Một số đặc điểm quang hợp của cây đước đôi (Rhizophora apiculata Blume) trong rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh

Nghiên cứu khoa học công nghệ  
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM QUANG HỢP CỦA CÂY ĐƯỚC ĐÔI  
(Rhizophora apiculata Blume) TRONG RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ,  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
ĐỖ PHONG LƯU (1), ZHIRENKO NIKOLAY GEORGIEVICH (2), NGUYỄN THÁI SƠN (3)  
NGUYỄN TRUNG ĐỨC (1), HUỲNH ĐỨC HOÀN (4), NGUYỄN VĂN THỊNH (1)  
,
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Rừng ngập mặn (RNM) phân bố ở 123 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao phủ  
khoảng 152000 km2, chiếm 0,5% diện tích vùng ven biển toàn cầu [1]. Các nghiên  
cứu gần đây đã chỉ ra rằng, RNM có thể lưu trữ tới 1083±378 MgC/ha [2], lớn gấp 3  
đến 5 lần so với rừng trên cạn [3]. Tuy nhiên, các hoạt động dân sinh đang làm cho  
hệ thống khí hậu toàn cầu ấm lên, gây gia tăng sự biến đổi nhiệt độ và nồng độ CO2  
trong không khí. Sự thay đổi các yếu tố môi trường này là một trong những nguyên  
nhân trực tiếp tác động đến quá trình phát triển của RNM [4].  
Sự phụ thuộc của tốc độ đồng hóa CO2 ròng qua lá của thực vật trên cạn An  
(mol CO2 m-2s-1) vào các thông số môi trường (nhiệt độ, độ ẩm, nồng độ CO2 trong  
không khí...) là một trong những thành phần quan trọng nhất thể hiện phản hồi của  
thực vật và yếu tố môi trường [5]. Trong khi các nghiên cứu về phản ứng quang hợp  
với nhiệt độ của các loài cây ôn đới tương đối phổ biến thì đối với các loài cây nhiệt  
đới và các hệ sinh thái RNM vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Tuy nhiên cũng đã  
có một số mô hình toán học mô phỏng và thực nghiệm liên quan đến các yếu tố môi  
trường khác nhau với quá trình sinh lý ở thực vật ngập mặn. Cụ thể là sự thoát hơi  
nước, sự dẫn truyền của khí khổng, quá trình quang hợp hoặc hô hấp [6, 7].  
Với diện tích 32466 ha, trong đó trên 17000 ha diện tích Đước đôi  
(Rhizophora apiculata Blume) [8], RNM Cần Giờ (TP. Hồ Chí Minh) có vai trò  
quan trọng duy trì cân bằng sinh thái và cải thiện môi trường, thích ứng với biến đổi  
khí hậu (BĐKH). Tuy đã có một số nghiên cứu đánh giá năng lực hấp thụ CO2 và  
trữ lượng các bon của cây Đước đôi tại hệ sinh thái RNM Cần Giờ [9, 10] nhưng  
hầu hết các nghiên cứu đều chưa đánh giá được ảnh hưởng của quá trình nóng lên  
toàn cầu đến năng lực tích luỹ các bon của đối tượng thực vật này để dự đoán phản  
hồi của quần thể thực vật trong bối cảnh BĐKH.  
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu về năng suất quang hợp ở loài Đước đôi  
phân bố trong vùng lõi của RNM Cần Giờ thông qua các phân tích dữ liệu thu được  
từ các phép đo quang hợp ban ngày nhằm ước lượng sự thay đổi tốc độ quang hợp  
của Đước đôi theo sự biến đổi nhiệt độ và nồng độ CO2.  
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
RNM Cần Giờ, được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển đầu tiên ở  
Việt Nam vào năm 2000 [11], nằm trong quần thể bãi triều cửa sông, nơi sông Vàm  
Cỏ, sông Sài Gòn và sông Đồng Nai đổ ra Biển Đông (hình 1). Khu vực này bị ảnh  
hưởng bởi chế độ bán nhật triều không đều với biên độ trung bình 2 m, đạt cực đại  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
3
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
đến 4 m vào mùa xuân. Khí hậu có đặc trưng là chế độ gió mùa, với mùa khô kéo  
dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau và mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11. Lượng  
mưa trung bình năm là 1816 mm với phần lớn tập trung vào mùa mưa và có tới 154  
ngày mưa trong năm. Nhiệt độ trung bình năm 27,4°C, cao nhất (37,6°C) vào tháng  
10 và thấp nhất (21,7°C) vào tháng 2. Độ ẩm trung bình năm 86%, song thường dao  
động từ 80,8% đến 91,4% [11].  
Thực vật được dùng làm đối tượng nghiên cứu là cây trưởng thành có nguồn  
gốc tự nhiên của loài Đước đôi (Rhizophora apiculata Blume), họ Rhizophoraceae.  
Chiều cao trung bình của cây là 5,0±0,5 m, đường kính trung bình ở độ cao 1,3 m là  
11,3±0,5 cm.  
01 ô tiêu chuẩn kích thước 20 x 20 m đã được thiết lập để tiến hành nghiên  
cứu. Vị trí khu vực nghiên cứu được chỉ ra tại hình 1.  
