Giáo trình Luật kinh tế - Ngành/nghề: Kế toán doanh nghiệp

CỤC HÀNG HẢI VIỆT NAM  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG HÀNG HẢI I  
GIÁO TRÌNH  
MÔN HỌC: LUẬT KINH TẾ  
NGÀNH/NGHỀ: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG NGHỀ  
(Ban hành theo quyết định số: QĐ/ ngày …….tháng…….năm  
của Tổng cục trưởng Tổng cụ dạy nghề)  
Hải Phòng, năm 2018  
1
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN  
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được  
phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.  
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh  
doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.  
2
LỜI GIỚI THIỆU  
Giáo trình Pháp luật kinh tế được biên soạn với nội dung tập trung vào  
những quy định cơ bản, hiện hành của pháp luật Việt Nam điều chỉnh các quan hệ  
pháp luật phát sinh trong hoạt động quản lý Nhà nước về kinh tế, đặc biệt là hoạt  
động kinh doanh, thương mại, đồng thời cũng chú trọng đề cập các quy định của  
pháp luật cũng như những vấn đề thực tiễn điển hình nhằm tăng cường kỹ năng áp  
dụng pháp luật kinh tế đối với cán bộ quản lý kinh tế và cán bộ quản trị trong các  
tổ chức kinh tế.  
Giáo trình Pháp luật kinh tế là một học phần cơ sở ngành quan trọng trong  
chương trình đào tạo cho sinh viên ngành kinh tế. Các nội dung về chủ thể, vai trò  
luật kinh tế; địa vị pháp lý của các loại hình doanh nghiệp như công ty tư nhân,  
Doanh nghiệp Nhà nước, CTCP, công ty TNHH...; quy chế pháp lý cho các nhà  
đầu tư, về ký kết hợp đồng kinh doanh thương mại; cơ chế giải quyết tranh chấp  
trong kinh doanh thương mại và pháp luật về phá sản doanh nghiệp đều được đề  
cập trong giáo trình Pháp luật kinh tế. Đồng thời, cập nhật những thông tư, nghị  
định về luật kinh tế phù hợp với thực tế của hoạt động của các doanh nghiệp tại  
Việt Nam.  
Giáo trình Luật kinh tế bao gồm các nội dung chính sau:  
Chương 1: Lý luận chung về luật kinh tế  
Chương 2: Địa vị pháp lý của các loại hình doanh nghiệp  
Chương 3: Quy chế pháp lý dành cho các nhà đầu tư được điều chỉnh bởi  
Luật Đầu tư  
Chương 4: Chế độ pháp lý về ký kết hợp đồng trong kinh doanh thương mại  
được điều chỉnh bởi Luật Thương mại  
Chương 5: Cơ chế giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh thương mại  
Chương 6: Pháp luật về phá sản doanh nghiệp  
Giáo trình Pháp luật kinh tế được sử dụng làm tài liệu học tập chính cho  
sinh viên khối ngành kinh tế, đặc biệt là cho sinh viên ngành Kế toán tại trường  
Cao đẳng Hàng Hải.  
Tác giả khi vọng cuốn sách sẽ trở thành tài liệu học tập, nghiên cứu hiệu  
quả bởi sự cô đọng kiến thức cơ bản và hệ thống câu hỏi, bài tập có tính ứng dụng  
trong thực tiễn.  
