Chuyển đổi đô thị dựa trên giá trị sông Rạch: Hướng tiếp cận quy hoạch thực thi tích hợp và xây dựng hạ tầng xanh
ển kè bờ sông Sài Gòn và sông, kênh nội thành và các giải pháp
kè sông Sài Gòn, sông và kênh nội thành vào năm 2025
CHUYỂN ĐỔI ĐÔ THỊ DỰA TRÊN GIÁ
TRỊ SÔNG RẠCH: HƯỚNG TIẾP CẬN
QUY HOẠCH THỰC THI TÍCH HỢP VÀ
XÂY DỰNG HẠ TẦNG XANH
TS. KTS. Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kiến trúc, Sở
Quy hoạch - Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh;
PGS. TS. Nguyễn Hồng Quân - Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Nước và Biến
đổi khí hậu, Viện Môi trường và Tài nguyên, ĐH Quốc gia TPHCM;
TS. KTS. Phan Nhựt Duy - Khoa Quy hoạch, trường Đại học Kiến trúc TP.HCM.
Tóm tắt
Quy hoạch tích hợp và triển khai theo hướng phối hợp đa ngành có vai trò quan
trọng đối với quá trình Quản lý phát triển đô thị bền vững. Bài viết này tập trung vào
nhận định một số yếu tố về thực trạng công tác cải tạo chỉnh trang đô thị và phân tích
một trường hợp điển hình về quy hoạch chi tiết và triển khai dự án Công viên Văn hóa
Gò vấp. Từ hướng tiếp cận thực tiễn, kết hợp những xu hướng quy hoạch phát triển đô
thị hiện nay, bài viết đề xuất mô hình Quy hoạch hạ tầng xanh (Green Blue
Infrastructure) và những khuyến nghị áp dụng những công cụ hỗ trợ tổ chức thực hiện
quy hoạch. Để nâng cao tính khả thi cho dự án cải tạo đô thị, khung MOTA
(Motivation – Ability), Phương pháp tiếp cận “động lực – năng lực”, được áp dụng
giúp xác định các động lực và nguồn lực thực thi, khi thất bại thị trường (Market
Malfunction) được khắc phục thông qua cơ chế tài chính hợp lý và xác định yếu tố cải
thiện động lực tham gia của các đối tác (Stakeholders).
__________________________________________________________
28
Quy hoạch và phát triển kè bờ sông Sài Gòn và sông, kênh nội thành và các giải pháp
để hoàn thành cơ bản kè sông Sài Gòn, sông và kênh nội thành vào năm 2025
1. Đặt vấn đề
Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM), một
đóng vai trò điều hòa nước và cải thiện môi
trường và chất lượng sống đô thị. Tầm nhìn này
cần được bám sát thông qua một khung phát
triển, điều này không có nghĩa là các quy định và
sự kiểm soát mang tính tập trung mà là một công
cụ để dự đoán nhu cầu, điều phối nỗ lực và tìm ra
con đường để đạt được mục tiêu mà mọi người
đều có thể làm theo. Quy hoạch hệ thống không
gian mở đa chức năng cần gắn với khái niệm Hạ
tầng Xanh và được quản lý tích hợp, gắn với tầm
nhìn và khung phát triển để dự báo đúng như cầu
và điều phối nguồn lực hợp lý. Thành phố cần có
các cách tiếp cận vấn đề mang tính đa chiều
thông qua quá trình điều chỉnh quy hoạch đô thị,
ứng dụng các giải pháp đồng bộ, liên ngành,
hướng đến một hạ tầng đa chức năng, gắn kết các
không gian mở, nông nghiệp đô thị, mảng xanh
và mặt nước của đô thị, nhằm nâng cao khả năng
thích ứng, phục hồi nhanh (tạm dịch từ
“resilience”) sau các biến cố ngập có thể xảy ra
trong tương lai, gia tăng giá trị sinh thái, sức
khỏe cộng đồng, đồng thời tạo các hiệu quả tích
cực về xã hội và môi trường đô thị.
đô thị cực lớn có vị trí gần biển, nằm trên lưu
vực sông Sài Gòn – Đồng Nai, có quá trình phát
triển gắn liền với yếu tố sông ngòi – kênh rạch.
Đường thủy đã từng là giao thông tiếp cận chính
trong quá trình lịch sử phát triển của thành phố.
Tuy nhiên, với mục tiêu phát triển kinh tế (là đô
thị đóng vai trò là đô thị trung tâm của vùng), và
đóng góp hơn 20% GDP của quốc gia, quá trình
đô thị hóa đã diễn ra quá nhanh, nhất là tại các
quận mới phát triển. Trên thực tế, hầu hết các dự
án phát triển các khu đô thị mới đều dựa trên hệ
thống kỹ thuật hạ tầng “cứng” (bê-tông hóa).
Quá trình này có thể đã giải quyết một số lợi ích
trước mắt như chống sạt lở và ngăn triều cường
cho một khu vực cục bộ, nhưng lại gây những
ảnh hưởng dài hạn và đáng kể đến sự cân bằng
của hệ sinh thái tự nhiên trong đó có yếu tố nước,
một yếu tố quan trọng trong sự phát triển bền
vững của đô thị. Chính cách tiếp cận vấn đề chưa
phù hợp, liên quan đến công tác lập và quản lý
quy hoạch, đã dẫn đến sự chủ quan trong việc
định hướng phát triển đô thị trên các vùng đất rủi
ro dễ bị tổn thương bởi các tác động từ môi
trường tự nhiên trong đó có ngập lụt (Duy,
2017b). Bằng chứng là thực trạng ngập của
Thành phố Hồ Chí Minh đã diễn ra ngày càng
nghiêm trọng với tác động ngày càng lớn đến sự
phát triển bền vững của đô thị và môi trường
sống của người dân (số điểm ngập đã tăng từ 680
trong 7 năm 2003 – 2009 (Phi, 2013) lên 1250
trong 7 năm tiếp theo 2010 – 2016 (nguồn tổng
hợp từ SCFC, 2010 - 2016). Do đó, Thành phố
cần có hướng tiếp cận phù hơn hơn cho các giải
pháp quy hoạch và đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ
thuật đô thị góp phần tăng cường khả năng thích
ứng của đô thị trước các tác động của môi trường
ngày càng biến động khó lường.
