Giáo trình mô đun Chăm sóc trùn - Nghề: Nuôi trùn quế từ phân gia súc, gia cầm và chất thải nông nghiệp
0
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN
CHĂM SÓC TRÙN
MÃ SỐ: MĐ 04
NGHỀ: NUÔI TRÙN QUẾ TỪ PHÂN GIA SÚC,
GIA CẦM VÀ CHẤT THẢI NÔNG NGHIỆP
Trình độ: Sơ cấp nghề
Hà Nội, 2017
LỜI NÓI ĐẦU
Ô nhiễm môi trường chăn nuôi hiện đang là vấn đề bức xúc ở nhiều
vùng nông thôn Việt Nam. Ở nhiều địa phương, nguồn nước quanh các khu
vực dân cư có các trang trại chăn nuôi đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh
hưởng đến sức khỏe và môi trường sống của người dân.
Nhiều công nghệ xử lý ô nhiễm chất thải chăn nuôi đã và đang được áp
dụng như công nghệ khí sinh học, ủ phân hữu cơ, nuôi giun, …. Do mỗi công
nghệ có những ưu điểm và hạn chế riêng đòi hỏi phải được áp dụng ở những
điều kiện phù hợp và nhiều khi cần phải có một tổ hợp các công nghệ khác
nhau áp dụng cho một trang trại chăn nuôi nhằm xử lý toàn diện, triệt để các
loại hình ô nhiễm của môi trường chăn nuôi.
Một trong những mục tiêu chính của Dự án Hỗ trợ Nông nghiệp Các bon
thấp (LCASP) là hỗ trợ kỹ thuật cho các chủ trang trại, các hộ chăn nuôi xử lý
bền vững môi trường chăn nuôi thông qua sử dụng chất thải chăn nuôi làm
nguồn nguyên liệu tạo ra các sản phẩm có giá trị, vừa giúp nâng cao thu nhập
của người dân, vừa giúp giảm ô nhiễm môi trường.
Hiện nay một số trang trại, hộ chăn nuôi đã ứng dụng các công nghệ để sử
dụng phân gia súc, gia cầm và phế thải nông nghiệp để nuôi trùn quế, .... Tuy
vậy, do chưa có tài liệu hướng dẫn chi tiết và người dân chưa được học nghề để
làm việc này, nên hiệu quả chưa cao. Xuất phát từ thực tế từ trước đến nay
chưa có tài liệu đào tạo nghề về lĩnh vực này, Dự án LCASP đã phối hợp với
Cục Kinh tế hợp tác, Bộ Nông nghiệp và PTNT, biên soạn bộ giáo trình đào tạo
sơ cấp nghề “Nuôi trùn quế từ phân gia súc, gia cầm và phế thải nông
nghiệp” nhằm giúp các hộ chăn nuôi có thêm kiến thức và kỹ năng để xử lý
hiệu quả môi trường chăn nuôi thông qua các hoạt động tạo thu nhập từ ứng
dụng công nghệ nuôi trùn quế từ chất thải chăn nuôi.
Bộ giáo trình được xây dựng với các mô đun, bài giảng lý thuyết và thực
hành có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Các thông tin trong giáo trình này có giá
trị hướng dẫn giáo viên thiết kế, tổ chức giảng dạy và vận dụng phù hợp với điều
kiện, bối cảnh thực tế của từng vùng trong quá trình dạy học.
Quá trình biên soạn giáo trình mặc dù đã hết sức cố g ng nhưng ch c ch n
không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp
từ các chuyên gia, các độc giả để giáo trình được điều chỉnh, bổ sung ngày càng
hoàn thiện hơn.
Để hoàn thiện được cuốn giáo trình này chúng tôi đã nhận được sự giúp
đỡ của các nhà khoa học, các cán bộ phụ trách kỹ thuật nông nghiệp, các thành
viên trong hội đồng nghiệm thu, các cán bộ và chuyên gia từ dự án Hỗ trợ nông
nghiệp các bon thấp, Trường Cao đẳng Cơ điện và Nông nghiệp Nam Bộ, Cục
Kinh tế Hợp tác, … đã tham gia đóng góp ý kiến chuyên môn và tạo mọi điều
kiện tốt nhất để hoàn thành xây dựng chương trình và biên soạn giáo trình này.
