Giáo trình Nguyên lý kế toán - Ngành: Tài chính doanh nghiệp

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
  
GIÁO TRÌNH  
MÔN HỌC: NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN  
NGÀNH: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP  
TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP  
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 20  
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
  
GIÁO TRÌNH  
MÔN HỌC: NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN  
NGÀNH: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP  
TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP  
THÔNG TIN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI  
Họ tên: Nguyễn Thị Hạnh  
Học vị: Thạc sỹ  
Đơn vị: Khoa Kế toán – Tài chính  
Email:[email protected].vn  
TRƯỞNG KHOA  
TỔ TRƯỞNG  
BỘ MÔN  
CHỦ NHIỆM  
ĐỀ TÀI  
HIỆU TRƯỞNG  
DUYỆT  
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 20  
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN  
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép  
dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.  
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh  
thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.  
LỜI GIỚI THIỆU  
Nguyên lý kế toán là môn học cơ sở, là nền tảng cho sinh viên ngành Kế  
toán, tài chính, các chuyên ngành kinh tế qua đó tạo cơ sở để tiếp tục nghiên cứu  
môn học liên quan đến Kế toán tài chính  
Giáo trình Nguyên lý kế toán là tài liệu cần thiết cho học sinh sinh viên Khối  
ngành Kinh tế, đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, chương trình giảng dạy và mục  
tiêu đào tạo của Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.  
Giáo trình Nguyên lý kế toán gồm 7 chương:  
Chương 1: Tổng quan về nguyên lý kế toán  
Chương 2: Bảng cân đối kế toán & báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh  
Chương 3: Tài khoản và ghi sổ kép  
Chương 4: Tính giá các đối tượng kế toán  
Chương 5: Chứng từ kế toán và kiểm kê  
Chương 6: Kế toán các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu trong doanh nghiệp  
Chương 7: Sổ kế toán – hình thức kế toán và tổ chức công tác kế toán  
Ở mỗi chương ngoài nội dung lý thuyết, còn có hệ thống bài tập để người  
học củng cố lý thuyết và rèn luyện kỹ năng thực hành. Nội dung kiến thức cơ bản  
đã được tác giả cập nhật theo quy định hiện hành của Luật kế toán Việt Nam số  
88/2015/ QH13 ban hành ngày 20/11/2015 và Hướng dẫn Chế độ kế toán Doanh  
nghiệp thông tư 200/2014/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 22/12/2014.  
Mặc dù rất cố gắng, tuy nhiên giáo trình khó tránh khỏi những thiếu sót về  
nội dung và hình thức. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý bạn  
đọc để Giáo trình này được hoàn thiện hơn.  
TPHCM, ngày  
Chủ biên  
Nguyễn Thị Hạnh  
tháng  
năm 20  
KHOA: KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH  
1
 
MỤC LỤC  
KHOA: KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH  
2
KHOA: KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH  
3
KHOA: KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH  
4
KHOA: KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH  
5
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC  
Tên môn học:  
Mã môn học:  
Nguyên lý Kế toán  
MH2104053  
Vị trí, tính chất của môn học:  
- Vị trí: Nguyên lý kế toán thuộc nhóm các môn học cơ sở bắt buộc được bố trí  
giảng dạy sau khi đã học xong các môn học chung.  
- Tính chất: Môn Nguyên lý kế toán là môn học cơ sở bắt buộc để thực hiện các  
môn học liên quan đến kế toán. môn học này khái quát những nguyên tắc cơ bản về  
kế toán trong doanh nghiệp.  
Mục tiêu môn học:  
- Về kiến thức:  
+ Trình bày được các khái niệm, các nguyên tắc, các phương pháp cơ bản của  
kế toán.  
+ Trình bày được vai trò, nhiệm vụ của kế toán trong quá trình hoạt động  
sản xuất, kinh doanh của một đơn vị.  
- Về kỹ năng:  
+ Tính toán được các đối tượng kế toán chủ yếu  
+ Vận dụng phương pháp kế toán một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu liên quan  
đến quá trình mua hàng, sản xuất, quá trình tiêu thụ và xác định kết quả hoạt động  
kinh doanh.  
+ Thực hành được trên sơ đồ kế toán, tài khoản chữ T ...  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:  
+ Người học tiếp nhận và nghiên cứu đầy đủ nội dung bài giảng, rèn luyện kỹ  
năng trình bày tóm tắt nội dung chính trong từng chương.  
+ Rèn luyện tư duy Logic hình thành phương pháp học chủ động, nghiêm túc,  
nhớ lâu về phương pháp tính toán, cách xử lý tình huống từ các ví dụ, bài tập.  