Hình 1. Vị trí khu vực nghiên cứu  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Phép đo trao đổi khí  
Trong nghiên cứu này, năng suất đồng hóa CO2 ròng qua lá của cây Đước đôi  
được đo bằng Hệ thống quang hợp di động LI-6800 (LI-6800, Li-Cor, Lincoln, NE,  
Hoa Kỳ). Ngoài hệ thống này, một nguồn sáng nhân tạo đã được sử dụng trong quá  
trình nghiên cứu (LI-6800-02, Li-Cor, Lincoln, NE, Hoa Kỳ). Độ chính xác của các  
phép đo nồng độ CO2 trên 200 μmol mol-1 của hệ thống nằm trong khoảng 1%. Độ  
chính xác của phép đo nhiệt độ giao động trong khoảng ±0,5°C. Độ chính xác của  
cảm biến PAR trong buồng lá của hệ thống không thấp hơn ±5%.  
4
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Các mẫu lá của Đước đôi trưởng thành, không có khiếm khuyết, nằm ở vòng lá  
thứ 2 của chồi lá được sử dụng làm đối tượng đo năng suất quang hợp trực tiếp. Các lá  
mẫu sau khi lựa chọn được đặt vào buồng lá của Hệ thống Li-6800 có khẩu độ 3x3 cm.  
Các thông số cần thiết cho mỗi loại nghiệm thức đo thực nghiệm gồm: cường độ của  
PAR, nhiệt độ và độ ẩm của không khí, nồng độ CO2 trong không khí - được thiết lập  
cho buồng lá thông qua hệ thống máy chủ. Năng suất quang hợp ứng với mỗi nghiệm  
thức riêng lẻ được đo trên 2-4 lá khác nhau. Các giá trị được tính trung bình, các hàm  
tương quan được khảo sát và xây dựng từ các giá trị thực nghiệm.  
Để xác định động lực quang hợp theo  
ngày của Đước đôi một cách toàn diện, điều  
quan trọng là phải đo năng suất quang hợp  
trên toàn bộ mặt cắt dọc của tán cây, vì các  
nhánh trên và dưới có các đặc điểm, tiếp xúc  
với ánh sáng, môi trường khác nhau và có thể  
phản ứng không giống nhau với nhiệt độ.  
Trong thực tế, điều kiện ánh sáng rất biến  
động theo chiều dọc tán cây do mật độ tán lá  
trên cao hạn chế khả năng tiếp cận ánh sáng  
ở các tán thấp hơn. Vì sự phân bố ánh sáng  
thường tăng theo chiều cao tán, nhiệt độ của  
lá cũng tăng theo. Vì lẽ đó, để đo cường độ  
quang hợp ở các phần khác nhau của tán cây,  
một hệ thống giàn giáo đã được lắp đặt gần  
một trong những cây nghiên cứu (hình 2).  
Với sự trợ giúp của hệ thống này, động lực  
Hình 2. Xác định cường độ quang  
hợp và PAR của Đước đôi  
ngày của cường độ quang hợp ở các phần trên, giữa và dưới của tán cây Đước đôi đã  
được thu thập.  
Các phép đo khảo sát sự phụ thuộc của cường độ quang hợp và thoát hơi nước  
vào nhiệt độ và nồng độ CO2 được thực hiện trên các đoạn cành dài 15-30 cm, được  
cắt từ phần đỉnh tán của cây Đước đôi.  
2.2.2. Mô hình toán học của các phản ứng quang hợp với sự biến động của  
các yếu tố môi trường  
Các thông số của mô hình quang hợp Farquhar- von Caemmerer - Berry  
(FvCB) [12] thường được sử dụng để mô tả các mối quan hệ sinh hóa cơ bản của tỷ  
lệ đồng hóa CO2 ròng của thực vật, đồng thời mô hình hóa tác động môi trường đến  
năng suất quang hợp thực vật [13]. Mô hình quang hợp FvCB đã được chứng minh  
là một phương pháp sinh hóa hữu ích cho quá trình quang hợp ở thực vật C3 và đã  
được trích dẫn hơn 5000 lần trong 35 năm qua [14].  
ꢁ
휃퐴ꢀ − 퐴ꢀ(푎ꢂ푄+퐴ꢃꢄꢅ)퐽 + 푎ꢂ푄퐴ꢃꢄꢅ = 0  
(1)  
Năng suất quang hợp thuần được tính bởi:  
퐴ꢆ = 퐴ꢀ − 푅ꢇ  
(2)  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
5
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Trong đó: 푎ꢂ là hiệu suất lượng tử  
ban đầu (mol mol−1); 푄 bức xạ hoạt động  
quang hợp (μmol photon m-2 s-1);  
퐴ꢆ(μmol m-2 s-1) là năng suất quang hợp  
thuần; 퐴ꢀ (μmol m-2 s-1) là tổng năng suất  
quang hợp; 푅ꢇ (μmol m-2 s-1) là lượng  
CO2 sinh ra từ quá trình hô hấp của lá  
tại 푄 = 0 (hô hấp tối); 퐴ꢃꢄꢅ (μmol m-2 s-1)  
là năng suất quang hợp tối đa tại điểm bão  
hòa ánh sáng, và 휃 là độ cong của đường  
cong phản ứng lượng tử của sự vận  
chuyển điện tử tiềm năng (phản ánh mức  
độ uốn của đường cong quang hợp).  
