Thực trạng quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa của các cộng đồng dân tộc trên địa bàn huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình

Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn  
pISSN: 2588-1191; eISSN: 2615-9708  
Tập 130, Số 3A, 2021, Tr. 99–112; DOI: 10.26459/hueunijard.v130i3A.5929  
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT NGHĨA TRANG,  
NGHĨA ĐỊA CỦA CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC TRÊN  
ĐỊA BÀN HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH  
Trần Thị Phượng*, Đặng Thị Minh Chinh, Châu Võ Trung Thông,  
Nguyễn Bích Ngọc, Hồ Việt Hoàng  
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế, 102 Phùng Hưng, Huế, Việt Nam  
Tóm tắt: Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng quản lí và sử dụng đất nghĩa trang,  
nghĩa địa (đất NTD) của các cộng đồng dân tộc trên địa bàn huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Nghiên cứu  
đã thực hiện tham vấn ý kiến của chính quyền địa phương về thực trạng quản lý và sử dụng đất NTD ở  
huyện Minh Hóa; phỏng vấn 160 hộ dân người dân tộc Kinh, Chứt và Bru-Vân Kiều theo phương pháp lựa  
chọn ngẫu nhiên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tình trạng chôn cất trái quy định vẫn còn xảy ra; việc cắm  
mốc đất NTD chưa được thực hiện trên địa bàn nhiều xã; việc quản lý và di dời giải tỏa mồ mả xen lẫn trong  
các loại đất khác còn nhiều bất cập. Việc lựa chọn kiến trúc xây dựng, diện tích lăng mộ, lựa chọn địa điểm  
chôn cất và phong tục táng gần giống nhau giữa người Kinh với người Chứt, nhưng lại rất khác với cộng  
đồng người Bru-Vân Kiều. Từ thực trạng quản lý đất NTD của các xã, nghiên cứu này đã đề xuất được một  
số giải pháp quản lý và sử dung đất NTD phù hợp với tình hình thực tiễn của huyện Minh Hóa.  
Từ khóa: đất nghĩa trang, đất nghĩa địa, cộng đồng dân tộc, sử dụng đất, Quảng Bình  
The current management and use of cemetery and graveyard land  
of ethnic communities in Minh Hoa district, Quang Binh province  
Tran Thi Phuong*, Dang Thi Minh Chinh, Chau Vo Trung Thong,  
Nguyen Bich Ngoc, Ho Viet Hoang  
University of Agriculture and Forestry, Hue University, 102 Phung Hung St., Hue, Viet Nam  
Abstract: This research was conducted to assess the current management and use of cemetery and graveyard  
land of ethnic communities in Minh Hoa district, Quang Binh province. The study carried out consultation  
with local authorities on cemetery and graveyard land management and use of ethnic communities; there  
are 160 households from Kinh, Chut and Bru-Van Kieu ethnic communities were interviewed based on a  
random selection method. The research results show that illegal burial is still happening; land landmark for  
graveyard areas has not been implemented in almost communes; management and relocation of tombs and  
Nhận bài: 17–7–2020; Hoàn thành phản biện: 10–9–2020; Ngày nhận đăng: 11–9–2020  
Trần Thị Phượng và CS.  
Tập 130, Số 3A, 2021  
graves mixed in other land use types are still happens. The choice of construction model, tomb area, burial  
site selection and burial customs are almost similar between the Kinh and the Chut community, but very  
different from the Bru-Van Kieu community. From the current situation of land management in the district,  
this study has proposed a number of solutions for managing and using cemetery and graveyard land in  
accordance with the practical situation of ethnic community in Minh Hoa district.  
Key words: cemetery land, graveyard, land use, ethnic community, Quang Binh  
1
Đặt vấn đề  
Đất nghĩa trang, nghĩa địa (đất NTD) đang trở thành vấn đề lớn và cần quan tâm của đô  
thị Việt Nam [3]. Khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu của người dân tăng cao thì vấn đề lễ nghĩa  
càng được xem trọng. Chính vì thế, một bộ phận không nhỏ người dân có thu nhập cao đòi hỏi  
đất sử dụng cho mục đích chôn cất người thân của mình cũng phải xứng tầm, đây cũng chính là  
nguyên nhân dẫn đến hiện tượng xây dựng tự phát những ngôi mộ xa hoa, giá trị hàng tỷ đồng  
ở nhiều địa phương hay trong các công viên nghĩa trang mới hình thành [3]. Trong khi đó, những  
người có thu nhập thấp, những người nghèo lại chôn thân nhân của mình tại những nghĩa trang,  
nghĩa địa không phù hợp quy hoạch vì chi phí phù hợp với khả năng chi trả của họ [4]. Từ đó,  
công tác quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất NTD gặp nhiều khó khăn. Theo nghiên cứu  
của tác giả Trần Thiện Phong, năm 2010 cả nước có 101.064 ha đất NTD chiếm 0,3% diện tích đất  
toàn quốc, tăng 4.013 ha so với kỳ kiểm kê năm 2005. Riêng thành phố Hồ Chí Minh có 951 ha  
đất NTD, thành phố Hà Nội có 2.893 ha đất NTD vào năm 2010 [8]. Năm 2010, Sở Tài nguyên và  
Môi trường tỉnh Hải Dương đã thực hiện nghiên cứu làm rõ hiện trạng và xây dựng quy hoạch  
sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa của tỉnh Hải Dương đến năm 2010. Qua đó, đưa ra các giải  
pháp nhằm quản lý chặt chẽ, có hiệu quả, đồng thời sử dụng tiết kiệm đất và đảm bảo vệ sinh  
môi trường [2]. Tác giả Vũ Thị Ngọc Hiền đã thực hiện nghiên cứu thực trạng và đánh giá hiệu quả  
quản lý, sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn thành phố Hà Nội. Qua đó, đề xuất các giải  
pháp quản lý, sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa hiệu quả, tiết kiệm, bảo tồn và phát huy nét đẹp văn  
hóa truyền thống và phù hợp với văn minh thời đại [3]. Các nghiên cứu này chủ yếu được thực hiện  
ở địa bàn chủ yếu là người Kinh sinh sống, hiện vẫn còn rất thiếu những nghiên cứu ở những địa  
bàn có cộng đồng người dân tộc thiểu số sinh sống.  
