn quế từ phân gia súc, gia cầm và chất thải nông  
nghiệp”. Mô đun này hướng dẫn thực hiện các công việc như: khảo sát các  
điều kiện nuôi trùn, tạo chất nền nuôi trùn, thu gom và xử lý thức ăn cho trùn.  
Mô đun này được phân bố giảng dạy trong 84 giờ với 04 bài như sau:  
Bài 1: Đặc điểm của trùn quế.  
Bài 2: Khảo sát các điều kiện nuôi trùn.  
Bài 3: Tạo chất nền nuôi trùn.  
Bài 4: Thu gom và xử lý thức ăn cho trùn.  
Các bài trong mô đun có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tạo điều kiện cho  
học viên thực hiện được mục tiêu học tập và áp dụng vào thực tế trong việc nuôi  
trùn quế tại cơ sở. Mô đun này liên quan mật thiết với các mô đun: lựa chọn và  
xây dựng chuồng nuôi, thả trùn giống, chăm sóc trùn, thu hoạch trùn và sử  
dụng sản phẩm trùn.  
Các thông tin trong giáo trình này có giá trị hướng dẫn giáo viên thiết kế, tổ  
chức giảng dạy và vận dụng phù hợp với điều kiện, bối cảnh thực tế của từng vùng  
trong quá trình dạy học.  
Để hoàn thiện được cuốn giáo trình này chúng tôi đã nhận được sự giúp  
đỡ của các nhà khoa học, các cán bộ phụ trách kỹ thuật nông nghiệp, các hộ  
nuôi trùn quế, các thành viên trong hội đồng nghiệm thu đã tham gia đóng góp  
ý kiến để chúng tôi xây dựng chương trình và biên soạn giáo trình.  
Quá trình biên soạn giáo trình mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng chắc chắn  
không tránh khỏi những sai sót. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ  
các chuyên gia, các đọc giả để giáo trình được điều chỉnh, bổ sung ngày càng hoàn  
thiện hơn.  
Xin chân thành cảm ơn!  
Tham gia biên soạn:  
1. Chủ biên: Dương Minh Hiền  
2. Nguyễn Thị Chúc  
3. Nguyễn Thị Thùy Linh  
4. Huỳnh Hạnh Ngôn  
 
3
LỜI CẢM ƠN  
Nhóm tác giả chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Bộ  
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ban Quản lý dự án Hỗ trợ nông  
nghiệp các bon thấp, các nhà khoa học, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thiết  
bị khí sinh học, hộ dân trong vùng Dự án Hỗ trợ nông nghiệp Các bon thấp  
và đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ chúng tôi trong quá  
trình biên soạn tài liệu này.  
Trong quá trình biên soạn giáo trình dù đã hết sức cố gắng nhưng chắc  
chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết. Chúng tôi rất mong nhận được ý  
kiến đóng góp từ đồng nghiệp, các chuyên gia, nhà khoa học và độc giả để  
cuốn giáo trình tiếp tục được chỉnh sửa, hoàn thiện trong lần tái bản.  
Trân trọng cảm ơn!  
Thay mặt nhóm tác giả  
Dương Minh Hiền  
4
MỤC LỤC  
ĐỀ MỤC  
TRANG  
 
5
6
7
CÁC THUẬT NGỮ CHUYÊN MÔN, CHỮ VIẾT TẮT  
Kitin: là lớp vỏ bên ngoài, có nhiều canxi và sắc tố  
Enzyme: là men, là chất xúc tác sinh học có thành phần cơ bản là protein.  