Thực tiễn triển khai dự án đô thị
Thực tiễn cải tạo đô thị tại Thành phố Hồ
Chí Minh vẫn còn những bất cập như thiếu cơ
chế chính sách phù hợp nhằm triển khai thực
hiện quy hoạch cùng những giải pháp tổ chức
thực thi hiệu quả, phát huy các dạng nguồn lực
và các năng lực tổ chức thực hiện trong xã hội;
cơ chế kiểm soát đầu cơ đất chưa theo kịp thị
trường, thiếu những giải pháp đồng bộ và phù
hợp, vẫn còn khe hở trong cơ chế chính sách quy
định về quản lý đất đai, quy hoạch vv… trước
nhu cầu nhà ở tăng nhanh và áp lực của quá trình
đô thị hóa; còn thực trạng doanh nghiệp lợi dụng
phát triển các dự án nhỏ lẻ, manh mún, đầu cơ
đất đai.
Từ mục tiêu và những tồn tại, bất cập
trong thực tiễn như đã nêu, phần tiếp theo của bài
viết trình bày những lý luận về hạ tầng xanh, tính
mềm dẻo và phục hồi nhanh cùng mô hình triển
khai thực hiện được đề xuất cho Thành phố Hồ
Chí Minh.
Hướng đến hạ tầng thông minh hơn
Đối những những thách thức về ngập lụt
và môi trường hiện nay và hướng đến những mục
tiêu thiên niên kỷ của UN Habitat, tầm nhìn của
TP.HCM hướng đến một đô thị có hạ tầng thông
minh, chức năng không gian mở và cây xanh
29
Quy hoạch và phát triển kè bờ sông Sài Gòn và sông, kênh nội thành và các giải pháp
để hoàn thành cơ bản kè sông Sài Gòn, sông và kênh nội thành vào năm 2025
2. Lý luận về Hạ tầng Xanh tích hợp, khả năng phồi phục nhanh (resilience) và vai trò của hệ
thống kênh rạch
Trong những thập niên gần đây, khả năng
Do đó, khả năng phục hồi nhanh sau biến
ứng biến trước những yếu tố bất thường của cố ngập cần được chú trọng và phát triển đặc biệt
thiên tai ngày càng được được chú trọng nhằm đối với các đô thị cực lớn gần biển (“mega-
đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của đô coastal city”, khoảng 50km từ bờ biển) bằng việc
thị. Một khi yếu tố thiên tai (ngập lụt, động đất, tích hợp mục tiêu giảm tính rủi ro và tăng cường
hỏa hoạn…) có xu hướng vượt ngoài những dự khả năng phục hồi nhanh sau biến cố vào quá
báo của con người thì khả năng hồi phục nhanh trình quy hoạch đô thị (Duy et al., 2017b). Đây
sau các biến cố (chẳng hạn như thảm họa) được được xem là thách thức đối với các đô thị lớn tại
xem là một trong những cách tiếp cận vấn đề các nước đang phát triển (liên quan đến vấn đề
được các chuyên gia nghiên cứu về đô thị ủng tài chính, năng lực, kinh nghiệm quy hoạch và
hộ. Lý thuyết về “resilience” được đề cập đến từ quản lý), nhưng cũng là cơ hội cho các đô thị này
khoảng thập niên 1970 với những luận điểm trong quá trình điều chỉnh quy hoạch (ibid).
mang tính tiên phong của Holling C. S. (1973) về Nâng cao khả năng thích ứng và phục hồi nhanh
sự tồn tại của các hệ thống trước những biến sau các tác động của môi trường là cơ sở cho
động của bất thường, với những đặc tính cơ bản việc phát triển các giải pháp về hạ tầng xanh
như khả năng tự chuyển hóa, thay đổi mang tính trong đô thị.
linh động nhằm duy trì khả năng sinh tồn. Quan
Dưới tác động của quá trình đô thị hóa, sự
điểm này được ủng hộ và phát triển rộng, và sâu
gia tăng của biến đổi khí hậu (vd. lượng mưa cực
hơn ở nhiều lĩnh vực khác nhau, với hai khía
đoan ngày càng tăng), cách tiếp cận truyển thống
cạnh được chú trọng “engineering resilience”
không thể giải quyết được các áp lực về ngập lụt
(dựa trên các nhân tố kỹ thuật) và “ecological
đô thị, ảnh hưởng chất lượng cuộc sống người
resilience” (dựa trên các nhân tố sinh thái tự
dân. Xây dựng hạ tầng xanh đang được quan tâm
nhiên) (Holling, 1996; Liao, 2012; Duy, 2019).