Huyện Minh Hóa là huyện miền núi vùng cao nằm về phía Tây Bắc tỉnh Quảng Bình.  
Ngoài dân tộc Kinh chiếm đa số thì đây là nơi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống  
(hiện có 2.741 hộ, chiếm 20,3% số hộ toàn huyện) [5]. Ở đây, người dân tộc thiểu số chủ yếu là các  
dân tộc Bru – Vân Kiều và dân tộc Chứt. Chính vì vậy, phong tục tập quán trong sử dụng đất  
NTD của họ cũng có nhiều khác biệt. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số thì rừng đóng vai trò rất  
quan trọng, họ có những khu rừng thiêng phục vụ về mục đích tâm linh, tín ngưỡng, cũng như  
100  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 130, Số 3A, 2021  
người Kinh có đền thờ, nhà thờ dòng họ. Chính vì điều này, tình hình quản lý và sử dụng đất  
nghĩa trang, nghĩa địa ở đây khá phức tạp [6]. Bài báo này được thực hiện nhằm mục đích đánh  
giá thực trạng quản lí và sử dụng đất NTD của các cộng đồng dân tộc trên địa bàn huyện Minh  
Hóa, tỉnh Quảng Bình phục vụ cho công tác quy hoạch đất NTD một cách hợp lý, đảm bảo về mỹ  
quan và phát triển bền vững về môi trường.  
2
Phương pháp nghiên cứu  
2.1  
Phương pháp điều tra, thu thập số liệu  
Thu thập số liệu thứ cấp  
Nghiên cứu đã tiến hành thu thập các số liệu thứ cấp tại các cơ quan, ban ngành chuyên  
môn, UBND huyện Minh Hóa, Phòng Tài nguyên và Môi trường và các xã để phục vụ đề tài  
nghiên cứu. Các số liệu thu thập được bao gồm: Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của  
khu vực nghiên cứu; Số liệu về thống kê đất đai, tình hình biến động đất nghĩa trang, nghĩa địa  
(NTD); Tài liệu, số liệu về quy hoạch đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn tỉnh và huyện Toàn  
bộ số liệu điều tra,thu thập vào năm 2019.  
Thu thập số liệu sơ cấp  
Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi bán cấu trúc  
Nghiên cứu tiến hành lập bảng câu hỏi, phỏng vấn điều tra các đối tượng: Cán bộ phòng  
Tài nguyên và Môi trường huyện Minh Hóa; Cán bộ Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất  
huyện Minh Hóa; cán bộ địa chính TNMT của 16 xã/thị trấn để thu thập thông tin về tình hình  
quản lý đất, sử dụng đất, giải tỏa, di dời đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn nghiên cứu; Ban  
quản lý nghĩa trang để nắm bắt được thực trạng quy hoạch, quản lý và sử dụng các nghĩa trang  
trên địa bàn nghiên cứu. Ngoài ra, nghiên cứu đã phỏng vấn 160 hộ dân ngẫu nhiên trên 16 xã,  
thị trấn (mỗi xã chọn ngẫu nhiên 10 hộ) thông qua bảng hỏi bán cấu trúc đã được thiết kế sẵn để  
thu thập thông tin về thực trạng sử dụng đất NTD.  
Phương pháp phỏng vấn sâu  
Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu các già làng là những người am hiểu sâu về phong  
tục tập quán an táng và những hình thức táng mới cũng như là người có tiếng nói quyết định về  
việc chôn cất trong cộng đồng dân tộc trên địa bàn huyện Minh Hóa. Nội dung phỏng vấn sâu  
tập trung vào tìm hiểu phong tục táng của các cộng đồng dân tộc Kinh, Chứt và Bru – Vân Kiều  
trên địa bàn huyện Minh Hóa.  
101  
Trần Thị Phượng và CS.  
Tập 130, Số 3A, 2021  
Phương pháp khảo sát thực địa  
Phương pháp này được sử dụng để khảo sát thực trạng kiến trúc xây dựng lăng, mộ, vị trí  
chôn cất để nắm rõ phong tục tập quán an táng và những hình thức táng của các cộng đồng người  
dân tôc Kinh, dân tộc Chứt và Bru-Vân Kiều.  
2.3  
Phương pháp phân tích, xử lý số liệu  
Các tài liệu thu thập được đưa vào máy tính, dùng phần mềm Excel để tổng hợp và xử lý  
số liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập được, dựa trên các tiêu chí của bảng hỏi đã thiết kế sẵn để tổng  
hợp.Trên cơ sở các số liệu và tài liệu đã thu thập được dùng để đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh  
tế - xã hội; hiện trạng sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa.  
