Bài giảng Cây lương thực
1
LỜI NÓI ĐẦU
Sản xuất lương thực là ngành quan trọng của nông nghiệp Việt Nam. Lúa là cây lương
thực quan trọng nhất, chiếm diện tích gieo trồng lớn nhất. Cây lương thực quan trọng thứ hai
là ngô, thứ ba là cây sắn đang có xu hướng gia tăng về diện tích gieo trồng. Việt Nam hiện đã
đạt được an ninh lương thực trên phạm vi quốc gia. Tuy nhiên để đảm bảo được an ninh lương
thực ở cấp hộ gia đình trên phạm vi cả nước vẫn đang còn là một vấn đề lớn, đặc biệt ở miền
núi phía Bắc.
Cây lương thực là môn học bắt buộc nằm trong chương trình đào tạo của nhiều trường
Đại học Nông nghiệp trên cả nước nói chung và được giảng dạy tại khoa Nông lâm trường
Cao đẳng Cộng đồng Lào Cai.
Tập bài giảng Cây lương thực này được biên soạn dùng làm tài liệu giảng dạy cũng
như tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành Cao đẳng Nông lâm kết hợp và Trung cấp Trồng
trọt của trường Cao đẳng Cộng đồng Lào Cai. Kết cấu tập bài giảng Cây lương thực gồm hai
phần là Cây lúa và Cây màu (Cây ngô, Cây khoai lang và Cây Sắn).
Trong quá trình biên soạn tập bài giảng này, chúng tôi đã tham khảo một số tài liệu của
các tác giả. Tuy nhiên, do thời gian, nguồn tư liệu có hạn nên không tránh khỏi những thiếu
sót. Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc để tập bài giảng Cây
lương thực hoàn chỉnh hơn.
Tác giả
2
PHẦN MỘT: CÂY LÚA
Chương 1. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC VÀ SINH VẬT HỌC CÂY LÚA
1.1. NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI
1.1.1. Nguồn gốc
Cây lúa là một trong những cây ngũ cốc có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất, là một trong
năm loại cây lương thực chính của thế giới, cùng với ngô, lúa mì (tiểu mạch), sắn (khoai mì)
và khoai tây. Căn cứ vào các tài liệu khảo cổ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam... cây lúa đã có
mặt từ 3000-2000 năm trước công nguyên. Ở Trung Quốc vùng Triết Giang đã xuất hiện cây
lúa 5000 năm, ở hạ lưu sông Dương Tử 4.000 năm. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu những tài liệu để
xác định một cách chính xác thời gian cây lúa được đưa vào trồng trọt.
Mặc dù ý kiến cụ thể về nguồn xuất xứ còn khác nhau, chưa thống nhất nhưng có nhiều
tài liệu lịch sử và di tích khảo cổ đã chứng minh về phương diện sinh thái học cây lúa và nghề
trồng lúa đã có từ lâu đời gắn liền với lịch sử phát triển của loài người, nhất là ở Châu Á.
Về nguồn gốc thực vật, cây lúa thuộc họ hoà thảo (Gramineae), chi Oryza. Trong chi
Oryza có nhiều loài, sống một năm hoặc nhiều năm, trong đó chỉ có 2 loài trồng là Oryza
sativa: phổ biến ở Châu Á, chiếm đại bộ phận diện tích trồng lúa, có nhiều giống có đặc tính
tốt, cho năng suất cao và Oryza glaberrima: hạt nhỏ, năng suất thấp, chỉ trồng trên diện tích
nhỏ ở Tây Phi. Lúa trồng hiện nay là do lúa dại qua chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo lâu
đời hình thành.
Quá trình hình thành loài lúa trồng có thể được khái quát như sau: Trong thời tiền sử,
các bộ lạc sinh sống trong vùng có lúa dại O. fatua đã thuần hoá nó và trồng nó ở những nơi xa
nhau và độc lập với nhau. Trước hết, họ hái lượm ở các vùng tự nhiên có O. fatua mọc. Đến
những năm gần đây, nông dân ta ở Nam bộ vẫn còn đi gặt “lúa ma” ở Đồng Tháp Mười.
Những nông dân ở bán đảo Đông Dương có thể là những người đầu tiên đã đem hạt O. fatua
“gieo” quanh nơi cư trú. Chiến tranh, sự trao đổi, sự kết hợp nhiều lần của các bộ lạc và việc
hình thành những hình thức đầu tiên của nhà nước đã làm hỗn tạp với mức độ khác nhau
những loại hình Oryza fatua đã thuần hoá, đã làm đa dạng hoá các loại hình lúa bắt đầu được
gieo trồng. Từ đó nảy sinh vô số các loại hình và các giống lúa khác nhau mà ngày nay theo
phân loại của Carl Linné đã được gọi tên chung là Oryza sativa.
1.1.2. Phân loại
Có thể coi Linné là người đầu tiên đặt nền móng cho việc phân loại Oryza. Trong cuốn
“Các loài thực vật” (Species Plantanlm, 1753), Linné đã mô tả loài Sativa trồng ở Ấn Độ
(Goutchin G.G. 1935). Việc phân loại chỉ Oryza có nhiều ý kiến khác nhau:
- Roshevits R.U. (1931) chia chi Oryza ra làm 19 loài.
- Chaherjee, (1948) chia làm 23 loài.
- Richharia R, (1960) chia làm 18 loài.
- Gkose R.L.M và cộng sự (1962) chia làm 24 loài.
- Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế IRRI (1963) đã phân chi Oryza làm 19 loài
Nói chung các loài Oryza đều là những cây ưa đầm lầy, trừ Oryza meyriana và một số
loại hình thuộc loài Oryza oficinalis có khả năng sinh sống ở những khu rừng ẩm thấp và trong
những thung lũng ẩm.
3
Đối với lúa trồng, cũng có nhiều cách phân loại khác nhau:
- Theo điều kiện sinh thái, Kato (1930) chia lúa trồng thành 2 nhóm lớn là Japonica (lúa
cánh) và Indica (lúa tiên). Đinh Dĩnh (1958) cho rằng lúa cánh bắt nguồn từ Trung Quốc nên
gọi là Suno - Japonica. Goutchin lại chia ra 3 loài phụ: Indica, japoica và Brevis.
- Theo thời gian sinh trưởng, Roxburg chia ra các giống lúa trồng ở Ấn Độ thành hai
nhóm chín sớm và chín muộn mà không quan tâm về hình thái. Watt, căn cứ vào vụ trồng ở Ấn
Độ chia thành lúa thu và lúa đông.
- Theo mùa vụ gieo cấy trong năm và thời gian sinh trưởng, người Trung Quốc chia lúa
trồng thành lúa sớm và lúa muộn hoặc lúa xuân và lúa mùa.
- Theo điều kiện tưới và gieo cấy, người ta chia lúa trồng thành 2 nhóm là lúa nước và
lúa cạn.
- Dựa vào cấu tạo hạt, Komik và Atefeld phân chia lúa ở Java (Indonexia) thành lúa tẻ
(utilissma) và lúa nếp (glutinosa).
Tóm lại, việc phân loại lúa là vấn đề phức tạp vì nó phân bố rộng, được trồng trọt trong
những điều kiện khác nhau về thời tiết, đất đai... Đến nay, trong nhiều điều kiện sinh thái khác
nhau, lúa trồng cũng đã hình thành ra nhiều loại hình và nhiều giống lúa có đặc trưng khác nhau.
1.2. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC CÂY LÚA
1.2.1. Rễ lúa
Rễ lúa thuộc loại rễ chùm mọc từ đốt
thân, rễ chính làm nhiệm vụ hút nước, dinh
dưỡng mọc từ đốt dưới mặt đất, các đốt trên mặt
đất hình thành nên các rễ bất định (Rễ khí sinh).
Vùng rễ có hai lớp: lớp rễ mặt và lớp
rễ thường ăn sâu hơn. Lớp rễ mặt phát triển
theo chiều ngang từ những đốt trên và phát
triển mạnh hơn lớp rễ dưới vì đủ oxy và dinh
dưỡng. Rễ con hay rễ nguyên thuỷ thường
chết trong vòng 1 tháng, rễ già chuyển màu
nâu, rễ non và rễ mới có màu trắng.
Hình 1.1 Rễ lúa
Rễ phát triển chủ yếu trong vùng tầng đất cày khoảng 18cm (lúa có tưới) chỉ những rễ
to khỏe có thể xuyên qua tầng đế cày sâu hơn 18 cm.