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
TS. Nguyễn Thế Hinh, Giám đốc dự án LCASP
1
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được
phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham
khảo. Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh
doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.
MÃ TÀI LIỆU: MĐ 04
2
LỜI GIỚI THIỆU
Mô đun “Chăm sóc trùn” được biên soạn theo chương trình của nghề Nuôi
trùn quế từ phân gia súc, gia cầm và chất thải nông nghiệp trình độ sơ cấp.
Sau khi học xong mô đun này người học có khả năng hiểu biết về tập tính ăn,
sinh trưởng, phát triển và sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường chất nền tác
động đến trùn. Thực hiện các kỹ năng trong công việc: cho trùn ăn, tưới ẩm,
kiểm tra và xử lý môi trường nuôi trùn; phòng trừ địch hại trùn, bệnh hại trùn;
nhân và san trùn.
Nội dung của giáo trình gồm có 6 bài, thời lượng giảng dạy và học tập là 88
giờ, trong đó lý thuyết là 12 giờ, thực hành 72 giờ, kiểm tra kết thúc mô đun là 4
giờ; gồm các bài saui:
Bài 1. Cho trùn ăn
Bài 2. Tưới ẩm
Bài 3. Kiểm tra môi trường nuôi trùn
Bài 4. Phòng địch hại cho trùn
Bài 5. Phòng trị bệnh hại trùn
Bài 6. Nhân, san trùn
Trong quá trình học, học viên được cung cấp những kiến thức cần thiết để
thực hiện công việc, thảo luận trên lớp theo nhóm, làm bài tập kết hợp với
thực hành kỹ năng nghề tại cơ sở nuôi và đi tham quan thực tế những mô hình
nuôi trùn quế đạt hiệu quả.
Kết quả học tập của học viên được đánh giá qua các bài kiểm tra kiến thức
và thực hành. Người học phải có ý thức học tập tích cực, tham gia học đầy đủ thời
lượng của mô đun.
Các thông tin trong giáo trình này có giá trị hướng dẫn giáo viên thiết kế, tổ
chức giảng dạy và vận dụng phù hợp với điều kiện, bối cảnh thực tế của từng vùng
trong quá trình dạy học.
Để hoàn thiện được cuốn giáo trình này chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ
của các nhà khoa học, các cán bộ phụ trách kỹ thuật nông nghiệp, các hộ nuôi
trùn quế, các thành viên trong hội đồng nghiệm thu đã tham gia đóng góp ý kiến
để chúng tôi xây dựng chương trình và biên soạn giáo trình.
3
Quá trình biên soạn giáo trình mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng chắc chắn
không tránh khỏi những sai sót. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ
các chuyên gia, các đọc giả để giáo trình được điều chỉnh, bổ sung ngày càng hoàn
thiện hơn.
Tham gia biên soạn:
1. Chủ biên: Dương Minh Hiền
2. Nguyễn Thị Chúc
3. Nguyễn Thị Thùy Linh
4. Huỳnh Hạnh Ngôn
4
LỜI CẢM ƠN
Nhóm tác giả chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ban Quản lý dự án Hỗ trợ nông
nghiệp các bon thấp, các nhà khoa học, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thiết
bị khí sinh học, hộ dân trong vùng Dự án Hỗ trợ nông nghiệp Các bon thấp
và đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ chúng tôi trong quá
trình biên soạn tài liệu này.
Trong quá trình biên soạn giáo trình dù đã hết sức cố gắng nhưng chắc
chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết. Chúng tôi rất mong nhận được ý
kiến đóng góp từ đồng nghiệp, các chuyên gia, nhà khoa học và độc giả để cuốn
giáo trình tiếp tục được chỉnh sửa, hoàn thiện trong lần tái bản.