KHOA: KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH  
6
Nguyên lý Kế toán  
Chương 1: Tổng quan về Nguyên lý Kế toán  
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN  
Giới thiệu:  
Trong chương 1 bao gồm các nội dung: Lịch sử ra đời và phát triển của hạch toán kế  
toán, bản chất của kế toán; đối tượng của hạch toán kế toán; các nguyên tắc kế toán cơ  
bản; các phương pháp kế toán; nhiệm vụ và các yêu cầu cơ bản đối với kế toán.  
Mục tiêu:  
- Trình bày được khái niệm, chức năng, nhiệm vụ , yêu cầu của kế toán, nội dung các  
phương pháp và các nguyên tắc kế toán.  
- Phân biệt được các đối tượng kế toán: tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn  
- Vận dụng được mối liên hệ giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản tính toán giá trị  
các đối tượng kế toán.  
Nội dung chính:  
1.1. Lịch sử ra đời và phát triển của hạch toán kế toán  
1.1.1. Hạch toán trong kinh tế - Ý nghĩa và vai trò đối với nền kinh tế  
Từ khi hình thành, xã hội loài người luôn phải đương đầu và vượt qua những thử  
thách của giới tự nhiên nhiều bất trắc để tồn tại và phát triển. Nhằm đo lường hiệu quả,  
đánh giá và tiên liệu hoạt động kinh tế của mình, con người phải dựa vào một công cụ:  
hạch toán. Thông qua việc đăng ký và giám sát các quá trình kinh tế về mặt số lượng  
và chất lượng, hạch toán trong đời sống kinh tế đảm bảo việc thông báo thường xuyên  
và chính xác các thông tin về tình hình phát triển tầm vĩ mô cũng như trên phạm vi vĩ  
mô của nền kinh tế.  
Hạch toán trong kinh tế đã có một lịch sử tồn tại gần 6.000 năm. Cùng với sự phát  
triển của xã hội, hạch toán ngày càng phát triển phong phú và đa dạng về nội dung,  
hình thức và phương pháp. Hạch toán, lúc đầu, đơn thuần chỉ là một công cụ được con  
người sử dụng chủ yếu để đối phó với các điều kiện khắc nghiệt, rất bấp bênh của cuộc  
sống, càng về sau, hạch toán được xem như một phương tiện không thể thiếu được để  
tồn tại trong cạnh tranh.  
Như vậy, hạch toán là một hệ thống điều tra quan sát, tính toán, đo lường và ghi  
chép các quá trình kinh tế, nhằm quản lý các quá trình đó ngày một chặt chẽ hơn.  
Hạch toán là một nhu cầu khách quan của bản thân quá trình sản xuất cũng như  
của xã hội, nhu cầu đó được tồn tại trong tất cả các hình thái xã hội khác nhau và ngày  
càng tăng, tuỳ theo sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, trong các hình thái xã hội khác  
nhau, đối tượng và nội dung của hạch toán cũng khác nhau, vì mỗi chế độ xã hội có  
một phương thức sản xuất riêng. Phương thức sản xuất thay đổi, làm cho toàn bộ cơ  
KHOA: KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH  
7
     
Nguyên lý Kế toán  
Chương 1: Tổng quan về Nguyên lý Kế toán  
cấu kinh tế xã hội và chính trị thay đổi. Và như vậy, mục đích, phương pháp quan sát,  
đo lường và ghi chép cũng thay đổi cùng với sự thay đổi của phương thức sản xuất.  
Đồng thời cùng với sự phát triển của sản xuất xã hội, hạch toán cũng không ngừng  
được phát triển và hoàn thiện về phương pháp cũng như hình thức tổ chức. Điều này  
có thể dễ dàng nhận thức được thông qua việc nghiên cứu quá trình nảy sinh và phát  
triển của hạch toán kế toán.  
1.1.2. Lịch sử ra đời của kế toán  
Tiến trình lịch sử củạ hạch toán kế toán, cả về mặt thực tiễn lẫn lý luận, đã là một  
bộ phận không tách rời của lịch sử hạch toán.  
Nhiều thế kỷ trước khi trờ thành một môn khoa học độc lập (khoa học về kế toán -  
với nhiệm vụ xử lý các phạm trù kế toán một cách có hệ thống bằng các lý giải khoa  
học) hạch toán kế toán chỉ đơn thuần là một hoạt động thực tiễn thuần túy. Trong giai  
đoạn này, loại hạch toán nói trên chỉ là sự phản ánh, sao chép hiện thực của đời sống  
kinh tế một cách thụ động trong đầu óc con người, không có sự hỗ trợ của các công cụ  
tính toán, dù là thô sơ nhất. Chỉ tới khi mà con người có khả năng ghi chép những sô  
liệu của quá trình kinh tế vào các vật biểu hiện ngoại lai nào đó thì mới có thể nói đến  
sự ra đời của hạch toán nói chung và hạch toán kế toán nói riêng. Nhiều nhà nghiên  
cứu lịch sử kinh tế đều thống nhất một điều: hạch toán kế toán thực sự xuất hiện và có  
điều kiện phát triển khi có sự hình thành của chữ viết và số học sơ cấp.  
