Bài giảng Trồng một số loài hoa - Nghề: Khuyến nông lâm

TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ LÀO CAI  
KHOA NÔNG LÂM NGHIỆP  
BÀI GIẢNG  
Trồng một số loài hoa  
NGHỀ KHUYẾN NÔNG LÂM  
TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP NGHỀ  
Tác giả: Vũ Thị Hồng Yến  
Lào Cai, năm 2015  
LỜI NÓI ĐẦU  
Mô đun “Trồng một số loài hoa” là một trong số những mô đun tự chọn trong  
chương trình đào tạo hệ trung cấp nghề Khuyến nông lâm. Mô đun này trang bị cho  
học sinh những kiến thức cơ bản về kỹ thuật sử dụng một số chất điều tiết sinh trưởng  
trong nhân giống một số loài hoa bằng phương pháp vô tính, những biện pháp kỹ  
thuật, kỹ năng nghề quan trọng để người học có thể tự nhân giống cây hoa trồng phục  
vụ cho gia đình và địa phương, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội.  
Mô đun còn trang bị thêm cho học sinh chuyên ngành Khuyến nông lâm có  
những kiến thức bổ ích về những vấn đề liên quan đến sử dụng chất kích thích sinh  
trưởng, thiết kế quy hoạch vườn ươm cây hoa và chăm sóc hoa cây cảnh…, giúp các  
em ra trường có thể tham gia công tác ở các lĩnh vực Khuyến nông lâm, Bảo vệ thực  
vật, trồng trọt, chỉ đạo, quản lý sản xuất ở gia đình và địa phương.  
Bố cục của giáo trình gồm có 3 bài, bao gồm những kiến thức về lý thuyết và  
thực hành. Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã tham khảo nhiều giáo trình, sách  
tham khảo của các trường đại học và của các tác giả có chuyên môn sâu về những  
lĩnh vực có liên quan. Tuy có nhiều cố gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu xót,  
chúng tôi rất mong muốn nhận được những ý kiến tham gia, đóng góp của các chuyên  
gia và đông đảo bạn đọc.  
Xin chân thành cảm ơn.  
Tác giả  
2
HƯỚNG DẪN NGHIÊN CỨU GIÁO TRÌNH  
Trồng một số loài hoa là mô đun tự chọn trong chương trình đào tạo hệ trung cấp  
nghề Khuyến nông lâm, nhằm trang bị cho người học những kiến thức cần thiết về trồng  
và chăm sóc một số loài hoa, các phương pháp nhân giống vô tính cây hoa và những kỹ  
năng nghề cần thiết để cây trồng cho năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt, đem lại hiệu  
quả kinh tế - xã hội và môi trường cho người sản xuất, vùng sản xuất.  
Trong quá trình học, mô đun có liên quan với các môn: Đất và phân bón, Nông lâm  
kết hợp, Nhân giống cây trồng. Mô đun này được bố trí học sau các môn học bắt buộc,  
giúp cho người học vận dụng kiến thức, kỹ năng trong việc tổ chức sản xuất, sử dụng đất  
đai có hiệu quả, sản phẩm sản xuất ra đáp ứng được nhu cầu thị trường.  
Giáo trình có 3 bài, giảng dạy 24 giờ lý thuyết, 33 giờ thực hành và 3 bài kiểm tra.  
Mỗi một bài học đều có bài thực hành. Người học được kiểm tra đánh giá 3 lần theo 2  
nội dung chính: Đánh giá kiến thức và kỹ năng. Nội dung tập trung trong các bài 2 và  
bài 3.  
Phương pháp giảng dạy: Sử dụng phương pháp dạy học lấy người học làm  
trung tâm. Giảng giải kết hợp làm mẫu và có ví dụ minh họa bằng hình ảnh thực tế,  
mô hình và rèn luyện kỹ năng thực hành tại vườn ươm, trang trại, vườn hộ gia đình...  
để củng cố kiến thức, nâng cao kỹ năng nghề cho học sinh.  
3
MỤC LỤC  
Nội dung  
Trang  
2
Lời nói đầu  
Hướng dẫn sử dụng giáo trình  
3
Bài 1: Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa  
1.1. Sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới  
1.1.1. Thị trường Eu  
9
9
9
1.1.2. Thị trường châu Mỹ  
9
1.2. Sản xuất và tiêu thụ hoa ở châu Á  
1.3. Sản xuất và tiêu thụ hoa ở Việt Nam  
1.3.1. Diện tích trồng hoa ở Việt Nam  
1.3.2. Kỹ thuật sản xuất hoa ở Việt Nam  
10  
11  
11  
13  
13  
14  
14  
14  
14  
14  
15  
16  
17  
17  
17  
19  
19  
20  
1.3.2.1. Thực trạng sản xuất và tiêu thụ hoa ở Lào Cai  
1.3.2.2. Chủng loại và phân bố  
1.3.2.3. Tiêu thụ hoa  
1.3.2.4. Khó khăn, tồn tại  
1.4. Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa  
1.4.1. Yêu cầu nhiệt độ của cây hoa  
1.4.2. Yêu cầu ẩm độ của cây hoa  
1.4.3. Yêu cầu ánh sáng của cây hoa  
1.4.4. Yêu cầu về đất và dinh dưỡng cho cây hoa  
1.4.4.1. Yêu cầu về đất  
1.4.4.2. Yêu cầu về dinh dưỡng cho cây hoa  
Bài 2: Một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hoa  
2.1. Ứng dụng chất điều tiết sinh trưởng trong sản xuất hoa  
2.1.1. Nguyên tắc sử dụng chất điều tiết sinh trưởng trong sản  
xuất hoa  
2.1.2. Xúc tiến sự nảy mầm của hạt giống và củ  
20  
21  
2.1.3. Xúc tiến hình thành rễ bất định của cành chiết, cành giâm  
trong nhân giống vô tính  
2.1.4. Điều khiển sự ra hoa  
21  
23  
2.2. Thu hoạch, bảo quản, phân loại và đóng gói hoa  
4
2.2.1. Thu hoạch hoa  
2.2.1.1. Xác định thời điểm thu hoạch hoa  
23  
