Xây dựng nông thôn mới khu vực ven đô vùng Đông Nam Bộ: Thực trạng, định hướng và giải pháp

XÂY DỰNG NTM KHU VỰC VEN ĐÔ VÙNG ĐNB: THỰC TRẠNG,  
ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP  
TS. Nguyễn Bạch Đằng; ThS. Trần Đức Luân37  
I. Đặt vấn đề  
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM) đã triển khai  
thực hiện chính thức trên phạm vi cả nước từ năm 2010. Đây là một chương trình tổng  
thể, bao gồm quy hoạch, phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, chuyển dịch cơ cấu nông  
nghiệp, tổ chức phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, an sinh xã hội, phát triển y tế,  
giáo dục, vệ sinh môi trường và nhiều hoạt động khác. Gần 10 năm qua, chương trình  
này cơ bản làm thay đổi diện mạo nông thôn, mỗi vùng sinh thái có những đặc thù  
riêng nên thực trạng xây dựng NTM có sự khác biệt. Đông Nam Bộ (ĐNB) là vùng  
kinh tế trọng điểm ở phía Nam, có thế mạnh phát triển công nghiệp, thương mại và  
dịch vụ. Tốc độ đô thị hóa nhanh của vùng tạo sức ảnh hưởng đến việc thực hiện và  
xây dựng NTM, trong đó có khu vực ven đô. Có nhiều khái niệm và lý luận khác nhau  
về khu vực ven đô. Khu vực ven đô này thường không ổn định như các khu vực thành  
thị hoặc thuần nông thôn do chịu ảnh hưởng bởi quá trình đô thị hóa (Mc Granaham D  
và cộng sự, 2004). Theo nghiên cứu của Nguyễn Duy Thắng (2009), khu vực ven đô có  
thể được hiểu là nơi cận kề thành phố, là nơi vừa có các hoạt động nông thôn vừa có  
các hoạt động đô thị, nghĩa là không hoàn toàn là đô thị cũng không thuần túy là nông  
thôn. Khu vực này chịu tác động bởi đô thị hóa, biến đổi không gian do mở rộng các  
khu đô thị mới ra đồng ruộng, đồng thời cũng ôm gọn trong lòng đô thị nhiều làng xã  
nông nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền thống. Như vậy, vùng ven đô là  
một khái niệm mang tính đa dạng, mềm dẻo, tuỳ thuộc vào cấp, loại đô thị và tốc độ  
phát triển của đô thị. Đối với thị trấn nó là vùng ven khu vực đô thị; đối với thị xã,  
thành phố thuộc tỉnh, nó là các xã thuộc vùng ven khu vực nội thị; còn đối với thành  
phố trực thuộc trung ương, đó là các xã, huyện vùng ven khu vực nội thị. Trong quy  
hoạch xây dựng, vùng ven đô có thể được coi là khu vực mở rộng đô thị trong giai  
đoạn quy hoạch. Xu thế phát triển công nghiệp, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn,  
việc phát triển mở rộng xây dựng ra vùng ven đô ngày càng lớn và với tốc độ khá  
nhanh. Nhiều dự án khu đô thị, khu dịch vụ và khu công nghiệp được hình thành tại  
khu vực ven đô này. Do đó, việc xây dựng nông thôn mới ở các xã thuộc vùng ven đô  
sẽ có những đặc trưng, khác với các xã thuộc vùng thuần nông. Bài tham luận này tập  
trung vào việc phân tích thực trạng xây dựng NTM, định hướng và giải pháp xây dựng  
NTM ở khu vực ven đô của vùng ĐNB nhằm cung cấp thông tin cho việc xây dựng  
NTM trong tương lai.  
2. Tổng quan vùng Đông Nam Bộ và đặc trƣng của khu vực ven đô  
Vùng ĐNB có 6 đơn vị tỉnh thành, gồm tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Dương, Bình  
Phước, Đồng Nai, Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh. Theo tổng cục thống kê Việt  
Nam, tính đến ngày 31/12/2017, toàn vùng Đông Nam Bộ có 5 thành phố trực thuộc  
tỉnh, 19 quận, 8 thị xã, 40 huyện, 374 phường, 33 thị trấn và 465 xã. ĐNB nằm trên vùng  
bình nguyên rộng, chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung Bộ đến Đồng bằng sông Cửu  
37 Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh  
87  
Long. Địa hình thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp đô thị và giao thông  
vận tải. Về hiện trạng sử dụng đất, theo số liệu tổng hợp từ niên giám thống kê 2018 của  
các tỉnh, tính đến ngày 31/12/2017, vùng ĐNB có diện tích tự nhiên 2.394,68 nghìn ha  
chiếm gần 7% tổng diện tích đất cả nước. Trong phạm vi của vùng ĐNB, đất dành cho  
sản xuất nông nghiệp là 1.361,01 nghìn ha (chiếm 56,8%), đất lâm nghiệp là 506,59  
nghìn ha (chiếm 21,2%), đất chuyên dùng là 223,54 nghìn ha (chiếm 9,4%) và đất ở là  
82,12 nghìn ha (chiếm 3,4%).Trong vùng ĐNB, tỉnh Bình Phước và Đồng Nai có diện  
tích đất tự nhiên, đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất chuyên dùng lớn nhất  
vùng. Ngược lại, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Mính là hai địa phương có  
diện tích đất tự nhiên và đất sản xuất nông nghiệp nhỏ nhất khu vực. Thành phố Hồ Chí  
Minh có diện tích đất ở là 28,17 nghìn ha, cao nhất vùng ĐNB.  