Trong quá trình biên soạn, tác giả đã cập nhật những kiến thức mới theo  
quy định của pháp luật. Song do giáo trình được biên soạn trong điều kiện chính  
3
sách và cơ chế tài chính của đất nước đang trong quá trình đổi mới, nhiều quy  
định về luật kinh tế đang được hoàn thiện và nghiên cứu nên giáo trình không  
tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của  
các đồng nghiệp và những người quan tâm để giáo trình được hoàn thiện hơn  
trong lần xuất bản sau.  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
Hải Phòng, ngày 20 tháng 9 năm 2017  
Tham gia biên soạn  
Chủ biên: Trần Thu Thủy  
4
MỤC LỤC  
2.2.1. Phương pháp mệnh lệnh (có nhiều sách gọi là phương pháp quyền uy)......20  
2.2.2. Phương pháp thỏa thuận (hay phương pháp bình đẳng)..............................21  
1. Quy chế pháp lý chung về doanh nghiệp........................................................25  
1.1. Thủ tục thành lập doanh nghiệp....................................................................25  
5
1.3.7. Chuyển đổi CTCP thành Công ty TNHH hai thành viên trở lên (điều 198  
Luật  
Doanh  
nghiệp  
2014).................................................................................................28  
2.1. Các loại hình công ty trên thế giới..................................................................34  
2.1.1. Công ty đối nhân ...........................................................................................34  
2.1.2. Công ty đối vốn .............................................................................................35  
6
2.5.2. Đặc điểm pháp lý của CTHD........................................................................43  
7
4. Hợp đồng kinh tế vô hiệu..................................................................................62  
4.1. Khái niệm Hợp đồng kinh tế vô hiệu..............................................................63  
7. Bài tập.................................................................................................................69  
7.1. Bài tập có lời giải.............................................................................................69  
2.5.2. Trình tự phân chia tài sản bị phá sản............................................................87  
3. Bài tập.................................................................................................................89  
3.1. Bài tập có lời giải.............................................................................................89  
1. Các khái niệm cơ bản........................................................................................95  
1.1. Tranh chấp kinh doanh thương mại..............................................................95  
2. Phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh...................................96  
2.1. Thương lượng..................................................................................................96  
2.3.1. Khái niệm Trọng tài thương mại...................................................................96  
9
10  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Ký hiệu,  
Giải thích  
thuật ngữ  
BCC  
Business Cooperation Contract - hợp đồng hợp tác kinh doanh  
Bảo hiểm xã hội  
BHXH  
CTCP  
Công ty cổ phần  
CTHD  
Công ty hợp danh  
CPƯĐ  
Cổ phiếu ưu đãi  
CPƯĐCT  
CPƯĐBQ  
CPƯĐHL  
CPPT  
Cổ phiếu ưu đãi cổ tức  
Cổ phiếu ưu đãi biểu quyết  
Cổ phiếu ưu đãi hoàn lại  
Cổ phiếu phổ thông  
DNNN  
DNTN  
Doanh nghiệp Nhà nước  
Doanh nghiệp tư nhân  
Doanh nghiệp  
DN  
ĐHĐCĐ  
GCNĐKKD  
HTX  
Đại hội đồng cổ đông  
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh  
Hợp tác xã  
HĐKT  
Hợp đồng kinh tế  
HĐKDTM  
HĐTV  
Hợp đồng kinh doanh thương mại  
Hội đồng thành viên  
Public Private Partner - hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác  
công tư  
PPP  
SXKD  
TNHH  
Sản xuất kinh doanh  
Trách nhiệm hữu hạn  
12  
TNDN  
TS  
Thu nhập doanh nghiệp  
Tài sản  
TAND  
UBND  
XHCN  
Tòa án nhân dân  
Ủy ban nhân dân  
Xã hội chủ nghĩa  
13  
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC LUẬT KINH TẾ  
Tên môn học: LUẬT KINH TẾ  
Mã số môn học: MH 07  
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học:  
- Vị trí: Môn học được bố trí giảng dạy sau khi học các môn chung và trước  
khi học các môn cơ sở của nghề.  
- Tính chất: Luật kinh tế là môn học nghiên cứu những kiến thức cơ bản về  
hành vi kinh doanh của các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế, là cơ sở để học  
các môn chuyên môn của nghề.  
- Ý nghĩa và vai trò của môn học: Là môn khoa học cơ sở trong nội dung  
chương trình đào tạo của nghề kế toán doanh nghiệp.  
Mục tiêu của môn học:  
- Về kiến thức:  
+ Trình bày được những nội dung cơ bản của pháp luật kinh tế như hành vi  
kinh doanh, phương thức thực hiện hành vi kinh doanh;  
+ Phát hiện các tranh chấp kinh tế phát sinh trong hoạt động kinh doanh;  
+ Vận dụng các chế tài với hành vi vi phạm pháp luật kinh tế và vi phạm  
hợp đồng kinh tế.  
- Về kỹ năng:  
+ Viết được hợp đồng kinh tế đúng quy định pháp luật;  
+ Phân biệt được các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân;  
+ Thực hiện được trình tự, thủ tục để giải quyết phá sản doanh nghiệp;  
+ Giải quyết các tranh chấp kinh tế phát sinh trong hoạt động kinh doanh.  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:  
+ Tuân thủ pháp luật kinh tế trong thực hiện hành vi kinh doanh;  
+ Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ kinh tế;  
+ Có thái độ nghiêm túc trong học tập, xác định đúng đắn động cơ và mục  
đích học tập.  