%: Nồng độ phần trăm  
Ca: Canxi  
O2 : Oxy  
CO2: Carbonic  
0C: độ C  
Cl2: khí clo  
NH3: Khí ammoniac  
H2S: Khí hydro sulfua  
SO2, SO3: Khí lưu huỳnh  
CH4: Khí metan  
P2O5 : Lân  
K2O : Kali  
CaO : vôi sống  
MgO: magnesium oxide  
Mo: molybdenum  
Cu: đồng  
Mn: mangan  
Zn: Kẽm  
Mưa TN: Mưa tây nam  
Gió ĐB: Gió đông bắc  
Cm: centimet, đơn vị đo độ dàim: mét, đơn vị đo chiều dài  
m2: mét vuông, đơn vị chỉ diện tích  
m3: mét khối, đơn vị chỉ thể tích  
VK: vi khuẩn  
MPN/g: tế bào trên gram  
g/l: gram/lít  
mg/l: milligram/lít  
KL: khối lượng  
E.M: chế phẩm các vi sinh vật hiệu lực  
8
Bài 1: Đặc điểm sinh học của trùn  
Mã bài: MĐ01-01  
Giới thiệu bài  
Để nuôi trùn quế đạt hiệu quả thì người nuôi cần nắm được các đặc tính  
sinh lý học của trùn như: nhiệt độ, ẩm độ, độ pH, ánh sáng, không khí… và các  
đặc điểm sinh sản, cũng như tập tính ăn của trùn quế. Trên cơ sở đó, người nuôi  
sẽ tạo điều kiện thích hợp cho trùn để trùn có thể sinh trưởng và phát triển tốt nhất.  
Mục tiêu  
- Trình bày được đặc điểm hình thái, đặc tính sinh lý và sinh sản của trùn quế.  
A. Nội dung  
1. Lợi ích của việc nuôi trùn  
Trùn quế là một trong những giống trùn đã được thuần hóa và đưa vào  
nuôi phổ biến ở nhiều nước trên thế giới với qui mô vừa và nhỏ. Đây là loài  
trùn được nuôi nhiều nhất vì chúng có nhiều ưu điểm như: sinh sản tốt, dễ  
nuôi, thức ăn đa dạng dễ tìm, năng suất cao, giá trị dinh dưỡng cao và rất dễ  
thích nghi với điều kiện ngoại cảnh. Sở dĩ, việc nuôi trùn quế phát triển mạnh  
mẽ là do những lợi ích mà nó mang lại cho con người.  
1.1. Làm thức ăn cho con người và vật nuôi  
Trùn quế, nhất là trùn tươi là  
loại thức ăn lý tưởng để nuôi thủy  
sản, các loại cá, tôm, ếch, ba ba, cua,  
... đều rất thích ăn trùn quế, đặc biệt  
đối với ấu trùng, con giống tôm cá,  
nòng nọc của ếch (Hình 1.1.1).  
Hình 1.1.1. Cho cá ăn trùn quế  
Trùn tươi còn là thức ăn bổ dưỡng đối với các loại gia súc, gia cầm như  
hình 1.1.2 và hình 1.1.3, chỉ cần cung cấp một lượng nhỏ và cho ăn 2 lần trong  
một tuần sẽ làm cho vật nuôi lớn nhanh. Nuôi trùn quế không phải dùng bất kỳ  
loại hóa chất hoặc chất kháng sinh, chất tăng trọng nào. Vì thế, việc sử dụng  
trùn quế thường xuyên làm thức ăn trong chăn nuôi sẽ tạo ra sản phẩm an toàn.  
9
Hình 1.1.2. Băm trùn cho gà ăn  
Hình 1.1.3. Nấu trùn cho lợn ăn  
Ngoài ra, trùn quế còn được sử dụng làm thực phẩm cho con người (hình  
1.1.4 và 1.1.5) do trong cơ thể trùn quế có rất nhiều dưỡng chất quan trọng, tốt  
cho sức khỏe của con người.  
Giá trị dinh dưỡng của trùn được thể hiện qua bảng sau:  
Bảng 1.1.1. Thành phần dinh dưỡng của bột trùn so với một số thức ăn  
bổ sung thông thường  
Nguyên liệu Protein/KL khô (%) Chất béo (%) Xơ (%) Ca (%) P (%)  
Bột trùn  
62,0 – 71,5  
40 – 60  
35 – 40  
48  
2,8  
12  
17  
10  
3,3  
0,5  
7,5  
2,0  
0,88  
8,0  
1,0  
2,8  
0,54  
5,0  
0,2  
2,3  
Bột cá  
Bột đậu nành  
Bột thịt sữa  
Nguồn: Số liệu phân tích tại Trung tâm Phân tích Thí nghiệm của  
Trường Đại học Nông lâm TP. Hồ Chí Minh.  