3
Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1  
Cơ cấu sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn toàn huyện Minh Hóa, tỉnh  
Quảng Bình  
Theo số liệu thống kê đất đai năm 2019, huyện Minh Hóa có tổng diện tích đất tự nhiên là  
139.375,4 ha. Trong đó, diện tích đất nghĩa trang, nghĩa địa (NTD) chiếm 275,4 ha, chiếm 0,2%  
diện tích đất tự nhiên toàn huyện.  
Qua số liệu ở bảng 1 cho thấy, diện tích đất NTD phân bố ở khắp các xã trên địa bàn huyện  
và chiếm tỷ lệ khác nhau. Thị trấn Quy Đạt có tỷ lệ đất NTD so với tổng diện tích đất tự nhiên  
cao nhất, chiếm 2,6%, thấp nhất là xã Dân Hóa với tỷ lệ chỉ 0,02% (không kể xã Trọng Hóa không  
có đất NTD). Các xã có tỷ lệ đất nghĩa trang, nghĩa địa lớn so với diện tích đất nghĩa trang, nghĩa  
địa toàn huyện như: xã Trung Hóa và xã Xuân Hóa vì hai xã này nằm xa khu vực trung tâm, địa  
hình đồi núi là chủ yếu, diện tích dành cho đất NTD còn nhiều; trong khi các xã/thị trấn còn lại  
diện tích đất NTD chiếm tỷ lệ thấp hơn vì các xã/thị trấn này thuộc khu vực khu trung tâm huyện,  
địa hình đồng bằng chủ yếu và quỹ đất dành cho NTD không nhiều, quỹ đất chủ yếu tập trung  
dành cho phát triển kinh tế huyện. Hiện nay, trên địa bàn huyện Minh Hóa chỉ thực hiện giao đất  
cho đúng một tổ chức, đó là: Nghĩa trang liệt sỹ huyện Minh Hóa nằm ở xã Yên Hóa, huyện Minh  
2
Hóa, tỉnh Quảng Bình với diện tích là 12.100 m , gồm 749 mộ liệt sỹ có quê quán trên khắp mọi  
miền đất nước đã được UBND huyện giao cho phòng Lao động Thương binh và Xã hội quản lý.  
Theo đó nghĩa trang mới được tu sửa, tôn tạo và khánh thành vào ngày 22/12/2019. Theo quy  
định tại nghị định 23/2016/NĐ-CP thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo Ủy ban  
nhân dân theo phân cấp quản lý, các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan thực hiện việc cải tạo,  
đóng cửa, di chuyển các nghĩa trang và các phần mộ riêng lẻ trên địa bàn do mình quản lý. Tuy  
nhiên, trên địa bàn huyện Minh Hóa chưa có quy hoạch chi tiết về khu vực chôn cất. Vì vậy, vấn  
102  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 130, Số 3A, 2021  
đề sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa mang tính tự phát, dựa trên điều kiện, ý muốn cũng như  
phong tục tập quán của người dân.  
Bảng 1. Hiện trạng sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn huyện Minh Hóa (Đơn vị tính: ha)  
Hiện trạng sử dụng đất năm 2019  
Tỷ lệ so với Tỷ lệ so với  
diện tích tự NTD toàn  
STT  
Đơn vị hành chính  
Huyện Minh Hóa  
Diện tích đất  
tự nhiên  
Diện tích đất nghĩa  
trang, nghĩa địa (NTD)  
275,4  
nhiên  
huyện  
139.375,4  
0,20  
2,59  
0,00  
0,02  
0,24  
0,22  
0,09  
0,40  
0,45  
1,07  
0,67  
0,48  
0,30  
0,05  
1,63  
0,60  
0,04  
100  
7,52  
0,00  
1,45  
2,61  
5,56  
1,09  
3,81  
8,42  
15,65  
7,77  
5,88  
7,73  
3,12  
4,32  
19,93  
5,12  
1
2
Thị trấn Quy Đạt  
Xã Trọng Hóa  
Xã Dân Hóa  
Xã Hóa Phúc  
Xã Hồng Hóa  
Xã Hóa Thanh  
Xã Hóa Tiến  
Xã Hóa Hợp  
Xã Xuân Hóa  
Xã Yên Hóa  
798,10  
17452,30  
19047,90  
3028,80  
6948,00  
3316,30  
2632,10  
5184,40  
4035,80  
3186,30  
3397,10  
7185,10  
17758,40  
729,10  
20,70  
0,00  
3
4,00  
4
7,20  
5
15,30  
3,00  
6
7
10,50  
23,20  
43,10  
21,40  
16,20  
21,30  
8,60  
8
9
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
Xã Minh Hóa  
Xã Tân Hóa  
Xã Hóa Sơn  
Xã Quy Hóa  
Xã Trung Hóa  
Xã Thượng Hóa  
11,90  
54,90  
14,10  
9201,30  
35474,30  
Nguồn: Thống kê đất đai huyện Minh Hóa, 2019  
Thực trạng quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn huyện Minh Hóa  
3.2  
Thực trạng quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa theo kết quả tham vấn ý kiến chính quyền địa  
phương  
Nghiên cứu đã tiến hành tham vấn ý kiến của cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường  
huyện Minh Hóa và cán bộ địa chính của toàn bộ các xã/thị trấn về vấn đề quản lý đất NTD. Vấn  
đề nổi cộm và đáng quan tâm về đất NTD trên địa bàn huyện là thực trạng chôn cất trái quy  
định; khoanh vùng cắm mốc; việc di dời giải tỏa mồ mả xen lẫn trong đất canh tác, khu dân cư;  
Di dời giải tỏa nghĩa trang, nghĩa địa. Do phong tục tập quán của người dân cũng như lịch sử  
103  
Trần Thị Phượng và CS.  