Vùng bảo hoà  
휃
Amax  
½Amax  
Điểm bảo hoà ánh  
K
M  
Điểm bù sáng (LCP) 훤  
푅ꢇ  
Hình 3. Đường cong bão hòa ánh sáng  
thể hiện phản ứng của năng suất quang  
hợp đối với PAR  
Dựa vào công thức (1) và (2) cùng mô hình động học enzyme Michaelis -  
Menten [15] mô tả toán học các đường cong phản ứng ánh sáng của năng suất quang  
hợp được biểu diễn như sau: 퐴ꢆ=퐴ꢃꢄꢅ· 푄 /(푄 +퐾ꢈ) - 푅ꢇ  
(3)  
Trong đó 퐾ꢈ là cường độ ánh sáng quang hợp tại đó cường độ quang hợp  
bằng một nửa mức cực đại 퐴ꢆ = ½ 퐴ꢃꢄꢅ (hình 3), các giá trị của 퐾ꢈ thường được  
các nhà nghiên cứu sử dụng khi so sánh các đặc điểm sinh lý của thực vật.  
Điểm bù sáng (LCP) được xác định theo nghiên cứu Gardiner và Krauss  
(2001) [16]:  
LCP = 퐾ꢈ푅ꢇ/(푅ꢇ - 퐴ꢃꢄꢅ  
)
(4)  
Để đánh giá hiệu quả của quang hợp, đề xuất sử dụng hệ số góc của tiếp tuyến  
với đường cong của hàm (3) tại điểm tương ứng với 퐾ꢈ để phản ánh mức độ uốn  
của đường cong quang hợp (휃). Theo quan điểm vật lý, hệ số này phản ánh tốc độ  
thay đổi cường độ quang hợp với sự thay đổi PAR. Giải pháp này cho phép tiến  
hành phân tích so sánh các kết quả thu được trong nghiên cứu với kết quả nghiên  
cứu khác.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Động lực ngày của cường độ quang hợp và PAR  
Để xác định các quy luật sinh lý xảy ra trong cây Đước đôi biến động ra sao  
theo các thời điểm trong ngày, vào ngày 16 tháng 6 năm 2020, đã đo thực nghiệm  
các động thái ngày cường độ quang hợp và PAR ở phần đỉnh ngọn (ĐN), giữa tán  
(GT) và dưới tán (DT) của cây trong điều kiện tự nhiên (hình 4). Trong quá trình đo,  
các thông số sau được duy trì trong buồng lá của thiết bị: nhiệt độ không khí 30oC,  
¹
độ ẩm không khí 70%, nồng độ CO2 400 µmol·mol⁻ . Tại điểm nghiên cứu có mưa  
nhẹ từ 10h30’ đến 11h40’. Giá trị của cường độ quang hợp trong mưa được coi là  
không. Tổng PAR ở ĐN là 22 mol·m-2, ở GT là 7 mol·m-2, ở phần DT là 6 mol·m-2.  
Do đó, phần giữa và phần dưới của tán cây được nghiên cứu gần như ở cùng điều  
kiện liên quan đến độ chiếu sáng.  
6
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Bước đầu phân tích dữ liệu thu được cho thấy năng suất quang hợp ở phần  
đỉnh ngọn là lớn nhất AĐNmax = 10,456 mol m-2s-1 tại thời điểm 12h21’ ứng với  
PAR = 1197 µmol photon m-2 s-1 (hình 4a), trong nửa thời gian đầu (thời điểm trước  
khi có mưa), năng suất quang hợp có liên quan chặt chẽ với PAR - hệ số tương quan  
R2 qua ước tính là 0,86. Tuy nhiên, trong nửa thời gian sau, mối tương quan này  
giảm rõ rệt với giá trị R2 = 0,54.  
Ở khu vực giữa tán năng suất quang hợp cực đại AGTmax = 6,36 mol m-2s-1 ở  
thời điểm 13h39’ ứng với PAR = 411 µmol photon m-2 s-1 (hình 4b). Trong suốt thời  
gian quan trắc, cường độ quang hợp và PAR có mối liên hệ chặt chẽ, các hệ số  
tương quan lần lượt là 0,99 và 0,80.  
Ở khu vực dưới tán, năng suất quang hợp cực đại ADTmax = 4,97 mol m-2s-1 ở  
thời điểm 13h08’ ứng với PAR = 150 µmol photon m-2 s-1 (hình 4c), mối liên hệ chặt  
chẽ giữa cường độ quang hợp và PAR được theo dõi trong nửa thời gian đầu,  
R2=0,96, trong khi ở nửa thời gian sau, mối liên hệ này thấp hơn đáng kể, R2 = 0,69.  