14  
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT KINH TẾ  
Mã chương: MH.6340302.07.01  
Giới thiệu:  
Hệ thống pháp luật được chia thành các ngành luật. Ngành Luật Kinh tế là  
một trong các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Đây là một ngành  
luật quan trọng điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế liên quan đến tài sản.  
Trước tiên cần phân biệt Luật Kinh tế với Pháp luật Kinh tế.  
Mục tiêu:  
- Trình bày được khái niệm Luật Kinh tế, lịch sử hình thành và phát triển  
của Luật Kinh tế;  
- Phân tích được các phương pháp điều chỉnh của Luật Kinh tế;  
- Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của Luật kinh tế đối với hoạt  
động kinh doanh của xã hội.  
Nội dung chính:  
1. Khái niệm chung về luật kinh tế  
1.1. Khái niệm Pháp luật kinh tế  
Pháp luật kinh tế là một hỗn hợp các quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành  
luật khác nhau liên quan đến toàn bộ đời sống kinh tế trong xã hội. Pháp luật kinh  
tế bao gồm các quy phạm pháp luật của các ngành luật có đối tượng điều chỉnh là  
các quan hệ kinh tế liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình tổ chức, quản lý  
kinh tế và các hoạt động kinh doanh. Pháp luật kinh tế bao gồm các ngành luật sau:  
Luật kinh tế, luật tài chính - ngân hàng, luật lao động, luật đất đai và môi trường.  
1.2. Khái niệm Luật kinh tế  
Theo khái niệm trên, Luật kinh tế chỉ là một bộ phận của pháp luật kinh tế.  
Nó là một ngành luật độc lập. Luật kinh tế được hiểu một cách chung nhất thì nó là  
tổng thể các quy phạm pháp luật mà với các quy phạm đó Nhà nước tác động vào  
các tác nhân tham gia đời sống kinh tế và các quy phạm pháp luật liên quan đến  
mối tương quan giữa sự tự do của từng cá nhân và sự điều chỉnh của Nhà nước.  
Ngày nay nước ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều  
thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì luật kinh tế được  
hiểu theo một quan điểm cụ thể: Luật kinh tế là tổng hợp các quy phạm pháp luật  
do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình  
tổ chức quản lý kinh tế của Nhà nước và trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa  
15  
       
các chủ thể kinh doanh với nhau.  
2. Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của luật kinh tế  
Người ta phân biệt các ngành luật với nhau thì phải dựa vào đối tượng và  
phương pháp điều chỉnh của chúng vì mỗi một ngành luật có đối tượng và phương  
pháp điều chỉnh riêng.  
2.1. Đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế  
Đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế là những quan hệ kinh tế do luật kinh  
tế tác động vào, bao gồm các nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý kinh  
tế và nhóm quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh giữa các doanh  
nghiệp với nhau.  
2.1.1. Nhóm quan hệ quản lý kinh tế  
Đây là quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý kinh tế giũa các cơ quan  
quản lý nhà nuớc về kinh tế với các chủ thể kinh doanh (các cơ quan trong bộ máy  
Nhà nước ít nhiều đều thực hiện chức năng quản lý kinh tế). Đặc điểm của mối  
quan hệ này là quan hệ bất bình đẳng dựa trên nguyên tắc quyền uy phục tùng: chủ  
thể quản lý hoạch định, quyết định có tính chất mệnh lệnh, chủ thể bị quản lý phải  
phục tùng thực hiện theo ý chí của chủ thể quản lý. Hệ thống quan hệ quản lý kinh  
tế gồm:  
- Quan hệ quản lý theo chiều dọc: đó là các mối quan hệ giữa bộ chủ quản  
với các doanh nghiệp trực thuộc, giữa các UBND cấp tỉnh/thành phố với các doanh  
nghiệp trực thuộc UBND.  
- Quan hệ quản lý giữa các cơ quan quản lý chức năng với các cơ quan quản  
lý kinh tế có thẩm quyền riêng và cơ quan quản lý có thẩm quyền chung.  
Ví dụ: quan hệ giữa cơ quan tài chính với các bộ kinh tế, bộ kế hoạch đầu tư  
với các bộ kinh tế....  