Cấu tạo rễ gồm có rễ và lông hút, cắt ngang cho thấy trung tâm rễ có cấu tạo rỗng, có
các ống dẫn nước (thông thường có 5 ống), các tế bào vỏ rễ và lông hút. Lông hút là những
ống nhỏ, kéo dài ở phần đầu của rễ, có chức năng hút nước và dinh dưỡng vào rễ, lông hút tồn
tại thời gian ngắn và những lông hút mới liên tục xuất hiện (hình
Bộ rễ của các giống lúa phát sinh ở các vùng sinh thái khác nhau có phân bố, độ dài,
khả năng ăn sâu khác nhau. Sự phân bố của rễ phụ thuộc vào độ sâu của lớp đất mặt, tầng đế
cày càng sâu rễ ăn càng sâu, lượng không khí trong đất, dinh dưỡng, lượng nước và biện pháp
canh tác.
Rễ ăn sâu khả năng hút tăng, do vậy biện pháp kỹ thuật như làm đất, bón phân, làm cỏ
là vô cùng quan trọng tác động đến sự phát triển của bộ rễ.
4
Hình 1.2 Cấu tạo rễ lúa
1.2.2. Thân lúa
Thân được tính từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng trong thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, và
đến đốt cổ bông ở thời kỳ sinh trưởng sinh thực.
Chiều cao thân phát triển theo các giai đoạn sinh trưởng của lúa và đạt chiều cao cuối
cùng khi lúa trỗ hoàn toàn. Chiều cao thân được tính từ mặt đất đến cổ bông, chiều cao cây
được tính từ mặt đất đến hạt đỉnh đầu bông. Chiều cao phụ thuộc vào giống và môi trường.
Căn cứ vào chiều cao cây người ta phân lúa thành ba nhóm chính là:
- Nhóm cao cây có chiều cao trên 120 cm, nhóm này chủ yếu là giống địa phương và một
số giống dài ngày như tẻ tép, tám, nếp tan nhe, tan lả, tẻ nương.
- Nhóm lúa có chiều cao trung bình từ 100 đến 120 cm chủ yếu là các giống lúa cải tiến.
- Nhóm thấp cây có chiều cao dưới 100 cm những giống cải tiến, ngắn ngày.
1.2.3. Lóng và đốt
Số lóng và số đốt với các giống lúa là khác nhau do bản chất di truyền của lúa quy định.
Số lóng và số đốt tuơng đối ổn định và ít bị biến động bởi môi trường. Giống ngắn ngày có
khoảng 13 - 15 đốt và 4 - 5 lóng; giống trung ngày có khoảng 16 - 18 đốt và 5 - 6 lóng; giống
dài ngày có khoảng 20 - 21 đốt và 7 - 8 lóng. Chiều dài lóng được tính bằng khoảng cách giữa
hai đốt. Lóng gốc thường ngắn, thành dày và lóng trên thường dài hơn nhưng đường kính nhỏ
dần, độ dày mỏng hơn lóng phía dưới.
1.2.4. Nhánh lúa
Nhánh được hình thành từ lách lá, nhánh được hình thành từ thân lúa là nhánh cơ bản,
nhánh đẻ từ lách lá thứ 2 là nhánh cơ bản thứ nhất, tiếp theo là nhánh cơ bản thứ 3, thứ 4…
Từ nhánh cơ bản lại hình thành nhánh gọi là nhánh cấp hai, các nhánh cấp 2 phía ngoài tán
cây có khả năng đẻ nhánh và hình thành nhánh cấp 3. Nhánh cơ bản có sức sinh trưởng mạnh
hơn nhánh cấp 2 và cấp 3 nên có khả năng tạo bông, hạt cũng nhiều hơn. Các nhánh cấp 2 và
cấp 3 thường đẻ muộn, sinh trưởng yếu nên thường là nhánh vô hiệu hoặc bông nhỏ ít hạt
hơn nhánh cơ bản.
5
Khả năng đẻ nhánh là một đặc điểm di truyền của giống nhưng phụ thuộc vào môi
trường và dinh dưỡng. Theo Bùi Huy Đáp (1970), trong điều kiện vụ mùa, cấy thưa, đủ dinh
dưỡng giống lúa Tám lùn có thể đẻ được 200 nhánh, và có đến 180 nhánh có khả năng hình
thành bông. Vụ chiêm, giống chiêm canh có thể đẻ được 113 nhánh và có 101 nhánh thành
bông. Các giống lúa cải tiến có thể đẻ 5 - 25 nhánh trong điều kiện thâm canh theo quy trình kỹ
thuật của giống.
Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (1996) phân chia khả năng đẻ nhánh của các giống lúa cải
tiến trong điều kiện canh tác bình thường thành 5 mức:
- Khả năng đẻ nhánh rất cao trên 25 nhánh/khóm
- Khả năng đẻ nhánh tốt 20 đến 25 nhánh/khóm
- Khả năng đẻ nhánh trung bình 10 đến 19 nhánh/khóm
- Khả năng đẻ nhánh thấp 5 đến 9 nhánh/khóm
- Khả năng đẻ nhánh rất thấp <5 nhánh/khóm
1.2.5. Lá lúa
Trên thân chính lúa có bao lá mầm, lá nguyên thuỷ chỉ
có bẹ lá không có phiến lá và lá hoàn chỉnh. Một lá hoàn
chỉnh gồm bẹ lá, phiến lá, lưỡi lá, cổ lá và tai lá, lá được mọc
từ các đốt. Phần từ bẹ lá gắn với thân mở ra hình thành bản lá
gọi là cổ lá.
Số lá trên thân chính lúa có khoảng 12 - 18 lá tuỳ theo
giống, những giống thời gian sinh trưởng ngắn số lá từ 12 - 15
lá, những giống thời gian sinh trưởng dài có 16 - 18 lá.
Cấu tạo lá dạng lưỡi mác, trên mặt gân lá xếp song
song và ổn định về số lượng gân. Lông trên lá là một đặc
điểm đặc thù của giống, mật độ và chiều dài của lớp lông
không khác nhau lớn giữa các loại lá trong cùng một cây. Góc
độ lá và độ uốn cong của lá rất khác nhau đổi với mỗi giống
Hình 1.3 Cấu tạo lá lúa
và loài.
Tác giả Nguyễn Văn Hiển cho rằng có thể phân làm ba nhóm dựa trên góc độ lá đòng:
- Góc lớn: Góc độ lá đòng > 60o,
- Góc trung bình: Góc độ lá đòng từ 30 – 59o,
- Góc nhỏ: Góc độ lá đòng < 29o.
Góc độ lá của giống địa phương rất lớn, xoè ngang nó là hạn chế của giống do sự che
khuất của lá làm giảm khả năng quang hợp. Một trong những yếu tố để giống cải tiến đạt năng
suất cao đó là lá đứng, góc lá nhỏ (trung bình từ 5 – 15o), đặc điểm này giúp cây lúa tăng khả
năng tiếp nhận ánh sáng và tăng khả năng quang hợp tạo ra lượng vật chất hữu cơ cao hơn.
Màu sắc lá lúa rất đa dạng có màu xanh nhạt đến xanh đậm, một số giống lá có màu tím
hoặc sọc tím. Màu sắc lá cũng thay đổi mạnh theo môi trường đặc biệt thay đổi khi thay đổi
chế độ nước, phân bón, nhiệt độ và ánh sáng.
Chiều dài lá được tính từ gốc lá đến ngọn lá, những lá đầu thường có chiều dài ngắn
hơn những lá sau và lá dài nhất là lá thứ 3 tính từ lá đòng xuống. Chiều dài và chiều rộng lá
đòng cũng như hình dạng lá là một tính trạng đặc thù của giống, đa số các giống lúa đều có bản
6
lá phẳng, một số giống bản lá uốn cong còn gọi là lá uốn cong lòng mo như giống C70.
Chiều dài lá đòng: được chia thành 3 mức (theo tác giả Nguyễn Văn Hiển)
- Nhóm lá đòng dài: > 35cm.
- Nhóm lá đòng trung bình: 25 - 35cm.
- Nhóm lá đòng ngắn: < 25cm.
Chiều dài lá đòng các giống địa phương biến động từ 23 - 44cm, chiều rộng lá đòng
trung bình biến động từ 1 - 2,5cm , thay đổi theo môi trường và kỹ thuật canh tác các giống cải
tiến lá đòng ngắn hơn.
Trình tự ra lá: Khi lá thứ nhất bắt đầu mở, lá thứ 2 xuất hiện và khi lá thứ nhất mở hoàn
toàn lá thứ hai nhú và bắt đầu mở. Tốc độ ra lá phụ thuộc vào giống, mùa vụ và nhiệt độ môi
trường, nhiệt độ thích hợp khoảng 24 - 27oC.
1.2.6. Cơ quan sinh sản
Cấu tạo hoa lúa: đốt cổ bông đến gốc bông hoa, trục bông, gié cấp 1, gié cấp 2, trên gié
mang các hoa lúa.