ĐNB có khí hậu cận xích đạo, tổng lượng bức xạ cao và ổn định, nhiệt độ cao  
đều quanh năm với mức bình quân là 27,65oC, số giờ nắng là 2.311 giờ/năm, độ ẩm  
không khí là 80,31% và lượng mưa 2.312 mm/năm. Tính đến ngày 31/12/2017, dân số  
toàn vùng ĐNB gần 16,94 triệu người. Trong đó, thành phố Hồ Chí Minh là nơi đông  
dân nhất với số lượng là 8,64 triệu người, chiếm 51% tổng dân số cả vùng ĐNB. Tiếp  
theo, tỉnh Đồng Nai có dân số là 3,03 triệu người (chiếm 18% tổng dân số cả vùng),  
tỉnh Bình Dương là 2,07 triệu người (chiếm 12% tổng dân số cả vùng), riêng tỉnh Bình  
Phước thì có số lượng dân số ít nhất, chỉ chiếm khoảng 6% dân số cả vùng. Thành phố  
Hồ Chí Minh có mật độ dân số 4.126 người/km2, cao hơn lần lượt từ 5 - 8 lần so với  
tỉnh Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu và Đồng Nai, cao hơn 15 lần so với Tây Ninh và  
cao hơn 29 lần so với tỉnh Bình Phước. Năm 2002, vùng ĐNB có thu nhập bình quân  
đầu người theo giá hiện hành là 667 nghìn đồng/người/năm. Đến năm 2012, chỉ tiêu  
này tăng gần 5 lần và đến năm 2016 thì tăng gấp 7 lần. Nhìn chung, giai đoạn 2002-  
2016, thu nhập bình quân đầu người của vùng ĐNB cao hơn 1,6 lần nếu so với cả  
nước. Vùng ĐNB có tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm, cụ thể năm 2002 là 8,2%,  
năm 2012 là 1,3% và đến hết năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 0,6% (so với cả nước  
thì thấp hơn 5 lần). Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) cả năm 2017 của vùng ĐNB  
là 1.987.330 tỷ đồng. Trong đó, thành phố Hồ Chí Minh là cao nhất, chiếm 54% tổng  
giá trị của cả vùng; thấp nhất là tỉnh Bình Phước và Tây Ninh, lần lượt chiếm tỷ lệ  
2,6% và 3,2% tổng giá trị vùng ĐNB. Xét về cơ cấu giá trị tổng sản phẩm, vùng ĐNB  
có sự đóng góp chủ yếu từ ngành công nghiệp xây dựng và dịch vụ, chiếm tỷ lệ trên  
83,5%. Riêng lĩnh vực nông nghiệp, thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm đô thị nên  
đóng góp của nông, lâm, ngư nghiệp chỉ 0,81% tổng sản phẩm toàn thành. Còn tỉnh  
Bình Phước và Tây Ninh, lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp đóng góp khoảng ¼ tổng sản  
phẩm trên địa bàn của chính địa phương của mình. Cơ cấu kinh tế vùng ĐNB phụ  
thuộc nhiều vào lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, sự phát triển mạnh mẽ các  
khu công nghiệp và trung tâm thương mại đô thị. Ngay cả tỉnh Đồng Nai có ngành  
nông nghiệp phát triển hàng đầu của cả nước thì tỷ lệ đóng góp của ngành này cũng chỉ  
8,87% tổng sản phẩm của tỉnh.  
Đặc trưng của khu vực ven đô của vùng ĐNB như thế nào? Hiện nay, các tỉnh  
thành vùng ĐNB chưa có văn bản chính thức nào phân loại xã thuần nông hoặc xã ven  
đô. Tỉnh thành nào có tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh thì hầu hết các đơn  
vị hành chánh cấp xã đều nằm lân cận trung tâm đô thị. Khi đặt vấn đề cần xác định  
cho rõ, xã nào là xã thuộc khu vực ven đô, thì các cán bộ chuyên trách tại VPĐPNTM  
của tỉnh Đồng Nai, Tp.HCM và Bình Dương còn lúng túng, chưa biết phải dựa trên căn  
cứ nào để xác định vùng ven đô. Do đó, việc xác định xã ven đô chỉ mang tính tương  
đối bằng cách nhìn vào vị trí của các xã trên bản đồ, kết hợp quan sát thực địa, xã nào  
88  
gần các khu đô thị lớn, trung tâm thị xã, trung tâm thị trấn, gần phường đô thị, khu  
công nghiệp và trung tâm thương mại thì xếp vào nhóm xã ven đô; ngược lại nếu xã  
nào xa các vùng trên, còn nhiều quỹ đất cho nông nghiệp hay ít dân nhập cư thì xếp  
vào xã thuần nông. Nếu dựa theo quan điểm phân tích này thì ở vùng ĐNB, thành phố  
HCM, tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Dương là có nhiều xã ven đô, còn 3 tỉnh còn lại là  
Bình Phước, Tây Ninh và BRVT sẽ có nhiều xã thuần nông hơn.  
Bảng 1. Đặc trưng vùng ven đô và thuần nông trong xây dựng NTM  
Tiêu chí  
Vùng ven đô  
Vùng thuần nông  
1.Bối cảnh Tốc độ đô thị hóa nhanh, mật độ và Tốc độ đô thị hóa hay bị ảnh hưởng  
quy mô dân số cao; các khu công bởi đô thị hóa còn chậm. Mật độ dân  
nghiệp, mạng lưới giao thông… đang số chưa cao. Ít có sự xuất hiện của các  
phát triển nhanh ở bên trong xã hay khu công nghiệp trên địa bàn.  
các khu vực lân cận  
2.Cơ  
cấu Thuận lợi cho phát triển công nghiệp Nhiều hoạt động nông nghiệp, chưa  
ngành nghề và dịch vụ. Cơ cấu giá trị sản phẩm phát triển mạnh về công nghiệp và  
chủ yếu từ công nghiệp, thương mại dịch vụ  
và dịch vụ.  
3.Thu nhập Thu nhập phần lớn từ làm công phi Thu nhập phần lớn còn dựa vào nông  
nông nghiệp, rồi đến dịch vụ và nông nghiệp.  
nghiệp  
4.Lao động Nhiều cơ hội việc làm, thu hút được Ít cơ hội việc làm hơn, dân nhập cư  
nhiều lao động. Dân nhập cư đông, đa chiếm tỷ lệ ít hơn. Ngược lại, có sự di  
dạng thành phần.  
dân từ khu vực này sang các vùng đô  
thị.  
5. Nhu cầu Nhu cầu cao về cơ sở hạ tầng (trường Không bị áp lực nhiều về phát triển cơ  
CSHT  
học, y tế, điện nước…) nên dễ dẫn đến sở hạ tầng xã hội phục vụ nhu cầu dân  
tình trạng thiếu hụt/quá tải cư.  
6. Xã hội  
Nhiều khu dân cư đô thị và dân cư Người dân “bản địa” nhiều, ít dân  
nông thôn đan xen nhau trên cùng địa nhập cư nên dễ kiểm soát, tuyên  
bàn một xã. Đa dạng thành phần dân truyền, vận động trong công tác triển  
cư.  
khai NTM.  