Sự xuất hiện và quảng bá rộng rãi chữ viết và số học sơ cấp, mà trước hết là sự  
phát minh ra hệ đếm thập phân và việc sử dụng rộng rãi chữ số Ả- rập tạo ra những  
tiền đề cần thiết cho sự ra đời trên thực tế của hạch toán kế toán và những điều kiện  
tiền đề này đã dẫn đến một sư tách riêng ra một loại nghề nghiệp chuyên môn về hạch  
toán do các nhân công Ấn Độ. Chúng ta có thể tìm thấy các nhân viên hạch toán kế  
toán, tiến hành công tác hạch toán trong ngành trồng trọt và thực hiện việc tính thuế"  
Ở Ai Cập và Lưỡng Hà Địa, căn cứ vào các di tích khảo cổ tìm được, người ta biết  
được có sự hoạt động của các trường chuyên môn đào tạo nhân viên hạch toán vào  
thời cổ đại. T. Mann đã gọi học viên các trường này là những người "có kỹ năng đọc,  
viết và phù phép”. Nhà nghiên cứu cổ sử về hạch toán người Mỹ Williard Stone cho  
rằng phương pháp đào tạo thư lại - nhân viên kế toán ở Lưỡng Hà Địa hoàn toàn khác  
với phương pháp của người Ai Cập.  
Tại Lưỡng Hà Địa việc đào tạo các nhân viên hạch toán được quản lý bởi các Thầy  
Tư Tế của nhà thờ, còn ở Ai Cập do các quan chức cơ quan tài chính phụ trách. Người  
ta còn thu nhận vào trường các trẻ em có năng khiếu, không xét đến nguồn gốc xuất  
thân. Ở Babylon các em gái còn được nhận vào học (do quan niệm rộng rãi về việc sử  
dụng lao động nữ tại đây) và do đó, Lưỡng Hà Địa được xem là nơi đầu tiên xuất hiện  
nữ nhân viên hạch toán. Chương trình đào tạo của các trường ở Babylon mang tính  
KHOA: KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH  
8
 
Nguyên lý Kế toán  
Chương 1: Tổng quan về Nguyên lý Kế toán  
nhân văn sâu sắc hơn, còn chương trình đào tạo Ai Cập chú trọng về khía cạnh thực  
dụng.  
Các nhân viên hạch toán đã điền vào các chứng từ chuyên môn mà về sau này  
được gọi là chứng từ ban đầu. Trình tự tố chức việc ghi sổ lệ thuộc vào tính chất và  
khối lượng hoạt động kinh doanh, cũng như hình thức của vật mang tư liệu.  
Vật mang tư liệu thời xưa thường là giấy papirus (ở Ai Cập cổ đại), các bản bằng  
gốm và sành (Assyrie và Babylone) hoặc các bản nhỏ bằng sáp (ở La Mã cổ đại). Đặc  
điểm cuả vật mang số liệu hạch toán đó ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức hạch toán và kể  
cả việc tổ chức ngay chính bản thân việc ghi chép. Ví dụ: việc sử dụng giấy Papyrus  
đã dẫn đến sự ra đời của hạch toán bằng "các tờ rời tổng hợp", việc sử dụng các bảng  
bằng gốm và sành đã làm phát sinh các "tờ phiếu" và cuối cùng, việc sử dụng các  
bảng, biếu bằng sáp lại dẫn đến sự xuất hiện của "sổ sách". Những phương pháp đầu  
tiên của hạch toán trong nền kinh tế là:  
+ Các tổng thể hạch toán thuần nhất về chất lượng (các nhóm, loại) theo các tiêu  
đề hạch toán, mà sau này người ta gọi là các tài khoản.  
+ Kiểm kê có nghĩa là việc thực hiện mong muốn ghi lại tất cả những đối tượng  
thuộc phạm vi kinh doanh.  
+ Tài khoản vãng lai - là loại tài khoản được mở để đơn vị kinh doanh thanh toán  
qua lại đối với một đối tượng khách hàng nào đó.  
Thực tiễn hoạt động kinh doanh hàng ngày đã được phản ánh tùy theo loại sổ sách  
hoặc bằng cách ghi chép theo thứ tự thời gian (ở Ai Cập cổ đại), hay ghi chép theo hệ  
thống (ở Assyrie; Babylone) hoặc đồng thời áp dụng cả hai hình thức ghi chép đó.  