Mỗi hoa lúa được cấu tạo bởi vỏ trấu to, vỏ trấu nhỏ, râu, nhị, nhuỵ, mày hoa, đế hoa và
cuống hoa. Số hoa trên một bông biến động rất lớn từ vài chục hoa đến 400 hoa hoặc hơn tuỳ
giống và môi trường, điều kiện canh tác, trung bình số hoa trên một bông từ 70 đến 120 hoa.
Cấu tạo hoa gồm: 2 vỏ trấu (vỏ trấu lớn
và vỏ trấu nhỏ), trên vỏ trấu thường có các
đường gân và rãnh, đường gân và rãnh sâu hay
lớn tuỳ thuộc giống. Ngoài những gân và rãnh
trên vỏ trấu có lớp lông và gai nhỏ, đặc điểm
này là một cấu tạo có tác dụng bảo vệ hạt và
hoa, mật độ lông dày hay thưa, dài hay ngắn là
một đặc điểm di truyền của giống. Nhiều giống
trên đầu vỏ trấu có râu đặc biệt là các giống lúa
thuộc loài phụ Japonica.
Hình dạng hoa và kích thước hoa lúa
hình thành nên hình dạng kích thước hạt thóc
và gạo sau này. Hoa thường có màu xanh nhạt
như các giống cải tiến hiện nay Q5, khang dân,
CR203, C70.
Hình 1.7 Cấu tạo hoa lúa
Trong một hoa lúa có 6 nhị đực (gồm chỉ nhị và bao phấn), vỏ bao phấn cấu tạo chủ yếu
là cellulose và một bao phấn cấu tạo hai mảnh vỏ, trong bao phấn chứa hạt phấn.
Nhụy phân thành hai nhánh có hình dạng như hai cái chổi lông là các núm nhụy, với
cấu tạo này nhụy dễ dàng nhận được phấn khi phấn chín rơi xuống đầu nhụy. Bầu nhụy chứa
túi phôi, trong túi phôi chứa nhân đối cực, nhân phân cực, và tế bào trứng.
Sau thụ phấn, thụ tinh mỗi hoa phát triển thành một hạt thóc vẫn mang đặc điểm về kích
thước, hình dạng của hoa. Đặc điểm này rất quan trọng đối với chất lượng hạt, đặc biệt là chất
lượng thị trường vì dạng hạt thóc quyết định dạng hạt gạo, tuy nhiên màu sắc hạt gạo không
hoàn toàn như màu sắc vỏ trấu nhưng hình dạng và kích thước hạt thóc là quyết định hình dạng
và kích thước hạt gạo.
7
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Cây lúa có nguồn gốc từ đâu? Phân loại cây lúa?
2. Trình bày đặc điểm các bộ phận cây lúa?
3. Nêu cấu tạo hoa lúa?
8
Chương 2. YÊU CẦU SINH THÁI VÀ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
CỦA CÂY LÚA
2.1. NHIỆT ĐỘ VỚI SỰ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CÂY LÚA
Chế độ nhiệt ảnh hưởng lớn nhất không chỉ đến quá trình sinh trưởng phát triển của lúa
mà nó còn ảnh hưởng đến kiểu sinh trưởng của cây lúa. Trong thời gian sinh trưởng của lúa
nhiệt độ trung bình, tổng nhiệt độ, phạm vi chênh lệch nhiệt độ ngày đêm, thay đổi nhiệt độ
ban ngày hoặc tổng hợp của các yếu tố trên đều có tương quan đến năng suất và chất lượng hạt
(Moomaw và Vergara, 1965). Nhiệt độ nguyên lý cho nảy mầm, đẻ nhánh, ra hoa, chín được
trình bày ở bảng sau:
Giai đoạn sinh trưởng
Nhiệt độ nguyên lý (0C)
Thấp
16-19
12-35
16
Cao
45
Tối ưu
18-40
25-30
25-28
31
Nảy mầm
Cây con
35
Ra rễ
35
Ra lá
7-12
9-16
15
45
Đẻ nhánh
33
25-31
-
Bắt đầu phân hoá hoa
Các bước phân hoá hoa
Nở hoa
-
15-20
22
30
-
35-36
>30
30-33
20-29
Chín
12-18
Nguồn Yoshida,1978
Nhiệt độ cho đẻ nhánh tối ưu là 32-34oC. Miền Trung và Đồng Bằng Sông Cửu Long
thường mức nhiệt độ này ở vụ mùa. Đồng Bằng Sông Hồng vụ mùa cũng có một số ngày đạt
được mức nhiệt độ này trong thời kỳ đẻ nhánh.
Các giai đoạn sinh trưởng khác nhau yêu cầu nhiệt độ khác nhau, nhìn chung nhiệt độ
giai đoạn chín thấp hơn cho năng suất cao hơn, bởi vì nhiệt độ thấp giai đoạn này có nghĩa là
keo dài thời gian tích luỹ vào hạt.
2.1.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ thấp
Nhiệt độ thấp gây hại đến cây lúa ở vùng nhiệt độ thấp và Châu Á (Kaneda,1972), nhiệt
độ thấp là điều kiện bất lợi cho sản xuất lúa.
Giai đoạn mẫn cảm với nhiệt độ thấp là giai đoạn nở hoa và giai đoạn sau phân bào
giảm nhiễm gây ra bất dục (Satake và Hayase, 1970). Nhiệt độ thấp 15 - 17oC gây bất dục ở
những giống chịu lạnh và 17 - 19oC ở những giống kém chịu lạnh trong giai đoạn phân bào
giảm nhiễm. Tóm lại nhiệt độ thấp 15 - 20oC trong giai đoạn này gây ra bất dục và tỷ lệ lép cao
đối với lúa.
Nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước tưới thấp đều ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát
triển và sản xuất lúa, biểu hiện của lúa bị hại do nhiệt độ thấp:
- Tỷ lệ nảy mầm thấp
9
- Sinh trưởng chậm và biến màu lá mạ
- Sinh trưởng còi cọc, giảm chiều cao và khả năng đẻ nhánh
- Trỗ chậm
- Không trỗ thoát
- Nở hoa kéo dài bởi vì trỗ không đều
- Suy thoái hoa
- Chín không đều
- Bất dục
- Tỷ lệ lép cao
Miền Bắc và Bắc Trung Bộ nhiệt độ thấp đầu vụ xuân là một trở ngại cho sản xuất lúa,
khó khăn trong làm mạ. Nhiệt độ thấp đặc biệt ảnh hưởng đến sản xuất lúa vụ xuân ở các tỉnh
miền núi phía Bắc, vì vùng này nhiệt độ thấp hơn và kéo dài. Nhiệt độ thấp ngoài gây chết mạ
còn kéo dài thời gian sinh trưởng của lúa vụ xuân và như vậy chậm hoặc ảnh hưởng đến thời
vụ của vụ mùa.
Ngày nay đã có nhiều tiến bộ kỹ thuật như các giống lúa ngắn ngày gieo cấy vụ xuân
muộn, kỹ thuật làm mạ như mạ sân, mạ dapo, mạ tunnel chống rét cho mạ đã hạn chế được
thiệt hại do chết mạ trong vụ xuân. Những năm trời rét đậm, kéo dài và rét muộn vẫn còn gây
ảnh hưởng đến sản xuất lúa vụ xuân sớm và xuân muộn.
2.1.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ cao
Nhiệt độ cao ảnh hưởng đến quá trình vào chắc của hạt, khi nhiệt độ cao cũng gây ra bất
dục và tỷ lệ lép cao, giai đoạn trỗ của lúa là giai đoạn mẫn cảm nhất đối với nhiệt độ cao
(Satake và Yoshida, 1978).
Nhiệt độ cao giai đoạn trước trỗ ảnh hưởng mạnh và có tương quan giữa số ngày nhiệt
độ cao trước và sau trỗ với tỷ lệ đậu hạt. Khi nhiệt độ cao 5 ngày liên tục sẽ cho tỷ lệ đậu hạt
75% nếu mỗi ngày 4 giờ có nhiệt độ 35oC, nếu 38oC trong 4 giờ tỷ lệ đậu hạt giảm còn 55% và
nếu tăng lên 41oC trong 2 giờ tỷ lệ đậu hạt chỉ còn 15%.
Các giống khác nhau phản ứng với nhiệt độ cao khác nhau. Satake và Yoshida (1977)
thí nghiệm 2 giống CT80 và CT50 ở nhiệt độ cao, giống CT80 có tỷ lệ đậu hạt là 80% còn
giống CT 50 tỷ lệ thấp hơn chỉ đậu hạt 50% trong cùng một điều kiện nhiệt độ. Nhiệt độ tối đa
thông thường là 35 - 41oC.
Nhiệt độ cao trong thời gian nở hoa thiệt hại nhất đến tỷ lệ đậu hạt sau đó đến trước nở
hoa và thiệt hại thấp nhất là nhiệt độ cao sau nở hoa. Như vậy hai vấn đề để khắc phục nhiệt độ
cao là giống chống chịu và giống có thời điểm nở hoa phù hợp, tập trung vào buổi sáng.