- Quan hệ quản lý giữa các cơ quan quân lý chức năng với các doanh nghiệp.  
Ví dụ: quan hệ giữa các cơ quan tài chính với các doanh nghiệp về vấn đề  
quản lý vốn tài sản của doanh nghiệp...  
2.1.2. Nhóm quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh giữa các chủ thể  
kinh doanh với nhau  
Đây là những quan hệ thường phát sinh do thực hiện hoạt động sản xuất như  
chế biến gia công, xây lắp sản phẩm hoặc thực hiện hoạt động tiêu thụ sản phẩm  
hoặc thực hiện các hoạt động dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.  
Trong hệ thống các quan hệ kinh tế thuộc đối tượng điều chỉnh của luật kinh  
16  
       
tế, nhóm quan hệ này là nhóm quan hệ chủ yếu, thường xuyên và phổ biến nhất.  
Nhóm quan hệ này có đặc điểm:  
- Phát sinh trực tiếp trong quá trình kinh doanh nhằm đáp ứng các nhu cầu  
kinh doanh của các chủ thể kinh doanh.  
- Phát sinh trên cơ sở thống nhất ý chí của các bên thông qua hình thức pháp  
lý và hợp đồng kinh tế hoặc những thỏa thuận (ví dụ góp vốn thành lập công ty...).  
- Chủ thể của nhóm quan hệ này là các chủ thể kinh doanh (cá nhân, tổ  
chức) thuộc các thành phần kinh tế tham gia vào quan hệ kinh tế trên nguyên tắc tự  
nguyện, bình đẳng, hai bên cùng có lợi.  
- Quan hệ này là quan hệ tài sản / quan hệ hàng hóa - tiền tệ. Quan hệ tài sản  
do luật kinh tế điều chỉnh phát sinh trực tiếp trong quá trình kinh doanh nhằm mục  
đích kinh doanh mà chủ thể của chúng phải có chức năng kinh doanh (các doanh  
nghiệp); trong khi đó chủ thể của quan hệ tài sản trong luật dân sự lại chủ yếu là cá  
nhân và không có mục đích kinh doanh.  
2.1.3. Nhóm quan hệ kinh tế phát sinh trong nội bộ một đơn vị kinh doanh  
Quan hệ phát sinh trong nội bộ một đơn vị kinh doanh này có những đặc  
điểm sau:  
- Là quan hệ giữa một bên là pháp nhân và bên kia là một thành viên hoặc  
giữa các thành viên với nhau khi tiến hành thực hiện kế hoạch của tổng công ty,  
tập đoàn. Các thành viên là các doanh nghiệp hạch toán độc lập hoặc không nhưng  
được pháp luật và tổng công ty hay tập đoàn đàm bảo quyền tự chủ kinh doanh  
trong những lĩnh vực nhất định.  
- Quan hệ giữa các thành viên của tổng công ty được thiết lập để thực hiện  
kế hoạch chung của tổng công ty nhưng quan hệ đó vẫn là quan hệ hợp tác do vậy  
phải được thể hiện dưới hình thức hợp đồng, chịu sự điều chỉnh của pháp luật hợp  
đồng kinh tế.  
2.2. Phương pháp điều chỉnh của Luật kinh tế  
Do đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế đa dạng nên luật kinh tế sử dụng và  
phối hợp nhiều phương pháp tác động khác nhau. Trong các phương pháp đó luật  
kinh tế sử dụng hai phương pháp cơ bản. Đó là phương pháp mệnh lệnh và phương  
pháp thỏa thuận theo mức độ linh hoạt tùy theo từng quan hệ kinh tế cụ thể.  
2.2.1. Phương pháp mệnh lệnh (có nhiều sách gọi là phương pháp quyền uy)  
Đó là phương pháp được sử dụng chủ yếu để điều chỉnh nhóm quan hệ quản  
lý kinh lế giữa những chủ thể bất bình đẳng với nhau. Luật kinh tế quy định cho  
17  
   
các cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế có quyền ra quyết định, chỉ thị bắt buộc  
đối với các chủ thể kinh doanh - bị quản lý trong phạm vi chức năng của mình.  