và được kỳ vọng là một trong những giải pháp
Xu hướng thứ hai hiện đang được nhiều nhà
hiệu quả được các nước trên thế giới áp dụng vì
khoa học hướng tới áp dụng vào các quy hoạch
tính đa chức năng, nâng cao khả năng hồi phục
chiến lược nhằm giải quyết các vấn đề môi
của các khu đô thị. Theo PGS.TS.KTS. Lê Văn
trường trong đô thị, trong đó có ngập lụt – một
Thương, Trường đại học Kiến trúc TP.HCM, “hạ
trong những nguy cơ hàng đầu đã và đang đe dọa
tầng xanh đem lại các giá trị về môi trường, sinh
sự phát triển ổn định của nhiều đô thị trên thế
thái (cung cấp diện tích đô thị, cải thiện chất
giới, nhất là những đô thị cực lớn đang có xu
lượng môi trường, vi khí hậu, giảm đảo nhiệt đô
hướng diễn ra sự tập trung dân cư và tài sản.
thị, bảo vệ đất đai, tăng bề mặt thẩm thấu và giữ
Với xu hướng tập trung ngày càng đông nước, chống ngập, giảm tác động môi trường do
dân cư, hầu hết các đô thị đều chứng kiến sự phát không sử dụng hóa chất, phục hồi các khu vực ô
triển kinh tế kéo theo quá trình đô thị hóa – mở nhiễm, bảo tồn đa dạng sinh học), giá trị về sức
rộng diện tích đô thị. Theo xu hướng này, việc khỏe cộng đồng (về thể chất, tinh thần, trí óc…),
quy hoạch phát triển mở rộng không gian mang giá trị văn hóa, thẩm mỹ (văn hóa, di sản, cộng
tính chủ quan, chẳng hạn trên vùng đất thấp, dễ đồng…), giá trị kinh tế (thương mại, du lịch, bất
ngập nước, sẽ khiến đô thị càng dễ bị tổn thương động sản, đầu tư xây dựng, dịch vụ sinh thái,
bởi yếu tố thiên tai liên quan đến yếu tố nước không gian xanh, rừng đô thị, không gian mở,
mặt. Kinh nghiệm từ thực tế cho thấy, các thảm kiến trúc - mái xanh…) cho đô thị”. Hạ tầng
họa ngập tại Bangkok 2012, Manila 2009 và xanh không chỉ mang lại các giá trị môi trường
New Orleans 2005 có liên quan đến hệ quả của xã hội như đã trình bày ở trên. Mặc dù các giá trị
quá trình quy hoạch và quản lý không phù hợp này khó có thể được lượng giá hoàn chỉnh, giá trị
dẫn đến thiệt hại lớn về con người và tài sản kinh tế của các khu vực dự án có hạ tầng xanh
(Duy et al., 2017b). Nếu tính dễ bị tổn thương cũng được nâng cao lên đáng kể. Theo ước tính
càng cao thì việc tăng cường khả năng hồi phục từ dự án Eu-Value, giá trị bất động sản khi có
nhanh càng cần được chú trọng (Balica et al., thêm hạ tầng xanh gia tăng khoảng 30% so với
2012; Berkes, 2007; Tuner et al., 2003).
dự án không có hạ tầng xanh.
30
Quy hoạch và phát triển kè bờ sông Sài Gòn và sông, kênh nội thành và các giải pháp
để hoàn thành cơ bản kè sông Sài Gòn, sông và kênh nội thành vào năm 2025
Hình 3. Ảnh minh họa một số giải pháp thiết kế hạ tầng xanh đô thị.
Nguồn: global architecture archive
Mặc dù hạ tầng xanh có nhiều giá trị như đã được trình bày, việc triển khai các chính sách, dự
án liên quan đến hạ tầng xanh trong thực tế là việc không dễ dàng. Trong các chính sách về quy hoạch
hoặc kế hoạch dài hạn, chúng ta thường đặt ra những mục tiêu cần đạt được “những gì chúng ta
muốn”, nhưng thực tế con đường đi đến kết quả mong muốn đó phụ thuộc vào môi trường thực tế và
năng lực có sẵn hay nói cách khác là “những gì chúng ta có thể”. Vì thế để đưa ra một giải pháp thay
đổi hợp lý và khả thi trong quá trình thực hiện, cần phải có một phương pháp xác định tổ hợp các yếu
tố trên để giảm sự mâu thuẫn lợi ích và phức tạp giữa các bên liên quan, đồng thời mang đến sự thay
đổi từng bước lâu dài với các yêu tố không chắc chắn. Phương pháp MOTA, (Hồ Long Phi và nnk
2015; Nguyễn Hồng Quân và nnk, 2019) được xây dựng và phát triển phục vụ việc đánh giá tính khả
thi của việc triển khai các quy hoạch, dự án đầu tư.
31
Quy hoạch và phát triển kè bờ sông Sài Gòn và sông, kênh nội thành và các giải pháp
để hoàn thành cơ bản kè sông Sài Gòn, sông và kênh nội thành vào năm 2025
3. Một số đề xuất dự án hạ tầng xanh
3.1.Quy hoạch phát triển hạ tầng xanh tích hợp
mở có thể trở thành những cấu phần quan trọng
của một hệ thống hạ tầng xanh đa chức năng.
Không gian xanh dọc theo biên nước có một
tiềm năng lớn trong việc tạo dựng nên đặc trưng a. Khu vực công viên Cảng Bạch Đằng:
thành phố. Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích
sông rạch lớn, có tiềm năng hình thành hệ thống
không gian mở dọc theo hành lang sông rạch,
hình thành đặc trưng cho đô thị, phục vụ người
dân và tạo vì khí hậu đô thị. Một số ví dụ cụ thể
dưới đây cho thấy hệ thống cây xanh không gian
Đây là một khu vực bến sông lịch sử, là bộ
mặt đô thị, cần có thiết kế đô thị để hình thành
công viên cảng, tích hợp chức năng kết nối hạ
tầng giao thông, không gian mở, du lịch và sinh
hoạt văn hóa giải trí dịch vụ dọc bờ sông.