7.Môi  
Vấn đề an ninh trật tự, vệ sinh môi Công tác quản lý, kiểm soát an ninh  
trường và trường gặp khó khăn trong quản lý và trật tự và môi trường dễ hơn  
an ninh trật kiểm soát.  
tự  
9.Sản xuất Diện tích đất nông nghiệp, lao động  
nông nông nghiệp đang có xu hướng giảm  
Diện tích đất nông nghiệp giảm chậm,  
có khả năng tích tụ ruộng đất sản xuất.  
nghiệp và mạnh  
định hướng  
Phát triển theo hướng hàng hóa, sản  
Chuyển hướng phát triển nông nghiệp xuất tập trung, quy mô lớn  
đô thị, nông nghiệp công nghệ cao  
Nguồn: Tổng hợp từ các tài liệu nghiên cứu và ý kiến tham vấn chuyên gia  
89  
3. Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở khu vực ven đô của vùng Đông  
Nam Bộ  
Xuất phát từ chủ trương lớn của Ban chấp hành Trung ương Đảng về nông  
nghiệp, nông dân, nông thôn tại Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 tại  
Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Khóa X, ngày 4 tháng 6 năm 2010,  
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình  
mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2015 và Quyết định số  
1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục  
tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020. Ngoài ra, Trung ương đã  
ban hành nhiều chính sách xây dựng nông thôn mới khác. Từ các chính sách và thể chế  
của Thủ tướng chính phủ và Bộ ngành trung ương, vùng ĐNB đã triển khai, ban hành  
thêm nhiều nghị quyết, quyết định và văn bản hướng dẫn thực hiện. Hệ thống các văn  
bản thật sự là rất lớn38, nhằm hướng dẫn cho cán bộ các cấp từ TW đến địa phương  
trong xây dựng NTM, hướng đến hoàn thành mục tiêu của chương trình. Sau gần 10  
năm triển khai chương trình NTM trên địa bàn ĐNB, xây dựng nông thôn mới đã trở  
thành phong trào rộng khắp với sự chung sức của toàn dân, quán triệt tư tưởng, phối  
hợp hành động, triển khai từ phía các cán bộ lãnh đạo địa phương và cơ quan ban  
ngành các cấp mà diện mạo nông thôn từng bước thay đổi, cảnh quan môi trường cải  
thiện, hoạt động sản xuất nâng cao, giúp đời sống của nhân dân được cải thiện tích cực,  
rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, đáp ứng tốt hơn như cầu sản xuất và  
dân sinh. Hầu hết các cơ sở hạ tầng thiết yếu như hệ thống điện, giao thông, trường  
học, trạm y tế, thiết chế văn hóa, hệ thống bảo vệ môi trường của xã, ấp, huyện đã có  
bước phát triển đáng kể. Tính đến cuối năm 2018, vùng ĐNB có 452 xã tham gia  
chương trình (chiếm 5,06% số xã của cả nước) thì có 322 xã đạt được chuẩn xã NTM  
(chiếm 71,23% số xã của ĐNB). Tỉnh Đồng Nai có 133/133 xã được công nhận NTM,  
Bình Dương về cơ bản có 46/46 xã hoàn thành (có 3 xã chờ xét công nhận), TP.HCM  
(54/56 xã), BRVT (27/43 xã), Bình Phước (35/92 xã) và Tây Ninh (27/82 xã). Xét về  
tiêu chí bình quân mỗi xã đạt được tại khu vực ĐNB tính đến năm 2018 là 16,58/19  
tiêu chí/xã (cả nước 14,57 tiêu chí/xã). Hiện nay, các tiêu chí như quy hoạch, thủy lợi,  
thông tin và truyền thông, cơ cấu lao động, giáo dục, quốc phòng và an ninh có mức độ  
các xã đạt chuẩn cao nhất của toàn vùng (đều trên 90% số xã đạt). Tuy nhiên, các tiêu  
chí còn vướng gồm giao thông (có 73,5% xã đạt), tiêu chí trường học (78,4%), cơ sở  
vật chất văn hóa (76,3%), môi trường và an toàn thực phẩm (83%). Nguyên nhân do  
xuất phát điểm thấp của các tiêu chí này thấp, ví dụ như tiêu chí giao thông (từ 4,05%  
xã hoàn thành năm 2010, lên 73,5% xã đạt năm 2018), kế đến là cơ sở vật chất văn hóa  
(từ 5,33% xã hoàn thành năm 2010, lên 76,3% xã đạt năm 2018) và trường học (từ  
8,32% xã hoàn thành năm 2010, lên 78,4% xã đạt năm 2018). Nhìn chung, vùng ĐNB  
còn 130 xã (chiếm 28,76%) chưa hoàn thành xây dựng NTM; Đồng Nai là tỉnh dẫn đầu  
vì đã hoàn thành mục tiêu xây dựng NTM sớm nhất, tỉnh này đang trong giai đoạn triển  
khai nông thôn mới kiểu mẫu và nông thôn mới nâng cao.  
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa mạnh mẽ tại khu vực ven đô của vùng ĐNB đã  
thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại. Xu hướng chung của các địa  
phương là phát triển sản xuất gắn với thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp được tỉnh  
tập trung chỉ đạo. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng sản  
38 Ngoài các văn bản được Trung ương ban hành, danh mục các văn bản được của các tỉnh thành vùng Đông Nam  
Bộ ban hành là rất nhiều (Dựa theo minh chứng phụ lục của các Báo cáo sơ kết 5 năm, sơ kết 3 năm thực hiện  
NTM, sơ kết 3 năm thự hiện xây dựng NTM).  
90  
xuất hàng hóa, nâng cao giá trị gia tăng và lợi thế cạnh tranh, phát triển nông nghiệp  
nông thôn bền vững, gắn với bảo vệ môi trường. Tại một số nơi, các cây, con chủ lực  
đã được sắp xếp và hình thành các vùng sản xuất tập trung, vùng cây chuyên canh, phù  
hợp với điều kiện tự nhiên của từng địa phương. Hơn nữa, cơ cấu cây trồng, vật nuôi  
chuyển dịch theo hướng nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao. Ví dụ như, tại  
Tây Ninh, tổng diện tích chuyển đổi cây trồng đến nay 3.419,6 ha từ các cây trồng kém  
hiệu quả sang trồng các loại cây ăn trái. Thành phố Hồ Chí Minh chuyển đổi từ các mô  
hình trồng lúa sang rau, hoa, cây kiểng và cá cảnh. Tại Bình Dương, ban hành chính  
sách khuyến khích phát triển nông nghiệp theo hướng nông đô thị- nông nghiệp ứng  
dụng công nghệ cao giai đoạn 2016-2020. Bình Phước có điều, tiêu, ca cao, heo, gà là  
những đối tượng nuôi trồng chủ lực và hướng đến sản xuất theo chuỗi. Một số địa  
phương như Bà Rịa Vũng Tàu hay Đồng Nai Phát đang phát triển nhanh nghiên cứu,  
chuyển giao và ứng dụng khoa học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá để  
hiện đại hóa nông nghiệp, công nghiệp hóa nông thôn.  