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, ban đầu người ta cần kê lại mọi tài sản, do đó  
phương pháp kiểm kê ra đời trước tiên. Để thực hiện công việc này, các luật gia và nhân  
viên hạch toán đã nhận ra rằng cần thiết phải phân loại tài sản dựa trên một số " tiêu thức  
nhất định gần với việc sử dụng các đơn vị đo lường qui ước đã được khái quát hóa. Điều  
này dẫn đến sự phát sinh một phương pháp mới, đó là phương pháp tài khoản. Lúc ban  
đầu, người ta chỉ có ý niệm về các loại tài sản tài khoản (như các loại tài sản vật tự  
nhiên, dụng cụ ...) mà tương ứng về mặt hạch toán người ta gọi việc ghi chép trên các  
loại tài khoản này là hạch toán gia sản. Về sau, khi tiền tệ thúc đẩy mạnh hơn quan hệ  
thanh toán, đã làm nảy sinh thêm các tài khoản cá nhân và các tài khoản được mở ra để  
thanh toán với người khác.  
Tài khoản đã xuất hiện khá lâu nhưng chỉ trở thành một hệ thống thống nhất từ khi  
xuất hiện thước đo bằng tiền thuần nhất. Việc đo lường đánh giá khối lượng kinh  
doanh phải được hạch toán đã tạo điều kiện cho việc thống nhất các tài khoản thành  
một hệ thống thống nhất được gọi là kế toán đơn (single entry). Đó là một hệ thống qui  
KHOA: KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH  
9
Nguyên lý Kế toán  
Chương 1: Tổng quan về Nguyên lý Kế toán  
định việc tuân thủ hoàn toàn theo thực tế đời sống kinh tế. Các tài khoản cá nhân mà  
chính chúng chịu sự chi phối và lệ thuộc vào các qui tắc của tài khoản tài sản và tiền tệ  
của nó, đã bắt đầu đóng vai trò trung tâm trong hệ thống này, bởi vì tiền tệ đã được  
xem như là một loại hàng hóa.  
Nhờ việc sử dụng các tài khoản cá nhân và việc phản ánh trên các tài khoản bao  
giờ cũng liên quan ít nhất 2 người, mà việc ghi sổ kép (bút toán kép) đã ra đời. Nó  
chính là sản phẩm của tín dụng và tài khoản vãng lai.  
Thông thường, người ta hay lập luận logic rằng kế toán đơn đã có trước kế toán kép,  
nhưng chúng đã đồng thời tồn tại rất lâu trong lịch sử.  
1.1.3 Các trường phái lý luận về hạch toán kế toán  
Sự ra đời của kế toán kép đã báo trước một bước ngoặt mới: chuyển từ chủ nghĩa  
tự nhiên sang chủ nghĩa hiện thực trong hạch toán. Các sách thực hành hạch toán viết  
về kế toán kép lần đầu tiên đã xuất hiện ở Ý hồi cuối thế kỷ XIII. Chính vì vậy mà  
người ta coi kế toán Ý thời đó là đồng nghĩa với kế toán kép.  
Bedenetto Cotrulli (1458), một thương gia, đồng thời cũng là một nhà nhân văn  
học ở Dubrovnic và L.Pacioli (1494) một nhà toán học nổi tiếng là những nhà lý luận  
đầu tiên về khoa học kế toán. Từ các tác giả đầu tiên này, lĩnh vực hạch toán kế toán  
đã có hai hướng lý luận chủ yếu được vạch ra:  
+ Một hướng gắn với tên tuổi của B.Cotrulli với quan điểm hạch toán là công cụ  
quản lý từng xí nghiệp. Jean Savarre (1622 - 1690) và Daniel Difoe (1661 - 1731), tác  
giả của quyển tiếu thuyết nổi tiếng toàn thế giới "Robinson Crusoe", thuộc trong số  
những nhà lý luận của hướng nghiên cứu này và họ đã có nhiều đóng góp quan trọng  
cho khoa học về kế toán.  
+ Hướng khác gắn liền với sự nghiệp của L.Pacioli với quan điểm hạch toán là  
một môn khoa học có tính phương pháp luận tổng hợp. Thuộc về phái này, có nhiều  
nhà lý luận và nghiên cứu thuộc nhiều nước khác nhau. Nhược điểm chung của họ là  
rơi vào chủ nghĩa thần bí hóa hạch toán kế toán, hoặc cường điệu tính chất khoa học  
của nó.  