Hình 4. Không gian ven kênh dọc bến Bình Đông, Quận 8. Nguồn: NAG Huỳnh Mỹ Thuận
b. Chuỗi không gian mở dọc bờ kênh
năng của một hệ thống hạ tầng bền vững. Để triển
khai thực hiện, cần tích hợp hướng tiếp cận này
trong công tác điều chỉnh quy hoạch sắp tới, gắn
với xây dựng tầm nhìn, khung phát triển và chuẩn
bị các công cụ quản lý, điều phối nguồn lực đầu
tư phát triển đô thị một cách phù hợp để từng
bước xây dựng hệ thống hạ tầng xanh.
Khu vực ven kênh Tàu hủ Bến Nghé, Kênh
đôi Quận 8, Kênh Nhiêu Lôc Thị Nghè vv… kết
hợp các dự án cải tạo chỉnh trang đô thị có thể
giúp tăng cường mảng xanh đa chức năng cho đô
thị, vừa là hành lang cảnh quan tạo đặc trưng đô
thị, tạo không gian cho các hoạt động giải trí, văn
hóa, du lịch sông nước vv… vừa đóng vai trò là
một hạ tầng xanh (Blue infrastructure) quan trọng
gắn với chức năng hạ tầng giao thông thủy, phục
vụ vận chuyển nông sản, góp phần trữ nước, tiêu
thoát nước mặt.
Sơ đồ trên (hình 5) dưới đây minh họa mô
hình Hạ tầng Xanh cho TP. Hồ Chí Minh, đề xuất
một hành lang xanh dọc theo kênh rạch, kết nối
liên tục chuỗi các không gian mở đa chức năng,
gắn với mô hình phát triển các trung tâm phụ đô
thị, có những chức năng hỗn hợp như văn hóa
giải trí, hoạt động cộng đồng, thương mại dịch
vụ, cư trú, du lịch, tiêu thoát nước và cải thiện
môi trường.
Với đặc thù của Thành phố Hồ Chí Minh,
không gian cây xanh mặt nước phải được xem
như xương sống của một Hạ tầng xanh đa chức
năng và có vai trò liên kết, tích hợp các chức
32
Quy hoạch và phát triển kè bờ sông Sài Gòn và sông, kênh nội thành và các giải pháp
để hoàn thành cơ bản kè sông Sài Gòn, sông và kênh nội thành vào năm 2025
Hình 5. Đề xuất Mô hình Hạ tầng xanh tích hợp - Chuỗi kênh rạch kết nối các không gian mở đa chức năng cho
Thành phố.
c. Hành lang dọc kênh Tham Lương – Bến Cát
Trước hết, cần hiểu đây là một dự án cải tạo
Hành lang dọc kênh Tham Lương Bến Cát, chỉnh trang đô thị đa mục tiêu. Trong quá trình
kết hợp dự án cải tạo môi trường nước, giảm lập quy hoạch, để đảm bảo khả thi cần, việc xác
ngập là cơ hội hình thành chuỗi không gian mở định ranh và tính chất dự án được làm rõ để lồng
kết hợp giữa cây xanh mặt nước đa chức năng. nghép yêu cầu xã hội hóa và kêu gọi đầu tư. Quá
Ngoài chức năng cảnh quan môi trường, cần trình nghiên cứu quy hoạch vận dụng yếu tố xã
quan tâm chức năng kinh tế sử dụng đất, kết hợp hội hóa, nhằm nâng cao tính khả thi. Công viên
các chức năng ở, dịch vụ giải trí biên nước hình đa chức năng với vai trò chính làm điều tiết giảm
thành các khu vực có giá trị bất động sản, khuyến ngập, gắn với các mục tiêu nâng cao đời sống
khích đầu tư và sự tham gia các nguồn lực khác văn hóa, giải trí của cộng đồng, đồng thời cải
nhau. Ví dụ công viên Đa chức năng Văn hoa Gò thiện môi trường nước của dự án Tham lương
Vấp: Kết hợp chức năng giảm ngập với chức Bến cát. Tuy nhiên, việc thực hiện theo cơ chế
năng cảnh quan, khôi phục Đã dạng sinh học và đợi vốn ngân sách, không thể kết hợp các nguồn
văn hóa giải trí cho cộng đồng (do Trung tâm lực đầu tư xây dựng công viên cây xanh, đến nay
Nghiên cứu Kiến trúc, Sở Quy hoạch – Kiến trúc dự án vẫn chưa triển khai thực hiện. Phân tích
tư vấn thực hiện quy hoạch với sự hỗ trợ của dưới đây cho thấy vai trò quan trọng trong tổ
chuyên gia Ngân hàng thế giới, ADB, PADDI).
chức triển khai dự án đối với tiến độ và hiệu quả
thực thi.
33
Quy hoạch và phát triển kè bờ sông Sài Gòn và sông, kênh nội thành và các giải pháp
để hoàn thành cơ bản kè sông Sài Gòn, sông và kênh nội thành vào năm 2025
Hình 6, 7 bên dưới cho thấy một số đề xuất lựa chọn phương án sử dụng đất trong quá trình nghiên
cứu của mô hình Quy hoạch và thực hiện dự án công viên theo hướng xã hội hóa, thí điểm tại Công
viên Văn hóa Gò Vấp:
Hình 6. Nghiên cứu các phương án quy hoạch sử dụng đất công viên theo hướng xã hội hóa.