Có ít bài nghiên cứu liên quan đến xây dựng NTM vùng ven đô để tham khảo,  
nên bài tham luận này chủ yếu sử dụng các thông tin thứ cấp (các báo cáo sơ kết thực  
hiện NTM của các tỉnh thành) và thông tin tham vấn trực tiếp Lãnh đạo và cán bộ  
chuyên trách NTM tại 3 xã ven đô, làm đại diện cho thành phố HCM, Bình Dương và  
Đồng Nai. Các xã ven đô được khảo sát bao gồm: xã An Điền (thị xã Bến Cát, tỉnh  
Bình Dương), xã Hố Nai 3 (huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai) và xã Vĩnh Lộc A  
(huyện Bình Chánh, TP.HCM). Các xã này đều được VPĐPNTM các tỉnh thành đồng  
  làm đại diện cho xã ven đô. Nội dung khảo sát xoay quanh việc thực hiện xây dựng  
NTM trong thời gian qua, đặc biệt là nhận dạng những ảnh hưởng của qúa trình công  
nghiệp hóa và đô thị hóa đến công tác xây dựng NTM.  
Đầu tiên là xã An Điền (tỉnh Bình Dương). Xã này bắt đầu xây dựng NTM vào  
năm 2012. Lúc ban đầu đạt được 5/19 tiêu chí, đến năm 2015 gần như hoàn thành các  
tiêu chí NTM (18/19 tiêu chí). Đến cuối năm 2016, xã được công nhận đạt NTM theo  
bộ tiêu chí mới. Tuy nhiên, đến nay xã chưa hoàn thành Bộ tiêu chí nâng cao của tỉnh,  
hiện chỉ đạt 37/43 tiêu chí nâng cao và đăng k  đến năm 2020 sẽ hoàn thành các tiêu  
chí NTM nâng cao của tỉnh. Xét về vị trí, xã An Điền giáp ranh với vùng sản xuất cây  
cao su tiểu điền và nông trường (huyện Dầu Tiếng, huyện Bàu Bàng). Xã nằm gần khu  
công nghiệp Mỹ Phước (thuộc phường Mỹ Phước) và gần khu công nghiệp Rạch Bắp.  
Ngoài ra, xã An Điền còn giáp phường Thới Hòa (khu dân cư, khu đô thị, dịch vu mua  
bán); giáp xã Phú An có cụm dân cư nhỏ lẻ, công ty nhỏ lẻ nằm rãi rác. Thu nhập của  
người dân trong xã chủ yếu từ hoạt động làm công nhân, tiếp theo là thu nhập từ dịch  
vụ (buôn bán nhỏ lẻ, cho thuê nhà trọ) và cuối cùng là từ nông nghiệp. Khi xây dựng  
NTM, hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất đạt được một số thành  
tựu cơ bản.  
Bảng 2. Thông tin các xã ven đô đại diện cho vùng ĐNB khi xây dựng NTM  
Chỉ tiêu  
Xã An Điền, thị xã Bến Xã Hố Nai 3, huyện Xã Vĩnh Lộc A, huyện  
Cát, tỉnh Bình Dƣơng  
Trảng Bom, tỉnh  
Đồng Nai  
Bình Chánh, TP.HCM  
1.Thời điểm Năm 2012  
bắt đầu xây  
Năm 2011  
Năm 2013  
dựng NTM  
91  
2.Kinh tế  
Đang chuyển dịch từ nông Phát triển về công Công nghiệp - tiểu thủ  
nghiệp truyền thống sang nghiệp, tiểu thủ công công nghiệp (60,5%),  
công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp  
nghiệp kỹ thuật cao  
thương mại – dịch vụ  
(17,3%) và nông nghiệp  
(22,2%).  
Nông nghiệp: có 1 tổ  
Nông nghiệp: có tổ liên kết hợp tác về sản xuất  
hoa lan, bò sữa, bò vàng; rau an toàn, có 1 Nông nghiệp: có 4 tổ hợp  
không có HTX nông HTX dịch vụ nông tác gồm Bò Sữa Xuân  
nghiệp  
nghiệp  
Hòa, Bò vàng, Rau Thới  
Hòa, Hoa Lan và 1 câu lạc  
bộ sinh vật cảnh  
3.Xã hội  
Dân nhập cư nhiều, áp lực Dân nhập cư đông Dân nhập cư tăng nên  
chỗ ở, an sinh xã hội, quản nên tình hình an công tác quản lý an ninh  
lý an ninh trật tự.  
ninh trật tự, nhất là trật tự gặp nhiều khó khăn.  
tại các khu nhà trọ  
công nhân phức tạp  
4.Môi  
Vấn đề vệ sinh môi trường Hoạt động sản xuất Ô nhiễm môi trường đang  
trường  
sinh hoạt tương đối ổn  
công nghiệp gây ra diễn ra do chất thải từ sản  
nguy cơ về ô nhiễm xuất công nghiệp  
Chưa ô nhiễm từ sản xuất  
công nghiệp  
môi trường.  
Vệ sinh môi trường sống  
còn phức tạp  
5.Kết  
xây  
quả Xuất phát điểm đã đạt 5/19 Đã đạt xã NTM theo Khởi điểm đã đạt 6/19 tiêu  
dựng tiêu chí; đến năm 2015 đạt tiêu chí TW vào năm chí; Giai đoạn 1 đạt 18/19  
NTM  
18/19 tiêu chí; đến cuối 2016  
năm 2016 xã đạt NTM .  
tiêu chí (trừ môi trường);  
Giai đoạn 2 (theo chuẩn  
NTM của TP) đạt 14/19  
tiêu chí  
Hiện tại, xã đã đạt 11  
Đến nay, đạt 37/43 tiêu chí tiêu chí nâng cao của  
nâng cao của tỉnh tỉnh  
Nguồn: Tham vấn Ban phát triển NTM các xã ven đô, 2019  
Qua tham vấn, mốc thời gian đột phá của xã là năm 2015. Trước 2015, đường  
giao thông của xã chưa hình thành, đường xá còn lầy lội, chưa có nhiều trường học, cơ  
sở vật chất cũ, sản xuất nông nghiệp chủ yếu là cao su tiểu điền. Sau năm 2015, đường  
xá được nhựa hóa, bê tông hóa; trường học được xây dựng; sản xuất nông nghiệp  
chuyển hướng về nhóm cây có múi, có giá trị kinh tế cao hơn. Xã cũng hình thành tổ  
liên kết hoa lan, bò sữa, bò vàng nhưng chưa dự kiến nâng lên hợp tác xã (HTX). Xã có  
xây dựng điểm trình diễn nông nghiệp kỹ thuật cao, phối hợp với phòng kinh tế tập  
huấn cho người dân về các mô hình trồng dưa lưới và hoa lan. Mặt khác, do diện tích  
canh tác nông nghiệp bị thu hẹp nên xã hướng đến đầu tư công nghệ cao cho sản xuất  
nông nghiệp, chuyển dịch từ sản xuất thuần nông sang hướng công nghiệp, dịch vụ,  
nông nghiệp kỹ thuật cao. Bên cạnh đó, tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên chiếm  
95% toàn xã, tỷ lệ lao động có việc làm qua đào tạo là 66%. Xã cũng chú trọng vào  
công tác đào tạo nghề và giao cho Hội nông dân và Hội phụ nữ đảm nhận. Tuy dân  
nhập cư đông nhưng về khía cạnh văn hóa chưa bị tác động. Vấn đề vệ sinh môi trường  
tương đối tốt nhờ có sự nhắc nhở của Ban phát triển NTM của ấp. Tuy nhiên, An Điền  
đang có tình hình dân nhập cư lớn, một mặt tạo điều kiện phát triển công nghiệp dịch  
vụ, nhưng ngược lại tạo ra áp lực về vấn đề an ninh trật tự, quản lý xã hội và giáo dục.  