Nhận thấy năng suất quang hợp chủ đạo của cây Đước đôi thuộc nhóm lá ở  
đỉnh tán, mối tương quan giữa cường độ quang hợp ở cây Đước đôi và cường độ bức  
xạ mặt trời phụ thuộc rất nhiều vào giá trị bức xạ. Tại các thời điểm giữa ngày khi  
bức xạ mặt trời tăng cao (lớn hơn 1200 µmol photon m-2 s-1), năng suất quang hợp  
của lá cây Đước đôi tại phần đỉnh tán (các biểu tượng tam giác trong hình 4a) có xu  
hướng giảm rõ rệt do sự gia nhiệt của bức xạ mặt trời khiến lá phải đóng các khí  
khổng nhằm bảo vệ tế bào và ngăn quá trình thoát hơi nước. Các lá cây tại phần giữa  
tán thuộc nhóm lá trong bóng râm, nhận được ít bức xạ mặt trời hơn nên năng suất  
quang hợp của nhóm lá này thấp hơn nhóm lá tại đỉnh tán và có mức độ tương quan  
cao trong ngưỡng bức xạ mặt trời tại khu vực giữa tán. Các lá ở phần dưới tán do  
thường xuyên nằm trong bóng râm của tán cây, khu vực nhận được ít ánh sáng nhất  
có xu hướng duy trì năng suất quang hợp thấp và ổn định ở mức bức xạ thấp. Do đó  
để tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình BĐKH mà cụ thể là sự gia tăng  
nhiệt độ môi trường và nồng độ CO2 trong không khí đến năng suất quang hợp của  
cây Đước đôi, đã nghiên cứu sâu hơn về sự biến động năng suất quang hợp của  
nhóm lá tại đỉnh tán trong các điều kiện môi trường thực tế và giả định khác nhau.  
3.2. Đường cong phản ứng ánh sáng  
Hình 4 (d,e,f) cho thấy các giá trị của năng suất quang hợp phụ thuộc vào  
PAR, thu được từ các phép đo ở 3 khu vực khác nhau của tán lá Đước đôi, các  
đường cong của phản ứng ánh sáng là gần đúng xấp xỉ với các giá trị này được xây  
dựng theo phương trình (3), cũng như tiếp tuyến của các đường cong này tại các  
điểm tương ứng với các giá trị 퐾ꢈ.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
7
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
푨풏= 8,1 푸 /(푸 + 396) + 0,8  
푨풏= 4,2 푸 /(푸 + 332) + 1,5  
푨풏= 4,1 푸 /(푸 + 307) + 1,4  
Hình 4. Động lực ngày của năng suất quang hợp ròng - An, và PAR - 푄 thu được ở  
các phần trên (a), giữa (b) và dưới (c) của tán lá Đước đôi (ngày 16/6/2020).  
Các giá trị cường độ quang hợp (điểm đánh dấu), đường cong phản ứng ánh sáng  
(đường đậm) và đường tiếp tuyến với điểm 퐾ꢈ (đường mảnh) thu được cho các  
phần trên (d), giữa (e) và dưới (f) của tán lá. Trục tung biểu thị cường độ quang hợp,  
(µmolm⁻²s⁻¹), trên đồ thị (a), (b) và (c) biểu thị thời gian, HH: MM, trên đồ thị (d),  
(e) và (f) - biểu thị cường độ của PAR, µmol photon m⁻²s⁻¹.  
Đường cong phản ứng ánh sáng cho nhóm lá Đỉnh ngọn (hình 3d), dựa trên dữ  
liệu thu được vào buổi sáng. Các giá trị của cường độ quang hợp được thể hiện trong  
hình 3d với các điểm đánh dấu hình tam giác thu được vào buổi trưa với PAR lớn  
hơn 1200 µmol photon m⁻²s⁻¹. Đường cong phản ứng ánh sáng cho phần giữa và  
phần dưới của tán lá. Hình 4e,f được xây dựng từ dữ liệu thu được trong ngày. Các  
chỉ số đặc trưng cho đặc điểm quang hợp của lá thu được ở các phần khác nhau của  
tán cây Đước đôi theo phương trình (3), cũng như giá trị tương quan R2 cho các  
đường cong thu được và số lần đo n được chỉ ra trong bảng 1.  
8
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Bảng 1. Đặc điểm quang hợp của Đước đôi theo nhóm lá  
Chỉ số quang hợp  
Nhóm lá  
Amax  
8,10,3  
4,20,2  
4,10,3  
n
R2  
0,97  
0,98  
0,98  
퐾ꢈ  
396  
332  
307  
푅ꢇ  
퐿퐶푃  
35,6  
87,4  
78,1  
휃
Đỉnh ngọn (ĐN)  
Giữa tán (GT)  
Dưới tán (DT)  
0,018  
0,023  
0,022  
33  
16  
20  
- 0,80,05  
- 1,50,05  
- 1,40,05  
(Giá trị tương quan R2 đối với các đường cong thu được, n số mẫu đo).  