2.2. ÁNH SÁNG VỚI SỰ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CÂY LÚA
2.2.1. Bức xạ
Bức xạ mặt trời là bức xạ năng lượng từ mặt trời được đo bằng cal/cm2/giờ, ghi nhận
bức xạ bằng độ dài bước sang phần nhìn thấy (380 – 720nm) của tổng số lượng năng lượng
cho quang hợp. Trong thời kỳ chín của cây trồng ở vùng nhiệt đới lượng bức xạ tập trung và
đạt trung bình khoảng 350 cal/cm2/ngày. Lúa trồng vào mùa khô trong điều kiện có tưới sẽ có
thể có lượng bức xạ lớn hơn mùa mưa.
10
Stansel và cộng sự (1965) gợi ý rằng cây lúa yêu cầu lượng bức xạ lớn nhất từ khi trỗ
đến 10 ngày trước khi chín. Ở Châu Á có tương quan chặt giữa lương bức xạ của 45 ngày
trước thu hoạch với năng suất lúa (De Datta, 1970). Thí nghiệm sớm nhất chỉ ra rằng có tương
quan rất chặt giữa năng suất lúa và lượng bức xạ trong 30 ngày trong thời gian sinh trưởng và
tiếp đó nghiên cứu của De Datta xác nhận của tương quan chặt giữa tích luỹ chất khô và năng
suất hạt.
Những kết luận này chỉ ra rằng, lượng bức xạ nhận được sớm từ giai đoạn bắt đầu phân
hoá hoa đến khi chín là rất quan trọng cho tích luỹ vật chất khô. Theo Murata (1966), kết quả
tích luỹ tinh bột ở lá và ở thân bắt đầu 10 ngày trước trỗ, tích luỹ tinh bột vào hạt trong 30
ngày sau trỗ và tổng thời kỳ này là 40 ngày trước chín và có thể xem là thời kỳ tạo hạt.
2.2.2. Độ dài ngày
Độ dài ngày tự nhiên hoặc quang chu kỳ ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây lúa bao
gồm độ dài ngày đêm và thời gian chuyển tiếp sáng và tối xen kẽ, độ dài ngày liên quan đến
thời gian mặt trời mọc và lặn. Lúa là cây ngắn ngày và mẫn cảm với quang chu kỳ, ngày dài có
thể ngăn cản sự ra hoa (Vergara và Chang, 1976).
Với các giống cảm quang, các giống địa phương cảm quang cho năng suất rất ổn định
qua các năm tuy nhiên năng suất của một số giống không cao. Độ dài ngày và cảm quang cũng
tạo khả năng nhận được nhiều năng lượng mặt trời cũng là một yếu tố quan trọng đối với năng
suất lúa.
2.3. ẢNH HƯỞNG CỦA NƯỚC VÀ ĐỘ ẨM KHÔNG KHÍ
2.3.1. Lượng nước
Nhu cầu nước vô cùng quan trọng đối với lúa, nhu cầu này khác nhau giữa các nhóm
giống như lúa nước, lúa cạn, lúa chịu nước sâu hay lúa nổi.
Nhu cầu nước của lúa cũng khác nhau giữa các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây
11
như nếu thiếu nước ở giai đoạn sinh trưởng sinh thực có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng
suất lúa cả lúa cạn và lúa có tưới. Bị hạn ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây nhưng
quá giới hạn làm chết cây. Những giống lúa cạn có thể phục hồi khi tưới nước hay có mưa,
nhưng những giống lúa có tưới khả năng phục hồi kém hay không thể phuc hồi.
Mưa đầu vụ cung cấp nước cho gieo hạt, lượng mưa thấp hoặc cao đều ảnh hưởng đến
tỷ lệ nảy mầm. Giai đoạn đẻ nhánh lúa cần lượng nước lớn hơn và giảm dần đến khi chín. Giai
đoạn đẻ nhánh thiếu nước hay thừa nước (nước quá sâu) cũng hạn chế khả năng đẻ nhánh của
lúa, giai đoạn trỗ thiếu nước dẫn đến hiện tượng nghẹn đòng không trỗ thoát, tỷ lệ lép cao, giai
đoạn vào chắc thiếu nước cũng dẫn đến tỷ lệ lép cao giảm năng suất.
Nước bên cạnh cung cấp cho các hoạt động trao đổi chất của cây nó còn có tác dụng
điều hoà không khí quần thể ruộng lúa, hạn chế cỏ dại, sâu bệnh, cung cấp oxy cho bộ rễ lúa
phát triển và điều hoà độ ẩm không khí.
Nước ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của lúa và là yếu tố quyết định đến sản xuất
lúa. Nhu cầu về nước qua các thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây lúa cũng khác nhau:
- Thời kỳ nảy mầm: hạt lúa khi bảo quản thường phải giữ độ ẩm 13%, khi ngâm ủ hạt thóc
hút nước đạt 22% thì có thể hoạt động và nảy mầm tốt khi độ ẩm đạt 25 - 28%. Những giống lúa
cạn lại được gieo khô khi đất đủ ẩm hoặc trời mưa có nước mới nảy mầm và mọc được.
- Thời kỳ mạ: từ sau gieo đến mạ mũi chông thì chỉ cần giữ ruộng đủ ẩm. Trong điều kiện
như vậy rễ lúa được cung cấp nhiều oxy để phát triển và nội nhũ cũng phân giải thuận lợi hơn.
Khi cây mạ được 3-4 lá thì có thể giữ ẩm hoặc để một lớp nước nông cho đến khi nhổ cấy.
- Thời kỳ ruộng cấy: từ sau cấy đến khi lúa chín là thời kỳ cây lúa rất cần nước. Nếu
ruộng khô hạn thì các quá trình sinh trưởng gặp trở ngại rõ rệt. Ngược lại nếu mức nước trong
ruộng quá cao, ngập úng cũng không có lợi: cây lúa đẻ nhánh khó, cây vươn dài, yếu ớt, dễ bị
đổ và sâu bệnh. Người ta còn dùng nước để điều tiết sự đẻ nhánh vô hiệu của ruộng lúa.
2.3.2. Độ ẩm không khí
Độ ẩm tương đối là chỉ hơi nước trong không khí, nó là tỷ lệ phần trăm giữa áp suất hơi
nước và áp suất hơi nước bão hoà tại một nhiệt độ hiện có. độ ẩm tương đối được đo bằng ẩm
kế. Đố ẩm ảnh hưởng trước hết đến thay đổi bức xạ mặt trời và nhiệt độ dẫn đến ảnh hưởng
đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của lúa. ẩm độ trung bình trước thu hoạch có xu hưởng
ngược lại với lượng bức xạ trong cùng một thời kỳ, bởi vậy tương quan giữa độ ẩm và năng
suất là không cao, tuy nhiên nếu thời gian ẩm kéo dài là điều kiện để bệnh phát triển.
2.4. SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY LÚA
2.4.1. Các thời kỳ sinh trưởng - phát triển của cây lúa
Trong toàn bộ đời sống cây lúa, có thể chia ra 2 thời kỳ sinh trưởng chủ yếu là sinh
trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực.
- Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng tính từ lúc gieo đến lúc làm đòng. Trong thời kỳ này,
cây lúa chủ yếu hình thành và phát triển các cơ quan dinh dưỡng như ra lá, phát triển rễ, đẻ
nhánh... Ở lúa cấy có thể phân ra thời kỳ mạ và thời kỳ đẻ nhánh ở ruộng cấy.
- Thời kỳ sinh trưởng sinh thực là thời kỳ phân hoá, hình thành cơ quan sinh sản bắt đầu từ
lúc làm đòng cho đến khi thu hoạch. Bao gồm các quá trình làm đòng, trổ bông và hình thành hạt.
Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành số bông,
12
thời kỳ sinh trưởng sinh thực quyết định việc hình thành sổ hạt trên bông, tỷ lệ hạt chắc và
trọng lượng 1000 hạt. Có thể xem thời kỳ từ trỗ đến chín là thời kỳ ảnh hưởng trực tiếp nhất
đến năng suất thu hoạch.
Về mặt nông học có thể chia 3 thời kỳ: Sinh trưởng dinh dưỡng từ lúc nảy mầm; sinh
trưởng sinh thực từ làm đòng đến trổ bông và thời kỳ chín từ trổ đến thu hoạch. Với giống có
thời gian sinh trưởng 120 ngày, trong điều kiện nhiệt đới, thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng là 60
ngày, làm đòng 30 ngày và chín 30 ngày.
Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng thường biến động mạnh nhất. Thời kỳ làm đòng biến
động trong khoảng 30 - 40 ngày tuỳ theo giống ngắn ngày hay dài ngày. Thời kỳ chín biến
động chủ yếu theo nhiệt độ: 30 ngày ở vùng nhiệt đới và 65 ngày những vùng lạnh như
Hokkaido (Nhật) hoặc New South Wales (Australia).
Sự khác nhau và biến động về thời lượng trong các thời kỳ sinh trưởng là cơ sở để áp
dụng các hệ thống biện pháp kỹ thuật khác nhau.
Sự khác nhau về thời gian sinh trưởng chủ yếu là ở thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng, phụ
thuộc giống và điều kiện ngoại cảnh. Những giống chín sớm có thời kỳ sinh trưởng dinh
dưỡng ngắn, chúng có thể làm đòng trước khi đạt số nhánh tối đa, thời gian làm đốt và làm
đòng trùng nhau, thậm chí phân hoá đòng rồi mới làm đốt. Ngược lại ở giống dài ngày thường
đạt số nhánh tối đa và làm đốt trước làm đòng.
- Thời gian sinh trưởng của cùng một giống có thể khác nhau đôi chút giữa lúa cấy và lúa
gieo thẳng. Lúa cấy thường chín muộn hơn lúa gieo 7 - 10 ngày do phải mất thời gian bén rễ.
- Ở lúa gieo thẳng thời kỳ bắt đầu đẻ nhánh sớm hơn so với lúa cấy vì bộ rễ không bị
tổn thương do nhổ cấy. Tuy nhiên, số nhánh đẻ ở lúa gieo thường thấp hơn so với lúa cấy mỗi
cây ở lúa gieo thường đẻ 2-5 nhánh, còn ở lúa cấy có thể đạt tới 10-30 nhánh.
Nắm được quy luật sinh trưởng, Phát triển của cây lúa, chúng ta có thể chủ động áp
dụng các biện pháp kỹ thuật theo hướng có lợi nhất cho quá trình sinh trưởng, phát triển nhằm
tạo năng suất cao.
2.4.2. Các giai đoạn quan trọng và các biện pháp kỹ thuật cần tác động
2.4.2.1. Thời kỳ nảy mầm
Đời sống cây lúa bắt đầu bằng quá trình nẩy mầm, tiếp theo là thời kỳ mạ, đẻ nhánh.
Mầm lúa phát triển từ phôi trong hạt. Phôi nằm ở phía bụng của hạt, có khối lượng không đáng
kể so với khối lượng toàn hạt. Cấu tạo của phôi gồm cô trục phôi, rễ phôi và mầm phôi.
Bình thường hạt lúa bảo quản trong kho không thể nảy mầm vì hàm lượng nước trong
hạt thấp (dưới 13% trọng lượng hạt). Nếu có các điều kiện thuận lợi về độ ẩm, nhiệt độ, oxy thì
hạt có thể nảy mầm.
a. Quá trình nảy mầm
Hạt hút nước, độ ẩm trong hạt tăng, hoạt động của các men hô hấp và phân giải cũng
tăng lên rõ rệt. Dưới tác dụng của men amylase, tinh bột chuyển hoá thành đường glucose. Một
phần glucose dùng đề hô hấp, một phần chuyển đến miền sinh trưởng của phôi, tái tạo thành
xenlulose, cần thiết cho sự hình thành màng tế bào mới, một phần của glucose cũng có thể kết
hợp với asparagin tạo thành thoát mới.
Prôtêin dưới tác dụng của men protease và peptose chuyển hoá thành pepton rồi thành
axit quan. Phần lớn axit quan được tổng hợp thành sinh chất giúp cho phôi phát triển.
13
Sau khi phôi được cung cấp glucose, axit quan... các tế bào phôi phân chia, lớn lên, trục
phôi trương to đẩy mầm và rễ ra khỏi vỏ trấu, hạt nứt nanh rồi nảy mầm.
Hình 2.1. Quá trình nảy mầm của hạt
Khi hạt nảy mầm, đầu tiên xuất hiện lá bao hình vảy, không có diệp lục, thứ đến là lá
không hoàn toàn (chỉ có bẹ chưa có phiến lá) cũng không có diệp lục. Cuối cùng mới xuất hiện
các lá thật có đầy đủ bẹ lá, phiến lá, có khả năng hình thành diệp lục. Những lá ban đầu thường
ngắn và nhỏ. Người ta tính số lá từ lá thật thứ nhất trở đi.
Đồng thời với quá trình nảy mầm, từ phôi cũng xuất hiện 1 rễ phôi (hay rễ mộng, rễ
hạt). Rễ này dài, sau phát triển các lông tơ giúp hạt hút nước trong thời kỳ đầu.
Thời kỳ từ lúc hạt nảy mầm cho đến khi có 3 lá thật (khoảng 10-12 ngày là thời kỳ hạt
sử dụng chủ yếu các chất dự trữ trong hạt. Chỉ từ khi có 4 lá và 4-5 rễ phụ cây mạ mới có thể
sống hoàn toàn tự lập.
b. Điều kiện ảnh hưởng đến sự nảy mầm
- Sức nảy mầm của hạt
Hạt lúa muốn nảy mầm phải có sức nảy mầm tốt. Sức nảy mẩm phụ thuộc vào quá trình
chín và điều kiện bảo quản sau này. Nói chung, sau khi chín trên đồng ruộng, hạt lúa có khả
năng nảy mầm, cũng có những giống cần qua thời kỳ ngủ nghỉ. Một số giống lúa chiêm trước
đây, khi chín vào nhiệt độ cao có mưa, dễ rơi rụng hoặc có thể nảy mầm ngay trên ruộng.
Nhưng cũng có những giống chín sinh lý chậm, sau khi thu hoạch về phải bảo quản qua 1 vụ
mới đem gieo cấy lại, nhưng giống lúa này muốn gieo cấy ngay phải có biện pháp xử lý ngủ
nghỉ để xúc tiến quá trình nảy mầm.
Khả năng hút nước, nảy mầm của hạt còn phụ thuộc vào vỏ trấu. Những giống có vỏ trấu
mỏng thường hút nước nhanh hơn giống vỏ dày, do đó thời gian nảy mầm thường ngắn hơn.
Ngoài ra, sức nảy mầm của hạt còn chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện bảo quản.
Trong điều kiện bảo quản tốt hạt giống có thể qua 1-2 năm vẫn có sức nảy mầm tốt. Nếu bảo
quản trong điều kiện khô lạnh (dưới 150C) có thể giữ hạt giống được lâu hơn.
- Ngoại cảnh
+ Độ ẩm:
Nếu không hút nước đạt độ ẩm thích hợp, hạt lúa không thể nảy mầm được. Hạt giống bảo
quản trong kho, thường có độ ẩm dưới 13%. Khi ngâm nước, trong 18 giờ đầu hạt hút nước
tương đối nhanh, lúc hạt hút nước đạt độ ẩm 22 - 25% có thể nảy mầm. Tốc độ hút nước của hạt
phụ thuộc vào nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước. Mạ chiêm xuân Ở miền Bắc trong điều kiện
14
thời tiết lạnh có thể ngâm trong nước có nhiệt độ 25 - 30oC để rút ngắn thời gian ngâm.
Hạt giống ngâm chưa đạt độ ẩm thích hợp thì khó nảy mầm. Khi hạt nảy mầm lượng
nước trong hạt khoảng 30 - 40% tuỳ theo nhiệt độ. Nhưng ngược lại, thời gian ngâm quá dài,
hạt hút nhiều nước, tinh bột trong hạt phân giải thành đường rồi hoà tan trong nước làm tiêu
hao chất dự trữ trong hạt đồng thời dễ làm cho hạt bị chua, mầm bệnh phát triển, hạt sẽ bị thối
hoặc mầm yếu.
Nhu cầu về nước để hạt nảy mầm cũng còn phụ thuộc vào giống. Các giống lúa cạn, lúa
chịu hạn, có khả năng hút nước và nảy mầm tốt trong điều kiện đất tương đối khô. Ngược lại
các giống lúa chịu nước sâu, có thể nảy mầm tốt trong điều kiện thừa nước.
Khi xử lý ngâm ủ mạ, cần tuỳ theo đặc điểm của giống để có thời gian ngâm ủ phù hợp
giúp cho hạt nảy mầm nhanh và đều.
+ Nhiệt độ
Hạt hút nước đạt độ ẩm cần thiết phải có nhiệt độ phù hợp mới có thể nảy mầm. Nhiệt
độ giới hạn thấp nhất đối với quá trình nảy mầm là 10 - 12oC. Hạt nảy mầm tốt nhất trong điều
kiện 30 - 35oC. Trên 40oC không có lợi cho quá trình nảy mầm. Nói chung vụ hè thu, vụ mùa
ngâm ủ trong điều kiện nhiệt độ cao, hạt dễ nảy mầm, thời gian ngâm ủ ngắn. Trái lại vụ chiêm
xuân ở miền Bắc, ngâm ủ trong điều kiện nhiệt độ thấp nên thời gian ngâm ủ thường kéo dài.