Trân trọng cảm ơn!
Thay mặt nhóm tác giả
Dương Minh Hiền
5
MỤC LỤC
ĐỀ MỤC
TRANG
Bài 1: CHO TRÙN ĂN......................................................................................... 9
A. Nội dung........................................................................................................... 9
1.1. Thời điểm cho ăn sau khi thả giống............................................................... 9
1.2. Thời điểm cho trùn ăn định kỳ..................................................................... 10
3.1. Kiểm tra thức ăn........................................................................................... 12
3.2. Cho thức ăn vào dụng cụ chứa..................................................................... 12
5. Chuyển thức ăn vào chuồng............................................................................ 14
7. Cho thức ăn vào ô trùn.................................................................................... 17
8. Tưới ẩm sau khi cho ăn................................................................................... 19
Bài 2: TƯỚI ẨM TRÙN..................................................................................... 26
A. Nội dung......................................................................................................... 26
4. Chuẩn bị dụng cụ tưới..................................................................................... 28
5. Tưới nước........................................................................................................ 29
A. Nội dung......................................................................................................... 34
3. Kiểm tra ẩm độ sinh khối................................................................................ 35
6.1. Nhiệt độ........................................................................................................ 36
6
6.2. Ẩm độ........................................................................................................... 36
A. Nội dung......................................................................................................... 40
3. Xác định loại địch hại trùn.............................................................................. 41
4.2. Phương pháp dùng hóa chất......................................................................... 44
4.3. Phương pháp sinh học.................................................................................. 44
..........................................................................................................................46
6. Kiểm tra sau khi xử lý địch hại....................................................................... 47
A. Nội dung......................................................................................................... 52
3.1. Biểu hiện của bệnh....................................................................................... 52
5.2. Bệnh trúng độc khí....................................................................................... 54
A. Nội dung......................................................................................................... 60
7
BAN CHỦ NHIỆM XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ……78
HỘI ĐỒNG NGHIỆM THU CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ …………79
8
CÁC THUẬT NGỮ CHUYÊN MÔN, CHỮ VIẾT TẮT
Trùn quế: giun quế
Ô zoa: thùng tưới có vòi sen
%: Nồng độ phần trăm
‰: Nồng độ phần ngàn
O2 : Oxy
CO2: Cacbonic
oC: độ C
cm: centimet, đơn vị đo chiều dài
m: mét, đơn vị đo chiều dài
m2: mét vuông, đơn vị đo diện tích
m3: mét khối, đơn vị chỉ thể tích
g/l: gram/lít
mg/l: miligram/lít
9
Bài 1: CHO TRÙN ĂN
Mã bài: MĐ 04- 01
Giới thiệu bài
Cho trùn ăn là việc làm thường xuyên và quan trọng trong quá trình nuôi
trùn, để giúp trùn sinh trưởng tốt người nuôi cần phải xác định được đúng thời
điểm cho ăn và cung cấp đủ lượng thức ăn cho trùn, cũng như số lần cho ăn
thích hợp để đảm bảo trùn luôn đủ thức ăn và ăn hết sau mỗi lần cho ăn.
Mục tiêu
- Xác định được thời điểm và số lần cho trùn ăn hợp lý;
- Thực hiện cho trùn ăn đúng kỹ thuật;
- Kiểm tra được trùn sau khi cho ăn để điều chỉnh thức ăn;
- Tuân thủ qui trình thực hiện, đảm bảo an toàn lao động và vệ sinh môi
trường.