Đường cong phản ứng ánh sáng xây dựng từ trung bình của các giá trị đo thực  
nghiệm ở cả ba nhóm lá cho thấy năng suất quang hợp ròng và bức xạ quang hợp  
PAR của Đước đôi thể hiện mối quan hệ tuyến tính ở mức bức xạ dưới 400 mol  
photon m-2 s-1. Hiệu suất quang hợp (휃) có hệ số góc nhỏ thể hiện Đước đôi thuộc  
nhóm thực vật ưa sáng. Nhóm lá trên đỉnh tán năng suất quang hợp vượt trội hai  
nhóm lá giữa và dưới tán ở các cường độ bức xạ quang hợp vượt ngưỡng 400 µmol  
photon m⁻²s⁻¹  
Amax của Đước đôi trong nghiên cứu này thấp hơn so với nghiên cứu cây Đước  
vòi Rhizophora stylosa ở Úc (12,9 mol photon m-2 s-1) [15]. Sự giảm Amax từ trên  
xuống dưới của tán tương đồng với kết quả thu được từ nghiên cứu của Clough và  
cs. (1997) cũng trên đối tượng Đước đôi R. apiculata ở Malaysia [16]. Nghiên cứu  
của các tác giả này cho thấy giá trị trung bình của năng suất quang hợp ròng trong lá  
của R. apiculata giảm tuyến tính từ 10,9 mol photon m-2 s-1 ở đỉnh tán xuống 4,9  
mol photon m-2 s-1 ở dưới tán. Giá trị thấp hơn so với nghiên cứu này có thể do  
thiết lập nhiệt độ ban đầu trong buồng lá ở 30oC chưa phải là nhiệt độ tối ưu cho  
quang hợp của Đước đôi. Có một số báo cáo lưu ý rằng, tỷ lệ quang hợp của RNM  
giảm trong điều kiện kém thuận lợi, thường liên quan đến độ mặn cao [17], hàm  
lượng nước trong đất thấp [18], hoặc tiếp xúc liên tục với bức xạ mặt trời ở cường  
độ cao [19].  
3.3. Xác định thời gian tối đa cho phép tiến hành các phép đo trao đổi khí  
trên cành đã cắt  
Tính phức tạp và không ổn định của nền đất RNM gây khó khăn cho việc xây  
dựng các tháp đo di động để tiếp cận các nhóm lá. Một thí nghiệm đã được thực hiện  
để kiểm tra tính khả thi của việc đo năng suất quang hợp trên các cành đã cắt. Sử  
dụng các cành dài 15-30 cm được cắt từ phần trên của tán cây, cành được cắt bằng  
dụng cụ cắt tỉa cầm tay dạng ống lồng. Các phép đo được thực hiện ở chế độ tự động  
trong 5 phút, với khoảng cách mỗi lần đo là 10 giây.  
Trong các phép kiểm định thời gian tối đa có thể đo quang hợp trên cành đã  
cắt, các thông số được duy trì trong buồng đo của thiết bị bao gồm: nhiệt độ 35°C,  
độ ẩm 60%, nồng độ CO2 400 µmol·mol⁻¹, PAR 1.000 µmol m⁻² s⁻¹. Hình 5a chỉ ra  
sự phụ thuộc của cường độ quang hợp vào thời gian của một trong những cành đỉnh  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
9
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
ngọn (dài 15 cm) của cây Đước đôi (thời điểm14h40’ trong ngày). Nghiên cứu cho  
thấy năng suất quang hợp của lá trên cành cắt có khả năng duy trì trạng thái ổn định  
trong khoảng 3 phút đầu tiên, sau đó năng suất quang hợp sụt giảm mạnh trong vài  
phút tiếp theo do nước trong hệ thống mao dẫn của cây thường tồn tại ở áp suất thấp  
hơn khí quyển, nên việc cắt cành gây sụt giảm áp suất thuỷ lực dẫn đến sự mất nước  
ở lá tại đỉnh ngọn nằm sau vết cắt. Cơ chế này được giải thích cụ thể trong báo cáo  
tổng hợp của Peter và cs. (2012) sau khi tiến hành nghiên cứu trên nhiều đối tượng  
thực vật khác nhau [20], tuy nhiên do tính đặc thù của thực vật ngập mặn vẫn cần  
tiếp tục thiết lập thêm các thí nghiệm khác trên đối tượng Đước đôi nhằm khẳng  
định giả thiết này.  
Hình 5a cho thấy, nếu đã bao gồm cả sai số, thời gian đo cường độ quang hợp  
của lá trên cành đã cắt bắt đầu từ khoảng 50 giây sau khi được đặt vào buồng đo của  
hệ thống phân tích khí và kéo dài đến giây 190. Thời gian này đủ để thực hiện các  
phép đo đáng tin cậy trên 2-3 lá của cành đã cắt. Rõ ràng, khi lấy các nhánh có chiều  
dài lớn hơn, thời gian thực hiện các phép đo tăng lên, điều này có thể gây tác động  
xấu đến cây nhất là khi cần tiến hành đo trên một lượng lớn mẫu lá và chiều dài  
15-30 cm là một kích thước hợp lý và thuận tiện cho thao tác.  
Aotp = 10,24 mol m-2 s-1  
b)  
a)  
Totp = 32,8 (oC)  
Thời gian (s)  
Nhiệt độ (oC)  
Hình 5. Sự phụ thuộc của cường độ quang hợp của lá Đước đôi vào thời gian sau  
khi cắt khỏi cành từ phần đỉnh ngọn (a) và sự phụ thuộc của năng suất quang hợp  
của lá tại đỉnh tán vào nhiệt độ (b)  
3.4. Sự phụ thuộc của cường độ quang hợp vào nhiệt độ  
Hình 5b cho thấy sự phụ thuộc vào nhiệt độ T (°C) của năng suất quang hợp  
thuộc nhóm lá đỉnh ngọn của cây Đước đôi thu được từ các phép đo thực nghiệm.  