+ Hướng nghiên cứu lý giải và vận dụng kế toán như là một công cụ kiểm tra và  
quản lý. Tuy nhiên từ đầu, hạch toán kế toán đã được luận thuyết cho là một môn khoa  
học pháp lý. Đóng góp đầu tiên và quan trọng nhất vào việc xây dựng và phát triển  
hướng lý luận này và thuộc về các tác giả người Pháp. Sự phát triển về tính pháp lý của  
hạch toán kế toán được đặt nền tảng trên sự phát triển của những tư tưởng dân chủ tư  
sản Pháp. Các đại biểu chính của hướng này là Edmond Degrange, Ipponet Vanet,  
F.Villa. Những nhà lý luận thuộc trường phái này lần đầu tiên đã nêu ra khái niệm về  
nghiệp vụ kinh tế (transaction) với các qui tắc pháp lý rõ rệt, cũng như các khái niệm  
"đối ứng" (correspondence of accounts) rất nổi tiếng cùng với nhiều định nghĩa quan  
KHOA: KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH  
10  
 
Nguyên lý Kế toán  
Chương 1: Tổng quan về Nguyên lý Kế toán  
trọng khác. Hướng pháp lý, từ lâu, đã là hướng chính thống của hầu hết các nước. Các  
tác giả Ý sau đó đã có nhiều bổ sung đáng kể bên cạnh các đồng nghiệp Pháp trong việc  
phát triển hướng này.  
Tồn tại bên cạnh luận thuyết pháp lý là luận thuyết kinh tế về khoa học kế toán. Tư  
tưởng chi phối của hướng nghiên cứu này là sự khẳng định khoa học về kế toán là  
khoa học về kiểm tra (F.Besta,1891), hoặc một khoa học về "logic kinh tế" (kế toán  
viên người Nga L.I.Gomberg). Các đại biểu và môn đồ chính của phái kinh tế là các  
nhà lý luận Ý, Pháp và Nga...  
Ngày nay, các nhà nghiên cứu về hạch toán đã đi đến chỗ thông nhất rằng, hạch  
toán kê toán không thể được luận thuyết một cách phiến diện như trên mà nó bao gồm  
2 bộ phận quan hệ chặt chẽ và đan xen vào nhau: bộ phận pháp lý và bộ phận kinh tế.  
1.2. Bản chất của kế toán  
1.2.1. Phân biệt các loại hạch toán  
Căn cứ vào đối tượng và phương pháp nghiên cứu, hạch toán được chia thành 3  
loại: hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật, hạch toán thống kê và hạch toán kế toán.  
1.2.1.1. Hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật  
Hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật là dạng hạch toán cung cấp những thông tin rời rạc  
của từng loại hoạt động mang tính chất kỹ thuật sản xuất. Tùy theo tính chất của đối  
tượng cần thông tin mà hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật sử dụng thước đo phù hợp. Tài  
liệu hạch toán nghiệp vụ thường rất đơn giản, được thu thập bằng phương pháp quan  
sát trực tiếp. Hạch toán nghiệp vụ ít sử dụng chỉ tiêu hạch toán tổng hợp.  
1.2.1.2. Hạch toán thống kê  
Hạch toán thống kê (gọi tắt là thống kê) là dạng hạch toán cung cấp những thông  
tin số lớn trong mối quan hệ với mặt chất của chất lượng cần thông tin gắn liền với  
thời gian và địa điểm cụ thế nhằm rút ra xu thế và quy luật vận động, phát triển cua đôi  
tượng. Tùy theo đối tượng cần thông tin mà hạch toán thống kê sử dụng các thước đo  
phù hợp.  
1.2.1.3. Hạch toán kế toán  
Hạch toán kế toán (gọi tắt là kế toán) là loại hạch toán phản ánh một cách thường  
xuyên, liên tục và có hệ thống toàn bộ các hiện tượng kinh tế - tài chính phát sinh  
trong đơn vị thông qua 3 thước đo: tiền, hiện vật và thời gian lao động, trong đó thước  
đo bằng tiền (money measurement) là chủ yếu.  
Như vậy sự ra đời của các loại hạch toán là một nhu cầu khách quan bắt nguồn từ  
nhu cầu quản lý của con người. Cùng với sự phát triển của sản xuất và quản lý, các  
loại hạch toán được phát triển và hoàn thiện không ngừng. Trong các loại hạch toán thì  
KHOA: KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH  
11  
   
Nguyên lý Kế toán  
Chương 1: Tổng quan về Nguyên lý Kế toán  
hạch toán kế toán giữ một vai trò hết sức trọng yếu, là nguồn thông tin vô cùng cần  
thiết trong quản lý bất kỳ hoạt động nào. Cho nên các nhà nghiên cứu về hạch toán kế  
toán ở Mỹ đã cho rằng "kế toán là ngôn ngữ của kinh doanh".  
Tóm lại, Ba loại hạch toán trên tuy có đối tượng nghiên cứu và phương pháp riêng,  
nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau trong việc ghi chép và kiểm tra, giám sát quá  
trình tái sản xuất xã hội. Mối quan hệ này thể hiện qua các mặt sau:  
- Cả ba loại hạch toán đều nhằm thu thập, ghi chép và truyền đạt những thông tin  
về kinh tế tài chính trong đơn vị.  