23  
23  
24  
25  
25  
32  
32  
32  
32  
32  
33  
33  
34  
34  
34  
35  
35  
35  
35  
35  
35  
36  
36  
36  
37  
39  
40  
42  
44  
44  
45  
2.2.1.2. Cách thức thu hái  
2.2.2. Chăm sóc, bảo quản hoa sau thu hoạch  
2.2.3. Phân loại hoa  
2.2.4. Đóng gói hoa  
Bài 3: Kỹ thuật trồng một số hoa chính  
3.1. Kỹ thuật trồng hoa Cúc  
3.1.1. Nguồn gốc và phân loại  
3.1.1.1. Nguồn gốc  
3.1.1.2. Phân loại hoa Cúc  
3.1.2. Đặc điểm thực vật học  
3.1.2.1. Thân  
3.1.2.2. Lá  
3.1.2.3. Rễ  
3.1.2.4. Hoa  
3.1.2.5. Quả  
3.1.3. Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa Cúc  
3.1.3.1. Nhiệt độ  
3.1.3.2. Ánh sáng  
3.1.3.3. Ẩm độ  
3.1.3.4. Dinh dưỡng  
3.1.4. Kỹ thuật gieo trồng hoa Cúc  
3.1.4.1. Thời vụ gieo trồng  
3.1.4.2. Làm đất  
3.1.4.3. Bón phân  
3.1.4.4. Kỹ thuật làm vườn ươm cây con  
3.1.4.5. Kỹ thuật trồng vườn sản xuất  
3.1.4.6. Kỹ thuật chăm sóc cây hoa Cúc  
3.1.5. Kỹ thuật để giống và nhân giống  
3.1.5.1. Nhân giống bằng phương pháp tỉa chồi  
3.1.5.2. Nhân giống bằng phương pháp giâm cành (giâm  
ngọn)  
3.1.6. Sâu bệnh hại hoa Cúc và biện pháp phòng trừ  
47  
5
3.1.6.1. Bệnh hại hoa Cúc và biện pháp phòng trừ  
47  
52  
3.1.6.2. Một số côn trùng, sâu hại hoa Cúc và biện pháp  
phòng trừ  
3.2. Kỹ thuật trồng hoa hồng  
3.2.1. Nguồn gốc, phân loại  
3.2.1.1. Nguồn gốc  
3.2.1.2. Phân loại hoa  
3.2.2. Đặc điểm thực vật học  
3.2.2.1. Rễ cây  
55  
55  
55  
55  
56  
56  
56  
56  
56  
56  
56  
56  
56  
56  
57  
57  
57  
57  
57  
58  
58  
60  
3.2.2.2. Thân  
3.2.2.3. Lá  
3.2.2.4. Hoa  
3.2.2.5. Quả và hạt  
3.2.3. Yêu cầu ngoại cảnh  
3.2.3.1. Nhiệt độ  
3.2.3.2. Độ ẩm  
3.2.3.3. Ánh sáng  
3.2.3.4. Dinh dưỡng  
3.2.4. Kỹ thuật trồng  
3.2.4.1. Thời vụ trồng  
3.2.4.2. Làm đất  
3.2.4.3. Bón phân lót  
3.2.4.4. Kỹ thuật trồng  
3.2.4.5. Chăm sóc  
3.2.5. Biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, chất lượng hoa bằng  
các chất kích thích sinh trưởng  
3.2.6. Nhân giống  
3.2.6.1. Giâm cành  
61  
61  
64  
65  
67  
67  
72  
76  
3.2.6.2. Chiết cành  
3.2.6.3. Ghép cành  
3.2.7. Phòng trừ sâu bệnh hại hoa hồng  
3.2.7.1. Phòng trừ bệnh  
3.2.7.2. Phòng trừ sâu hại hoa hồng  
3.3. Kỹ thuật trồng hoa Lay-ơn  
6
3.3.1. Nguồn gốc  
76  
76  
76  
76  
76  
77  
77  
77  
77  
77  
77  
77  
77  
78  
78  
78  
79  
79  
80  
81  
81  
81  
81  
85  
90  
90  
90  
91  
91  
91  
93  
3.3.2. Phân loại giống  
3.3.2.1. Theo tập tính sinh thái  
3.3.2.2. Theo hình dạng hoa  
3.3.2.3. Theo thời gian sinh trưởng  
3.3.2.4. Theo màu sắc hoa  
3.3.2.5. Theo phương pháp đánh số  
3.3.3. Đặc tính thực vật học  
3.3.3.1. Thân cây  
3.3.3.2. Lá  
3.3.3.3. Củ và rễ  
3.3.3.4. Hoa  
3.3.3.5. Quả  
3.3.4. Yêu cầu ngoại cảnh  
3.3.4.1. Nhiệt độ  
3.3.4.2. Ánh sáng  
3.3.4.3. Độ ẩm  
3.3.4.4. Đất  
3.3.4.5. Dinh dưỡng  
3.3.5. Kỹ thuật gieo trồng  
3.3.5.1. Thời vụ gieo trồng  
3.3.5.2. Làm đất  
3.3.5.3. Bón phân  
3.3.5.4. Chăm sóc  
3.3.6. Thu hoạch, bảo quản  
3.3.6.1. Thu hoạch hoa  
3.3.6.2. Thu hoạch củ  
3.3.6.3. Bảo quản củ giống  
3.3.7. Phòng trừ sâu bệnh hại  
3.3.7.1. Phòng trừ bệnh hại  
3.3.7.2. Phòng trừ sâu hại  
7
BÀI 1: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ HOA  
Thời gian: 2 giờ lý thuyết  
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC  
- Trình bày được tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới và ở Việt Nam.  
- Trình bày được yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa.  
- Mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất.  
II. NỘI DUNG CHÍNH  
1.1. Sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới  
1.1.1. Thị trường Eu  
Hiện nay, Eu là thị trường tiêu thụ trên 50% lượng hoa của thế giới. Nhiều quốc  
gia thuộc Eu có mức tiêu thụ hoa cắt cành bình quân đầu người tương đối cao. Theo  
thống kê, Đức là nước có mức tiêu thụ hoa lớn nhất Eu, kế đến là Anh, Pháp, Ý.  
8
Cho đến nay Hà Lan vẫn là nước sản xuất hoa chính của Eu, kế đến là Italia.  
Trồng hoa tại các quốc gia khác ở vùng tây bắc Eu như Pháp, Anh, Đức và phần Hà  
Lan đang giảm. Số lượng hộ nông dân trồng hoa ở Hà Lan, Italia, Tây Ban Nha, Bỉ,  
Thụy Điển và Đan Mạch cũng giảm mạnh. Tuy nhiên, sản lượng trung bình/công ty  
lại tăng góp phần làm tổng sản lượng hoa giữ ở mức ổn định.  
Ngoài ra, sản lượng hoa cắt cành tại Ireland và các quốc gia đông âu khác như  
Ba Lan, Bungari cũng đang trên đà phục hồi và thậm chí còn tăng. Xét toàn diện thì  
tổng sản lượng hoa của Eu dự báo vẫn ổn định trong những năm tới. Tuy nhiên Eu vẫn  
phải nhập hoa tươi từ các khu vực khác như: Kenya, Colombia, Ecuador, Israel..  