Bên cạnh đó, trong cơ thể trùn còn chứa: enzym, axit amin, vitamin,  
khoáng chất có lợi cho sức khỏe dinh dưỡng của con người. Vì vậy nhiều nước  
đã sử dụng trùn để chế biến thành thực phẩm cho con người. (Nguồn: Trường  
Đại Học Nông lâm TP. Hồ Chí Minh).  
10  
Hình 1.1.4. Ruốc trùn quế  
Hình 1.1.5. Chả trùn quế  
1.2. Làm phân bón cho cây trồng  
Bên cạnh những lợi ích từ trùn tươi thì phân trùn (hình 1.1.6) là một loại  
phân hữu cơ giàu chất dinh dưỡng nhất. Phân trùn thích hợp với nhiều loại cây  
trồng, chúng chứa các khoáng chất mà cây trồng có khả năng hấp thụ trực tiếp  
không cần quá trình phân hủy trong đất như những loại phân hữu cơ khác. Phân  
trùn thích hợp bón cho các loại hoa kiểng, làm giá thể vườn ươm và là nguồn  
phân thích hợp cho việc sản xuất rau sạch.  
Hình 1.1.6. Sản phẩm phân trùn quế trên thị trường  
1.3. Làm dược liệu, mỹ phẩm  
Một số enzym và hoạt chất được chiết xuất từ trùn để làm thuốc, mỹ phẩm  
như: men Selenium (Se) dưới dạng Protein ở trong trùn, có tác dụng làm chậm  
quá trình lão hóa tế bào, bảo vệ tế bào trước các độc tố nguy hại, giúp cân bằng  
các kích tố nội tiết liên quan tới quá trình sinh sản và bài tiết tế bào, sản xuất ra  
chất Protaglandin – Có tác dụng dưỡng da, dưỡng tóc, làm trẻ hóa cơ thể. Vì  
vậy trùn hiện đang được quan tâm nghiên cứu sử dụng trong sản xuất mỹ phẩm.  
11  
1.4. Góp phần bảo vệ môi trường sinh thái  
Trùn có tác dụng cao trong quá trình phân giải hữu cơ: một tấn trùn có thể  
tiêu hủy được 30-40 tấn rác hữu cơ, hoặc 30 tấn phân gia súc trong một tháng.  
Các nước trên thế giới đã tận dụng cơ năng đặc thù này của trùn để xử lý chất  
thải sinh hoạt hoặc rác thải hữu cơ làm sạch môi trường.  
Trùn làm tăng độ phì nhiêu của đất.  
Phân trùn góp phần làm giảm mức sử dụng phân hóa học, giúp cây trồng  
phát triển tốt, tăng khả năng chống sâu bệnh, giảm bớt việc sử dụng thuốc trừ  
sâu, nhờ đó bảo vệ được môi trường.  
Với những khu vực ô nhiễm, nếu nuôi trùn cũng làm sạch được môi  
trường nước. Hơn nữa, trùn có thể xử lý chất thải hữu cơ, phân gà, phân lợn,  
phân bò và chuyển hóa phân bón hữu cơ có chất lượng cao, từ đó cải thiện  
được môi trường sinh thái các vùng nông thôn. Thậm chí, phân của trùn cũng  
có thể xử lý được nước thải.  
2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của trùn quế  
Hiện nay, trên thế giới tồn tại hàng ngàn giống trùn khác nhau, chúng  
được phân thành 3 nhóm chính epeigeic (Eisenia foetida, Eudrilus eugenie  
(nigerian), Perionyx excavatus etc.), endogeic (Pentoscolex sps., Eutopeius  
sps., Drawida sps etc.) và aneceic (Polypheretima elongata, Lampito maruti  
etc.). Việc phân chia này chủ yếu dựa trên 2 yếu tố chính: tập tính ăn và tạo  
chất thải.  
Trùn quế có tên khoa học là Perionyx excavatus, chi Pheretima, họ  
Megascocidae (họ cự dẫn), lớp Olygochaeta, phân ngành Clitellata, ngành  
Annelides.  