Nếu không kịp đầu tư cơ sở hạ tầng vật chất cho giáo dục sẽ dẫn đến quả tải về trường  
92  
học trên địa bàn. Hơn nữa, công nhân tạm trú nhiều gây vấn đề áp lực chỗ ở, khó kiểm  
soát trộm cắp và an ninh khu nhà trọ.  
Thứ hai là xã Hố Nai 3 (tỉnh Đồng Nai). Xã này bắt đầu xây dựng NTM vào  
năm 2011. Hiện tại, xã đã đạt 11 tiêu chí nâng cao của tỉnh. Xã có thế mạnh phát triển  
về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (gỗ mỹ nghệ) và có một vài khu công nghiệp trên  
địa bàn như KCN Hố Nai, một phần KCN Sông Mây và Cụm sản xuất vật liệu xây  
dựng. Bên cạnh đó, xã nằm trên trục giao thông quốc lộ 1A, là trục cửa ngõ đi vào  
thành phố Biên Hòa nên rất thuận lợi về giao thông, thu hút các doanh nghiệp về sản  
xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội. Thu nhập của người dân từ công nhân là chủ  
yếu (giày da, may mặc), kế đến là dịch vụ. Trong những năm qua, xu hướng ngành  
nghề tiểu thủ công nghiệp gia tăng (nhất là gỗ mỹ nghệ). Đây là nền tảng giúp xã phát  
triển nhất so với các xã khác của huyện Trảng Bom. Về khía cạnh văn hóa, xã vẫn duy  
trì được nếp văn hóa truyền thống của địa bàn, ít bị ảnh hưởng bởi các văn hóa khác.  
Trong khía cạnh sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là sản xuất lúa nên tiêu chí về lao động  
có việc làm thường xuyên là khó đảm bảo bởi sản xuất lúa có tính chất mùa vụ. Hơn  
nữa, lao động tham gia sản xuất là những người lớn tuổi. Xã có tổ hợp tác về sản xuất  
rau an toàn và 4 HTX gồm HTX về thu gom rác, HTX về sản xuất vật liệu xây dựng,  
HTX về Pallet, HTX về dịch vụ nông nghiệp. Trong 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí NTM,  
xã có 5 tiêu chí gặp khó khăn trong việc thực hiện. Đó là tiêu chí về cơ sở vật chất như  
trường học, chợ; tiêu chí y tế do người dân nhập cư ít tham gia BHYT tại các cơ sở sản  
xuất nhỏ lẻ (sản xuất gỗ mỹ nghệ); tiêu chí giáo dục do nhiều hộ gia đình chưa gửi trẻ  
vì có người nhà giữ nên tỉ lệ trẻ tham gia mẫu giáo không thể đạt 100%; tiêu chí tỷ lệ  
lao động có việc làm thường xuyên; và tiêu chí an ninh trật tự.  
Cuối cùng là xã Vĩnh Lộc A (TP. Hồ Chí Minh). Từ ngày 12/9/2013, đề án xây  
dựng NTM của xã được duyệt và bắt đầu triển khai thực hiện. Xuất phát điểm ban đầu,  
xã đã đạt được 6/19 tiêu chí. Đến hết giai đoạn 1 (2010-2015), xã đạt 18/19 tiêu chí  
(tiêu chí môi trường chưa đạt); Đến giai đoạn 2, xã áp dụng theo bộ tiêu chí của thành  
phố, đã đạt 14/19 tiêu chí. Các tiêu chí chưa đạt bao gồm: giao thông (TC2), trường  
học (TC5), nhà ở dân cư (TC9), môi trường và an toàn thực phẩm (TC17), hệ thống  
chính trị và tiếp cận pháp luật (TC19). Xã Vĩnh Lộc A có diện tích tự nhiên là 1.966  
ha. Trước năm 2012, xã Vĩnh Lộc A có 06 ấp với 113 tổ nhân dân. Nhưng do tốc độ đô  
thị hóa nhanh, dân số cơ học phát triển, đến nay, 2019 xã có 15 ấp với 247 tổ nhân dân.  
Tính đến ngày 31/12/2017 là 31.742 hộ với 116.689 nhân khẩu. Dân nhập cư tăng nên  
công tác quản lý an ninh trật tự gặp nhiều khó khăn, vệ sinh môi trường sống bị ảnh  
hưởng, công tác tuyên tuyền người dân cũng khó, người dân vứt rác xuống kênh rạch.  
Mạng lưới kênh rạch lớn nhỏ trên địa bàn xã khoảng 12 cái. Rạch ô nhiễm nhất là Rạch  
Cầu Suối (nối dài 2 xã Vĩnh Lộc A và Vĩnh Lộc B). Nguyên nhân gây ô nhiễm từ việc  
xả thải của các công ty sản xuất công nghiệp và rác thải sinh hoạt hộ gia đình, khách  
vãng lai và nhà trọ. Xã đang thực hiện việc nạo vét kênh, bê tông cống hóa nhằm đảm  
bảo vệ sinh môi trường, vận động vốn từ nhân dân. Trên địa bàn xã có 951 hộ kinh  
doanh, 1299 doanh nghiệp đang hoạt động có giấy chứng nhận đăng k  kinh doanh.  