Hiện nay có khoảng 50-60% người tiêu dùng mua hoa chủ yếu phục vụ nhu cầu  
quà tặng, 15% mua hoa để phục vụ các đám tang và khoảng 20% mục đích tiêu dùng  
cá nhân. Nhìn chung, mức tiêu thụ hoa nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân ở những  
nước có thu nhập cao thuộc Eu thường cao hơn so với các nước khác có mức thu nhập  
thấp hơn. Trong những kỳ nghỉ, lễ lớn là những khoảng thời gian nhu cầu về trang trí,  
quà tặng tăng cao nên đã góp phần quan trọng thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ hoa cắt và sản  
phẩm trang trí. Vào những ngày đặc biệt như giáng sinh, Valentine, ngày của  
mẹ....doanh số kinh doanh hoa thường tăng mạnh. Bên cạnh những ngày nghỉ lễ quốc  
tế nổi tiếng, hầu hết các quốc gia còn có những ngày lễ kỷ niệm riêng của mình.  
1.1.2. Thị trường Châu Mỹ  
Ecuador là một trong những nước xuất khẩu hoa hồng lớn trong khu vực và trên  
thế giới. Trong vòng chưa đầy 20 năm, với đà phát triển mạnh mẽ, ngành công nghiệp  
hoa Ecuador đã đóng góp tới 5% kim ngạch xuất khẩu và trở thành một trong những  
khu vực kinh tế năng động nhất, tạo việc làm cho hàng nghìn người trong bối cảnh lúc  
đó Ecuador có tỷ lệ thất nghiệp lên tới 10%. Về địa lý, Ecuador nằm giữa đường xích  
đạo phân chia bắc bán cầu với nam bán cầu, quanh năm tràn nắng ấm, rất thuận lợi  
cho công việc trồng hoa. Một trong những công ty trồng hoa hàng đầu của Ecuador,  
Rosadex, mỗi năm xuất khẩu 15 triệu cành hồng thuộc hơn 20 loài, trong đó 60% vào  
thị trường Mỹ, phần còn lại được xuất sang liên minh Châu Âu (Eu) và Nga.  
Hiện Ecuador có 14.000 ha đất trồng hoa hồng trên cả nước, chủ yếu ở vùng  
núi. Các hộ gia đình trồng hoa có thu nhập khoảng 4.000 USD/người/năm, trong khi  
mức thu nhập bình quân cả nước chỉ đạt hơn 1.000 USD. Hoa hồng chính là loại cây  
xóa đói giảm nghèo ở Ecuador, và những ngày nghỉ lễ tết chính là dịp tăng thu nhập  
của người trồng hoa.  
Bảng 1: Các nước xuất và nhập khẩu hoa trên thế giới  
Nhập khẩu  
Nước  
Xuất khẩu  
Nước  
STT  
% thị  
trường  
% thị  
trường  
9
1
2
3
4
5
6
7
8
Đức  
36.0  
21.9  
7.4  
Hà Lan  
Colombia  
Israel  
64.8  
12.0  
5.7  
Mỹ  
Pháp  
Anh  
7.0  
Italia  
5.0  
Thụy Điển  
Hà Lan  
Italia  
4.9  
Tây Ban Nha  
Thái Lan  
Kenya  
1.9  
4.0  
1.6  
2.9  
1.1  
Các nước khác  
15.9  
Các nước khác  
7.9  
Nguồn: Giáo trình trồng hoa cây cảnh - Nguyễn Xuân Linh  
1.2. Sản xuất và tiêu thụ hoa ở Châu Á  
Châu Á có 134.000 ha trồng hoa chiếm 60% diện tích trồng hoa thế giới nhưng  
diện tích trồng hoa thương mại nhỏ. Tỷ lệ thị trường hoa chiếm 20% thị trường hoa  
thế giới. Nguyên nhân là do các nước Châu Á có phần lớn diện tích hoa trồng trong  
điều kiện tự nhiên. Hoa phục vụ cho nhu cầu nội địa.  
Nghề trồng hoa ở Châu Á có từ lâu đời nhưng trồng hoa thương mại phát triển  
mạnh từ những năm 80 của thế kỷ XX. Khi các nước Châu Á mở cửa tăng cường đầu  
tư, đời sống của nhân dân được nâng cao, yêu cầu hoa cho khách sạn, du lịch lớn nên  
các thị trường hoa phát triển.  
Các loài hoa được trồng ở Châu Á chủ yếu 2 nhóm giống hoa có nguồn gốc  
nhiệt đới và ôn đới. Nhóm giống hoa có nguồn gốc nhiệt đới gồm các loài hoa lan  
(Orchidace), hoa đồng tiền (Gerbera) ... Nhóm có nguồn gốc từ ôn đới như hoa Hồng  
(Rosa sp), Cúc (Chrysanthemum sp.), Lay ơn (Gladiolus), Huệ ... đặc biệt hoa lan là  
sản phẩm hoa nhiệt đới, đặc sản hoa châu á được thị trường Châu Âu và Châu Mỹ ưa  
chuộng.  
1.3. Sản xuất và tiêu thụ hoa ở Việt Nam  
1.3.1. Diện tích trồng hoa ở Việt Nam  
Hoa cắt cành các loại là một trong những điểm mạnh của nhà xuất khẩu hoa  
Việt Nam trong những năm gần đây đã thu được một lượng ngoại tệ đáng kể cho quốc  
gia. Mở rộng diện tích sản xuất trồng hoa của cả nước đạt 8.000 ha với sản lượng 4,5  
tỷ cành trong đó mục tiêu xuất khẩu một tỷ cành hoa, trị giá trên 60 triệu USD, tương  
đương với Hà Lan. Trong đó Đà Lạt là nơi sản xuất hoa lớn nhất cả nước.  
Hiện nay, cả nước có khoảng 4.000 ha diện tích sản xuất hoa cắt cành với sản  
lượng khoảng 3 tỷ cành hoa. Quy mô về diện tích này tương đương Tây Ban Nha,  
nước đứng thứ 5 Châu Âu về sản xuất hoa. Sản xuất hoa cắt cành ở nước ta hiện nay  
tập trung xung quanh một số đô thị lớn. Ở Hà Nội và vùng lân cận có trên 1.000 ha  
trong đó vùng hoa Tây Tựu - Từ Liêm - Hà nội với diện tích trồng hoa đạt 330 ha chủ  
10  
yếu là hoa hồng, cúc, đào, lay ơn, cẩm chướng. Ở Hải Phòng có 300 ha. Vùng trồng  
hoa hàng hóa Trung du miền núi phía bắc với diện tích gần 136 ha gồm: vùng trồng  
hoa Lào Cai, vùng trồng hoa Hoành Bồ - Quảng Ninh...  