Trùn quế, một số tài liệu nước ngoài gọi là Indian Blue, Malaysian blue, là  
động vật không xương sống, cơ thể phân đốt, phần đầu thoái hóa, có mang đai  
sinh dục (clitellum), các hệ cơ quan bên trong cơ thể như hệ thần kinh, hệ tuần  
hoàn, hệ bài tiết… cũng sắp xếp theo đốt. Mỗi đốt mang một đôi hạch thần kinh  
giúp cho trùn ghi nhận cảm giác và phản ứng đáp trả của cơ thể đối với môi  
trường bên ngoài. Ở Việt Nam, trùn quế còn được gọi là trùn đỏ hay trùn ăn  
phân, tập tính ăn của chúng là ăn trên bề mặt với tất cả các loại chất hữu cơ, xác  
và chất thải động vật.  
2.1. Hình dạng bên ngoài  
Cơ thể trùn có hình trụ dài hơi dẹp, phần đầu và đuôi hơi nhọn, cơ thể thon  
dài phân thành nhiều đốt, trên mỗi đốt có một vành tơ. Khi di chuyển, các đốt  
co duỗi kết hợp các lông tơ phía bên dưới các đốt bám vào cơ chất (đất) đẩy cơ  
thể di chuyển một cách dễ dàng.  
Trên cơ thể trùn đã trưởng thành về sinh dục thường thấy 1 cái vòng có  
hình dạng giống như chiếc nhẫn, đây chính là đai sinh dục (hình 1.1.7). Đai  
12  
sinh dục này thể hiện rõ nhất ở giai đoạn sinh sản, thường là khoảng ngày tuổi  
thứ 30 của trùn. Những con trùn trên 90 ngày tuổi (trùn già) đai sinh dục bắt  
đầu thoái hóa.  
Đai sinh dục  
Hình 1.1.7. Trùn quê trưởng thành có đai sinh dục  
Màu sắc: tùy theo tuổi, trùn mới nở có màu màu trắng, trùn con có màu  
hồng nhạt (hình 1.1.8), trùn trưởng thành và già (hình 1.1.9) có màu đỏ đến  
màu mận chín ở mặt lưng màu nhạt dần về phía bụng, bên ngoài cơ thể có một  
lớp kitin chứa sắc tố. Do đó khi ra ánh sáng cơ thể chúng thường phát dạ quang  
màu xanh tím, có đường kẻ dưới bụng màu nhạt hoặc sáng ở gần vành miệng.  
Hình 1.1.8. Trùn con có màu trắng hơi  
hồng  
Hình 1.1.9. Trùn trưởng thành có màu  
mận chín  
Kích thước: trùn nhỏ dài khoảng  
3 cm, tiết diện thân khoảng 0,2 cm  
(hình 1.1.10). Trùn trung bình dài  
khoảng 3-10 cm, tiết diện thân 0,2-0,5  
cm (hình 1.1.11). Trùn lớn dài trên  
10-15 cm, tiết diện thân khoảng 0,5  
cm (hình 1.1.12).  
Hình 1.1.10. Kích thước trùn nhỏ  
13  
Hình 1.1.11. Kích thước trùn trung bình  
Hình 1.1.12. Kích thước trùn lớn  
2.2. Cấu tạo bên trong  
2.2.1. Hệ tiêu hóa  
Hệ tiêu hóa của trùn gồm: lỗ miệng – xoang miệng – hầu – thực quản –  
mề - dạ dày – ruột – manh tràng – trực tràng và hậu môn (hình 1.1.13).  