Trong đó, có 520 cơ sở sản xuất, 87 cơ sở phát sinh ô nhiêm môi trường. Hiện tại, 27  
cơ sở có có hệ thống xử l  đảm bảo quy chuẩn chiếm tỷ lệ 31,03%. Đồng thời, trên địa  
bàn xã có 275 hộ chăn nuôi heo, giảm 12 hộ so với năm 2017. Trong đó, số hộ xen cài  
trong khu dân cư là 06 hộ với 02/06 hộ có hệ thống xử l  nước thải. Số hộ ngoài khu  
dân cư là 269 hộ với 93/269 hộ có hệ thống xử l  nước thải đạt 32,57%. Đối với tiêu  
chí giao thông, các tuyến đường xã và đường từ trung tâm xã đến đường huyện được  
nhựa hóa hoặc bê tông hóa, đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm; đường trục chính  
93  
nội đồng đảm bảo vận chuyển hàng hóa thuận tiện. Tuy nhiên các tuyến đường trục ấp  
và đường liên ấp chưa được cứng hóa, chưa đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm;  
đường hẻm còn lầy lội vào mùa mưa. Cơ cấu kinh tế của xã chuyển dịch theo hướng  
tăng tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (60,5%), thương mại – dịch vụ  
(17,3%) và nông nghiệp (22,2%). Mặt khác, do trên địa bàn xã không có HTX nên xã  
không thực hiện được tiêu chí 13 – Tổ chức sản xuất (mới thành lập 1 HTX TMDV  
vào tháng 4/2019). Xã có 4 tổ hợp tác: Bò Sữa Xuân Hòa, Bò vàng, Rau Thới Hòa,  
Hoa Lan và 1 câu lạc bộ sinh vật cảnh (82 thành viên). Đến nay, diện tích đất dùng sản  
xuất lúa không nhiều, người dân chuyển sang các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao  
như hoa lan, mai, bonsai. Thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn xã theo số liệu  
thống kê năm 2017, đạt 60,41 triệu đồng/người/năm, vượt trên chỉ tiêu của thành Phố  
năm 2017 là 48 triệu đồng/người/năm.  
Qua 10 năm thực hiện chương trình NTM, diện mạo nông thôn đã khởi sắc, đặc  
biệt là các khu vực ven đô, kinh tế tăng trưởng, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển biến theo  
hướng tích cực, hạ tầng kinh tế, xã hội, môi trường được cải thiện một bước, hệ thống  
chính trị được tăng cường và củng cố. Thu nhập khu vực ven đô đã gia tăng, đời sống vật  
chất cho người dân được nâng cao, góp phần quan trọng ổn định chính trị - xã hội trên  
địa bàn. Hơn nữa, trong vùng ĐNB đã hình thành tứ giác công nghiệp đô thị. Đây chính  
là khu vực trung tâm của vùng với sức thu hút vốn, nhân lực trong và nước ngoài đầu tư  
phát triển công nghiệp, trong đó công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản cũng như dịch  
vụ hỗ trợ đầu vào. Vùng ĐNB có thị trường tiêu thụ lớn, liên tục tăng, nhất là nông sản  
chất lượng cao; trong vùng đã hình thành chợ đầu mối, hệ thống siêu thị, giúp kết nối với  
nhà nông. Năng lực chế biến nông lâm thủy sản ở vùng ĐNB được xác định là lớn nhất  
cả nước. Là nơi tập trung nhiều viện nghiên cứu và trường đại học nên có thể hỗ trợ đào  
tạo nhân lực, liên kết và chuyển giao kết quả nghiên cứu, ứng dụng vào phát triển sản  
xuất, trong đó có ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông lâm ngư nghiệp. Đô thị,  
dịch vụ phát triển cao, đời sống người dân trong vùng được nâng cao dẫn đến yêu cầu  
chất lượng sản phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm cao. Đây cũng là điều kiện thúc đẩy tái  
cơ cấu ngành nông nghiệp, ứng dụng công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp  
ứng nhu cầu thị trường và mục tiêu hoàn thành xây dựng NTM.  
4. Định hƣớng xây dựng NTM khu vực ven đô vùng Đông Nam Bộ  
Theo xu hướng chung, các tỉnh thành có thực trạng đô thị hóa càng cao, các khu  
vực vùng ven luôn trong tình trạng đô thị hóa nông thôn càng mạnh, thể hiện trên nhiều  
khía cạnh từ quy hoạch, cơ cấu dân số, lao động và việc làm, sức khỏe, môi trường và  
lối sống. Tạo ra sự biến đổi về vật chất và tinh thần của người dân vùng ven. Nhất là tại  
các tỉnh thành như TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, nơi có tốc độ đô thị hóa cao hơn  
so với các tỉnh Tây Ninh, Bình Phước và BR-VT. Như tại Bình Dương, huyện nào  
cũng có khu công nghiệp nên hầu như các xã xây dựng NTM đều là xã ven các khu dân  
cư, khu công nghiệp nên đều ảnh hưởng bởi công nghiệp hóa và đô thị hóa. Một mặt,  
đô thị hóa diễn ra càng nhanh thì vấn đề đầu tư hạ tầng diễn ra mạnh kéo theo có sự  
khác biệt giữa xã vùng ven đô thị với so với các xã khác. Theo tổng cục thống kê, năm  
2010, toàn vùng ĐNB có 490 xã, đến năm 2011 còn 479 xã (11 xã ở tỉnh Bình Dương  
trở thành phương và thị trấn), đến năm 2013 còn 465 xã (giảm đi 14 xã, trong đó 2 xã  
thuộc tỉnh Tây Ninh và 12 xã thuộc tỉnh Bình Dương). Từ năm 2013 đến 2017, vùng  
ĐNB vẫn giữ nguyên 465 xã. Như vậy, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở vùng  
ĐNB, giai đoạn 2010-2017, tỉnh Bình Dương có số xã trở thành phường đô thị nhiều  
94  
nhất, tiếp theo là tỉnh Tây Ninh, các tỉnh còn lại thì số đơn vị hành chính cấp xã không  
thay đổi.  
Bảng 3. Mục tiêu xây dựng NTM và kế hoạch cho khu vực ven đô vùng ĐNB  
Phương hướng năm 2019 trở đi  
Địa phương  
Mục tiêu chung NTM  
Kế hoạch cho các xã ven đô  
Có 34 xã ven đô (H.Nhơn Trạch 12;  
H.Trảng Bom: 6; H.Vĩnh Cửu: 2;  
Duy trì các địa phương đạt chuẩn, Tp.Biên Hòa: 5; TX.Long Khánh 9)  
tập trung thực hiện NTM nâng (Nguồn: Ước tính của VPĐPNTM  
cao, NTM kiểu mẫu, NTM trong tỉnh Đồng Nai)  
1. Đồng Nai  
quá trình đô thị hóa.  