Khu vực duyên hải miền trung mới bắt đầu sản xuất hoa cắt cành, chủ yếu phục  
vụ thị trường tại chỗ. Vùng trồng hoa tập trung ở Thành Phố Hồ Chí Minh với diện  
tích 700 ha, các tỉnh nam bộ...là nơi sản xuất hoa và cây cảnh đáng kể nhưng chủ yếu  
là các loại hoa nhiệt đới. Riêng tỉnh Lâm Đồng có diện tích hoa cắt cành trên 1.100 ha  
với sản lượng không dưới 800 triệu cành mỗi năm. Với khả năng sản xuất quanh năm,  
Lâm Đồng có thể được coi là trung tâm sản xuất hoa cắt cành lớn nhất cả nước tuy  
nhiê, ngoài một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, có ứng dụng các yếu tố  
công nghệ tiên tiến và quan trọng hơn cả là có đầu ra, xuất khẩu (số này không nhiều),  
hoa Lâm Đồng nói riêng và cả nước nói chung hầu hết là để phục vụ thị trường trong  
nước, lượng xuất khẩu tiểu nghạch cho các nước láng giềng như Trung Quốc,  
Campuchia hầu như không đáng kể.  
Tại các vùng trồng hoa tập trung này, hoa hồng và hoa cúc vẫn là hai loại hoa  
cắt cành chủ đạo, với đa dạng chủng loại và phẩm cấp, từ hoa phục vụ trang trí hàng  
ngày, tặng trong dịp lễ tết, hoa cúng, hoa khuôn viên cho đến các loại hoa xuất khẩu  
cao cấp.  
Tại vùng trồng hoa Tây Tựu – Từ Liêm – Hà Nội, hoa hồng và hoa cúc là hai  
loại hoa có diện tích trồng và sản lượng cao nhất. Hoa hồng cho thu hoạch quanh năm  
vầtọ thu nhập thường xuyên. Hoa cúc đứng hàng thứ hai với chu kỳ 3 tháng một lần  
cho thu hoạch. Hoa cúc của vùng không chỉ được tiêu thụ tại các thị trường phía Bắc  
mà đang được đưa dần vào thị trường phía Nam và xuất khẩu sang Nhật Bản, Đài  
Loan.  
Vùng trồng hoa công nghệ cao Đà Lạt được mệnh danh là thiên đường hoa của  
Việt Nam, hoa hồng và hoa cúc cũng là hai loại hoa chủ đạo. Hoa cúc có tới 40 loại  
khác nhau, chia thành 3 nhóm lớn và cúc đại đóa màu vàng anh, tím, cúc giống nhỏ và  
cúc có nhóm tia có muỗng. Hoa hồng cũng có tới 15 loại với chất lượng nổi trội. Hoa  
hồng Đà Lạt không chỉ được đánh giá cao bởi người tiêu dùng Việt Nam mà còn bởi  
cả các bạn hàng thế giới với ưu điểm hoa to, cành thẳng, bền, thơm, sinh trưởng và  
phát triển tốt, khả năng kháng bệnh cao...  
Trong diện tích gần 136 ha trồng hoa của vùng Trung du và miền núi phía bắc,  
có diện tích trồng hoa hồng đã chiếm tới trên 55,27% với sản lượng 26,53 triệu  
bông/năm. Diện tích trồng hoa cúc lớn thứ hai với 14,5 ha, sản lượng 5 triệu  
cành/năm.  
Với tỷ lệ hoa hồng và hoa cúc khá cao, cơ cấu ngành hoa Việt Nam tương đối  
phù hợp với thị hiếu của các thị trường cao cấp trên thế giới như Nhật Bản, Trung  
11  
Quốc và Tây Âu. Tuy nhiên, đây đều là những thị trường khó tính với những yêu cầu  
về chất lượng, mẫu mã và an toàn thực phẩm rất cao. Các tiêu chuẩn về hàm lượng  
thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ, bảo quản thực vật được đặt lên hàng đầu. Bên cạnh đó, để  
có thể thâm nhập các thị trường này, hoaViệt Nam còn phải cạnh tranh về hình thức,  
giá cả và độ tươi lâu.  
Bảng 2: Diện tích trồng hoa ở các địa phương  
STT  
Tên tỉnh  
Hà Nội  
Diện tích trồng (ha)  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
1.000  
480  
800  
200  
390  
300  
70  
Hải Phòng  
TP Hồ Chí Minh  
Đà Lạt  
Hà Nam Ninh  
Vĩnh Phúc  
Quảng Ninh  
Hải Dương  
Các tỉnh khác  
60  
280  
1.3.2. Kỹ thuật sản xuất hoa ở Việt Nam  
Kỹ thuật sản xuất hoa ở Việt Nam chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống:  
áp dụng kỹ thuật nhân giống cổ truyền, trồng trong điều kiện tự nhiên ngoài đồng  
ruộng.  
Các biện pháp nhân giống cổ truyền dễ làm, quen với tập quán kinh nghiệm của  
nông dân, giá thành thấp nên phổ biến trong sản xuất hoa. Nhược điểm của biện pháp  
nhân giống cổ truyền là chất lượng hoa không cao. Cây hoa trồng lâu ngày bị thoái  
hóa, bệnh virut có nhiều khả năng lây truyền và phát triển làm giảm chất lượng hoa.  
Phương pháp nhân giống hoa bằng in vitro hiện nay đã được đưa ra sản xuất  
nhưng diện tích nhỏ. Các loại hoa được nhân giống bằng in vitro như: hoa lan, cúc,  
hồng, cẩm chướng ... Ưu điểm của phương pháp này là cây khỏe, sạch bệnh, hệ số  
nhân giống cao, làm tăng chất lượng hoa. Nhưng nhân giống bằng in vitro đòi hỏi có  
thiết bị, giá thành cây giống cao. Hiện nay thị trường hoa nước ta chưa phát triển nên  
nhân giống bằng in vitro chưa được ứng dụng rộng rãi trong khi đó các nước tiên tiến  
đã áp dụng vào sản xuất từ lâu.  
Điều kiện bảo vệ cây hoa: phần lớn hoa ở Việt Nam được trồng trong điều kiện  
tự nhiên ngoài đồng ruộng, không có điều kiện che chắn bảo vệ hoa. Chỉ có một diện  
12  
tích nhỏ làm vườn ươm, thí nghiệm được che nilon, lưới, nứa, tre để bảo vệ khỏi nắng,  
mưa, gió, sương muối ... Trồng hoa trong điều kiện tự nhiên ngoài đồng ruộng có lợi  
là giá thành thấp nhưng người trồng không chủ động, phẩm chất hoa bị giảm.  