Tập 130, Số 3A, 2021  
lâu đời nên việc hình thành và phân bố các khu vực nghĩa địa mang tính tự phát, chưa hợp lý,  
số mộ nằm rải rác còn nhiều. Việc quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa chưa được quan tâm đúng  
mức nên hoạt động chôn cất trái quy định vẫn còn diễn ra nhiều, gây khó khăn cho việc quản  
lý. Các xã/ thị trấn thiếu sự quản lý và chưa có quy hoạch chi tiết nên việc chôn cất còn tùy tiện,  
xen lẫn với các loại hình sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp, gây khó khăn trong việc quản lí  
đất NTD. Minh Hóa là huyện miền núi, có dân tộc thiểu số sinh sống với nhiều tập tục lạc hậu  
nên công tác quản lý đất NTD còn gặp rất nhiều khó khăn.  
Nguyên nhân của thực trạng chôn cất trái quy định ở địa bàn huyện là bởi đây là tập tục  
đã có từ lâu đời. Hơn nữa, người dân thường tiến hành đào huyệt và chôn cất vào ban đêm nên  
chính quyền địa phương rất khó nắm bắt và có biện pháp xử lý kịp thời. Trong khi đó, các văn  
bản pháp lý chưa có quy định cụ thể nào về việc xử lý các hành vi chôn cất trái phép đối với cộng  
đồng người dân tộc thiểu số. Do đó, chính quyền địa phương chỉ xử lý bằng hình thức buộc lấp  
huyệt khi chưa được chôn cất, nhắc nhở hoặc lập biên bản đình chỉ việc chôn cất khi phát hiện  
người dân đang đào huyệt mộ, riêng đối với những trường hợp người dân đã đưa linh cữu tới  
mai táng thì không có biện pháp xử lý. Kết quả tổng hợp từ phiếu phỏng vấn cho thấy, tình trạng  
chôn cất trái quy định diễn ra đặc biệt nghiêm trọng ở các xã biên giới, ở các vùng dân tộc thiểu  
số của huyện. Đây chính là vấn đề khó khắn và cũng là thách thức đã và đang xảy ra ở huyện  
Minh Hóa nhiều năm, nhưng đến hiện tại vẫn chưa có giải pháp khắc phục.  
Theo kết quả tham vấn ý kiến cho thấy, người dân chưa nhận được thông tin về vùng nào là  
đất nghĩa địa có thể được phép chôn cất, vùng đất nào không được phép chôn cất. Vì vậy, họ thấy  
chỗ nào đất còn trống là lựa chọn để xây dựng lăng mộ mà không xin phép hay báo cáo với chính  
quyền địa phương. Kết quả khảo sát thực địa của nhóm nghiên cứu cho thấy, chỉ có xã Yên Hóa  
và thị trấn Quy Đạt là có cắm mốc cấm chôn cất ở một số điểm, còn đa số các xã còn lại vẫn chưa  
thực hiện việc cắm mốc đúng quy định.  
Mặc dù chủ trương của huyện là quy tập, di dời các khu vực có mồ mả xen lẫn trong đất  
canh tác, đất khu dân cư để đưa vào các nghĩa địa đã được khoanh vùng và nghĩa trang đã được  
quy hoạch. Tuy nhiên trên thực tế các khu mồ mả được di dời hầu hết là nằm trong khu vực thuộc  
các dự án phát triển, chưa có quy hoạch chi tiết di dời mồ mả cho các xã/thị trấn. Theo số liệu ở  
bảng 2 cho thấy có 14 xã/thị trấn đã và đang thực hiện việc di dời giải tỏa mồ mả xen lẫn trong  
đất canh tác, khu dân cư. Tuy nhiên việc di dời chủ yếu là do các hộ dân tự thực hiện một cách  
riêng lẻ, không theo kế hoạch chung của toàn huyện. Riêng xã Dân Hóa và xã Trọng Hóa không  
thực hiện việc di dời do 2 xã này chủ yếu là địa bàn sinh sống của người dân tộc thiểu số, với  
phong tục chôn cất một lần. Đối với việc di dời, giải tỏa các khu nghĩa địa tập trung thì chỉ có Thị  
trấn Quy Đạt là đã có thực hiện theo dự án phát triển, còn các xã khác thì không.  