[
A. Nội dung
1. Xác định thời điểm cho ăn
1.1. Thời điểm cho ăn sau khi thả giống
Sau khi thả trùn giống, tiến hành cho trùn ăn, thời điểm cho ăn sau khi thả
giống phụ thuộc vào các yếu tố sau:
1.1.1. Khả năng thích nghi (hoạt động) của trùn sau thả
Trùn hoạt động tốt thì có thể cho ăn sau 6 đến 8 giờ, nếu trùn hoạt động
kém thời điểm cho ăn sau khi thả giống có thể kéo dài sau 1-2 ngày. Hoạt động
của trùn sau thả phụ thuộc vào phương thức vận chuyển và khoảng cách từ nơi
mua trùn đến nơi nuôi trùn. Nếu đoạn đường xa cùng với phương pháp vận
chuyển không phù hợp sẽ làm cho trùn bị mệt, hoạt động kém và ngược lại.
Ngoài ra, hoạt động của trùn còn phụ thuộc vào trùn giống. Nếu mua trùn giống
tốt, khỏe thì khả năng hoạt động của trùn sau thả sẽ tốt, trùn nhanh chống thích
nghi, còn nếu trùn giống không tốt thì khả năng thích nghi sẽ kém.
1.1.2. Loại trùn giống (sinh khối, trùn tinh)
Người nuôi sử dụng giống trùn bằng sinh khối (Hình 4.1.1) thì sau thả
giống 6 giờ nên cho trùn ăn. Nếu sử dụng giống bằng trùn tinh (Hình 4.1.2) thì
cho trùn ăn 2 ngày sau thả. Bởi vì, thả giống bằng trùn tinh thì trùn cần có thời
gian để trùn thích nghi với nơi ở mới, sau đó mới bắt đầu ăn. Nếu thả giống
bằng trùn tinh thì sau khi thả trùn sẽ lấy thức ăn từ chất nền nên thời gian cho ăn
có thể chậm lại.
10
Hình 4.1.1. Sinh khối trùn
Hình 4.1.2. Trùn tinh
1.2. Thời điểm cho trùn ăn định kỳ
Thời điểm cho trùn ăn ở những lần tiếp theo hay còn gọi là cho ăn định kỳ
được xác định dựa vào các yếu tố sau:
1.2.1. Lượng thức ăn trên bề mặt luống trùn
Tùy thuộc vào khả năng tiêu
thụ thức ăn của trùn ở mỗi luống
(mỗi ô) mà người nuôi quyết định
thời điểm cho ăn ở lần tiếp theo,
chỉ cho trùn ăn khi thấy trên bề
mặt luống trùn không còn thức ăn
thừa, mà chỉ còn một ít chất xơ và
bề mặt luống đã tơi xốp (Hình
4.1.3).
Hình 4.1.3. Trùn đã ăn hết thức ăn
Chú ý: không nên cho trùn
ăn khi lượng thức ăn cũ còn (Hình
4.1.4), vì lượng thức ăn bị tồn
đọng phía dưới luống sẽ làm cho
trùn chỉ lo tập trung ăn và sống
phía dưới luống mà không sống
trên bề mặt. Điều này sẽ làm giảm
khả năng sinh sản của trùn.
Hình 4.1.4. Hiện tượng trùn chưa ăn hết thức ăn
11
1.2.2. Số lượng trùn có trong luống nuôi
Số lượng trùn có trong luống được ước tính dựa vào số lượng trùn giống
ban đầu. Cùng một lượng thức ăn/lần ăn nhưng nếu thả với mật độ dày (khoảng
2 kg trùn tinh/m2 hoặc 15-20 kg sinh khối/ m2) thì khoảng cách mỗi lần cho ăn
nên dao động từ 2-3 ngày, còn nếu thả với mật độ thưa (khoảng 0,5 đến 1 kg
trùn tinh/m2 hoặc 5-10 kg sinh khối/m2) thì khoảng cách mỗi lần cho ăn có thể
dao động từ 4-5 ngày.
1.2.3. Số lượng thức ăn trong mỗi lần cho ăn
Cho trùn ăn một lớp mỏng khoảng 2-3 cm (lượng thức ăn ít) thì thời
điểm cho ăn tiếp theo sẽ gần hơn so với cho trùn ăn một lớp dày từ 5 cm trở
lên (lượng thức ăn nhiều).