Nguồn: TTNCKT, Sở QH-KT
Hình 7. Phương án quy hoạch sử dụng đất và phân khu chức năng công viên theo hướng xã hội hóa. Nguồn:
TTNCKT, Sở QH-KT
34
Quy hoạch và phát triển kè bờ sông Sài Gòn và sông, kênh nội thành và các giải pháp
để hoàn thành cơ bản kè sông Sài Gòn, sông và kênh nội thành vào năm 2025
3.2. Tổ chức triển khai các dự án hạ tầng Xanh đô thị
3.2.1 Khung MOTA về mô hình tổ chức thực hiện:
a. Giới thiệu
cũng gây ảnh hưởng gián tiếp đến năng lực
do hậu quả mà nó gây ra đối với các bộ năng
lực. Điều quan trọng phải lưu ý rằng cùng
một nguyên nhân (trigger) có thể đưa đến các
hệ quả khác nhau về động lực và năng lực
cho các đối tượng khác nhau.
Nhận thức (Perception): Đánh giá nhận thức
(Perception) của đối tượng về các nguyên
nhân: Bao gồm hai yếu tố dẫn đến nhận thức
về ngập lụt đô thị (cơ hội hoặc thách thức).
Nếu là thách thức: đối tượng khác nhau sẽ có
ngưỡng nhận thức khác nhau, và mức thách
thức cho đối tượng càng cao sẽ tạo ra nhận
thức càng mạnh; Nếu là cơ hội: cơ hội không
chia đều cho tất cả các đối tượng, và các cơ
hội khác nhau sẽ quyết định nhận thức về
vấn đề khác nhau.
Phương pháp tiếp cận “động lực – năng lực”
(MOTA: motivation – ability) (Hồ Long Phi và nnk
2015; Nguyễn Hồng Quân và nnk, 2019) được xây
dựng cho nghiên cứu như hình vẽ sau. Sau quá trình
đánh giá nhận thức, động lực và năng lực là các sự
can thiệp các giải pháp để nâng cao động lực, năng
lực thích ứng để đối tượng nghiên cứu có hành vi tốt
hơn.
•
NGUYÊN NHÂN
(Trigger)
•
•
Động lực (Motivation): Nhận thức khác nhau
thể hiện động lực để hành động của đối
tượng cũng khác nhau, động lực cho tương
lai như thế nào phụ thuộc vào nhận thức đó
là cơ hội hay thách thức. Nhận thức, động
lực và năng lực có mối liên hệ với nhau và
quyết định hành vi của con người.
Năng lực (Ability): Đánh giá năng lực
(Ability) của việc triển khai thực hiện thực tế
các giải pháp: Các nghiên cứu khác nhau đưa
ra bộ năng lực khác nhau, tuy nhiên theo
cách tiếp cận MOTA thì năng lực của việc
triển khai thực hiện thực tế các giải pháp
gồm 4 năng lực là năng lực tài chính
(fanancial), năng lực kỹ thuật (technical),
năng lực thể chế (institutional) và năng lực
xã hội (social).
Hành vi (Action): chịu tác động bởi yếu tố
động lực và năng lực mà đối tượng đang có.
Các động lực, năng lực khác nhau dẫn đến
các hành vi khác nhau. Các mức độ của động
lực khác nhau dẫn đến các hành động không
đồng bộ; Các năng lực khác nhau sẽ có các
cách thực hiện khác nhau.
Kết
quả
NHẬN THỨC
(Perception)
HÀNH VI
(Action)
ĐỘNG LỰC
NĂNG LỰC
(Motivation)
(Ability)
Hình 8: Phương pháp tiếp cận MOTA
•
•
Nguyên nhân (Trigger): chỉ xác định nguyên
nhân chính yếu gây ra ngập lụt đô thị (vd: đô
thị hóa, cơ sở hạ tầng thoát nước đô thị lỗi
thời). Nguyên nhân sẽ tác động lên nhận thức
(perception) của đối tượng bị ảnh hưởng bởi
nguyên nhân đó, đồng thời nguyên nhân
35
Quy hoạch và phát triển kè bờ sông Sài Gòn và sông, kênh nội thành và các giải pháp
để hoàn thành cơ bản kè sông Sài Gòn, sông và kênh nội thành vào năm 2025
Khung MOTA được sử dụng để đánh giá kết ngang (động lực) là những người ủng hộ / người
quả tiềm năng của một kế hoạch theo ba bước theo và một bên trái là người phản đối. Những
sau: (1) Đánh giá các thành phần con nhận thức, người có động lực và khả năng trên 50% là lãnh
động lực và khả năng đáp ứng với một kích hoạt đạo (nhóm hỗ trợ nhất). Từ kết quả của bản đồ
nhất định; (2) Đánh giá MOTA và lập bản đồ MOTA, theo trục ngang “đông lực”, chúng ta sẽ
MOTA dựa trên phân tích động cơ và khả năng; thấy được sự ủng hộ hoặc không ủng hộ giữa các
và (3) Phân tích tương quan giữa nhận thức- động nhóm từ đó có cách giải quyết hợp lý, xây dựng
cơ và khả năng nhận thức. Thông tin về Nhận sự đồng thuận trước khi triển khai dự án. Bên
thức, Động lực và Khả năng của các bên liên cạnh đó, khi quan sát về năng lực của các nhóm,
quan được sử dụng làm đầu vào cho việc đánh giá theo trục đứng “khả năng”, chúng ta có thể xác
có thể đạt được thông qua khảo sát xã hội (ví dụ định các năng lực hạn chế và tập trung giải quyết.
như bảng câu hỏi, phỏng vấn sâu, họp nhóm tập Kết quả cuối cùng từng công cụ MOTA mang lại
trung). Thông tin này sau đó được bình thường sẽ giúp xây dựng được lộ trình triển khai các giải
hoá thành điểm MOTA. Điểm MOTA có thể pháp, kế hoạch.