2.2.2. Phương pháp thỏa thuận (hay phương pháp bình đẳng)  
Phương pháp này được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh  
trong quá trình kinh doanh giữa các chủ thể bình đẳng với nhau. Luật kinh tế quy  
định cho các bên tham gia quan hệ kinh tế có quyền bình đẳng với nhau, cùng thỏa  
thuận những vấn đề mà các bên quan tâm khi thiết lập hoặc chấm dứt quan hệ kinh  
tế mà không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ một tổ chức hay cá nhân nào.  
3. Chủ thể của Luật Kinh tế  
Luật kinh tế có hệ thống chủ thể riêng bao gồm các tổ chức hay cá nhân có  
đủ điều kiện để tham gia vào những quan hệ do luật kinh tế điều chỉnh.  
Điều kiện để trở thành chủ thể luật kinh tế:  
3.1. Đối với tổ chức  
- Phải được thành lập một cách hợp pháp: Tức là nó phải được cơ quan Nhà  
nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập hoặc được  
thừa nhận trên cơ sở tuân thủ các thủ tục do luật quy định, được tổ chức dưới  
những hình thức nhất định với chức năng, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động rõ ràng  
theo các quy định của pháp luật (theo dấu hiệu này thì chủ thể luật kinh tế chính là  
các cơ quan quản lý kinh tế, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội).  
- Phải có tài sản riêng: Tài sản là cơ sở vật chất không thể thiếu được để các  
tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ tài sản đối với bên kia. Dấu hiệu này đặc  
biệt quan trọng đối với các chủ thể kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp. Một  
tổ chức được coi là có tài sản khi tổ chức đó có một khối lượng tài sản nhất định  
phân biệt với tài sản của cơ quan cấp trên hay vài các tổ chức khác đồng thời phải  
có quyền năng nhất định để chi phối khối lượng tài sản đó và phải tự chịu trách  
nhiệm độc lập bằng chính tài sản đó (đó là quyền sở hữu, quyền quản lý tài sản).  
- Phải có thẩm quyền kinh tế: Thẩm quyền kinh tế là tổng hợp các quyền và  
nghĩa vụ về kinh tế được pháp luật ghi nhận hoặc công nhận. Mỗi một chủ thể luật  
kinh tế có thẩm quyền kinh tế cụ thể ứng với chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt  
động của nó. Thẩm quyền kinh tế chính là giới hạn pháp lý mà trong đó chủ thể  
luật kinh tế được hành động, phải hành động hoặc không được phép hành động.  
Như vậy thẩm quyền kinh tế trở thành cơ sở pháp lý để các chủ thể luật kinh tế  
thực hiện các hành vi pháp lý nhằm tạo ra các quyền và nghĩa vụ cụ thể cho mình.  
Thẩm quyền kinh tế một phần được quy định trong các văn bản pháp luật, một  
phần do chính quyết định của bản thân chủ thể (Ví dụ: thông qua điều lệ, nghị  
18  
   
quyết hay kế hoạch...).  
3.2. Đối với cá nhân  
- Phải có năng lực hành vi dân sự: Có nghĩa là cá nhân đó phải có khả năng  
nhận biết được hành vi của mình và tự chịu trách nhiệm về hành vi ấy. Theo luật  
pháp của chúng ta thì người vừa đủ 18 tuổi trở lên và không mắc bệnh tâm thần  
hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình.  
- Có giấy phép kinh doanh: Người muốn kinh doanh phải có đơn xin phép  
kinh doanh để được cấp giấy phép kinh doanh. Và chỉ sau khi được cấp giấy phép  
người kinh doanh mới được phép kinh doanh. Khi thực hiện các hoạt động kinh  
doanh, cá nhân sẽ tham gia vào các quan hệ do luật kinh tế điều chỉnh và họ trở  
thành chủ thể luật kinh tế.  
Với các điều kiện trên chủ thể luật kinh tế bao gồm:  
- Các cơ quan quản lý kinh tế. Đây là những cơ quan Nhà nước trực tiếp  
thực hiện chức năng quản lý kinh tế.  
- Các đơn vị có chức năng sản xuất - kinh doanh, trong đó gồm các doanh  
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và cả cá nhân được phép kinh doanh. Chủ thể  
thường xuyên và chủ yếu nhất của luật kinh tế vẫn là các doanh nghiệp bởi vì trong  
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường của nước ta, các  
doanh nghiệp được thành lập với mục đích chủ yếu là tiến hành các hoạt động kinh  
doanh.  