Để làm rõ xu thế biến đổi, dữ liệu được đặt trên một đường cong xu thế - đường  
cong gần đúng của quá trình đáp ứng nhiệt trong quang hợp cây Đước đôi được xây  
dựng theo phương trình đa thức bậc hai (R2 = 0,92):  
An(Tleaf) = − 0,20 Tleaf 2 + 12,29 Tleaf −179,3  
(5)  
10  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Phản ứng với nhiệt độ của quá trình đồng hóa ròng của lá Đước đôi tại đỉnh  
tán được đo ở độ ẩm không khí 60%, nồng độ CO2 400 µmol mol⁻¹, PAR 1000  
µmol m⁻² s⁻¹. Chia khoảng nhiệt độ quan sát từ 23-45°C thành các khoảng 2oC.  
Trong phạm vi 23-32°C, sự đồng hóa ròng tăng tuyến tính theo nhiệt độ, tại nhiệt độ  
tối ưu Topt=32,8°C ứng với các giá trị môi trường đã thiết lập năng suất quang hợp  
đạt giá trị cực đại là Aopt = 10,24 mol m-2s-1, sau nhiệt độ tối ưu, năng suất quang  
hợp giảm tuyến tính theo đà tăng của nhiệt độ (hình 5b).  
Theo quan điểm của sự phân bố sinh thái thực vật, việc giải thích đường cong  
phản ứng nhiệt độ của quang hợp cũng có thể cải thiện độ chính xác của việc ước  
tính khả năng cố định CO2 của RNM [21]. Có một điểm cần chú ý là trong báo cáo  
của Moore và cs. (1973) [22] thì Aotp của thực vật họ Đước thu được ở nhiệt độ lá  
gần hoặc dưới 25oC. Tuy nhiên nghiên cứu này cho thấy mối quan hệ giữa tốc độ  
quang hợp thực và nhiệt độ của lá là một đỉnh rộng trong khoảng từ 30,8 đến 35,2oC,  
điều này tương tự với báo cáo của Okimoto và cs. (2007) [21]. Phát hiện này cho  
thấy mối quan hệ giữa năng suất quang hợp cực đại và nhiệt độ lá có khoảng rộng  
thể hiện tiềm năng dịch chuyển Aotp nhằm thích nghi với BĐKH của cây Đước đôi.  
3.5. Sự phụ thuộc của cường độ quang hợp vào nồng độ CO2 trong không khí  
Quá trình đo biến động năng  
suất đồng hóa CO2 ròng của lá  
Đước đôi tại đỉnh tán vào nồng độ  
CO2 trong không khí được tiến hành  
với các thông số được duy trì ổn  
định trong buồng đo của thiết bị,  
bao gồm: độ ẩm 60%, nhiệt độ lá  
30oC, PAR 1000 µmol m⁻²s⁻¹. Qua  
các phép đo thực nghiệm, biểu thức  
Hình 6. Mô hình phản hồi năng suất  
quang hợp R. apiculata theo biến thiên  
nhiệt độ và nồng độ CO2 trong không khí  
toán học đường cong phụ thuộc của  
cường độ quang hợp vào nồng độ  
CO2 trong không khí, gọi tắt là 퐶ꢄ  
(µmol·mol⁻¹), được mô tả dưới  
dạng phương trình bậc hai (R2 = 1,00):  
An(퐶ꢄ) = -8·10-6·(퐶ꢄ)2+ 0,0161·(퐶ꢄ)-0,5988  
(6)  
Từ 2 phương trình (5) và (6), tiến hành xây dựng mô hình 3D mối tương quan  
của 2 biến môi trường là nhiệt độ lá và nồng độ CO2 trong không khí đến năng suất  
quang hợp của lá Đước đôi tại đỉnh tán (hình 6).  
Cho đến nay, Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đã thực hiện 5 lần  
xây dựng và cập nhật kịch bản BĐKH thông qua các lần báo cáo đánh giá (1990,  
1995, 2001, 2007, 2013). Trong đó, sự thay đổi cơ bản của Báo cáo đánh giá lần thứ  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
11  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
5 (AR5 2014) là sự thay đổi của các kịch bản phát thải khí nhà kính. Để diễn tả các  
kịch bản phát triển kinh tế xã hội toàn cầu, thuật ngữ “Đường nồng độ khí nhà kính  
đại diện” (Representative Concentration Pathways - RCPs) được sử dụng. Theo đó,  
các RCPs được mô tả để dự đoán khí hậu trái đất trong tương lai đến năm 2100 bao  
gồm RCP2.6, RCP4.5, RCP6.0 và RCP8.5 tương ứng với nồng độ khí nhà kính quy  
đổi thành khí CO2 là 490 ppm, 650 ppm, 850 và 1370 ppm [23]. Đối chiếu các kịch  
bản của RCPs với kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng với sự gia tăng nồng độ  
CO2 theo các kịch bản cường độ quang hợp của cây Đước đôi tăng tự nhiên theo  
phương trình (6) từ 10% đến 60%. Tuy rằng năng suất quang hợp của cây Đước đôi  
còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố môi trường khác (chế độ nước, độ mặn của nước,  
nồng độ muối trong đất, bức xạ mặt trời…) nhưng có thể nói xu hướng này cũng là  
một tín hiệu lạc quan để nhận định quần thể Đước đôi RNM Cần Giờ là một trong  
những nhân tố góp phần ổn định khí hậu.  