Có thể sử dụng rơm rạ bao tải phủ lên khối hạt để giữ nhiệt. Trong quá trình ủ, bản thân khối
hạt hô hấp cũng tạo ra nhiệt lượng đề xúc tiến nảy mầm.
Ngâm ủ với khối lượng hạt giống ít, dễ bị thiếu nhiệt nên hạt nảy mầm chậm. Có thể
dùng nước ấm tưới vào hạt giống để hạt hút ẩm, tăng cường hô hấp sẽ nảy mầm mạnh hơn.
+ Ôxy
Cây lúa vốn sống trong điều kiện mộng ngập nước, nên hạt có thể nảy mầm trong điều
kiện yếm khí hoặc thiếu ôxy. Tuy nhiên trong điều kiện đó hạt chỉ nảy mầm, lá bao kéo dài yếu
ớt. Trong môi trường ấm, hạt nảy mầm nhanh và ra rễ bình thường. Oxy cần thiết cho quá trình
hô hấp của hạt, giúp cho quá trình phân giải vật chất trong hạt và phân chia tế bào mới. Nếu
thiếu oxy, tế bào kéo dài, các lá ban đầu dài ra yếu ớt. Có đủ oxy rễ mới phát triển được.
Thí nghiệm cho thấy, khi hạt nảy mầm khống chế tỷ lệ oxy khác nhau thì sự phát triển
của mầm và rễ cũng khác nhau: Nếu lượng oxy là 0,2% sau 10 ngày chiều dài mầm tăng 72
lần, rễ tăng 36 lần, nếu lượng oxy là 20,8% thì số liệu tương ứng là 19 và 226 lần. Điều đó cho
thấy khi hạt nảy mầm, oxy có ảnh hưởng chủ yếu đến sự phát triển.
Trong kỹ thuật ngâm ủ, người ta điều tiết quan hệ nước - oxy để khống chế sự phát triển
của mầm và rễ theo yêu cầu. Kinh nghiệm "ngày ngâm đêm ủ" cũng làm một biện pháp điều
tiết sự phát triển của mầm và rễ cho phù hợp. Gần đây quy trình ngâm ủ theo phương pháp mới
của các chuyên gia Nhật Bản, tiến hành ngâm hạt giống trong môi trường chua (pH: 5-5,5)
yếm khí để hạn chế rễ phát triển.
2.4.2.2. Thời kỳ mạ
Đối với lúa gieo thẳng (lúa sạ), sau thời kỳ nảy mầm là thời kỳ cây con rồi bước vào
thời kỳ đẻ nhánh khi cây có khoảng 4 - 5 lá. Còn ở lúa cấy phải qua thời kỳ mạ.
Thời kỳ mạ dài hay ngắn tuỳ thuộc theo giống lúa và mùa vụ. Đối với các giống địa
phương, thời kỳ mạ ở vụ mùa khoảng 40 - 45 ngày, vụ chiêm khoảng 50 - 60 ngày và lúa ngắn
ngày khoảng 25 - 30 ngày. Gần đây với các giống lúa mới ngắn ngày, kết hợp với kỹ thuật làm
mạ mới, nói chung thời kỳ mạ được rút ngắn nhiều. Ví dụ trà xuân muộn làm mạ nền, mạ sân,
15
tuổi mạ chỉ để 15 - 18 ngày, hay theo quy trình kỹ thuật của chuyên gia Nhật, tuổi mạ 2,5 - 3 lá
ứng với thời gian 7 - 10 ngày trong vụ mùa.
Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của cây mạ, có thể chia thời kỳ mạ ra 2 thời kỳ nhỏ:
thời kỳ mạ non và thời kỳ mạ khoẻ.
a. Thời kỳ mạ non
Thời kỳ mạ non đối với mạ được tính từ lúc gieo đến khi ra được 3 lá thật. Nếu điều
kiện thuận lợi sau gieo 7 - 10 ngày là kết thúc thời kỳ này. Nếu thời tiết bất thuận (gặp rét,
hạn...) thời kỳ này sẽ kéo dài hơn. Đặc điểm chính của thời kỳ này là phôi nhũ tiếp tục phân
giải để cung cấp cho mầm và rễ, vì thế tốc độ hình thành các lá đầu tương đối nhanh. Tuy
nhiên kích thước lá còn nhỏ nên nhu cầu dinh dưỡng không đáng kể. Mặt khác, ở dưới mặt đất,
sau khi gieo, rễ phôi tiếp tục phát triển và có thể hình thành vài lứa rễ đầu tiên nhưng số lượng
rễ cũng không nhiều.
Do đó, sau khi gieo muốn cho cây mạ sinh trưởng thuận lợi, cần giữ ẩm cho ruộng mạ,
tránh bị ngập hoặc hạn. Thời kỳ này dinh dưỡng của cây mạ chủ yếu dựa vào chất dự trữ trong hạt
nên chưa cần bón thúc. Ngoài ra cũng cần chú ý là thời kỳ này cây mạ còn nhỏ, yếu, khả năng
chống chịu kém. Vì vậy cần tạo điều kiện để cây mạ có khả năng chống chịu rét, sâu bệnh...
b. Thời kỳ mạ khoẻ
Thời kỳ mạ khoẻ tính từ khi cây mạ có 4 lá thật cho đến khi nhổ cấy. Nói chung thời kỳ
này thường dài hơn so với thời kỳ mạ non.
Kết thúc thời kỳ 3 lá, cây mạ chuyển sang thời kỳ sống tự lập, chất dự trữ trong phôi nhũ
đã sử dụng hết, cây mạ phải trực tiếp đồng hoá dinh dưỡng từ môi trường để sống và phát triển.
Ở thời kỳ này, chiều cao, kích thước cây mạ cũng tăng rõ, có thể ra được 4 - 5 lứa rễ...
do có khả năng chống chịu cũng tăng lên rõ rệt.
Thời kỳ mạ khoẻ thường kéo dài đến khi cây mạ có khoảng 5 - 6 lá đối với những giống
có thời gian sinh trưởng trung bình và 6 - 7 lá đối với những giống dài ngày hơn.
Vụ chiêm xuân Ở miền Bắc, thời kỳ này cũng biến động theo thời tiết hàng năm. Những
năm rét nhiều, mạ sinh trưởng chậm, số lá ra được ít nên thời kỳ này thường kéo dài. Ngược
lại, nhưng năm trời ấm, mạ sinh trưởng mạnh, tốc độ ra lá nhanh, sớm đạt được tuổi mạ cấy,
cần có biện pháp hãm mạ để tránh mạ già, mạ ống.
Tóm lại, thời kỳ mạ tuy thời lượng không nhiều (và có xu hướng ngày càng rút ngắn)
nhưng lại có ý nghĩa đáng kể trong toàn bộ quá trình sinh trưởng của cây lúa. Tạo được mạ tốt,
mạ khoẻ làm cơ sở cho quá trình đẻ nhánh và các quá trình sinh trưởng tiếp theo.
2.4.2.3. Thời kỳ đẻ nhánh
Sau khi cấy, cây lúa bén rễ hồi xanh rồi bước vào thời kỳ đẻ nhánh. Đây là thời kỳ có ý
nghĩa đáng kể trong toàn bộ đời sống cây lúa và quá trình tạo năng suất sau này.
Quá trình bén rễ hồi xanh nhanh hay chậm liên quan trực tiếp đến quá trình đẻ nhánh
sớm hay muộn. Nói chung nếu điều kiện ngoại cảnh thuận lợi, sau cấy 5 - 7 ngày cây lúa có
thể bén rễ hồi xanh, chuyển sang đẻ nhánh (ở vụ mùa). Trong điều kiện bất thuận lợi như trời
lạnh, âm u, thiếu ánh sáng, thời gian bén rễ hồi xanh kéo dài 15 - 20 ngày, có khi 25 - 30 ngày
(vụ chiêm ở miền Bắc).
Ở thời kỳ đẻ nhánh, nói chung cây lúa sinh trưởng nhanh và mạnh. Trong thời kỳ này
cây lúa tập trung vào các quá trình phát triển của bộ rễ, ra lá và đẻ nhánh. Thời kỳ đẻ nhánh là
thời kỳ quyết định đến sự phát triển diện tích lá và số bông. Do đó cần chú ý đến các biện pháp
16
kỹ thuật nhằm làm tăng diện tích lá để tăng khả năng quang hợp và tăng số bông là yếu tố quan
trọng đề tăng năng suất lúa.