Hiệu quả sản xuất hoa cây cảnh nói chung và hoa nói riêng qua điều tra cho  
thấy tất cả các vùng trồng hoa có hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn so với các cây trồng  
khác. So với lúa hiệu quả trồng hoa cao hơn hẳn 5-20 lần, sản xuất hoa đã làm giầu  
cho các vùng trồng hoa. Vì vậy diện tích trồng hoa tăng lên nhanh chóng. Diện tích  
trồng hoa của Hà Nội năm 1995 so với năm 1990 tăng 12,8 lần, năm 1996 so với năm  
1996 tăng 30,6%. Các vùng trồng hoa ở TP. Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Hải Phòng, Quảng  
Ninh ... cũng đem lại hiệu quả kinh tế cao, diện tích trồng hoa ngày càng mở rộng.  
1.3.2.1. Thực trạng sản xuất và tiêu thụ hoa ở Lào Cai  
Tỉnh Lào Cai có điều kiện khí hậu, đất đai phù hợp với việc trồng và phát triển  
nhiều loại hoa. Đặc biệt các huyện vùng cao như Sa Pa, Bắc Hà khí hậu mùa hè mát  
mẻ, có thể trồng được các loại hoa chất lượng cao mà địa phương khác không trồng  
được. Từ năm 2001 đến nay, nghề trồng hoa ở Lào Cai đã được hình thành và phát  
triển, hoa đang trở thành sản phẩm hàng hóa mang lại thu nhập kinh tế cao cho nhiều  
doanh nghiệp và hộ gia đình. Các loài hoa chất lượng cao như: Hoa Ly, Hồng, và các  
loài hoa Lan bản địa đã dần dần có tên tuổi, gắn liền với vùng di lịch Sa Pa nổi tiếng.  
Trong những năm qua nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đã đến nghiên cứu,  
khảo sát tìm cơ hội đầu tư. Một số dự án đã được UBND tỉnh cấp giấy phép đầu tư.  
Tuy nhiên sản xuất hoa ở Lào Cai mới chỉ là bước đầu, quy mô sản xuất còn nhỏ bé,  
phân tán, chủng loại hoa còn nghèo nàn, số lượng và chất lượng chưa đáp ứng được  
thị trường ngày càng khó tính kể cả trong nước và xuất khẩu. Công tác tổ chức quản  
lý, sản xuất, bảo quản, tiêu thụ sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu.  
1.3.2.2. Chủng loại và phân bố  
- Hoa Hồng: Huyện Sa Pa 65ha, sản lượng trên 18 triệu bông, thành phố Lào  
Cai 11,6ha, sản lượng 4,1 triệu bông.  
- Hoa Cúc: Thành phố Lào Cai 2,9ha, sản lượng 0,87 triệu bông, Bảo Thắng  
2,2ha, sản lượng 0,66 triệu bông.  
- Hoa Lay ơn. Đồng tiền: thành phố Lào Cai 7ha, sản lượng 1,2 triệu bông, Bảo  
Thắng 5,5ha, sản lượng 1 triệu bông.  
- Hoa cao cấp (hoa Ly, Tuy líp, Cẩm Chướng, Phăng...): Sa Pa 6,5ha, sản lượng  
5 triệu bông, Bắc Hà 0,13ha, sản lượng 0,55 triệu bông.  
- Các loại hoa khác: thành phố Lào Cai 8,5ha, sản lượng 2,55 triệu bông.  
- Hoa chậu, giò (họ Lan) chủ yếu tập chung tại Sa Pa.  
1.3.2.3. Tiêu thụ hoa  
13  
Hoa của Lào Cai sản xuất hàng năm chủ yếu là tiêu thụ nội tỉnh và cung cấp  
một phần cho thị trường Hà Nội. Hiện tại, Lào Cai chưa khai thác được tiềm năng tiêu  
thụ thông qua xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Trong khi đó mỗi năm các tỉnh  
Vĩnh Phúc, Hà Nội xuất khẩu khoảng 15 triệu bông qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai.  
1.3.2.4. Khó khăn, tồn tại  
- Chưa có quy hoạch phát triển ngành hoa. Vì vậy, việc bố trí quy hoạch sử  
dụng đất đai, sử dụng cơ sở hạ tầng, xác định vùng sản xuất, cơ cấu giống, hệ thống tổ  
chức quản lý sản xuất, bảo quản, thị trường tiêu thụ, các giải pháp và cơ chế chính  
sách chưa được hình thành và xác lập.  
- Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, chưa  
có các mô hình sản xuất hoa theo hướng công nghiệp. Vì vậy, năng suất, chất lượng  
chưa cao, còn phụ thuộc nhiều vào ngoại cảnh, dẫn đến rủi ro lớn.  
- Thiếu cán bộ quản lý và chuyên gia giỏi cả trong lĩnh vực nghiên cứu, tổ chức  
sản xuất và kinh doanh.  
- Chưa có cơ sở sản xuất và cung ứng giống cho vùng, vì vậy sản xuất hàng  
năm thường bị động.  
1.4. Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa  
Mỗi loại cây trồng đều có yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh thích hợp để sinh  
trưởng, phát triển. Cây hoa bao gồm rất nhiều loài, họ khác nhau nên yêu cầu điều  
kiện ngoại cảnh rất khác nhau tùy theo từng loại hoa.  
1.4.1. Yêu cầu nhiệt độ của cây hoa  
Nhiệt độ là một yếu tố quan trọng quyết định sự phân bố cây hoa. Các loài hoa  
có nguồn gốc khác nhau thì yêu cầu về nhiệt độ cũng khác nhau. Dựa theo yêu cầu về  
nhiệt độ có thể chia cây hoa thành 2 nhóm chính:  
- Nhóm có nguồn gốc nhiệt đới: hoa lan (orchidaceae), hoa trà mi (camelia),  
hoa hồng môn, hoa đồng tiền…  
- Nhóm có nguồn gốc ôn đới: hoa hồng, hoa cúc, hoa cẩm chướng, hoa huệ  
Nhiệt độ là một yếu tố quyết định đến sự sinh trưởng phát triển của cây hoa từ  
sự nảy mầm của hạt, sự lớn lên, ra hoa, kết quả và chất lượng các loài hoa. Đặc biệt sự  
nở hoa, ra hoa chịu ảnh hưởng rất nhiều của nhiệt độ. Có những cây hoa yêu cầu nhiệt  
độ thấp mới ra hoa. Ví dụ như cây hoa lan Dendrobium crumentura cần nhiệt độ giảm  
5-60C trong 1 thời gian cây mới ra hoa, còn ở nhiệt độ cao cây chỉ sinh trưởng mà  
không ra hoa. Có những cây hoa yêu cầu nhiệt độ cao cây mới ra hoa như cây hoa lay  
ơn khi gặp trời rét nhiệt độ thấp < 130C thì cây ngừng sinh trưởng, hoa không trỗ khỏi  
bao lá, chất lượng hoa kém. Có những loại cây ra hoa quanh năm vì chúng ít phản ứng  
với nhiệt độ như hoa hồng, hoa cúc…  
14  
* Yêu cầu nhiệt độ của 1 số loại hoa  
- Hoa hồng yêu cầu nhiệt độ thích hợp là 18-240c  
Ở Việt Nam các giống hoa hồng sinh trưởng và phát triển hầu như quanh năm  
chỉ trừ những vùng quá nóng, mưa quá nhiều.  