được hình dung dưới dạng bản đồ MOTA, mô tả
hướng của các kết quả tiềm năng động lực và khả
năng giữa các bên, minh hoạ tính khả thi của việc
thực hiện. Do có sự khác nhau lớn về động cơ và
khả năng giữa các bên, nên điểm MOTA của họ
có thể khác nhau rất nhiều, nhưng điểm tổng hợp
của hành động tập thể thể hiện tính khả thi của
hành động này và có thể được thể hiện thành 8
nhóm. Hướng ngang thể hiện động lực và chiều
dọc là khả năng. Ở phía bên phải của hướng
Hình 9: Sơ đồ minh họa cho mô hình MOTA
36
Quy hoạch và phát triển kè bờ sông Sài Gòn và sông, kênh nội thành và các giải pháp
để hoàn thành cơ bản kè sông Sài Gòn, sông và kênh nội thành vào năm 2025
b. Các bước áp dụng khung MOTA cho dự án hạn bơi thuyền, nuôi trồng thủy sản như là thú
Công viên Gò Vấp (hoặc các dự án khác)
• Xác định các vấn đề chính cần giải quyết
• Xây dựng các phương án cần lựa chọn để
giải quyết vấn đề
• Xác dịnh bên có liên quan chính trong việc
xây dựng và triển khai dự án (cơ quan quản
lý, nhà đầu tư, doanh nghiệp, các nhóm bị ảnh
hưởng, tác động của dự án)
• Xây dựng bộ bảng hỏi để điều tra
• Tổ chức điều tra, phỏng vấn các bên có
liên quan
• Xử lý số liệu, vẽ biểu đồ MOTA
• Xác định sự đồng thuận và khả năng xây
dựng, triển khai dự án của các bên có liên
quan từ kế quả phân tích MOTA
vui giải trí…), gắn với một số chức năng giải trí,
du lịch cộng đồng, du lịch trang trại vv…
Tuy nhiên, những lợi ích trên cần được
“lượng hóa” và minh bạch trong cơ chế quản lý
và điều tiết lợi ích khi triển khai để thuyết phục
các bên cùng tham gia (VD: tổng diện tích mặt
nước - khối tích trữ nước của công viên góp phần
trữ thế nào so với nhu cầu của toàn đô thị, và giá
trị bất động sản được nâng cao bao nhiêu; mỗi hộ
gia đình có thể được chia sẻ tỷ lệ diện tích bao
nhiêu so với diện tích bất động sản mà họ sở
hữu…).
Thực tế cho thấy, vai trò tổ chức thực hiện dự
án cải tạo chỉnh trang đô thị là vô cùng quan
trọng trong việc đảm bảo quá trình thực thi và
hiệu quả. Một số vấn đề cần quan tâm bao gồm:
• Xây dựng kế hoạch về việc nâng cao sự
đồng thuận, nâng cao năng lực cho các bên có
liên quan
• Đề xuất lộ trình thực hiện, triển khai dự án
trên cơ sở các nguồn lực và năng lực triển
khai
• Trước hết, việc tổ chức phân giao, chỉ đạo
quyết liệt đối với việc xây dựng hạ tầng xanh đa
chức năng cho thành phố, có vai trò quyết định,
đảm bảo kết nối, phối hợp giữa các Sở Ban
Ngành trong một dự án cải tạo chỉnh trang đô thị
đa mục tiêu. Điều này thể hiện tính kiên định
bám sát khung phát triển của thành phố như đã
đề cập bên trên về việc đổi mới phương pháp quy
hoạch và quản lý đô thị.
• Đối với dự án hạ tầng xanh đô thị, khâu quy
hoạch cần lưu tâm khả năng và giải pháp xã hội
hóa, trong đó, việc các định ranh dự án để ưu tiên
quỹ đất và chỉ tiêu quy hoạch là hết sức quan
trọng để dự án có sức hút đầu tư. Song song, cần
xác định ranh dự án theo mục tiêu tích hợp,
không theo mục tiêu thuần túy là xây dựng công
viên như thông lệ vẫn làm, dễ dẫn đến bế tắc,
triển khai chậm do thiếu vốn đầu tư công hoặc
không khả thi do khó mời gọi đầu tư, xã hội hóa.
• Đồng thời, việc xác định các chỉ tiêu cho dự
án và qui trình đấu thầu thực hiện dự án cần được
hiểu và thực hiện đúng ngay từ đầu, tránh những
sai sót về kỹ thuật hoặc pháp lý dẫn đến chậm
hoặc khó triển khai dự án.