4. KẾT LUẬN  
- Nhóm lá phần trên đỉnh tán của cây Đước đôi có năng suất quang hợp cao  
nhất so với toàn bộ các tầng tán khác của cây. Vùng bão hoà ánh sáng ở mức từ 600  
đến 1000 µmol photon m-2 s-1 cho thấy chúng thuộc nhóm lá ưa nắng cao. Ở các  
mức bức xạ cao hơn 1200 µmol photon m-2 s-1 lá cây bị suy giảm quang hợp.  
- Phương pháp cắt cành 15-30 cm được chấp nhận trong việc đo năng suất của  
quang hợp trên 2-3 lá thuộc cành cắt. Thời gian để có được dữ liệu đáng tin cậy là từ  
50 giây sau khi đặt lá vào buồng đo của hệ thống phân tích khí và kéo dài đến giây  
thứ 190.  
- Kết quả đánh giá biến động năng suất đồng hóa CO2 của lá Đước đôi tại đỉnh  
tán theo nhiệt độ đo được trên lá còn chỉ ra quang hợp của thực vật thuộc họ Đước  
nhạy cảm với nhiệt độ. Nhiệt độ tối ưu cho Đước đôi phát triển từ 30,8 đến 35,2°C.  
- Với sự gia tăng nồng độ CO2 trong không khí, năng suất quang hợp của  
Đước đôi cũng tăng lên một cách tự nhiên theo phương trình An(퐶ꢄ) = -8·10-  
6·(퐶ꢄ)2+0,0161·(퐶ꢄ)-0,5988. Sử dụng mô hình này, có thể dự đoán năng suất thực  
của Đước đôi dưới những thay đổi khác nhau của các yếu tố môi trường.  
- Yếu tố ức chế chính ảnh hưởng đến quang hợp trong nghiên cứu này là bức  
xạ quang hợp PAR vượt ngưỡng bão hòa và độ lệch của nhiệt độ không khí so với  
các giá trị tối ưu cho sự phát triển của cây Đước đôi.  
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tài trợ bởi Sở Khoa học và Công nghệ Tp.  
Hồ Chí Minh, trong khuôn khổ đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu  
đến khả năng dự trữ Carbon của các hệ sinh thái tự nhiên rừng ngập mặn Cần Giờ  
và đề xuất các giải pháp thích ứng” theo Hợp đồng số 25/2019/HĐ-QPTKHCN,  
ngày 03/6/2019.  
12  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Alongi D.M., Present state and future of the world’s mangrove forests,  
Environ. Conserv., 2002, 29:331-349.  
1.  
2.  
3.  
Alongi D.M., Carbon cycling and storage in mangrove forests, Ann. Rev.  
Mar. Sci., 2014, 6:195-219, doi:10.1146/ annurev-marine-010213-135020.  
Donato D.C., Kauffman J.B., Murdiyarso D., Kurnianto S., Stidham M.,  
Kanninen M., Mangroves among the most carbon-rich forests in the tropics,  
Nat. Geosci., 2011, 4:293-297.  
4.  
5.  
IPCC, IPCC Fifth assessment report: Climate change 2013 - The physical  
science basis, Cambridge University Press, Cambridge, UK, 2013, 1535 p.  
Berry J., and Björkman O., Photosynthetic response and adaptation to  
temperature in higher plants, Annu. Rev. Plant Physiol., 1980, 31:491-543,  
doi: 10.1146/annurev.pp.31.060180.002423.  
6.  
7.  
8.  
Kattge J., and Knorr W., Temperature acclimation in a biochemical model of  
photosynthesis: a reanalysis of data from 36 species, Plant, cell & environment,  
2007, 30:1176-1190.  
Barr J.G., Fuentes J.D., Engel V., Zieman J.C., Physiological responses of red  
mangroves to the climate in the Florida Everglades, J. Geophys Res., 2009,  
114:G02008, doi:10.1029/2008JG0 00843.  
Huỳnh Đức Hoàn, Cao Huy Bình, Nguyễn Tiến Hưng, Phan Văn Trung, Bùi  
Nguyễn Thế Kiệt, Báo cáo Tổng kết 10 năm (giai đoạn 2010-2020) Khu Dự  
trữ Sinh quyển Rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam,  
Tài liệu Hội thảo và Kỷ niệm 20 năm Quản lý và Phát triển khu Dự trữ Sinh  
quyển Rừng ngập mặn Cần Giờ (2000-2020), Cần Giờ, 7/2020, tr. 9-50.  
9.  
Huỳnh Đức Hoàn, Bùi Thế Kiệt, Phạm Văn Trung, Viên Ngọc Nam, Trữ  
lượng các bon của quần thể Đước đôi (Rhizophora apiculata Blume) trồng tại  
Khu Dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh, Tạp  
Chí Khoa Học & Công Nghệ/Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2018,  
2(24):123-129.  
10. Viên Ngọc Nam và Vũ Thị Thủy, Xây dựng ô định vị để giám sát lượng  
carbon của rừng Đước đôi (Rhizophora apiculate Blume) trồng tại Trung tâm  
Nghiên cứu rừng ngập mặn Cần Giờ, thành Phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Rừng  
và Môi trường, 2015, 74:36-41.  