Hệ bài tiết  
Hệ tuần hoàn  
Não bộ  
Ruột  
Miệng  
Thực quản  
Mề  
Dạ dày  
Hầu  
Hệ bài tiết  
Hậu môn  
Hình 1.1.13. Cấu tạo bên trong của trùn  
Bảng 1.1.2. Tóm tắt cấu tạo và chức năng của hệ tiêu hóa  
Cơ quan  
Lỗ miệng  
Vị trí  
Hình dạng  
Lỗ tròn nhỏ  
Chức năng  
Lấy thức ăn  
Ngay đỉnh đầu  
14  
Cơ quan  
Vị trí  
Hình dạng  
Chức năng  
Miệng  
Đốt thứ 1 và 2  
Xoang mỏng  
Tiếp nhận và giữ thức ăn  
Hầu  
Đốt thứ 3 và 5  
Hình túi có tầng Chứa thức ăn  
cơ dày  
Thực quản Đốt thứ 6 và 7  
Hình ống dài, 2 Điều tiết độ pH, tiết  
bên nhô ra 1 hoặc enzym tiêu hóa  
nhiều đôi có dạng  
hình túi  
Mề  
Đốt thứ 8, 9 và Hình túi tròn, to  
10  
Chứa thức ăn, làm ướt,  
làm mềm thức ăn, tiêu  
hóa 1 phần protein của  
thức ăn  
Dạ dày  
Đốt thứ 11 đến Hình túi  
14  
Tiết ra enzyme tiêu hóa  
như enzyme protease,  
amylase,  
lipase.  
cellulase….  
Ruột non  
Từ đốt 15 trở đi Hình ống dài  
Tiêu hóa thức ăn  
Chứa chất thải  
Trực tràng Đoạn cuối nối Hình ống ngắn  
(ruột già)  
liền hậu môn  
Hậu môn  
Đốt cuối cùng  
Lỗ tròn  
Đưa chất thải ra ngoài  
Lượng thức ăn mỗi ngày được nhiều nhà khoa học ghi nhận là tương  
đương với trọng lượng cơ thể của nó. Sau khi qua hệ thống tiêu hóa với nhiều  
vi sinh vật cộng sinh, chúng thải ra phân ra ngoài rất giàu dinh dưỡng (hệ số  
chuyển hóa của trùn quế là khoảng 0,7), những vi sinh vật cộng sinh có ích  
trong hệ thống tiêu hóa này theo phân ra khỏi cơ thể nhưng vẫn còn hoạt động  
ở “màng dinh dưỡng” một thời gian dài. Đây là một trong những nguyên nhân  
làm cho phân trùn có hàm lượng dinh dưỡng cao và có hiệu quả cải tạo đất tốt  
hơn dạng phân hữu cơ phân hủy bình thường trong tự nhiên.  
2.2.2. Hệ tuần hoàn  
Hệ tuần hoàn có dạng ống khép kín, gồm có: hệ mạch máu trung tâm, hệ  
mạch xung quanh ruột và vòng tuần hoàn ngoại biên. Máu của trùn quế là dịch  
thể màu hồng, không chứa các tế bào hồng cầu, nhưng trong huyết tương có  
hemoglobin nên máu có màu đỏ. Hệ tuần hoàn kết hợp với hệ hô hấp thông qua  
mạng lưới mao mạch dưới da tạo điều kiện trao đổi khí qua da.  
15  
2.2.3. Hệ hô hấp  
Trùn quế không có phổi, chúng hô hấp qua da. Oxy trong môi trường được  
hòa tan vào chất nhày trên bề mặt cơ thể trùn, sau đó thấm vào hệ thống mạch  
máu phân nhánh li ti bên trong rồi được vận chuyển đến các cơ quan, việc thải  
CO2 cũng thông qua một tiến trình tương tự. Trùn quế có khả năng hấp thu oxy  
và thải CO2 trong môi trường nước, điều này giúp cho chúng có khả năng sống  
trong nước từ 10 đến 30 ngày, thậm chí trong nhiều tháng.  
2.2.4. Hệ bài tiết  
Hệ thống bài tiết của trùn quế bao gồm một cặp thận ở mỗi đốt, các cơ  
quan này bảo đảm cho việc bài tiết các chất thải chứa đạm dưới dạng  
amoniac và urê.  
2.2.5. Hệ thần kinh  
Gồm hạch não, chuỗi hạch thần kinh bụng và dây thần kinh cùng với các  
cơ quan cảm nhận và cung phản xạ, trong hệ thần kinh có một số tế bào tiết ra  
các kích thích tố ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh sản.  
Trùn quế không có mắt nhưng rất nhạy cảm với ánh sáng nhờ tế bào cảm  
nhận ánh sáng phân tán dưới da.  