- Mỗi loại hạch toán đều phát huy tác dụng của mình trong việc kiểm tra, giám sát  
tình hình thực hiện các kế hoạch kinh tế tài chính nên cả 3 đều là công cụ quan trọng  
phục vụ cho việc quản lý, điều hành và chỉ đạo của đơn vị và các đối tượng khác.  
- Giữa ba loại hạch toán có quan hệ cung cấp số liệu cho nhau và thống nhất về  
số liệu trên cơ sở tổ chức hạch toán ban đầu.  
1.2.2. Định nghĩa  
Theo Điều 3 Luật kế toán Việt Nam số 88/2015/QH13 có nêu: Kế toán là việc thu  
thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình  
thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động.  
Theo khái niệm trên thì kế toán là công việc gồm 5 phần chính:  
1. Thứ nhất, thu thập thông tin là việc tập hợp các thông tin kế toán thông qua việc  
thu thập chứng từ (phiếu thu, phiếu chi, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, hóa đơn thuế  
GTGT,...) và các báo cáo có liên quan.  
2. Thứ hai, xử lý thông tin là việc phân loại, tính toán các đối tượng kế toán để ghi  
vào chứng từ và sổ sách kế toán.  
3. Thứ ba, kiểm tra thông tin là công việc thường xuyên của kế toán nhằm phát hiện  
và xử lý các sai sót hoặc gian lận (nếu có) của các thông tin kinh tế tài chính đã thu thập  
được.  
4. Thứ tư, phân tích thông tin là việc đánh giá các thông tin đã thu thập được để từ  
đó hỗ trợ cho nhà quản lý doanh nghiệp những thông tin hữu ích trong việc ra quyết  
định.  
5. Thứ năm, cung cấp thông tin là kết quả cuối cùng của công tác kế toán thông  
qua các báo cáo kế toán như báo cáo tài chính và các báo cáo khác cho các đối tượng  
sử dụng các thông tin này.  
KHOA: KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH  
12  
 
Nguyên lý Kế toán  
Chương 1: Tổng quan về Nguyên lý Kế toán  
Ngoài ra, phương thức thông tin được ghi chép vào chứng từ, sổ sách và các báo  
cáo kế toán được thực hiện dưới ba hình thức là giá trị (đo lường bằng số tiền), hiện  
vật (đo lường theo số lượng) và thời gian lao động (đo lường bằng số lượng thời gian).  
1.2.3. Chức năng của hạch toán kế toán  
Hạch toán kế toán có hai chức năng: chức năng thông tin và chức năng kiểm tra:  
Chức năng thông tin của hạch toán kế toán thể hiện ở chỗ thu nhận và cung cấp  
thông tin về toàn bộ tài sản và sự vận động của tài sản trong quá trình hoạt động của  
đơn vị, những thông tin của kế toán cung cấp cho phép các nhà quản lý kinh tế có  
được những lựa chọn hợp lý để định hướng hoạt động của đơn vị có hiệu quả. Có thể  
khái quát chức năng thông tin của hạch toán kế toán bằng sơ đồ sau:  
Ra quyết  
Hoạt động kinh  
định  
tế tài chính  
Thông  
Dữ liệu  
tin  
Hệ thống kế toán  
Đo lường  
Xử lý  
Truyền đạt  
Ghi chép dữ liệu  
Sắp xếp tổng hợp  
Thông báo  
Sơ đồ 1.1. Thông tin của hạch toán kế toán  
- Trước hết kế toán đo lường các hoạt động kinh tế tài chính bằng cách kế toán  
theo dõi toàn bộ các hiện tượng kinh tế tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động  
của đơn vị và tiến hành ghi chép các dữ liệu thu nhận vào các chứng từ kế toán.  
- Tiếp theo là quá trình xử lý các dữ liệu thu nhận thành những thông tin có ích  
theo yêu cầu của người sử dụng thông tin. Quá trình xử lý được tiến hành qua việc  
phân loại, sắp xếp, hệ thống hoá và tổng hợp các dữ liệu (được thực hiện trên hệ thống  
tài khoản và sổ kế toán).  
- Tiếp sau cùng, những thông tin đã được xử lý được truyền đạt qua hệ thống báo  
cáo kế toán cho những người cần sử dụng thông tin kế toán, giúp họ đề ra quyết định  
kinh tế đúng đắn.  
KHOA: KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH  
13  
 
Nguyên lý Kế toán  
Chương 1: Tổng quan về Nguyên lý Kế toán  
Như vậy, rõ ràng kế toán không dừng lại ở việc ghi chép và lưu trữ dữ liệu, mà  
quan trọng hơn là thiết lập một hệ thống thông tin cho công tác quản lý, cho người ra  
quyết định.  