3.2.2 Quản lý thực hiện dự án và mô hình
tham dự
Qua một số phân tích và đề xuất đã nêu ở phần
trên, các giải pháp quy hoạch và thiết kế nhằm
xây dựng hệ thống hạ tầng xanh trong đô thị chỉ
khả thi để có thể áp dụng thực tế nếu các bên có
liên quan cùng phối hợp theo một cơ chế họp tác
theo hướng các bên cùng có lợi (nhà đầu tư, đơn
vị quản lý của nhà nước, và cộng đồng). Tìm
kiếm lợi ích chung nhất của tất cả các bên cùng
tham gia làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp
là điều quan trọng mà nhóm tác giả muốn nhấn
mạnh. Hợp tác công tư với sự ủng hộ của cộng
đồng là hướng đi hợp lý, nhưng cần cụ thể hóa
bằng những mục tiêu cụ thể. Lấy ví dụ, giải pháp
đề xuất duy trì hoặc mở rộng diện tích mặt nước
như đã nêu ở trường hợp nghiên cứu trên có thể
đáp ứng và đem lại một số lợi ích cho các bên
như sau:
• Tăng cường khả năng trữ và giữa nước góp
phần giảm cao độ mực nước mặt cho khu vực và
toàn đô thị (liên quan đến chức năng quản lý của
chính quyền địa phương);
• Nâng cao giá trị khai thác về mặt cảnh quan
và công năng sử dụng, góp phần và giá trị kinh
doanh (giá bán) và góp phần tăng uy tín cho nhà
đầu tư;
• Bên cạnh đó, việc thành lập một tổ chức phát
triển đô thị với cơ chế hoạt động có hiệu quả là
một bước làm thực sự cần thiết, nhằm triển khai
một cách làm mới trong tổ chức thực hiện quy
hoạch. Trên thế giới, có nhiều mô hình hợp tác
công tư trong cấu trúc của Ban quản lý dự án đã
thực hiện thành công các khu vực phát trển đô thị
lớn cho thấy sự phối hợp khéo léo giữa nguồn
lực và vai trò trong ban hành và điều phối chính
sách của nhà nước và khối tư nhân với tính năng
• Tạo môi trường kết nối cho các cộng đồng
dân cư trong khu vực thông quan các hoạt động
vui chơi, giải trí, dưới nhiều hình thức (chẳng
37
Quy hoạch và phát triển kè bờ sông Sài Gòn và sông, kênh nội thành và các giải pháp
để hoàn thành cơ bản kè sông Sài Gòn, sông và kênh nội thành vào năm 2025
Tài liệu tham khảo
động, khả năng ra quyết định nhanh chóng, kịp
thời điểm và những kỹ năng quản lý phát triển dự
án. Các dự án hạ tầng xanh đô thị cần được triển
khai có chiến lược, lộ trình và gắn với khung
phát triển của toàn thành phố. Như vậy, nguồn
lực thực hiện sẽ đa dạng hơn và kết quả hình
thành từng bước theo lộ trình khung phát triển,
tạo sự gắn kết và mang tính hệ thống của hạ tầng
không gian cây xanh gắn với mặt nước và những
cảnh quan có sức tái tạo (productive landscape).
1.Nguyễn Trọng Hòa et al., Thực trạng quy hoạch,
quản lý quy hoạch xây dựng đô thị Việt Nam, Tạp chí
Kiến trúc, 8/2012.
2.Huỳnh Thế Du et al., Nghiên cứu Nguôn lực phục
vụ điều chỉnh Quy hoạch chung Thành phố, DPA,
2018.
3.Pablo at el., Quy hoạch đô thị cho Lãnh đạo Thành
phố, UN Habitat, 2014.
4.Phạm Hùng Cường. 2019. “ĐÔ THỊ - NÔNG
THÔN NGOẠI THÀNH TRONG MỐI LIÊN KẾT
KHÔNG GIAN KINH TẾ VÀ KHÔNG GIAN SINH
THÁI”. Trang tin Trường Đại học Xây dựng.
4. Kết luận
Phương pháp quy hoạch và giải pháp triển
khai quy hoạch hệ thống không gian mở - kết
hợp giữa mảng xanh và mặt nước của thành phố
cần có đổi mới, đồng bộ và cải tiến để đảm bảo
tính khả thi khi áp dụng vào việc triển khai các
dự án đô thị nhằm đảm bảo tính đồng bộ và hiệu
quả, góp phần giải quyết những bài toán chiến
lược về phát triển bền vững cho thành phố. Giải
pháp hạ tầng xanh có thể được nghiên cứu ứng
dụng từng bước, nhằm xây dựng một hệ thống hạ
tầng đa chức năng, làm nền tảng cho các giải
5.Balica S. F., Wright N. G. and Van deu Meulen F.
(2012). A flood vulnerability index for coastal cities
and its use in assessing climate change impacts. Nat
Hazards (2012) 64, pp. 73–105, DOI 10.1007/s11069-
012-0234-1
6.Berkes F. (2007). Understanding Uncertainty and
Reducing Vulnerability: Lessons from Resilience
Thinking. Natural Hazards 41 (2): pp. 283–295. DOI
10.1007/s11069-006-9036-7
pháp cân bằng mực nước góp phần giảm thiểu rủi 7.Desouza K. C. and Flanery T. H (2013). Designing,
Planning, and Managing Resilient Cities:
Conceptual Framework. Cities, vol. 35, pp. 89-99.
DOI 10.1016/j.cities.2013.06.003
A
ro về ngập lụt, tác động của biến đổi khí hậu và
thảm họa môi trường.