2.2.6. Hệ sinh dục  
Trùn quế là loài động vật lưỡng tính, trên mỗi con trùn đều có cả bộ phận  
sinh dục đực (tinh hoàn, túi chứa tinh, ống dẫn tinh và tuyến tiền liệt) và bộ  
phận sinh dục cái (buồng trứng, ống dẫn trứng và túi nhận tinh). Bộ phận sinh  
dục này nằm ở vị trí đốt thứ 18 đến 22 của trùn, lệch về phía đầu, đây được gọi  
là đai sinh dục. Ở đốt thứ 6-8 có hai lỗ, đây là nơi có túi nhận tinh.  
3. Đặc tính sinh lý của trùn quế  
Trùn quế rất nhạy cảm, chúng phản ứng mạnh với ánh sáng, nhiệt độ, độ  
mặn và điều kiện khô hạn.  
3.1. Nhiệt độ  
Trùn quế có thể sống được trong khoảng nhiệt độ từ 20-300C. Tuy nhiên,  
nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng phát triển của trùn từ 25-280C. Ở điều  
kiện nhiệt độ quá thấp, chúng sẽ ngừng hoạt động và có thể chết.  
Nhiệt độ không phù hợp sẽ ảnh hưởng đến sự hoạt động, sự chuyển hóa,  
quá trình sinh trưởng, hô hấp và sinh sản của trùn. Theo Lofs - Holmin (1995).  
3.2. Ẩm độ  
Độ ẩm là yếu tố rất quan trọng cho sự phát triển của trùn. Độ ẩm thích hợp  
nhất đối với trùn quế trong khoảng 60-70% (Ewards, C. A. (1983)). Trùn rất  
thích sống trong môi trường ẩm ướt. Trong tự nhiên, trùn quế thích sống nơi  
ẩm thấp, gần cống rãnh hoặc nơi có nhiều chất hữu cơ dễ phân hủy và thối rữa  
như trong các đống phân động vật, các đống rác hoai mục.  
16  
3.3. Ánh sáng  
Trùn rất sợ ánh sáng mặt trời. Tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời rất có hại  
cho trùn và có khả năng giết chết trùn (Hình 1.1.14). Trùn né tránh ánh sáng  
mặt trời, ánh sáng đèn chiếu mạnh, ánh sáng màu xanh và tia tử ngoại nhưng  
không sợ ánh sáng của tia hồng ngoại (Ewards, C.A. (2000)).  
Hình 1.1.14. Không nên để ánh sáng  
Hình 1.1.15. Che chắn ánh sáng cho trùn  
mặt trời chiếu trực tiếp vào trùn  
Vì vậy, cần phải che chắn chuồng thật kỹ vào ban ngày để tránh ánh sáng  
mặt trời chiếu trực tiếp lên bề mặt luống trùn (Hình 1.1.15).  
3.4. Không khí  
Không khí ảnh hưởng đến sinh trưởng, sinh sản của trùn chủ yếu là hàm  
lượng O2 và CO2. Trùn có thể chịu đựng được với nồng độ CO2 khoảng 0,01-  
11,5%. Ngoài O2 và CO2 thì cũng cần lưu ý đến các chất khí có hại như: Cl2,  
NH3, H2S, SO2, SO3, CH4. Willis (1995) và Edwards (1998) cho rằng trùn quế  
không thể sống tốt trong chất thải hữu cơ chứa nhiều NH3.  
3.5. Độ pH  
Độ pH: là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển  
của trùn. Trùn quế ưa thích điều kiện nuôi có độ pH ổn định, thích hợp nhất  
trong khoảng pH từ 6,8-7,5, nhưng chúng có khả năng chịu đựng được phổ pH  
khá rộng từ 4-9, nếu pH quá thấp, chúng sẽ bỏ đi.  
Vì vậy, thức ăn cho trùn cần được kiểm tra, xử lý sao cho đạt độ pH thích  
hợp. Có thể dùng quỳ tím để đo pH trong thức ăn của trùn.  