Dự kiến, có 11/34 xã ven đô sẽ  
Đến năm 2020, hoàn thành 100% thành phường|thị trấn ở năm 2019  
huyện NTM, 100% xã giữ vững (Nhơn Trạch: 1; Biên Hòa 5; Long  
chuẩn NTM, 15% xã đạt NTM Khánh 5); 23 xã còn lại chưa có kế  
nâng cao theo tiêu chí của tỉnh.  
hoạch.  
Chưa có kế hoạch xã ven đô nào sẽ  
trở thành phường văn minh đô thị  
Các xã đạt NTM tiếp tục thực  
hiện tiêu chí NTM nâng cao,  
NTM kiểu mẫu.  
Giữ lại các xã nông thôn của vùng  
Đến hết năm 2019: có 5-7 xã đạt tam giác sắt40 (An Điền, An Tây và  
NTM nâng cao; có thêm 2 huyện Phú An của huyện Bến Cát), không  
đạt NTM (nâng tổng số 7 huyện). định hướng xây dựng các xã này  
Đến hết năm 2020: Có 12-15 xã thành phường đô thị (Nguồn: Ý kiến  
đạt chuẩn NTM nâng cao, kiểu tham vấn từ Đại diện VPĐPNTM  
mẫu; 100% huyện thị đạt NTM39. tỉnh Bình Dương)  
2. Bình Dương  
Các xã tiếp tục thực hiện theo tiêu Thành phố chưa có kế hoạch cụ thể,  
chí NTM nâng cao của thành phố xã ven đô nào sẽ trở thành phường  
văn minh đô thị (Nguồn: Ý kiến tham  
vấn từ VPĐPNTM TP.HCM)  
3.TP.HCM  
Dự kiến đến năm 2020: có 56/56  
xã đạt chuẩn NTM, 5/5 huyện đạt  
chuẩn NTM (9/9 tiêu chí) 41  
Đến năm 2020, có ít nhất 05 xã  
đạt chuẩn NTM nâng cao; ít nhất  
01 xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu Xây dựng NTM gắn với đô thị hóa  
(theo Quyết định 691/QĐ-TTg); có được tỉnh nhắc đến, hạ tầng giao  
huyện Hòa Thành đạt chuẩn NTM thông xây dưng theo chuẩn NTM cấp  
xã nên chưa đáp ứng yêu cầu phát  
triển của đô thị.  
4.Tây Ninh  
Đến năm 2025, có thêm 20 xã đạt  
chuẩn NTM, nâng số xã đạt chuẩn  
lên 65/80 xã, 50% xã đạt chuẩn Báo cáo sơ kết xây dựng NTM, tỉnh  
NTM nâng cao, 10 mô hình xã Tây Ninh chưa có kế hoạch cụ thể xã  
NTM kiểu mẫu, ít nhất có 02 nông thôn mới nào sẽ trở thành  
huyện đạt chuẩn huyện NTM.  
phường đô thị  
39 Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình xây dựng NTM tỉnh Bình Dương (2016-2018) và phương hướng, nhiệm vụ năm 2019-2020.  
40 Khu Tam Giác Sắt, là căn cứ cách mạng của Huyện ủy Bến Cát, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một và Khu ủy Sài Gòn  
41 Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình xây dựng NTM TP.HCM (2016-2018) và phương hướng, nhiệm vụ năm 2019-2020.  
95  
Duy trì và nâng cao chất lượng  
các tiêu chí của các xã đạt chuẩn  
NTM  
Xây dựng huyện Long Điền là  
huyện NTM trong quá trình đô thị  
hóa (theo quyết định 676/QĐ-TTg)  
Phấn đấu đến năm 2000: đạt thêm để được Thủ tướng công nhận vào  
5. BRVT  
14 xã NTM, nâng tổng số xã năm 2020.  
NTM lên 37 (đạt 82,2%). Triển  
Báo cáo sơ kết NTM, tỉnh BRVT  
khai thực hiện xã NTM theo Bộ  
chưa có kế hoạch cụ thể xã nông  
tiêu chí TW.  
thôn mới nào sẽ trở thành phường đô  
thị  
Năm 2019: tỉnh Bình Phước có  
Cũng chưa có kế hoạch cụ thể về  
thêm 9 xã đạt chuẩn NTM; Đến  
xây dựng NTM vùng ven đô, chưa  
năm 2020: thêm 10 xã đạt chuẩn  
có dự kiến xã NTM nào sẽ trở thành  
NTM (lũy kế 55 xã đạt, chiếm  
phường hoặc thị trấn  
6.Bình Phước  
59,8% tổng số xã); Số tiêu chí đạt  
bình quân: 14,22.  
Nguồn: Các báo cáo sơ kết 3 năm xây dựng NTM và tham vấn một số tỉnh ĐNB  
Từ năm 2019 trở đi, trong các báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện NTM 2016-2018  
của các tỉnh thành vùng ĐNB chỉ đề cập đến mục tiêu chung chung trong xây dựng  
NTM, tức là đến năm 2019 hoặc 2020 thì sẽ có thêm bao nhiêu xã được công nhận  
NTM hoặc bao nhiêu tiêu chí phải hoàn thành. Các báo cáo này chưa đề cập đến định  
hướng xây dựng NTM cho các xã ven đô. Phần thông tin khuyết này được đại diện  
VPĐPNTM các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và Tp.HCM chia sẻ. Trước hết là tỉnh  
Đồng Nai, theo thông tin ước tính của VPĐPNTM tỉnh Đồng Nai, kế hoạch ngay trong  
năm 2019, toàn tỉnh sẽ có 11/34 xã trở thành phường và thị trấn (còn 23/34 xã ven đô  
còn lại thì chưa có kế hoạch cụ thể). Như vậy, nếu trở thành hiện thực thì tỉnh Đồng  
Nai sẽ giống như trường hợp của tỉnh Bình Dương vào năm 2011. Thứ hai là tỉnh Bình  
Dương, tỉnh này chưa có kế hoạch xã ven đô nào sẽ trở thành phường văn minh đô thị  
nhưng chủ trương sẽ giữ lại các xã nông thôn của vùng tam giác sắt42 (An Điền, An  
Tây và Phú An của thị xã Bến Cát), không định hướng xây dựng các xã này thành  
phường đô thị. Thứ ba là thành phố Hồ Chí Minh, ở nhiệm kỳ lãnh đạo của Bí thư  
thành ủy trước năm 2017 có nhắc đến việc xã ven đô nào sẽ trở thành phường đô thị.  
Tuy nhiên, theo thông tin từ VPĐPNTM thành phố HCM, đến nay kế hoạch này chưa  
được nhắc đến, điều này có nghĩa là các xã ven đô tiếp tục phấn đấu xây dựng NTM  
theo Bộ tiêu chí NTM nâng cao của thành phố. Các tỉnh còn lại như Tây Ninh, Bà Rịa  
Vũng Tàu và Bình Phước chưa thấy định hướng xây dựng NTM khu vực ven đô trong  
báo cáo sơ kết của chương trình này.  