1.2.4. Thời tiết (mùa)
Vào mùa xuân - hè thì khoảng 2-3 ngày cho trùn ăn một lần, còn vào mùa
thu - đông thì khoảng thời gian này dài hơn, khoảng 4-5 ngày cho trùn ăn 1 lần.
Vì nhiệt độ thích hợp cho trùn sinh trưởng, sinh sản và phát triển là 25-30oC nên
mùa xuân - hè trùn sẽ ăn nhiều hơn và sinh sản nhiều hơn mùa thu - đông.
Như vậy, người nuôi có thể định kỳ từ 2 đến 5 ngày cho trùn ăn một lần tùy
vào tình hình thực tế của mỗi luống trùn.
2. Tính lượng thức ăn cho trùn
Trước khi cho trùn ăn, người nuôi nên tính lượng thức ăn để chuẩn bị thức
ăn cho trùn và đảm bảo trùn sẽ ăn hết sau mỗi lần cho ăn. Lượng thức ăn cho
trùn được tính dựa vào các yếu tố sau:
- Khối lượng trùn tinh ở mỗi luống: lượng trùn tinh ở mỗi luống được xác
định dựa vào mật độ thả trùn giống. Thông thường, trong một ngày trùn sẽ ăn
hết một lượng thức ăn bằng 2/3 đến tương đương với khối lượng của cơ thể. Do
đó, nếu mật độ trùn tinh là 2 kg/m2 thì lượng thức ăn cần cung cấp cho trùn 1
ngày là khoảng 1,5 kg đến 2 kg thức ăn. Vì vậy, nếu định kỳ 3 ngày cho trùn ăn
1 lần thì lượng thức ăn cần có là khoảng 4-6 kg/m2.
- Độ dày của thức ăn/1 lần: vào mùa hè 2-3 ngày cho trùn ăn 1 lần, lượng
thức ăn bón trên bề mặt luống dày từ 2- 3 cm thì lượng thức ăn trên mỗi lần cho
ăn sẽ ít. Đến mùa đông, lượng thức ăn bón trên bề mặt luống dày khoảng 5 cm,
thời gian cho ăn cũng thưa hơn mùa hè (4-5 ngày cho ăn một lần) thì lượng thức
ăn trên mỗi lần cho ăn sẽ nhiều. Mặc dù mùa hè trùn ăn nhiều hơn nhưng do
nhiệt độ cao làm cho ẩm độ chất nền giảm, thức ăn để lâu sẽ bị khô cứng nên
cung cấp một lớp mỏng để đảm bảo thức ăn luôn luôn mềm trong suốt quá trình ăn.
- Loại thức ăn: lượng thức ăn cũng có thể thay đổi đối với từng loại thức ăn.
Nếu thức ăn là phân bò tươi thì cách tính tương tự như trên, còn nếu thức ăn là bã
thải từ hầm ủ biogas; thức ăn đã qua quá trình ủ như phân gia súc gia cầm ủ với
rơm rạ, cây cỏ khô, bã khoai mì ... hay thức ăn là rác thải hữu cơ đã được ủ hoai thì
12
lượng thức ăn cho trùn ăn có thể tăng thêm một ít (khoảng 20%) vì loại thức ăn này
có độ tơi xốp cao giúp trùn dễ dàng trú ẩn nên trùn thích ăn và ăn nhiều hơn.
3. Chuẩn bị thức ăn
3.1. Kiểm tra thức ăn
3.1.1. Kiểm tra thức ăn là phân bò tươi
Trước khi cho ăn bò cần kiểm tra các chất có hại cho trùn như: nước tiểu,
xà phòng, hóa chất hoặc các loại côn trùn gây hại.
Sau khi kiểm tra nếu phân bò tươi không lẫn các chất gây hại cho trùn thì có
thể sử dụng phân bò tươi này làm thức ăn nuôi trùn. Nếu quá trình kiểm tra mà
phát hiện phân bò tươi có lẫn những chất các có hại cho trùn, cần phải xử lý trước
khi đem cho trùn ăn.