4. Sự sinh trưởng và sinh sản  
4.1. Sự sinh trưởng  
Trùn sinh trưởng bằng phương thức tăng số lượng đốt thân hoặc tăng tiết  
diện đốt thân. Trong quá trình sinh trưởng, thể trọng và thể tích của trùn tăng  
17  
lên. Khi trùn xuất hiện đai sinh dục là lúc trùn đã thành thục về mặt sinh dục,  
khi đai sinh dục thoái hóa là trùn đã già. Trùn có khả năng tái sinh một bộ  
phận nào đó bị tổn thương hoặc bị cắt đứt, có thể tái sinh cả phía trước và phía  
sau của cơ thể.  
4.2. Sự sinh sản  
Trùn quế sinh sản rất nhanh trong điều kiện khí hậu nhiệt đới tương đối ổn  
định và có độ ẩm cao như điều kiện của khu vực phía Nam. Theo nhiều tài liệu,  
từ một cặp ban đầu trong điều kiện sống thích hợp có thể tạo ra từ 1.000-1.500  
cá thể trong một năm.  
Khi giao phối chúng đóng tất cả các cơ quan kích thích khác, nên không  
phản ứng với ánh sáng và sự tiếp xúc. Một lượng lớn chất nhầy được cả hai tiết  
ra, nhờ đó trùn trao đổi được tinh trùng cho nhau. Sau khi giao phối khoảng 1  
giờ, hai cá thể tách rời nhau ra.  
Để sinh sản được trùn  
phải tiến hành việc thụ tinh  
chéo nhau, đầu con này áp vào  
phần đuôi của con kia (hình  
1.1.16), tinh trùng của con này  
sẽ vào túi nhận tinh của con  
kia và tinh trùng sẽ tạm thời ở  
đó để chuẩn bị cho sự thụ tinh  
tiếp theo.  
Lúc này đai sinh dục dày  
lên, nhận một ít trứng rồi di  
Hình 1.1.16. Trùn đang giao phối  
chuyển lên phần trên đầu trùn  
và nhận tinh trùng ở túi đựng  
tinh, sau đó thoát ra ngoài (rơi  
ra đất) và tự thắt chặt hai đầu  
lại thành kén trùn, trong mỗi  
kén chứa 5-20 trứng.  
Số lượng kén đẻ ra tùy  
thuộc vào giống trùn và tuổi  
trưởng thành của trùn. Kén trùn  
có dạng thon dài, một đầu tròn,  
một đầu hơi nhọn, nhìn giống  
như hạt bông cỏ, kích thước  
kén khoảng 1-2 mm, ban đầu  
có màu trắng đục, sau chuyển  
sang nâu nhạt rồi nâu sẫm khi  
kén sắp nở (Hình 1.1.17).  
Hình 1.1.17. Kén trùn  
18  
Thời gian nở của mỗi kén  
hoàn toàn khác nhau, thời gian  
này tùy thuộc vào điều kiện  
môi trường, nhiệt độ, ẩm độ,  
trong điều kiện thích hợp thì  
sau 2- 3 tuần kén sẽ nở và trùn  
con chui ra ngoài (Hình 1.1.18).  
Hình 1.1.18. Trùn con chui ra khỏi kén  
Khi mới nở, trùn con nhỏ như đầu kim có màu trắng, dài khoảng 2-3 mm,  
sau 5-7 ngày cơ thể chúng sẽ chuyển dần sang màu đỏ và bắt đầu xuất hiện một  
vằn đỏ thẫm trên lưng. Khoảng từ 15-30 ngày sau, chúng trưởng thành và bắt  
đầu xuất hiện đai sinh dục (theo Arellano, 1997); từ lúc này chúng bắt đầu có  
khả năng bắt cặp và sinh sản.  
Thông thường nếu chăm sóc tốt trong điều kiện thích hợp trùn có thể đẻ  
kén liên tục mỗi tuần một lần, vì vậy số lượng trùn tăng lên rất nhiều sau một  
thời gian nuôi.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 118 trang yennguyen 18160 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình mô đun Chuẩn bị nuôi trùn - Nghề: Nuôi trùn quế từ phân gia súc, gia cầm và chất thải nông nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_mo_dun_chuan_bi_nuoi_trun_nghe_nuoi_trun_que_tu_p.pdf