- Hoa cúc yêu cầu nhiệt độ thích hợp từ 20-250c. Ở Việt Nam các giống hoa cúc  
sinh trưởng và phát triển hầu như quanh năm chỉ trừ những vùng quá nóng, mưa quá  
nhiều.  
- Hoa cẩm chướng: thích nhiệt độ mát mẻ ôn hòa. Nhiệt độ thích hợp nhất đối  
với hoa cẩm chướng là 17-250c. ở miền Bắc hoa cẩm chướng thích hợp từ tháng 9 đến  
tháng 5 năm sau. Mùa hè nóng ẩm cây hoa cẩm chướng khó phát triển.  
1.4.2. Yêu cầu ẩm độ của cây hoa  
Ẩm độ không khí và ẩm độ đất ảnh hưởng nhiều đến sự sinh trưởng, phát triển  
của cây hoa. ẩm độ thích hợp thì cây hoa sinh trưởng phát triển tốt ít sâu bệnh, ra hoa  
đẹp chất lượng hoa cao.  
Nước giữ vai trò quan trọng trong phân chia tế bào, trong việc duy trì và phát  
triển của tế bào. Khi có đầy đủ nước và môi trường thích hợp tế bào phân chia mạnh  
cây sinh trưởng nhanh. Khi thiếu nước các quá trình sinh lý, sinh hóa trong cây giảm,  
các hợp chất hữu cơ được tạo thành ít, cây còi cọc chậm phát triển. Nếu quá trình  
thiếu nước kéo dài cây hoa có thể khô, héo, chết. Khi quá nhiều nước cây bị úng ngập,  
sự phát triển sinh trưởng của cây hoa cũng bị đình trệ. Quá ẩm ướt sâu bệnh phát triển  
mạnh, hoa cho năng suất thấp, chất lượng kém. Mỗi loại hoa yêu cầu ẩm độ thích hợp  
khác nhau. Các loại hoa ôn đới như hoa hồng, hoa cúc, cẩm chướng yêu cầu ẩm độ đất  
70-80%.  
1.4.3. Yêu cầu ánh sáng của cây hoa  
Ánh sáng là yếu tố cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây hoa. ánh  
sáng cung cấp năng lượng cho phản ứng quang hợp tạo ra chất hữu cơ cho cây. Thiếu  
ánh sáng cây hoa không thể quang hợp được.  
Căn cứ vào thời gian chiếu sáng các cây hoa được chia thành nhóm cây dài  
ngày và nhóm cây ngắn ngày.  
- Cây dài ngày: Yêu cầu thời gian chiếu sáng dài, thời gian tối từ 8-10 giờ/ngày.  
Ví dụ hoa Tuylip (Curcuma alismatifolia).  
- Cây ngắn ngày: Yêu cầu thời gian chiếu sáng ngắn, thời gian tối từ  
10-14giờ/ngày.Ví dụ hoa cúc (Chrysanthemum sp.)  
- Cây trung tính: Cây không phản ứng chặt chẽ với ánh sáng như cây cúc vạn  
thọ (Tagestes).  
15  
- Nếu cây dài ngày được trồng trong điều kiện ngày ngắn thì sự tích lũy  
Cacbuahydrat giảm, Protein trong giai đoạn sinh thực giảm do đó cây không ra hoa.  
Trong trường hợp cây ngày ngắn trồng trong điều kiện ngày dài, lượng Hydrat cacbua  
tăng nhanh dẫn đến sinh trưởng mạnh, cây cũng không ra hoa.  
- Ở vùng nhiệt đới ánh sáng hàng ngày thường có từ 7 giờ đến 17 giờ. Cường  
độ ánh sáng tăng dần và đạt cực điểm lúc 12-14 giờ sau đó giảm dần. Các loại hoa  
như hoa hồng, hoa cúc, lay ơn, hoa cẩm chướng thích hợp với ánh sáng trực xạ. Một  
số loại hoa như hoa lan, hoa trà mi, anthurium… lại không ưa ánh sáng trực tiếp. Đặc  
biệt vào lúc giữa trưa nắng gắt.  
- Trong một họ, các loài cũng yêu cầu ánh sáng không giống nhau như họ lan  
Orchidacea. Sullen Costiptin dựa theo yêu cầu ánh sáng đã chia thành các nhóm:  
+ Nhóm ưa ánh sáng: Nhóm này có thể phát triển tốt với ánh sáng tự nhiên như  
các loài Agannisia, Aprophyllum, Cattleya Citrina, Oncidium…  
+ Nhóm trung gian: Nhóm yêu cầu ánh sáng trung bình như các loài Acineta,  
Dendrobium, Vanda…  
+ Nhóm ưa bóng: Nhóm này không thích hợp với ánh sáng mạnh như loài Lan  
Phalaenopsis, Rhynchotylis, Paphiopelium, Doristis...  
- Nếu thiếu ánh sáng thì cây chậm lớn, lá xanh thẫm, mềm yếu. Nếu cây thừa  
ánh sáng, lá chuyển sang màu vàng, cây kém phát triển.  
- Theo Nishico J.(1987), ngày dài có ảnh hưởng đến sự ra hoa của cây hoa cúc.  
Thời gian chiếu sáng thời kỳ ra búp tốt nhất là 10 giờ, với nhiệt độ thích hợp 180C.  
Thời gian chiếu sáng kéo dài, sinh trưởng của cúc kéo dài hơn, thân cây cao, lá to, hoa  
ra muộn, chất lượng hoa tăng. Thời gian chiếu sáng 11 giờ chất lượng hoa tốt nhất.  
1.4.4. Yêu cầu về đất và dinh dưỡng cho cây hoa  
1.4.4.1. Yêu cầu về đất  
Đất thích hợp cho trồng hoa là đất nhẹ, giàu mùn, hàm lượng dinh dưỡng cao  
thoát nước. Đất bằng phẳng, có tầng canh tác đồng đều, đất đủ ẩm, để thoát nước khi  
mưa nắng, mực nước ngầm sâu khoảng 0,6m. Đất nặng, úng nước cây sinh trưởng  
phát triển khó khăn có thể dẫn đến úa vàng và chết.  