- Trường hợp trong phân bò có lẫn xà phòng, hóa chất thì loại bỏ, không sử
dụng phân này làm thức ăn cho trùn
- Trường hợp phân có lẫn nước tiểu thì cần loại bỏ nước tiểu: đổ hết nước
tiểu có trong phân ra khỏi xô, với cách làm này thì một lượng lớn nước tiểu vẫn
còn lẫn trong phân. Do đó, chúng ta có thể loại bỏ nước tiểu trong phân bằng
cách nhẹ nhàng thêm một ít nước vào xô phân và sau đó nhẹ nhàng đổ nước ra
bỏ, lặp đi lặp lại 2-3 lần thì có thể loại bỏ được phần nước tiểu có trong phân.
3.1.2. Kiểm tra thức ăn đã được xử lý
Trùn quế sử dụng trực tiếp phân bò tươi, còn phân của một số loại gia súc,
gia cầm khác như dê, thỏ, heo, gà vịt … đặc biệt là phân của các loài động vật
ăn tạp (loài ăn nhiều tinh bột và đạm) thì đem ủ hoai mục với chất thải nông
nghiệp để cho trùn ăn nhằm tránh hiện tượng ngộ độc axít. Phân sau khi ủ đã
hoai mục thì sử dụng cho trùn ăn. (Xem nội dung bài 4 – giáo trình mô đun 1).
3.2. Cho thức ăn vào dụng cụ chứa
Sau khi kiểm tra thức ăn ủ
hoai mục, lấy một lượng thức ăn
cần thiết cho vào thau, xô, chậu,
thùng phuy, bể trộn ... để pha
loãng thức ăn. Đối với thức ăn
được lấy ra từ đống ủ, để cho bay
hết khí (hơi) độc rồi đem cho
trùn ăn (Hình 4.1.5).
Hình 4.1.5. Múc thức ăn cho vào xô
Bể trộn thức ăn cho trùn thường được các trang trại lớn sử dụng, bể này
thường được đặt đầu mỗi luống trùn để thuận tiện cho việc vận chuyển thức ăn
đến cho trùn ăn.
13
4. Pha loãng thức ăn
Thức ăn cần được pha loãng trước khi cho trùn ăn, để thức ăn mềm cho
trùn ăn dễ dàng, đồng thời cung cấp ẩm độ cho trùn để trùn sinh trưởng và
phát triển tốt.
Các bước tiến hành pha loãng như sau:
- Bước 1. Chuẩn bị dụng cụ
Xô đựng nước, gáo múc nước, ca múc thức ăn, xô đựng thức ăn, dụng cụ
nhào trộn thức ăn (cuốc, cây ...)
- Bước 2. Xác định lượng nước cần thêm vào đối với từng loại thức ăn
* Đối với phân bò tươi:
Do phân bò tươi có chứa 80% nước (xem nội dung bài 3 – giáo trình mô
đun 1) nên việc pha loãng dễ dàng hơn và lượng nước pha vào ít hơn so với các
loại thức ăn khác. Thông thường, tỉ lệ phân/nước là 1:1 hoặc 3:2 (nghĩa là 1
phần phân và 1 phần nước hoặc 3 phần phân và 2 phần nước).
* Đối với phân bò khô (ít được sử dụng hoặc chỉ dùng để ủ với phụ phẩm)
Do hàm lượng nước trong phân bò sau khi phơi khô rất ít hoặc không còn
nên phân bò khô thường cứng do đó lượng nước thêm vào rất nhiều với tỉ lệ
phân/nước là 1:3, nghĩa là để pha loãng 1 kg phân khô thì thêm vào 3 đến 4 lít
nước.