Chức năng kiểm tra: chức năng kiểm tra của kế toán được thể hiện ở chỗ thông  
qua việc ghi chép, tính toán, phản ánh kế toán sẽ nắm được một cách có hệ thống toàn  
bộ tình hình và kết quả hoạt động của đơn vị. Qua đó, kiểm tra việc tính toán, ghi  
chép, phản ánh của kế toán về các mặt chính xác, kịp thời, trung thực rõ ràng; kiểm tra  
việc chấp hành các chế độ, thể lệ kế toán và kết quả công tác của bộ máy kế toán.  
Thông qua kiểm tra đánh giá tình hình ngân sách, chế độ quản lý kinh tế của Nhà  
nước, tình hình sử dụng và bảo quản tài sản, tình hình chấp hành kỷ luật thanh toán,  
thu nộp,...Thực hiện tốt chức năng kiểm tra là cơ sở để kế toán cung cấp thông tin  
đáng tin cậy phục vụ cho công tác phân tích, đánh giá đầy đủ, đúng đắn tình hình và  
kết quả hoạt động của đơn vị trong từng thời kỳ nhất định, ra các quyết định đúng  
đắn, phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị.  
Với 2 chức năng vốn có của hạch toán kế toán và xuất từ thực tế yêu cầu quản lý  
hoạt động kinh tế ở đơn vị (cần phải biết thông tin một cách thường xuyên, liên tục,  
kịp thời có hệ thống để làm cơ sở cho việc ra những quyết định cho hoạt động sản xuất  
của đơn vị) cho nên hạch kế toán trở thành một công cụ quản lý hết sức quan trọng  
không những đối với bản thân của đơn vị hạch toán mà còn rất cần thiết và quan trọng  
đối với những người có lợi ích trực tiếp và gián tiếp nằm ngoài doanh nghiệp như:  
người mua, người bán, nhà đầu tư, cổ đông, các tổ chức tín dụng, cơ quan tài chính, cơ  
quan thuế, cơ quan pháp luật, các tổ chức đoàn thể xã hội nói chung.  
1.2.4 Kế toán tài chính & Kế toán quản trị  
Do có hai phạm vi phục vụ khác nhau của thông tin kế toán (bên trong và bên  
ngoài đơn vị) nên kế toán được chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị.  
Kế toán tài chính là loại kế toán nhằm cung cấp thông tin cho những người ra  
quyết định ở bên ngoài doanh nghiệp và nó được tóm tắt dưới dạng các báo cáo gọi là  
báo cáo tài chính.  
Kế toán quản trị là loại kế toán phục vụ cho những người quản lý doanh nghiệp.  
Để đạt được mục tiêu lợi nhuận, công tác quản trị doanh nghiệp đòi hỏi rất nhiều  
thông tin.  
Một loạt thông tin được đặt ra chủ yếu do yêu cầu của việc lập kế hoạch  
và kiểm tra hoạt động hằng ngày của doanh nghiệp. Đó là những thông tin giúp cho  
công tác quản trị biết được những gì đang xảy ra cũng như nắm chắc được công việc  
kinh doanh đang hoạt động tiến tới mục tiêu như thế nào. Loại thông tin thứ hai chủ  
yếu cần thiết cho quản trị trong việc lập kế hoạch dài hạn. Nhưng thông tin này được  
dùng để xây dựng chiến lược tổng quát và đề ra các quyết định quan trọng có tác động  
then chốt đối với doanh nghiệp.  
KHOA: KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH  
14  
 
Nguyên lý Kế toán  
Chương 1: Tổng quan về Nguyên lý Kế toán  
Giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính có các điểm giống nhau và khác nhau:  
Những điểm giống nhau:  
Cả hai đều nằm trong hệ thống thông tin kế toán. Trong đó, kế toán quản trị sử  
dụng số liệu ghi chép ban đầu của kế toán tài chính.  
Cả hai đều có liên quan đến việc phục vụ thông tin cho quản lý doanh nghiệp.  
Trong đó, kế toán quản trị liên quan đến điều hành và quản lý của từng bộ phận, từng  
yếu tố, quá trình hoạt động của doanh nghiệp, còn kế toán tài chính có liên quan đến  
hoạt động quản lý toàn doanh nghiệp.  
Những điểm khác nhau:  
Tiêu thức  
Kế toán tài chính  
Kế toán quản trị  
phân biệt  
Phục vụ cho các thành phần Phục vụ cho nhà quản trị bên  
bên ngoài doanh nghiệp trong doanh nghiệp  
Mục tiêu  
Tuân thủ các nguyên tắc kế Nhanh, linh hoạt, chủ yếu  
toán phản ánh cả quá khứ và hướng về tương lai và được  
được biểu hiện dưới hình thái biểu diễn dưới hình thái tiền  
Đặc điểm thông tin  
tiền tệ  
tệ và hiện vật  
Cung cấp thông tin tổng quát Cung cấp thông tin về từng  
Phạm vi và nội  
toàn doanh nghiệp  
khâu, từng bộ phận, yếu tố,  
quá trình hoạt động của  
doanh nghiệp.  
dung của thông tin  
Báo cáo định kỳ: tháng, quí, Báo cáo thường xuyên kịp  
năm. thời.  