104  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 130, Số 3A, 2021  
Di dời giải tỏa  
Bảng 2. Thực trạng quản lý hoạt động chôn cất tại các xã/thị trấn  
Thực trạng  
Xã/thị trấn của Huyện  
Minh Hóa  
Di dời giải tỏa mồ  
STT  
Chôn cất trái Khoanh vùng,  
mả xen lẫn trong đất  
canh tác, khu dân cư  
nghĩa trang,  
nghĩa địa  
quy định  
cắm mốc  
-
-
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Xã Hồng Hóa  
-
-
-
-
Xã Yên Hóa  
-
Thị trấn Quy Đạt  
Xã Xuân Hóa  
Xã Minh Hóa  
Xã Trung Hóa  
Xã Hóa Hợp  
Xã Hóa Sơn  
-
-
-
-
-
-
-
-
Xã Thượng Hóa  
-
-
10 Xã Hóa Tiến  
11 Xã Trọng Hóa  
12 Xã Tân Hóa  
13 Xã Quy Hóa  
14 Xã Dân Hóa  
15 Xã Hóa Thanh  
16 Xã Hóa Phúc  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
* Ghi chú: Dấu là có diễn ra  
Nguồn: Kết quả tham vấn ý kiến, 2020  
Từ thực trạng quản lý đất NTD của các xã/thị trấn, nhóm thực hiện nghiên cứu này đã tiến  
hành tham vấn ý kiến của chính quyền địa phương về các giải pháp quản lý phù hợp với tình  
hình thực tiễn của huyện, một số giải pháp cụ thể: Cần có các quy định về việc cấm mở rộng thêm  
diện tích đất nghĩa địa nằm ngoài quy hoạch; Cần có chế tài xử phạt đối với người dân lấn chiếm  
đất nghĩa địa; Tuyên truyền, phổ biến cho người dân ý thức việc chôn cất đúng quy định, không  
thực hiện tạo mộ gió, mở rộng lăng mộ và lấn chiếm đất NTD trái quy định thông qua các cuộc  
họp dân; Chính quyền địa phương cần công khai thông tin về các khu đất được phép và không  
được phép chôn cất cho người dân biết; Các đơn vị có liên quan cần tăng cường công tác kiểm  
tra, giám sát việc thực hiện quy định về sử dụng đất NTD.  
105  
Trần Thị Phượng và CS.  
Tập 130, Số 3A, 2021  
Tình hình quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa thông qua phỏng vấn ý kiến người dân  
Về kiến trúc xây dựng lăng, mộ  
Kiến trúc xây dựng lăng mộ trên địa bàn huyện Minh Hóa chủ yếu dựa vào phong tục tập  
quán. Việc sử dụng đất NTD, tùy điều kiện kinh tế của mỗi hộ gia đình mà kiến trúc lăng mộ  
được xây dựng khác nhau (Hình 1). Sự thiếu đồng bộ về kiến trúc đã dẫn đến sự phức tạp trong  
quản lý, làm mất mỹ quan chung trên địa bàn, chưa tuân theo quy định tại nghị định 23/2016/NĐ-  
CP [1].  
Về định mức diện tích xây dựng lăng, mộ  
Định mức sử dụng đất NTD đã được quy định tại Quyết định số 25/2014/QĐ- UBND  
ngày 14/10/2014 của UBND tỉnh Quảng Bình về việc Quy định hạn mức giao đất NTD trên địa  
bàn tỉnh [5]. Theo đó, diện tích sử dụng đất cho mỗi mộ chôn cất 1 lần hoặc mộ hung táng là 5  
2
2
m . Diện tích sử dụng đất cho mỗi mộ cát táng là 3 m . Tuy nhiên, trên thực tế đa số người dân  
vẫn chưa quan tâm và thực hiện theo đúng quy định này. Tùy vào quỹ đất và điều kiện kinh  
tế gia đình mà người dân xây dựng lăng mộ có diện tích lớn hoặc nhỏ. Kết quả phỏng vấn hộ  
cho thấy: có 88,75 % hộ dân (tương ứng 142 hộ vượt diện tích; 18 hộ chưa chạm ngưỡng diện  
tích thực hiện việc chôn cất) tại các địa điểm tự phát, các nghĩa địa dòng họ hay nghĩa địa chung  
mà không có quy hoạch cụ thể, diện tích lăng mộ, xây cất một cách tự do; chỉ có 11,25% hộ dân  
là tuân thủ quy định về định mức diện tích lăng, mộ, lý do các hộ này thành phần chủ yếu là  
cán bộ, người am hiểu về các quy định của pháp luật trong việc sử dụng quỹ đất NTD ở địa  
phương.  
74%  
80  
70  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
26%  
0%  
Theo quy định Theo tập quán Theo điều kiện, ý  
chung địa phương muốn hộ gia đình  
0%  
Ý kiến khác  
Hình 1. Ý kiến người dân về kiến trúc xây dựng lăng, mộ  
106  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 130, Số 3A, 2021  
11.25%  
Theo quy định  
Không theo quy định  
88.75%  
Hình 2. Ý kiến người dân về tuân thủ định mức diện tích xây dựng lăng, mộ  
Về địa điểm chôn cất  
Số liệu ở hình 3 cho thấy, đa số người dân đều lựa chọn địa điểm chôn cất theo kiểu tự phát  
(66%), không có hộ dân nào lựa chọn chôn cất tại nghĩa trang, nghĩa địa chung của UBND. Số còn  
lại lựa chọn chôn cất tại nghĩa địa của dòng họ với 29% và có 5% hộ dân lựa chọn chôn cất ở tại  
đất nằm trong khuôn viên của gia đình. Nguyên nhân của thực trạng này là do chính quyền địa  
phương ở một số xã vẫn chưa tiến hành cắm mốc quy định cấm chôn cất, các nghĩa trang chung  
của UBND nằm ở vị trí khá xa, điều kiện đi lại khó khăn, thủ tục xin phép còn rườm rà, không  
đủ kinh phí để nộp cho khoản tiền xin đất NTD; người dân muốn lựa chọn vị trí gần nhà hoặc  
nương rẫy của họ để thuận tiện cho việc đi lại hương khói, thăm viếng. Đây chính là những  
nguyên nhân dẫn đến thực trạng sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa manh mún và phức tạp như  
bây giờ.  