* Đối với phân và các chất thải nông nghiệp đã được ủ hoai mục thì lượng
nước thêm vào phụ thuộc và độ ẩm của đống ủ. Thông thường, độ ẩm đống ủ đạt
tiêu chuẩn là 60-70%. Tuy nhiên, trước khi sử dụng sản phẩm này làm thức ăn
cho trùn, độ ẩm của đống ủ này giảm xuống còn khoảng 30-40% do hiện tượng
bay hơi nước của đống ủ. Vì vậy, lượng nước thêm vào có thể dao động từ 1-1,5
lít nước/kg thức ăn (tỉ lệ phân/ nước là 2/3 hoặc 1/1).
- Bước 3. Pha loãng phân
+ Cho nước từ từ vào thức ăn (Hình 4.1.6).
Hình 4.1.6. Cho nước vào thức ăn
14
+ Khuấy đều hoặc dùng cuốc nhào trộn thức ăn
- Bước 4. Kiểm tra độ loãng của
thức ăn, thức ăn thường được pha
loãng dạng sệt (Hình 4.1.7).
Hình 4.1.7. Kiểm tra độ loãng của thức ăn
- Bước 5. Thu dọn vệ sinh
Sau khi pha loãng thức ăn thì nên rửa toàn bộ dụng cụ, chỉ để lại cây nhào
trộn trong xô thức ăn.
Lưu ý: Thức ăn sau khi pha loãng cần để 1-2 ngày cho thức ăn mềm và
nhuyễn, trong thời gian này, thỉnh thoảng khuấy đều để thức ăn mịn hơn. Nếu
thức ăn đã xử lý rồi (đã ủ) thì bỏ qua bước này.
5. Chuyển thức ăn vào chuồng
Thức ăn sau khi được pha loãng với nước ở dạng sệt sẽ được đưa vào từng
ô nuôi bằng các cách sau:
- Cách 1: Xách hoặc bê
thức ăn trong xô/chậu/thau ...
Phương pháp này được sử dụng
đối với qui mô nuôi nhỏ (Hình
4.1.8).
Hình 4.1.8. Xách thức ăn vào chuồng
- Cách 2: Cho thức ăn vào xe đẩy và đẩy đến từng luống trùn. Phương pháp
này được sử dụng đối với qui mô nuôi lớn (Hình 4.1.9 và Hình 4.1.10).
15
Hình 4.1.9. Múc thức ăn vào xe đẩy
Hình 4.1.10. Thức ăn được đẩy vào
chuồng
6. Xới đảo sinh khối trùn
Mục đích của việc xới đảo sinh khối trùn trước khi cho ăn là:
- Làm cho không khí lưu thông giúp trùn hô hấp tốt hơn
- Kiểm tra xem thức ăn cũ còn tồn động phía dưới chất nền hay không (xem
trùn đã ăn hết thức ăn hay chưa).
- Đánh giá sơ bộ sự sinh trưởng và phát triển của trùn sau mỗi lần ăn, tức là
quan sát xem trùn có hoạt động tốt hay không, có sinh sản không thông qua số
lượng kén, trùn con và trùn trưởng thành.
* Các bước tiến hành xới đảo sinh khối trùn
- Bước 1. Chuẩn bị dụng cụ
Dụng cụ dùng để xới đảo sinh khối trùn là chỉa có răng hoặc cây cào
(Hình 4.1.11).
Hình 4.1.11. Chỉa có răng
16
Ngoài ra, nếu nuôi với diện tích
nhỏ như trong khay, chậu, thùng xốp
thì có thể dùng tay đã mang bao tay để
xới đảo sinh khối trùn (Hình 4.1.12).
Lưu ý: Không dùng các dụng cụ
khác vì làm trùn bị tổn thương.
Hình 4.1.12. Mang bao tay
- Bước 2. Mở tấm che phủ phía
trên luống trùn ra (Hình 4.1.13).