Kỳ báo cáo  
Có tính pháp lệnh, việc lập Không có tính pháp lệnh, chỉ  
các báo cáo phải tuân thủ theo có hiệu lực trong nội bộ  
những qui tắc chung nhằm doanh nghiệp.  
đảm bảo cho sự tin cậy của  
Tính pháp lý của  
thông tin.  
những người nhận báo cáo.  
1.3 Đối tượng của hạch toán kế toán  
Để tiến hành các hoạt động trong lĩnh vực sản xuất - kinh doanh hay bất cứ một  
lĩnh vực nào khác, các đơn vị cần phải có một khối lượng tài sản nhất định. Nó biểu thị  
lợi ích mà đơn vị sẽ thu được trong tương lai, là tiềm năng của đơn vị phục vụ cho các  
KHOA: KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH  
15  
 
Nguyên lý Kế toán  
Chương 1: Tổng quan về Nguyên lý Kế toán  
hoạt động kinh tế theo chức năng, nhiệm vụ của đơn vị. Tài sản của các đơn vị bao  
gồm nhiều thứ, nhiều loại với đặc điểm và tính chất khác nhau, giữ một vị trí, vai trò  
khác nhau trong quá trình hoạt động của đơn vị. Mặt khác những tài sản này được  
nhiều nguồn khác nhau. Yêu cầu của công tác quản lý tài sản trong các đơn vị là vừa  
phải nắm được từng thứ, từng loại cũng như tổng số tài sản và nguồn hình thành tài  
sản. Có như vậy, mới đảm bảo sử dụng một cách hợp lý và có hiệu quả, phát huy được  
toàn bộ nguồn lực vào việc phục vụ cho mục tiêu hoạt động của mình.  
Mặt khác, trong quá trình tái sản xuất, tài sản của các đơn vị vận động không  
ngừng qua các giai đoạn khác nhau, qua mỗi giai đoạn vận động, tài sản của các đơn vị  
không những biến đổi về mặt hình thái mà còn biến đổi cả về giá trị.  
Với tư cách là công cụ quản lý kinh tế quan trọng, với chức năng thông tin và  
kiểm tra, kế toán giữ vai trò quan trọng trong công tác quản lý tài sản, thông tin do  
hạch toán kế toán cung cấp sẽ giúp nhà quản lý biết được tài sản của đơn vị theo từng  
loại, tổng số, đánh giá được tình hình trang bị và sử dụng, biết được tài sản của mình  
được hình thành từ đâu, bằng cách nào và xác định được rõ trách nhiệm của mình đối  
với Nhà nước, ngân hàng, cổ đông, người cung cấp...về số tài sản được hình thành từ  
nguồn vốn của họ. Đồng thời thông qua chức năng thông tin và kiểm tra của mình, kế  
toán giúp cho nhà quản lý nắm được một cách kịp thời, đầy đủ về quá trình cũng như  
kết quả của sự vận động tài sản trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế của đơn  
vị, là cơ sở để phân tích và đánh giá hiệu quả của quá trình vận động ấy.  
Như vậy, đối tượng nghiên cứu của kế toán đó là tài sản, nguồn hình thành tài sản  
và sự vận động của tài sản trong quá trình hoạt động.  
1.3.1. Tài sản  
1.3.1.1. Định nghĩa: Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01-Chuẩn mực chung  
có nêu: tài sản là nguồn lực do đơn vị kiểm soát và có thể mang lại lợi ích kinh tế  
trong tương lai.  
1.3.1.2. Tiêu chuẩn ghi nhận tài sản của đơn vị:  
Một đối tượng sau khi đã thoả mãn định nghĩa tài sản chỉ được ghi nhận là tài sản  
của đơn vị khi thoả mãn cả hai điều kiện được qui định ở Chuẩn mực chung như sau:  
- Đơn vị có khả năng chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai; và  
- Giá trị của tài sản đó được xác định một cách đáng tin cậy.  
Tóm lại: Một đối tượng được ghi nhận là tài sản của đơn vị khi thoả mãn đồng  
thời cả định nghĩa và tiêu chuẩn ghi nhận tài sản.  
KHOA: KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH  
16  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 263 trang yennguyen 21141 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Nguyên lý kế toán - Ngành: Tài chính doanh nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_nguyen_ly_ke_toan_nganh_tai_chinh_doanh_nghiep.pdf