66%  
70  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
29%  
5%  
0%  
NTD chung  
của UBND  
Nghĩa địa  
dòng họ  
Đất chọn tự Địa điểm khác  
phát  
Hình 3. Ý kiến của người dân về lựa chọn địa điểm chôn cất  
Về thực trạng đất nghĩa trang, nghĩa địa xen lẫn các loại hình sử dụng đất khá  
Đất nghĩa trang, nghĩa địa xen lẫn với loại hình sử dụng đất khác, phổ biến là đất lâm  
nghiệp, với 49% ý kiến. Có 32,5% ý kiến thể hiện đất NTD có xen lẫn đất nông nghiệp và có 7,5%  
ý kiến người dân cho rằng cạnh gia đình họ sinh sống, đất NTD có xen lẫn đất ở. Còn lại 11% ý  
107  
Trần Thị Phượng và CS.  
Tập 130, Số 3A, 2021  
kiến người dân cho rằng, lân cận gia đình họ không có xen lẫn đất NTD hoặc các khu nghĩa địa  
nằm tập trung theo từng cụm, không xen lẫn các loại đất khác.  
60  
49%  
50  
40  
32,5%  
30  
20  
11%  
7,5%  
10  
0
0%  
Đất đô thị Đất lâm Loại hình Không xen  
nghiệp khác lẫn  
0%  
Đất nông  
nghiệp  
Đất ở  
Hình 4. Ý kiến của người dân về đất nghĩa trang, nghĩa địa xen lẫn các loại hình sử dụng đất  
Phong tục tập quán an táng và xu thế an táng mới trên địa bàn huyện Minh Hóa  
3.3  
Phong tục tập quán an táng và xu thế sử dụng những hình thức táng mới của dân tộc Kinh  
Về phong tục tổ chức tang lễ: Đối với người chết từ tuổi trưởng thành trở lên, khi chết ở  
nhà thường được tổ chức tang lễ tại gia đình, sau thời gian 24–36 giờ thì gia đình đưa tiễn người  
chết về nơi an nghỉ cuối cùng tại khu vực chôn cất theo phong tục tập quán của địa phương. Đối  
với người chết tại bệnh viện hoặc do tai nạn, thường được tổ chức tang lễ tại nhà chờ, ngoài sân  
nhà hoặc khu đất trống của khu vực chôn cất. Vì theo quan niệm của người dân, những người  
chết ở nơi khác đưa về nhà thì người thân sẽ gặp những điều không may mắn. Tuy nhiên, thời  
gian gần đây, nhiều nơi đã đưa về gia đình để tổ chức tang lễ và tưởng niệm cho người chết. Đối  
với những người chết trẻ hoặc chết do mắc các bệnh truyền nhiễm, việc tổ chức tang lễ cũng  
thường được tổ chức tại gia đình nhưng thời gian tổ chức thường trong vòng 24 giờ sau khi chết,  
thậm chí có những nơi nếu trẻ em chết ở bệnh viện thì đưa thẳng về nghĩa trang, nghĩa địa chôn  
cất luôn, không đưa về gia đình kể cả ban đêm.  
Về phong tục táng người chết: Sau khi tổ chức tang lễ tại gia đình, người chết được đưa  
đi chôn cất tại khu vực nghĩa trang, nghĩa địa theo quy định của địa phương. Đối với một số  
người có quê quán ở vùng khác hoặc theo mong muốn của người chết hoặc thân nhân người chết  
mà việc chôn cất người thường được đưa về nghĩa trang, nghĩa địa quê nhà, nhiều người được  
đưa về quê để chôn cất với ý niệm được về với ông bà tổ tiên. Người Kinh ở Minh Hóa có tập  
quán táng người chết chủ yếu theo hai hình thức: chôn 1 lần vĩnh viễn, không cải táng và chôn  
108  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 130, Số 3A, 2021  
bằng quan tài gỗ, sau một thời gian thì cải táng đến vị trí mới. Theo lời kể của các cụ cao tuổi,  
trước kia việc lựa chọn địa điểm chôn cất người chết rất quan trọng, phải nhờ các “Thầy địa lý”  
xem và chọn giúp, tùy từng người mà lựa chọn vị trí và hướng đặt mộ cho “hợp”, có người hợp  
với việc táng gò cao, có người hợp với táng ở chỗ trũng, có người hợp với hướng Bắc, có người  
lại hợp với hướng Nam… Khi “Thầy” đã chọn thì không cần biết đất đó hiện đang sử dụng vào  
mục đích gì, con cháu phải có trách nhiệm thỏa thuận hoặc làm cách nào đó để có được đất, trừ  
trường hợp bất khả kháng thì “Thầy” xem và chọn chỗ khác. Đa số được chọn ở các vùng đất sản  
xuất nông nghiệp như: Đất trồng lúa, trồng màu và đất lâm nghiệp. Điều này dẫn đến tình trạng  
các ngôi mộ được chôn rải rác rất nhiều nhưng không cất bốc được, thậm chí có một số trường  
hợp những gia đình do đi làm ăn xa không chăm sóc phần mộ dẫn đến mất dấu vết, không tìm  
thấy mộ để cải táng. Thời gian gần đây, khi kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, người dân tộc  
Kinh lựa chọn vị trí táng người chết theo xu hướng tập trung, cách xa khu dân cư, thuận tiện đi  
lại và chăm sóc mộ. Vì thế, việc lựa chọn nơi chôn cất cũng đã tập trung hơn so với trước. Xu  
hướng xây dựng lăng mộ to, rộng và lộng lẫy ngày càng tăng trên địa bàn huyện, người dân coi  
đây là một phương thức báo hiếu với ông bà, tổ tiên.  