- Chọn đất ở nơi có đủ ánh sáng không bị cớm, đất có thể thích hợp cho cả  
trồng cây bằng củ, bằng hạt, cành để có thể thực hiện được chế độ luân canh. Thực  
hiện được chế độ luân canh sẽ tránh được sự suy thoái đất, tránh được sự chết hàng  
loạt do nấm, vi khuẩn, tuyến trùng gây ra.  
- Đối với cây hoa lan giá thể hết sức quan trọng, giá thể có thể là cành cây, thân  
củi, gỗ, gạch, xơ dừa, vỏ cây... Giá thể này có thể giúp cho cây đứng vững là nơi giữ,  
cung cấp dinh dưỡng, nước cho hoa lan trong quá trình tưới, bón phân cho hoa lan.  
16  
1.4.4.2. Yêu cầu về dinh dưỡng cho cây hoa  
Các yếu tố N,P, K, vi lượng, vitamin có ý nghĩa quan trọng đối với sự sinh  
trưởng, phát triển, năng suất phẩm chất của các loài hoa.  
- Đạm( N): Có tác dụng thúc đẩy quá trình tăng trưởng của cây hoa.Thiếu N  
cây yếu ớt, lá vàng, sinh trưởng còi cọc, hoa bé, xấu. Thừa N cây phát triển mạnh, cây  
yếu, vống, mềm dễ bị đổ. Thừa N sâu bệnh phát triển phá hoại hoa nặng, hoa chất  
lượng kém.  
- Lân ( P): Có tác dụng làm bộ rễ cây hoa phát triển. P các tác dụng trong việc  
tạo thành và vận chuyển hợp chất hữu cơ trong cây hoa. Thiếu P cây hoa sinh trưởng  
chậm, cây yếu, ra hoa muộn. Có đủ P cây hoa ra búp, ra hoa sớm hơn.  
- Kali( K): Có tác dụng trong việc vận chuyển và tích lũy chất hữu cơ trong cây  
hoa. Kali có tác dụng làm tăng tính chống chịu của cây hoa, biểu hiện của cây hoa  
thiếu K là lá bị xoăn, đốm nâu phát triển cây phát triển chậm.  
Bón N, P, K đầy đủ với tỷ lệ thích hợp có tác dụng tốt cho cây hoa sinh trưởng  
phát triển cân đối để đạt năng suất cao, phẩm chất hoa tốt:  
+ Bón N, P, K ảnh hưởng đến phát triển chiều cao của cây, đường kính hoa,  
khối lượng hoa của cây hoa cúc.  
+ Đối với hoa hồng bón N, P, K có tác dụng tốt hơn so với bón N; N+P; P+K.  
Bón đầy đủ N, P, K làm tăng năng suất chất lượng của hoa hồng.  
+ Đối với hoa lay ơn bón P và K không làm thay đổi phẩm chất cây hoa, tỷ lệ  
bón có ảnh hưởng lớn đến củ giống của hoa lay ơn. Tỷ lệ phân bón thích hợp là 200  
kg P2O5/ha, 100 kg K2O/ ha.  
- Bo: Có tác dụng đến sinh trưởng của cây hoa. Khi thiếu Bo, lá non bị xoăn  
những lá khác bị vàng hoặc nâu bên mép lá.  
- Canxi( Ca): Tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cây hoa. Ca có tác  
dụng ảnh hưởng đến sự phát triển của bộ rễ. Thiếu Ca cây hoa bị vàng lá có nhiều vết  
thối. Thiếu Ca ảnh hưởng đến quá trình thiếu nước của cây, hoa còi cọc, năng suất hoa  
bị giảm. Ca làm tăng sự nở hoa, tăng sự bền của hoa.  
- Đồng( Cu): Thiếu Cu lá hoa dài, vàng, mềm, cây sinh trưởng chậm.  
- Magiê( Mg): Lá già bị đốm vàng lan rộng ra toàn bộ diện tích với các đốm  
đen mép lá. Thiếu Mg cây nhỏ, giòn, dẽ gãy. Theo Lyakh V.M( 1986) Bón phân Mg  
làm tăng năng suất, tănng số nhánh hoa, tăng tính chống chịu ở hoa cẩm chướng.  
- Mangan( Mn): Thiếu Mn lá cây nhỏ, đỉnh sinh trưởng bị vàng. Cây yếu, sinh  
trưởng giảm, năng suất hoa bị giảm.  
- Coban( Co): Có tác dụng làm tăng tính giữ nước trong hoa, làm cho hoa bền  
lâu hơn.  
17  
- Vitamin: Vitamin cũng cần thiết cho cây hoa, đặc biệt là hoa lan cần vitamin  
B1, B6 trong suốt quá trình sinh trưởng của cây.  
CÂU HỎI ÔN TẬP  
Câu 1: Trình bày tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới.  
Câu 2: Trình bày tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa ở Việt Nam.  
Câu 3: Thực trạng sản xuất và tiêu thụ hoa ở Lào Cai.  
Câu 4: Trình bày yêu cầu ngoại cảnh đối với cây hoa.  
Câu 5: Trình bày yêu cầu về đất và dinh dưỡng cho cây hoa.  
BÀI 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRONG SẢN XUẤT HOA  
Thời gian: 20 giờ (trong đó LT: 4 giờ, TH: 15 giờ, kiểm tra: 1 giờ)  
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC  
- Biết cách sử dụng một số chất điều tiết sinh trưởng trong sản xuất hoa.  
- Thu hoạch, bảo quản và đóng gói hoa đúng kỹ thuật.  
- Cẩn thận, chu đáo, đảm bảo vệ sinh và an toàn lao động.  
II. NỘI DUNG CHÍNH  
2.1. Ứng dụng chất điều tiết sinh trưởng trong sản xuất hoa  
Trong hoạt động sống của thực vật rất cần đến các chất điều hòa sinh trưởng vì  
nó có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh quá trình sinh trưởng, phát triển rễ và  
các hoạt động sinh lý. Chất điều hòa sinh trưởng thực vật được phân thành hai nhóm:  
chất kích thích sinh trưởng và ức chế sinh trưởng. Hai nhóm này có tác dụng đối  
kháng nhau về mặt sinh lý. Chất kích thích sinh trưởng gồm các nhóm chất Auxin,  
Gibberellin và Cytokinin. Các chất ức chế sinh trưởng bao gồm axit Abscisic, Ethylen  
và Phenol.  