11. Tri N.H., Hong P.N., Manh M.N.T., Tuan M.L.X., Anh M.P.H., Tho M.N.H.,  
Cuc M.N.K., Giang M.L.H., Tuan M.L.D., Valuation of the mangrove  
ecosystem in Can Gio mangrove biosphere reserve, Vietnam, Unesco/MAB  
programme national committee, center for natural resources and environmental  
studies (CRES), Hanoi University of economics (HUE) and management board  
of Can Gio mangrove biosphere reserve, 2000, Hanoi.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
13  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
12. Farquhar G.D. and Von Caemmerer S., Modelling of photosynthetic response  
to environmental conditions, In physiological plant ecology II: Water relations  
and carbon assimilation, Encyclopedia of plant physiology, New Series,  
Springer-Verlag, Berlin, 1982, 12 B:549-587.  
13. Michaelis L. and Menten M., Die Kinetik der Invertinwirkung, Biochem. Z.,  
1913, 49:333-369.  
14. Gardiner E.S. and K.W. Krauss, Photosynthetic light response of flooded  
cherrybark oak (Quercus pagoda) seedlings grown intwo light regimes, Tree  
Physiol., 2001, 21:1103-1111.  
15. Clough B., Mangrove forest productivity and biomass accumulation in  
Hinchinbrook channel, Australia, Mang. Salt Marsh., 1998, 2:191-198.  
16. Clough B.F., Ong J.E. and Gong W.K., Estimating leaf area index and  
photosynthetic production in canopies of the mangroves Rhizophora apiculata,  
Mar. Ecol. Prog. Ser., 1997, 159:285-292.  
17. Sobrado M.A., Leaf photosynthesis of the mangrove Avicennia germinans as  
affected by NaCl, Photosynthetica, 1999, 36:547-555.  
18. Lin G. and Sternberg L.S.L., Comparative study of water uptake and  
photosynthetic gas exchange between scrub and fringe red mangrove,  
Rhizophora mangle. Oecologia, 1992, 90:399-403.  
19. Clough B.F. and Sim R.G., Changes in gas exchange characteristics and  
water use efficiency of mangrove in response to salinity and vapour pressure  
deficit. Oecologia, 1989, 79:38-44.  
20. Peter J. et al., Measurements of stem xylem hydraulic conductivityin the  
laboratory and field, Methods in Ecology and Evolution, 2012, 3:685-694.  
21. Okimoto Y., Nose A., Katsuta Y., Tateda Y., Agarie S., Ikeda K, Gas  
exchange analysis for estimating net CO2 fixation capacity of mangrove  
(Rhizophora stylosa) forest in the mouth of river Fukido, Ishigaki Island,  
Japan. Plant Production Science, 2007, 10:303-313.  
22. Moore R.T., Miller P.C., Ehlinger J., Lawrence W., Seasonal trends in gas  
exchange characteristics of three mangrove species. Photosynthetica, 1973,  
7:387-394.  
23. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Kịch bản Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho  
Việt Nam, NXB. Tài nguyên môi trường và Bản đồ Việt Nam, Hà Nội, 2016,  
170 tr.  
14  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
SUMMARY  
PHOTOSYNTHETIC CHARACTERISTICS OF Rhizophora apiculata  
Blume IN CAN GIO MANGROVE FOREST, HO CHI MINH CITY  
The aim this research work was to assess the intensity of photosynthesis at the  
leaf level of an adult tree Rhizophora apiculata Blume, natural origin in a Can Gio  
mangrove forest. The diurnal dynamics of the intensity of photosynthesis and PAR  
(Photosynthetic Active Radiation) for different parts of the tree crown were  
investigated. The Michaelis - Menten equation was used to describe the dependence  
of photosynthesis on PAR. The coefficients equation was used to assess the  
photosynthetic characteristics of the tree leaf. It was shown that the depression of  
photosynthesis in the upper part of the crown of a tree might be caused by a  
violation of the water balance in the leaves. The dependences intensity of  
photosynthesis on leaf temperature and CO2 concentration were obtained.  
Furthermore, the optimum temperature for the growth of R. apiculata was ranging  
from 30.8 to 35.2°C, while an increase in CO2 concentration, the rate of  
photosynthesis also increased. Based on the obtained dependences, a mathematical  
model of the intensity of photosynthesis as a function of PAR, leaf temperature and  
CO2 concentration in air was developed. Overall, the results highlighted that the  
inhibitory factor affecting photosynthesis process might be an elevated level of  
photosynthetic radiation from permitted level and deviation of leaf temperature from  
the values optimal for R. apiculata growth.  
Keywords: Leaf gas exchange, photosynthesis, Rhizophora apiculata Blume,  
Can Gio mangrove forest, Li-6800, trao đổi khí qua lá, quang hợp, Đước đôi, rừng  
ngập mặn Cần Giờ.  
Nhận bài ngày 06 tháng 12 năm 2020  
Phản biện xong ngày 12 tháng 12 năm 2020  
Hoàn thiện ngày 15 tháng 12 năm 2020  
(1) Chi nhánh Phía Nam, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga  
(2) A.N. Severtsov Institute of Ecology and Evolution, Russian Academy of Sciences  
(3) Viện Tài nguyên Môi trường, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh  
(4) Ban Quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 22, 05-2021  
15  
pdf 13 trang yennguyen 11720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số đặc điểm quang hợp của cây đước đôi (Rhizophora apiculata Blume) trong rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_dac_diem_quang_hop_cua_cay_duoc_doi_rhizophora_apicul.pdf