Xu thế sử dụng những hình thức an táng mới: Mặc dù hiện nay người dân tộc Kinh trên  
địa bàn huyện vẫn sử dụng hình thức địa táng. Tuy nhiên, qua kết quả phỏng vấn cho thấy họ có  
thể chuyển sang hình thức hỏa táng trong tương lai, khi mà quỹ đất NTD hạn hẹp. Xu thế này  
không những giúp tiết kiệm quỹ đất NTD mà còn góp phần bảo vệ môi trường trên địa bàn  
huyện.  
Đánh giá về phong tục tập quán an táng của cộng đồng dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện  
Minh Hóa  
Về phong tục tổ chức tang lễ  
Đối với dân tộc Chứt, việc tổ chức tang lễ thường rất đơn giản. Theo tục lệ chung, đám  
tang thường tổ chức trong 3 ngày sau đó đưa đi chôn cất, người chết được quấn bằng lá tro (lá  
cọ) hoặc bằng phên nứa. Mộ được đặt không có nhà mồ bên trên. Sau 3 ngày, tộc trưởng làm lễ  
gọi hồn người chết về ngụ trên bàn thờ tổ tiên ở nhà tộc trưởng, từ đó người thân không ai lai  
vãng chăm sóc phần mộ của người đã khuất.  
Đối với người dân tộc Bru - Vân Kiều, người chết được đặt nằm ngang sàn nhà, chân hướng  
về cửa sổ, ở các nhóm tộc người Khùa và Ma Coong thì người chết được đặt dọc sàn, chân hướng  
về cửa chính. Sau 2 đến 3 ngày mới đưa ma, chôn người chết vào bãi mồ chung của làng. Quan  
tài gỗ đẽo độc mộc, gồm hòm và nắp, trước đây có nơi người chết được bó trong vỏ cây hoặc tấm  
đan bằng giang. Chọn đất đào huyệt theo cách dùng trứng gà thả rơi, vỡ trứng là được. Đối với  
tộc người Khùa thuộc dân tộc Bru - Vân Kiều thì người chết từ tuổi trưởng thành trở lên, khi chết  
109  
Trần Thị Phượng và CS.  
Tập 130, Số 3A, 2021  
ở nhà thường được tổ chức tang lễ tại gia đình, sau thời gian 24 - 36 giờ thì đưa tiễn người chết  
về nơi an nghỉ cuối cùng. Còn đối với người chết do tai nạn, thường được tổ chức tang lễ ngay  
tại nơi đã mất trong khoảng thời gian nhanh nhất có thể. Vì theo quan niệm của người dân, những  
người chết ở nơi khác đưa về nhà thì người thân sẽ gặp những điều không may mắn.  
Về phong tục táng người chết  
Đối với tộc người Khùa thuộc dân tộc Bru - Vân Kiều, theo kết quả phỏng vấn sâu đối với  
các già làng, người Khùa không có tục thăm mộ người thân, vì vậy những khu rừng chôn người  
chết được gọi là “Rừng ma”, chỉ khi nào trong làng có người chết thì những người đưa tang mới  
tới đây, còn bình thường thì không ai dám đặt chân tới. Sau khi tổ chức tang lễ tại gia đình, việc  
lựa chọn địa điểm chôn cất người chết rất quan trọng, phải nhờ các “Thầy địa lý” xem và chọn  
giúp. Khác với phong tục táng người chết của cộng đồng dân tộc khác, tộc người Khùa họ chọn  
vị trí và hướng đặt mộ bằng nghi thức “Ném trứng” để xin mộ chôn người chết. Với họ đây là  
hình thức quan trọng nhất, bởi người Khùa quan niệm rằng vị trí để người chết nằm yên nghỉ  
phải dựa theo ý nguyện của họ. Bất kì người chết nào, dù già hay trẻ, dù trai hay gái đều phải  
thực hiện nghi thức này. Trong mỗi đám tang, sau khi đưa thi thể người chết đến khu “ Rừng  
ma”, “Thầy” cúng làm lễ ném trứng xin mồ. “’Thầy” khấn, nếu linh hồn người chết đồng ý chôn  
chỗ nào thì quả trứng vỡ chỗ đó. Nếu quả trứng không vỡ, tức là người chết không thích chôn ở  
chỗ đó, phải nhặt trứng lên và ném vào chỗ khác cho tới khi trứng vỡ mới thôi. Vì đây là nghi  
thức rất quan trọng của người Khùa nên không cần biết đất ở khu rừng đó hiện đang sử dụng  
vào mục đích gì, con cháu đều lựa chọn vị trí đó để đặt mộ chôn cất. Theo như phong tục tập  
quán của họ thì người chết chỉ tiến hành chôn cất một lần, họ không thực hiện các nghi thức thờ  
cúng, di dời, cất bốc mồ mã đến nơi khác. Đối với họ, khi đã tổ chức xong các thủ tục nghi lễ chôn  
cất người chết là đã xong và từ đó họ không còn bận tâm đến các vấn đề liên quan đến mồ mã về  
sau nữa. Chính tập tục này dẫn đến tình trạng các ngôi mộ được chôn rải rác rất nhiều nơi. Trải  
qua hàng trăm năm định cư tại các xã Trọng Hóa và Dân Hóa người Khùa vẫn lưu giữ trọn vẹn  
nghi thức ném trứng xin mồ chôn người. Vì thế, việc quản lý đất nghĩa địa ở địa bàn của cộng  
đồng dân tộc đây gặp nhiều khó khăn, khó xác định.  