Việc triển khai các giải pháp hạ tầng xanh cần
từng bước lồng ghép vào các dự án quy hoạch,
nâng cấp đô thị theo các quy mô khác nhau,
8.Duy P. N., Chapman L., Tight M., Thuong L. V.,
and Linh P. N. (2017a). Increasing Vulnerability to
Floods in New Development Areas: Evidence from
Ho Chi Minh City. International Journal of Climate
Change Strategies and Management, Vol. 10 (1),
pp.197-212. Emerald. DOI: 10.1108/IJCCSM-12-
2016-0169
thông
qua
một
khung
thực
hiện
(“IMPLIMENTATION FRAMEWORK”) được
đánh giá một cách tổng hợp, với sự tham gia của
các bên có liên quan, căn cứ vào các nguồn lực
tài chính, các ràng buộc về mặt thể chế, chính
sách, và lộ trình thực thi phù hợp. Công tác quy
hoạch đô thị cần tiếp cận những phương pháp
mới và vận dụng phù hợp vào thực tiễn Thành
phố Hồ Chí Minh. Quá trình lập đồ án quy hoạch
cần song song nghiên cứu các cơ chế tạo nguồn
lực cho quá trình thực thi quy hoạch.
9.Duy P. N., Chapman L., Tight M., Thuong L. V.,
and Linh P. N. (2017b). Urban Resilience to Floods in
Coastal Cities: Challenges and Opportunities for Ho
Chi Minh City and other Emerging Cities in Southeast
Asia. Journal of Urban Planning and Development,
Vol.
44
(01),
ASCE.
DOI:
10.1061/%28ASCE%29UP.1943-5444.0000419
10.Duy P. N., Chapman L., Tight M. (2019). Resilient
Transport System to Reduce Urban Vulnerability to
Floods: A Case Study of Ho Chi Minh City, Vietnam.
Travel Behavior and Society, Vol 15 (2019), pp. 28 –
43. Elsevier. DOI: 10.1016/j.tbs.2018.11.001
Song song với đổi mới phương pháp lập quy
hoạch, Thành phố cần kiến thiết bộ máy tổ chức
triển khai các dự án đô thị phù hợp với định
hướng đổi mới trong cách lập và tổ chức thực
hiện các chương trình, kế hoạch phát triển đô thị,
nhằm đảm bảo có sự phối hợp chặt chẽ giữa các
bên. Các cơ quan quản lý cần kịp thời, linh động,
chủ động trong việc huy động nguồn lực, điều
phối kết hợp các nguồn lực khác nhau như sự
tham gia của doanh nghiệp, cộng đồng và các
bên liên quan, nhằm đảm bảo dự án được triển
khai một cách khoa học và hiệu quả nhất.
11.Holling C. S. (1973). Resilience and Stability of
Ecological Systems. Annual review of Ecology and
Systematic,
vol.
4,
pp.
1-23.
DOI
10.1146/annurev.es.04.110173.000245
12.Holling, C. S. (1996). Engineering Resilience
versus Ecological Resilience, in Schulze P. C (pp. 31-
38
Quy hoạch và phát triển kè bờ sông Sài Gòn và sông, kênh nội thành và các giải pháp
để hoàn thành cơ bản kè sông Sài Gòn, sông và kênh nội thành vào năm 2025
43, ed). Engineering within ecological constraints.
National Academy Press, Washington D.C., USA.
13.Liao K. H (2012). A Theory on Urban Resilience
to Floods-A Basis for Alternative Planning Practices.
Ecology and Society 17(4): 48. The Resilience
Alliance, DOI 10.5751/ES-05231-170448
14.Turner B. L., Kasperson R. E., Matson P. A,
McCarthy J. J. , Corell R. W., Christensen L., Eckley
N., Kasperson J. X., Luers A., Martello M. L., Colin
Polsky C., Pulsipher A., and Schiller A. (2003). A
Framework
for
Vulnerability
Analysis
in
Sustainability Science. Proceedings of the National
Academy of Sciences of the United States of America,
Vol. 100 (14), pp. 8074-8079 [Peer Reviewed
Journal]. DOI: 10.1073/pnas.1231335100
15.Zevenbergen C., Veerbeek W., Gersonius B., and
VanHerk S. (2008). Challenges in UMF - Travelling
Across Spatial and Temporal Scales. Flood Risk
Management
1
(2008),
pp.
81–88,
DOI:10.1111/j.1753-318X.2008.00010.x
16.Hong Quan Nguyen, Mohanasundar
Radhakrishnan, Thi Kim Ngan Bui, Huu Loc Ho,
Long Phi Ho, Viet Thanh Tong, Luu Trung Phung
Huynh, Duc Dung Tran, Nguyen Xuan Quang Chau,
Thi Thu Trang Ngo, Assela Pathirana, 2019.
Evaluation of retrofitting responses on urban flood in
Ho Chi Minh City using Motivation and Ability
(MOTA) framework. Sustainable cities and Society,
47:101465 DOI: 10.1016/j.scs.2019.101465
17.Ho, L. P., L. M. Hermans, W. J. A. M. Douven, G.
E. Van Halsema, and M. F. Khan. 2015. “A
Framework to Assess Plan Implementation Maturity
with an Application to Flood Management in
Vietnam.” Water International 40: 984–1003.
doi:10.1080/02508060.2015.1101528.
winners-rebuild-design-competition.html/
xu-huong-phat-trien-tat-yeu-cua-nhung-khu-do-thi-
lon-3289857/
http://ktqh.nuce.edu.vn/do-thi-nong-thon-ngoai-thanh-
trong-moi-lien-ket-khong-gian-kinh-te-va-khong-
gian-sinh-thai.htm
tang-xanh-huong-di-thich-hop-voi-tphcm-
195230.html
39
Bạn đang xem tài liệu "Chuyển đổi đô thị dựa trên giá trị sông Rạch: Hướng tiếp cận quy hoạch thực thi tích hợp và xây dựng hạ tầng xanh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
chuyen_doi_do_thi_dua_tren_gia_tri_song_rach_huong_tiep_can.pdf