Thời gian đẻ nhánh của cây lúa từ sau khi lúa bén rễ hồi xanh đến khi làm đốt, làm
đòng. Thời gian này dài hay ngắn phụ thuộc thời vụ, giống và biện pháp kỹ thuật canh tác. Vụ
lúa Chiêm dài ngày, thời gian đẻ nhánh có thể kéo dài trên 2 tháng, vụ Mùa thời gian đẻ nhánh
khoảng 40 - 45 ngày, vụ Xuân thời gian đẻ nhánh ngắn hơn vụ Chiêm, vụ Hè Thu thời gian đẻ
nhánh ngắn nhất 20 - 25 ngày.
Trong một vụ, trà cấy sớm thời gian đẻ nhánh dài hơn trà cấy muộn. Ngoài ra các biện
pháp bón phân, tưới nước... khác nhau cũng ảnh hưởng đến thời gian đẻ nhánh. Ví dụ: Thúc
đạm sớm, đẻ nhánh sớm; bón nhiều phân, bón thúc muộn, thời gian đẻ nhánh kéo dài. Mật độ
gieo cấy thưa thời gian đẻ nhánh dài hơn cấy dày, tuổi mạ non thời gian đẻ nhánh dài hơn so
với mạ già.
Trong thời gian đẻ nhánh nói chung, có thể phân ra thời gian đẻ nhánh hữu hiệu (nhánh
thành bông) và thời gian đẻ nhánh vô hiệu. Thời lượng của chúng thay đổi tuỳ theo giống, thời
vụ và các biện pháp kỹ thuật áp dụng.
2.4.2.4. Thời kỳ làm đốt, làm đòng
Trên đồng ruộng, sau khi đạt số nhánh tối đa, cây lúa chuyển sang thời kỳ làm đốt làm
đòng (thời kỳ sinh trưởng sinh thực). Ở thời kỳ này, cây lúa tiếp tục ra nhưng lá cuối cùng, các
nhánh vô hiệu cũng lụi dần, các nhánh tốt được phát triển hoàn chỉnh để trở thành nhánh hữu
hiệu (bông lúa). Hoạt động sinh trưởng của cây lúa tập trung cho quá trình làm đốt, làm đòng.
a. Thời gian làm đốt - làm đòng
Thời gian làm đốt, làm đòng sớm hay muộn, dài hay ngắn có liên quan chặt chẽ đến thời
kỳ trổ bông.
Những giống ngắn ngày có thời gian làm đốt khoảng 25 - 30 ngày, trung bình khoảng 30
- 40 ngày, giống dài ngày có thể kéo dài 50 - 60 ngày. Thời gian làm đốt dài hay ngắn thường
có liên quan đến số lóng kéo dài trên thân nhiều hay ít.
Thời gian bắt đầu làm đốt thường cũng có quy luật nhất định. Ở vụ mùa, cây lúa thường
làm đốt vào trung tuần tháng 8, trước khi làm đòng 7 - 10 ngày đến 20 ngày tuỳ giống (khi cây
lúa có 2 - 3 đất thì làm đòng). Ở vụ chiêm thường làm đốt vào trung tuần tháng 3, trước khi
làm đòng khoảng 5 - 7 ngày (khi cây lúa có 1 - 2 đốt thì làm đòng). Các giống lúa ngắn ngày
trong vụ xuân, hè thu, mùa thường cùng bước vào quá trình làm đốt, làm đòng. Do đó thời gian
làm đốt làm đòng bằng nhau. Đôi khi cũng có trường hợp cây lúa phản hoá đòng rồi mới làm
đốt, trong trường hợp có thời gian làm đốt ngắn hơn làm đòng.
Thời gian làm đòng dài hay ngắn chủ yếu phụ thuộc vào giống. Những giống ngắn ngày
thời gian làm đòng khoảng 25 - 30 ngày. Gióng trung ngày khoảng 30 - 35 ngày, giống dài
ngày khoảng 40 - 45 ngày.
b. Quá trình làm đốt
Thân lúa được phát triển từ trục phôi. Trong thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng (thời kỳ mạ
đẻ nhánh), thân lúa là thân giả do các bẹ lá tạo thành. Từ thời kỳ làm đốt trở đi (thực chất là
quá trình kéo dài của các lóng), thân lúa chính thức mới hình thành, số lóng kéo dài và chiều
dài các lóng sẽ quyết định chiều cao cây.
Khi cây lúa đẻ nhánh đạt được số nhánh tối đa, thì quá trình làm đốt cũng bắt đầu. Quá
trình làm đốt thường được tính từ khi lóng thứ nhất ở gốc thân kéo dài (từ 0,5cm trở lên).
17
Những lóng ở dưới gốc thường ngắn, tốc độ phát triển chậm. Các lóng trên dài hơn và tốc độ
phát triển cũng nhanh hơn. Sự phát triển của lóng trên cũng có quan hệ chặt chẽ với quá trình
trổ bông.
Sự phát triển của các lóng đốt quyết định chiều cao cây và có liên quan đến khả năng
chống đổ. Hiện nay, các giống lúa mới thấp cây đang thay thế các giống lúa cũ cao cây chúng
có khả năng chống đổ tết khi đầu tư thâm canh để đạt năng suất cao.
c. Quá trình làm đòng
Quá trình làm đòng là quá trình phân hoá và hình thành cơ quan sinh sản, có ảnh hưởng
trực tiếp đến quá trình hình thành năng suất lúa. Ở thời kỳ này, cây lúa có những thay đổi rõ rệt
về mặt hình thái, màu sắc lá, hoạt động sinh lý, khả nămg chống chịu ngoại cảnh...
Các bước phân hoá đòng
Quá trình phân hoá đòng là một quá trình biến đổi phức tạp về mặt hình thái và sinh lý
Việc phân chia các bước phân hoá đòng cung có nhiều ý kiến khác nhau. Matsushima (Nhật)
chia quá trình phân hoá đòng thành 21 bước, một số tác giả khác chia ra 5 - 7 bước. Đào Thế
Tuấn chia 5 bước, Đinh Văn Lữ chia 6 bước.
Theo Đinh Dĩnh (Trung Quốc), quá trình phân hoá đòng có 8 bước:
Bước 1: Phân hoá điểm sinh trưởng (1 - 2 ngày)
Điểm sinh trưởng nằm ở đọt thân cây lúa, ở ngoài có lá bao. Khi lá bao phân hoá, điểm
sinh trưởng chưa phình to. Khi lá bao lớn lên thì điểm sinh trưởng cũng dần phình to lên rõ rệt.
Khi ở chân điểm sinh trưởng xuất hiện những vân ngang là kết thúc thời kỳ này.
Bước 2: Phân hoá gié cấp 1 (2 - 4 ngày)
Những vân trên điểm sinh trưởng là thể nguyên thuỷ của lá bao ở gốc gié cấp 1. Điểm
sinh trưởng tiếp tục lớn lên và phân hoá gié cấp 1. Khi chỗ sinh ra lá bao thứ nhất xuất hiện
lông trắng là kết thúc bước này.
Bước 3: Phân hoá gié cấp 2 và hoa (4 - 6 ngày)
Sau khi gié cấp 1 phân hoá xong thì phân hoá gié cấp 2 từ nách lá bao của gié cấp 1, rồi
trên gié cấp 2 xuất hiện hoa theo thứ tự từ dưới tên trên. Đồng thời ở bao gốc hoa sinh ra nhiều
lông trắng phủ kín bông non.
Bước 4: Hình thành nhị và nhụy (5 - 6 ngày)
Khi hoa trên gié cấp 2 phân hoá xong thì hoa trên gié cấp 1 xuất hiện nhị và nhụy. Lúc
này số hoa trên bông đã được xác định. Trục bông, các gié lớn lên rõ rệt. Hoa hình thành nhị,
nhuỵ rồi bao phấn.
Bước 5: Hình thành tế bào mẹ hạt phấn (4 - 6 ngày)
Lúc nhị và nhụy xuất hiện thì mày trấu cũng lớn lên tương đối nhanh, độ dài của nó
vượt quá 1/2 vỏ trấu trong (vỏ trấu bụng) và vỏ trấu ngoài (vỏ trấu lưng). Khi vỏ trấu trong và
vỏ trấu ngoài gần sát nhau thì bao phấn chia 2 phòng rồi 4 phòng; nhụy cũng đã phân hoá hình
thành đầu núm nhụy. Vỏ trấu lớn nhanh gấp đôi chiều dài mày trấu. Lúc này xuất hiện tế bào
mẹ hạt phấn.
Bước 6: Phân chia giảm nhiễm của tế bào mẹ hạt phấn (1 - 3 ngày)
Sau khi tế bào mẹ hạt phấn hình thành xong thì tiến hành phân bào giảm nhiễm. Quá trình
phân chia 2 lần, tạo thành 2 rồi 4 tế bào, mất khoảng 1 - 2 ngày. Lúc này bao phấn có màu vàng rõ
rệt, đầu nhụy nổi lên những điểm hình núm nhỏ, chiều dài của hoa đạt 1/2 chiều dài cuối cùng.