18  
Chất điều hòa sinh trưởng thực vật được ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp  
nói chung và nghề trồng hoa nói riêng. Với nghề trồng hoa, sử dụng chất điều hoà sinh  
trưởng có nhiều thuận lợi hơn vì hoa không phải là thực phẩm cho người và vật nuôi,  
do đó các ảnh hưởng độc hại (nếu có) của chất điều hoà sinh trưởng ít ảnh hưởng đến  
sức khoẻ con người. Tác dụng của chúng nhanh và rõ rệt, có thể làm thay đổi một số  
đặc điểm thực vật học của cây hoa như: chiều cao cây, màu sắc, thời gian sinh trưởng,  
sự ra hoa, chất lượng và tuổi thọ của hoa,… Nông dân trồng hoa thường sử dụng chất  
điều hòa sinh trưởng để kích thích sự nảy mầm của hạt giống và củ giống hoa. Có rất  
nhiều loại hoa được nhân giống theo con đường vô tính như Cúc, Thược dược, Cẩm  
chướng, Hồng, Đào,... Hàm lượng auxin trong cành chiết, cành giâm khá thấp không  
đủ để gây ra sự phân hóa rễ bất định. Do đó, người ta phải xử lý auxin ngoại sinh cho  
cành chiết, cành giâm để kích thích ra rễ. Các auxin như IAA, IBA, NAA, Sogan...  
đều có thể được sử dụng để kích thích ra rễ.  
Ngoài ra, người ta còn sử dụng chất điều hòa sinh trưởng để điều khiển sự ra  
hoa như GA3 được sử dụng rộng rãi để kích thích sự ra hoa hoặc dùng chất CCC  
(Chlorcholin chlorid) tạo dáng cho cây cảnh, làm cho cây chậm phát triển, hình dáng  
cây gọn lại, tạo dáng cho cây, ứng dụng nhiều trên kiểng Bonsai. Cây Cúc ra hoa vào  
mùa hè nhưng có thể ra hoa trong vụ đông khi được xử lý GA3 ở nồng độ 20-25ppm  
(Cúc trắng Nhật, Cúc tím lá nhọn, Cúc phấn hồng hè). Để làm hoa nở lúc cần thiết  
người ta sử dụng GA3 và BA (một loại Cytokinin). Hoa cắt tàn nhanh do nhiều yếu tố,  
trong đó có vai trò gây già hoá nhanh của Ethylen. Do đó, loại bỏ tác động xấu của  
Ethylen trong bảo quản hoa cắt là một vấn đề quan tâm, có thể sử dụng một số chất  
kháng Ethylen như: Nitrat Bạc (AgNO3); Thiosunphat Bạc (STS), Auxin, Cytokinin.  
2.1.1. Nguyên tắc sử dụng chất điều tiết sinh trưởng trong sản xuất hoa  
Các chất điều hoà sinh trưởng thực vật đã và đang được ứng dụng rộng rãi như  
một phương tiện hóa học quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển cây trồng.  
Tuy nhiên, nông dân khi sử dụng chất điều hòa sinh trưởng trong sản xuất hoa cũng  
cần thiết tuân theo các nguyên tắc sau:  
- Nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng phải tuyệt đối tuân theo khuyến cáo vì  
có một số chất khi ở nồng độ thấp thì chúng có tác dụng kích thích nảy mầm, tăng  
chiều cao, tăng sinh khối nhưng khi ở nồng độ cao thì chúng có thể ức chế sinh trưởng  
hoặc gây rụng lá thậm chí làm chết cây.  
- Cần chú ý chất điều hòa sinh trưởng không phải là chất dinh dưỡng mà chúng  
chỉ có tác dụng kích thích quá trình trao đổi chất nên không thể thay thế cho phân bón.  
Vì vậy, muốn đạt hiệu quả cao khi sử dụng các chất này phải phối hợp một cách hợp  
lý với phân bón, đặc biệt trong các trường hợp muốn tăng chiều cao và sinh khối của  
cây hoa.  
19  
- Mặc dù việc sử dụng chất điều hòa sinh trưởng với nghề trồng hoa có nhiều  
thuận lợi nhưng ảnh hưởng tiêu cực của chúng đối với đất đai, nước và sức khoẻ con  
người, nhất là trong trường hợp lạm dụng chúng. Do đó, phải sử dụng đúng nồng độ,  
đúng thời điểm và phương pháp.  
Càng ngày người ta càng phát hiện ra nhiều tác dụng của chất điều hòa sinh  
trưởng thực vật đối với nghề trồng hoa. Với tình hình biến đổi khí hậu ngày càng diễn  
biến phức tạp thì việc sử dụng chất điều hòa sinh trưởng đối với cây hoa càng trở nên  
cần thiết để đem lại hiệu quả tốt cho người trồng hoa.  
2.1.2. Xúc tiến sự nảy mầm của hạt giống và củ giống  
Sự ngủ nghỉ của củ giống và hạt  
giống được quyết định bởi sự cân bằng  
ABA/ GA3 do đó có thể thay đổi cân  
bằng cho sự nảy mầm bằng cách giảm  
ABA hoặc tăng GA3. Đối với nhiều hạt  
giống và củ giống việc sử lý GA3 2-  
5ppm có tác dụng xúc tiến nảy mầm  
tốt: (Cẩm chướng, Violet, Magic, Lay  
ơn, Lyli...)  
Hình 1: Củ giống nảy mầm  
2.1.3. Xúc tiến hình thành rễ bất định của cành chiết, cành giâm trong  
nhân giống vô tính  
Có nhiều loại hoa nhân giống theo con đường vô tính: Cúc, thược dược, Cẩm  
chướng, Hồng, Đào... Hàm lượng auxin trong cành chiết, cành giâm khá thấp không  
đủ để gây ra sự phân hóa bất định. Do đó, người ta phải xử lý auxin ngoại sinh cho  
cành chiết, cành giâm để làm nhanh sự  
ra rễ.  
2.1.4. Điều khiển sự ra hoa  
Điều khiển ra hoa cho các loại  
hoa cần thiết cho người trồng hoa, chủ  
yếu tập trung vào 3 giải pháp là khống  
chế ánh sáng, nhiệt độ, dùng chất kích  
thích và một số phương pháp khác được  
giới thiệu cụ thể như sau:  
- Khống chế ánh sáng: Những loài  
cây chiếu sáng ngắn trong mùa chiếu  
sáng dài cần xử lý che tối để rút ngắn  
20  
Hình 2: Khống chế ánh sáng cho hoa  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 115 trang yennguyen 15302 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Trồng một số loài hoa - Nghề: Khuyến nông lâm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_trong_mot_so_loai_hoa_nghe_khuyen_nong_lam.pdf