Hình 4.1.13. Mở tấm che phủ
- Bước 3. Xác định độ dày sinh
khối cần được xới đảo: độ dày sinh
khối trùn là khoảng 15 cm từ mặt
luống xuống dưới (Hình 4.1.14) nhưng
phần sinh khối cần được xới đảo chỉ
cần từ 5-7 cm từ trên mặt luống xuống
vì phần lớn lượng trùn tập trung lên
đây để ăn và sinh sản, còn phần dưới là
phân trùn, kén và một ít trùn con mới
nở, nếu xới đảo phần này có thể làm
tổn thương trùn con.
Hình 4.1.14. Độ dày sinh khối
- Bước 4. Tiến hành xới đảo.
Người nuôi cầm chỉa có răng hay dùng tay nhẹ nhàng xới đảo sinh khối trùn
từ trong ra ngoài hoặc từ trái sang phải theo một đường thẳng để đảm bảo rằng
toàn bộ sinh khối trên bề mặt luống trùn được xới đảo đều và không làm tổn
thương trùn (Hình 4.1.15 và (Hình 4.1.16).
17
Hình 4.1.15. Xới đảo bằng tay
Hình 4.1.16. Xới đảo bằng chỉa
- Bước 5. Kiểm tra sinh khối trùn sau khi xới đảo
Quan sát xem bề mặt luống trùn đã được xới đảo đều hay chưa, độ dày sinh
khối xới đảo có đúng không, trùn có bị thương sau khi xới đảo không ...
7. Cho thức ăn vào ô trùn
7.1. Chọn phương pháp cho ăn
Có 2 phương pháp cho ăn mà người nuôi thường dùng là: cho thức ăn
thành từng khóm hoặc cho thức ăn thành từng vệt.
+ Cho thức ăn vào ô nuôi
(luống nuôi) thành từng khóm:
thức ăn được bón lên bề mặt
luống thành từng khóm (mô) có
đường kính khoảng 10-20 cm, độ
dày từ 2-5 cm và mỗi khóm cách
nhau từ 5-10 cm (Hình 4.1.17).
Hình 4.1.17. Cho trùn ăn thành từng khóm
+ Cho thức ăn vào luống
thành vệt dài: thức ăn được bón
lên bề mặt luống thành từng vệt
dài, mỗi vệt có đường kính
khoảng 10-15 cm, độ dày từ 2-5
cm và cách nhau từ 5-10 cm.
(Hình 4.1.18).
Hình 4.1.18. Cho trùn ăn theo từng vệt dài
18
* Lưu ý: + Không cho thức ăn lên đầy kín luống trùn mà phải để khoảng
trống giữa các khóm, các vệt thức ăn để thoát khí độc và để trùn có chỗ lẫn tránh
khi thức ăn có chất độc mà trùn không thích.
+ Không bón lớp thức ăn quá dày trên bề mặt luống trùn vì nếu bón dày
trùn sẽ không bò lên bề mặt luống để giao phối sinh sản được.
7.2. Chuẩn bị dụng cụ
Có thể dùng một trong các dụng
cụ sau để múc thức ăn cho trùn:
+ Ca múc nước bằng nhựa có
cán hoặc có tay cầm (loại 1-2 lít),
loại này thường được sử dụng cho
diện tích nhỏ như trong thùng xốp,
khay chậu hoặc ô chuồng xi măng
(Hình 4.1.19).
Hình 4.1.19. Ca nhựa
+ Gáo múc nước bằng nhựa,
gáo dừa… có buộc thêm cán bằng tre
trúc, dài khoảng 1-1,5 m. Loại này
thường được sử dụng khi chuồng
nuôi có bề ngang trên 1 mét (Hình
4.1.20).
Hình 4.1.20. Gáo múc thức ăn có cán dài
+ Muỗng nhôm hoặc muỗng
inox có cán dài, có thể buộc hoặc
không buộc cán tre tùy chiều ngang
của luống trùn (Hình 4.1.21).
Hình 4.1.21. Muỗng inox
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình mô đun Chăm sóc trùn - Nghề: Nuôi trùn quế từ phân gia súc, gia cầm và chất thải nông nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_mo_dun_cham_soc_trun_nghe_nuoi_trun_que_tu_phan_g.pdf