18
Bước 7: Tích luỹ các chất trong hạt phấn (6 - 7 ngày)
Sau khi hạt phấn phát triển thành hình cầu nhỏ, màng ngoài của hạt phấn dần dần hình
thành, thể tích tăng lên, xuất hiện lỗ nảy mầm, các chất trong hạt phấn dần dần đầy lên. Lúc
này chiều dài của vỏ trấu tăng nhanh, khi gần ngừng thì chiều ngang của hạt cũng tăng nhanh,
vỏ trấu silic hoá, hình thành diệp lục, nhị và nhụy lớn nhanh, mày trấu thoái hoá.
Bước 8: Hoàn thành hạt phấn (3 - 4 ngày)
Trước trổ bông 1 - 2 ngày, các chất trong hạt phấn tích luỹ đầy đủ, vỏ trấu xuất hiện
diệp lục - nhị lớn nhanh; trong hạt phấn tiến hành phần chia hạch đực và hạch dinh dưỡng.
Trước lúc hoa nở hạch đực mới sinh ra. Đến đây kết thúc quá trình phân hoá và phát triển của
hoa lúa.
Trong quá trình phân hoá và phát triển của đòng từ bước 1 đến bước 3 (phân hoá hoa),
kích thước đòng còn rất nhỏ, dài từ 0,04 - 0,05cm. Bắt đầu từ bước 4 đòng phát triển và lớn lên
rõ rệt. Đến bước 6 chiều dài đòng có thể đạt 8 - 12cm, khoảng 1/2 chiều dài bông sau này. Sự
phát triển này không khác nhau nhiều giữa các giống.
2.4.2.5. Thời kỳ trổ bông, làm hạt
Đây là thời kỳ sinh trưởng phát triển cuối cùng của cây lúa, có liên quan quyết định trực
tiếp đến quá trình tạo năng suất, .trong đó chủ yếu quyết định tỷ lệ hạt chắc và trọng lượng hạt.
Đây cũng là thời kỳ mà điều kiện ngoại cảnh có tác động rõ rệt và trực tiếp đến năng suất. Thời
kỳ trổ bông - làm hạt bao gồm các quá trình trổ bông, nở hoa, thụ phấn, thụ tinh, hình thành hạt
và chín.
a. Quá trình trổ bông, nở hoa, thụ phấn
Đòng lúa sau khi phân hoá hình thành xong thì trổ ra ngoài do sự phát triển nhanh của
lóng trên cùng. Khi toàn bộ bông lúa thoát ra khỏi bẹ lá đòng là kết thúc quá trình trổ. Thường
mất khoảng 5-6 ngày, nhưng có giống chỉ trỗ trong vòng 2 - 3 ngày. Thời gian trổ càng ngắn
càng có khả năng tránh được các điều kiện bất thuận. Cùng với quá trình trổ bông, có giống
tiến hành nở hoa thụ phấn ngay, nhưng cũng có giống phải chờ trổ xong mới tiến hành nở hoa
thụ phấn. Trên một bông, những hoa ở đầu bông và đầu gié thường nở trước, các hoa ở gốc
bông thường nở hoa cuối cùng.
Trình tự nở hoa có liên quan đến trình tự vào chắc, những hoa gốc bông nở cuối cùng
nên cùng vào chắc muộn và khi gặp điều kiện bất thuận thường dễ bị lép hoặc có trọng lượng
hạt thấp.
* Thời gian nở hoa.
Trong ngày hoa thường nở rộ vào 8 - 9 giờ sáng khi có điều kiện nhiệt độ thích hợp, đủ ánh
nắng, quang mây, gió nhẹ. Những ngày mùa hè, trời nắng to có thể nở hoa sớm vào 7 - 8 giờ sáng.
Ngược lại nếu trời âm u, thiếu ánh sáng hoặc gặp rét hoa phơi màu muộn hơn, vào 12 - 14 giờ.
* Quá trình nở hoa - phơi màu
Khi nở hoa phơi màu, vảy cá hút nước trương to lên, đồng thời với áp lực của vòi nhị
làm cho vỏ trấu mở ra. Khi vỏ trấu vừa hé mở từ 0 - 4 phút thì bao phấn vỡ ra, hạt phấn rơi vào
đầu nhụy. Đó là quá trình thụ phấn.
Sau đó vòi nhị vươn dài ra nhanh đẩy bao phấn ra ngoài vỏ trấu (quá trình phơi màu). Sau
cùng vòi nhị héo rũ và bao phấn rụng đi. Quá trình nở hoa thụ phấn đã hoàn thành. Thời gian bắt
đầu nở hoa cho đến đến lúc vỏ trấu khép lại mất khoảng 50 - 60 phút. Do đặc điểm cấu tạo và nở
hoa thụ phấn ở cây lúa tuyệt đại bộ phận là tự thụ phấn, tỷ lệ giao phấn thường không quá 2%.
19
* Quá trình thụ tinh
Sau quá trình thụ phấn là quá trình thụ tinh và hình thành hạt. Trong điều kiện bình
thường hạt phấn rơi xuống đầu nhuỵ, sau 15 phút ống phấn bắt đầu dài ra. Trong vòng 10- 15
phút sau ống phấn đã dài gấp mấy lần đường kính hạt phấn, các chất trong hạt phấn dồn vào
ống phấn.
Sau thụ phấn 2 giờ, ống phấn tới đầu nhuỵ, sau 4 giờ ống phấn vào phôi châu, qua lỗ
noãn sào vào tới phôi nang, ống phấn trương to lên rồi vỡ ra, giải phóng ra 2 hạch đực, trong
đó 1 hạch đực sẽ kết hợp với trứng, còn hạch kia sẽ kết hợp với hạch thứ cấp Trứng sau thụ
tinh sẽ phát triển thành phôi, hạch thứ cấp sau phát triển thành phôi nhũ (hạt gạo). Đó là quá
trình thụ tinh kép. Quá trình thụ tinh kéo dài 8 giờ sau thụ phấn.
* Phát triển của phôi
Sau thụ tinh, phôi phát triển khá nhanh, 24 giờ sau trứng đã phân chia thành 4 - 8 tế bào,
7 ngày sau có thể phân biệt rõ mầm và bao mầm nguyên thuỷ. Sau 8 - 10 ngày các bộ phận của
phôi như trục phôi, mầm và rễ, phôi đã có thể phân biệt rõ. Sau 2 tuần phôi đã phát triển xong,
nằm ở dưới bụng hạt.
Về kích thước, sau thụ tinh 24 giờ, chiều dài, rộng của phôi là 0,051 x 0,042mm. Sau 10
ngày là 1,471 x 0,663mm và đến khi chín khoảng 1,790 x 0,890mm.
* Phát triển của phôi nhũ
Sau thụ tinh, phôi nhũ cũng phát triển nhanh. Sau 4 ngày tế bào phôi nhũ đã phân chia
xong và bất đầu tích luỹ tinh bột, sau 7 ngày hình thành tầng dextrin, sau 10 ngày tích luỹ
nhanh hydrat cacbon. Lúc này hạt gạo hình thành rõ và chín dần. Hạt gạo lúc đầu phát triển
theo chiều dài, sau đó đến chiều rộng và bề dày.
Trọng lượng hạt gạo tăng nhanh trong vòng 15-20 ngày sau trụ, đồng thời với quá trình
vận chuyển và tích luỹ vật chất về hạt.
b. Quá trình chín của hạt
Dựa vào sự biến đổi về hình dạng, màu sắc, chất dự trữ và trọng lượng hạt, có thể chia
quá trình chín của hạt ra làm 3 thời kỳ chín sữa, chín sáp và chín hoàn toàn.
* Chín sữa:
Sau phơi màu 5-7 ngày, chất dự trữ trong hạt ở dạng lỏng, trắng như sữa. Hình dạng hạt
đã hoàn thành, lưng hạt có màu xanh. Trọng lượng hạt tăng nhanh ở thời kỳ này, có thể đạt 75
- 80% trọng lượng cuối cùng.
* Chín sáp:
Ở thời kỳ này, chất dịch trong hạt dần đặc lại, hạt cứng. Màu xanh ở lưng hạt dần dần
chuyển sang màu vàng. Trọng lượng hạt tiếp tục tăng lên.
* Chín hoàn toàn:
Thời kỳ này hạt chắc cứng, vỏ trấu từ màu vàng chuyền sang vàng nhạt. Trọng lượng
hạt đạt tối đa.
Nói chung thời kỳ chín kéo dài khoảng 30-40 ngày tuỳ theo giống và thơi vụ. Đã là thời
kỳ quyết định trọng lượng hạt và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo thành năng suất lúa.
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Cây lương thực", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bai_giang_cay_luong_thuc.pdf