Ngoài ra luật kinh tế còn có một loại chủ thể không thường xuyên, đó chính  
là những cơ quan hành chính sự nghiệp như trường học, bệnh viện, viện nghiên  
cứu và những tổ chức xã hội. Những tổ chức này không phải là cơ quan quản lý  
kinh tế và cũng không có chức năng kinh doanh nhưng trong quá trình thực hiện  
các nhiệm vụ của mình có thể phải tham gia vào một số quan hệ hợp đồng kinh tế  
với một số các doanh nghiệp khác. Ví dụ: hợp đồng khám sức khỏe cho công nhân,  
hợp đồng đào tạo cán bộ cho một nhà máy...  
4. Vai trò của luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường  
Để có được những đặc điểm riêng biệt cho nền kinh tế Việt Nam với mục  
đích phát huy những yếu tố tích cực của nền kinh tế thị trường và hạn chế những  
tiêu cực của nó Nhà nước ta đã sử dụng Luật kinh tế với tư cách là công cụ, là  
phương tiện quan trọng để quản lý nền kinh tế theo định hướng XHCN, bởi vì:  
Thông qua Luật kinh tế, Nhà nước thể chế hóa đường lối chủ trương, chính  
sách kinh tế của Đảng thành những quy định pháp lý có giá trị bắt buộc chung đối  
với các chủ thể kinh doanh.  
19  
   
Luật kinh tế tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi để khuyến khích tổ chức, cá  
nhân công dân Việt Nam và tổ chức cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam  
nhằm tăng nguồn vốn kinh doanh (luật công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật  
Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam).  
Thông qua Luật Kinh tế, Nhà nước qui định cơ quan tài phán trong kinh  
doanh đó là các tòa án kinh tế hoặc Trọng tài thương mại.  
Do tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh phức tạp có phát sinh tranh chấp  
cần phải được giải quyết nhanh chóng đảm bảo thời cơ kinh doanh, đảm bảo  
nguyên tắc pháp chế trong quản lý kinh doanh, đòi hỏi có cơ quan chuyên trách  
giải quyết tranh chấp. Nhờ đó, Nhà nước đảm bảo được kỷ luật trật tự trong  
SXKD, đảm bỏa quyền lợi hợp pháp cho các doanh nghiệp.  
Luật kinh tế là cơ sở pháp lý xác định địa vị pháp lý cho các chủ thể kinh  
doanh.  
Hoạt động sản xuất kinh doanh là hoạt động rất phức tạp và được biểu hiện  
dưới nhiều hình thức, qui mô khác nhau, tham gia vào quá trình đó bao gồm nhiều  
tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế. Vì vậy, Nhà nước xác định  
địa vị pháp lý nhằm tạo ra môi trường pháp lý cho các đơn vị hoạt động, qua đó  
xác định vị trí, vai trò của họ trong nền kinh tế và sự thực hiện quản lý Nhà nước  
đối với hoạt động đó.  
Luật kinh tế điều chỉnh các hành vi kinh doanh của các chủ thể kinh doanh.  
Những hành vi kinh doanh được biểu hiện bằng các hợp đồng và hợp đồng  
có tính pháp lý được Nhà nước bảo hộ vì Nhà nước đã xác định điều kiện, nguyên  
tắc thủ tục ký kết hợp đồng, quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm tài sản khi có hành vi  
vi phạm. Trên cơ sở đó đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, lợi ích của Nhà nước.  
Như vậy, Luật Kinh tế giữ vai trò là môi trường pháp lý để các nhà kinh  
doanh tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh dưới sự thanh tra giám sát của  
Nhà nước, góp phần làm tăng hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế  
quốc dân.  
5. Câu hỏi ôn tập  
1. So sánh chủ thể thường xuyên và chủ thể không thường xuyên của Luật  
Kinh tế? Cho ví dụ minh họa?  
Gợi ý: Giống nhau (chủ thể Luật Kinh tế), khác nhau (khái niệm, mức độ  
tham gia).  
TLTK: Chương 1 Giáo trình Pháp luật Kinh tế - Tài liệu học tập.  
20  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 110 trang yennguyen 28302 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật kinh tế - Ngành/nghề: Kế toán doanh nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_luat_kinh_te_nganhnghe_ke_toan_doanh_nghiep.pdf