Đối với dân tộc Chứt, do họ sống xen kẽ với dân tộc Kinh nên về cơ bản thì phong tục táng  
người chết của họ giống hoàn toàn với phong tục tập quán an táng của dân tộc Kinh trên địa bàn  
huyện Minh Hóa.  
Xu thế sử dụng những hình thức an táng mới  
Qua điều kết quả phỏng vấn hộ dân cho thấy, gần như 100% người dân tộc thiểu số trên  
địa bàn huyện không đồng ý với các hình thức an táng mới và cũng không có xu thế mong muốn  
chuyển sang hình thức hỏa táng. Do phong tục tập quán chôn cất đã ăn sâu vào tiềm thức của họ  
110  
Jos.hueuni.edu.vn  
Tập 130, Số 3A, 2021  
đã làm ảnh hưởng rất lớn đến lối suy nghĩ về việc an táng người chết của người dân ở đây nên  
rất khó để làm thay đổi được thực trạng sử dụng đất NTD đối với cộng đồng người dân tộc thiểu  
số, đặc biệt là cộng đồng người dân tộc thiểu số Bru – Vân Kiều.  
4
Kết luận  
Đất nghĩa trang, nghĩa địa ở huyện Minh Hóa phân bố hầu hết ở các xã, thị trấn trên toàn  
huyện, trừ 1 xã không có diện tích đất này đó là xã Trọng Hóa. Huyện Minh Hóa chỉ thực hiện giao  
đất nghĩa trang, nghĩa địa cho đúng một tổ chức và không có thực hiện giao đất cho hộ gia đình, cá  
nhân. Vì vậy, vấn đề sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa mang tính tự phát, dựa trên điều kiện kinh  
tế, ý muốn cũng như phong tục tập quán của người dân. Với đặc thù là huyện miền núi, nhiều xã biên  
giới, ngoài dân tộc Kinh chiếm đa số thì đây là nơi có đồng bào dân tộc thiểu số Chứt, Bru – Vân Kiều  
sinh sống nên việc sử dụng đất NTD có sự khác biệt về phong tục táng rõ rệt giữa các cộng đồng dân  
tộc trên địa bàn huyện Minh Hóa. Vấn đề nổi cộm, đáng quan tâm về đất nghĩa trang, nghĩa địa  
trên địa bàn huyện là thực trạng chôn cất trái quy định; khoanh vùng cắm mốc; việc di dời giải  
tỏa mồ mả xen lẫn trong đất canh tác, khu dân cư; Di dời giải tỏa nghĩa trang, nghĩa địa.  
Tài liệu tham khảo  
1. Chính phủ, (2016), Nghị định 23/2016/NĐ-CP ngày gày 05 tháng 04 năm 2016 của chính phủ  
về về xây dựng, quản lý, sử dụng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng.  
2. Nguyễn Tá Dước, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hải Dương, Những giải pháp quy hoạch  
đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn tỉnh Hải Dương nhằm sử dụng tiết kiệm đất đảm bảo vệ sinh  
môi trường.  
Truy cập ngày 01/4/2020.  
3. Vũ Thị Ngọc Hiền, (2010), Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý, sử dụng đất nghĩa  
trang, nghĩa địa trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ khoa học, Trường Đại học Khoa  
học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội.  
4. Phan Phạm Chi Mai, (2012), Nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất nghĩa trang huyện Từ Liêm, Hà  
Nội với sự trợ giúp của GIS và Viễn thám, Luận văn Thạc sỹ khoa học, Đại học Quốc gia, Hà  
Nội.  
5. UBND tỉnh Quảng Bình, (2014), Quyết định số 25/2014/QĐ-UBND ngày 14/10/2014 của  
UBND tỉnh Ban hành Quy định về hạn mức giao đất, hạn mức công nhận quyền sử dụng đất ở;  
111  
Trần Thị Phượng và CS.  
Tập 130, Số 3A, 2021  
diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở; hạn mức đất nghĩ trang, nghĩa địa trên địa bàn  
tỉnh Quảng Bình.  
6. UBND huyện Minh Hóa, (2009), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Bố Trạch đến  
năm 2020.  
7. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Minh Hóa, (2019), Báo cáo kết quả kiểm kê đất đai huyện  
Minh Hóa năm 2019.  
8. Trần Thiện Phong, (2012), Thực trạng và giải pháp quy hoạch quản lý sử dụng đất nghĩa  
trang nghĩa địa ở thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí lý luận, khoa học và nghiệp vụ, Bộ Tài Nguyên  
và Môi trường, 22, 64–66.  
112  
pdf 14 trang yennguyen 9320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa của các cộng đồng dân tộc trên địa bàn huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_quan_ly_va_su_dung_dat_nghia_trang_nghia_dia_cua.pdf