5. Giải pháp xây dựng NTM khu vực ven đô vùng Đông Nam Bộ  
Thứ nhất, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn theo hướng đồng bộ với phát triển  
đô thị. Trên thực tế, kết cấu hạ tầng theo yêu cầu phát triển một nền nông nghiệp toàn  
diện theo hướng hiện đại còn yếu, nhất là hạ tầng đáp ứng sản xuất công nghệ cao,  
nước sạch, vệ sinh môi trường, phòng, chống thiên tai và biến đổi khí hậu. Hệ thống  
giao thông tuy đã được đầu tư nhưng còn một số nơi chưa đáp ứng được nhu cầu của  
người dân, các tuyến đường còn thiếu hệ thống thoát nước. Đặc biệt, tại một số vùng  
ven đô nằm trên các trục quốc lộ chính nối kết khu vực, lượng xe lưu thông đông, gần  
42 Khu Tam Giác Sắt, là căn cứ cách mạng của Huyện ủy Bến Cát, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một và Khu ủy Sài Gòn  
96  
khu dân cư nên tình trạng tai nạn giao thông còn khá cao, ảnh hưởng đến tâm lý và  
cuộc sống người dân. Ngoài ra còn gặp khó khăn trong tiêu chí chợ, thông thường các  
xã có quy hoạch điểm chợ tập trung nhưng hiện tại người dân vẫn sinh hoạt ở chợ  
truyền thống, thuận tiện cho đi lại người dân hơn. Do đó một số nơi các chợ xây dựng  
xong nhưng hiệu quả hoạt động không cao. Công tác vận động người dân hiến đất làm  
đường, mở rộng đường gặp khó vì ảnh hưởng đến phần đất của dân, hoặc nhà cửa đã  
xây kiên cố. Xây dựng NTM ở khu vực ven đô cần có tầm nhìn, tránh tình trạng các cơ  
sở hạ tầng còn lạc hậu, không theo kịp sự phát triển của đô thị hiện đại. Để thực hiện  
giải pháp này, công tác quy hoạch và chất lượng quy hoạch cần được làm thật tốt, từ đó  
có thể định hướng xây dựng, tái cơ cấu ngành, đảm bảo tính nhất quán, sự ổn định  
trong phát triển.  
Thứ hai, tổ chức phát triển sản xuất nông nghiệp khu vực ven đô cần hướng đến  
nền nông nghiệp đô thị, chuyển đổi nghề nghiệp sang phi nông nghiệp. Quá trình đô thị  
hóa tại các vùng ven đô đã khiến diện tích đất nông nghiệp dần thu hẹp. Nhiều hộ có ý  
chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp nhằm mục đích chuyển nhượng  
bất động sản, ví dụ như ở thành phố HCM và Bình Dương. Đô thị hóa làm tác động  
đến tâm l  đầu tư đối với hộ nông dân, tình trạng bỏ hoang, không chú tâm đầu tư nông  
nghiệp và gây lãng phí tài nguyên đất43. Các địa phương cần chú trọng hơn nữa công  
tác chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, giúp nông  
dân nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, từng bước đáp ứng với nhu cầu của thị  
trường. Các trại chăn nuôi khuyến khích áp dụng công nghệ làm mát chuồng trại, sử  
dụng chế phẩm vi sinh trong việc giảm mùi hôi để đảm bảo môi trường. Hoặc một số  
trại chăn nuôi cần được di dời ra khỏi các khu dân cư để tránh tình trạng ô nhiễm.  
Ngoài ra, chú trọng công tác dạy nghề, chuyển đổi hoạt động sản xuất sang hướng các  
nhóm ngành phi nông nghiệp cũng là giải pháp hữu ích, vừa giúp công ăn việc làm cho  
lao động, vừa giải quyết được bài toán thu hẹp của quỹ đất nông nghiệp.  
Thứ ba, chú trọng công tác đảm bảo an ninh trật tự và vệ sinh môi trường. Khu  
vực ven đô là nơi tập trung đông dân cư, nhiều thành phần kinh tế và ngành nghề. Mặc  
dù dân nhập cư giúp cung cấp lao động cho ngành công nghiệp dịch vụ nhưng lại tạo ra  
áp lực về nơi ở, cơ sở hạ tầng an sinh xã hội, nhu cầu điện, nước và an ninh trật tự. Dân  
nhập cư càng gia tăng thì công tác quản l  an ninh trật tự càng gặp nhiều khó khăn,  
phức tạp ở các nhà trọ, áp lực giải quyết tạm trú cho công nhân, tệ nạn xã hội, trộm  
cắp, gây mất an ninh trật tự và mâu thuẫn giữa nhóm người nhập cư. Mặt khác, dân  
nhập cư gây quả tải về trường học trên địa bàn, một số xã lại thiếu quỹ đất xây dựng,  
khó khăn trong đảm bảo tiêu chí trường học. Ngoài ra, cảnh quan môi trường sống  
cũng bị ảnh hưởng, tình trạng vứt rác, chai lọ, bao bì từ công nhân, khách vãng lai, các  
khu nhà trọ. Bên cạnh đó, vùng ven đô cũng còn hoạt động xả thải của các doanh  
nghiệp, công ty tại địa bàn và vùng lân cận nên tiêu chí môi trường là vấn đề khó khăn.  
Để thực hiện giải pháp này, cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, các ban  
ngành đoàn thể địa phương, đặc biệt là Ban phát triển NTM cấp xã và ấp. Phát triển và  
nhân rộng các mô hình hay trong xây dựng NTM, ví dụ như mô hình câu lạc bộ chủ  
nhà trọ ở tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Dương, mô hình xã hội hóa trang thiết bị thu gom  
rác ở thành phố HCM, mô hình vận động di dời cơ sở sản xuất gây ô nhiễm vào vùng  
quy hoạch ở Đồng Nai và Bình Dương, mô hình Tổ chuyển hóa phụ trách an ninh trật  
tự ở Đồng Nai. Các địa phương cần tìm tòi và xây dựng thêm nhiều mô hình khác,  
thích hợp với điều kiện thực tế để làm tốt giải pháp này. Mặt khác, đẩy mạnh công tác  
43 Tham vấn ý kiến của Ban lãnh đạo và Cán bộ phụ trách NTM các tỉnh thành vùng Đông Nam Bộ.  
97  
tuyên truyền, vận động nâng cao ý thức người dân trong hoạt động bảo vệ môi trường  
và giữ gìn an ninh trật tự khu vực, đặc biệt là tại khu vực ven đô.  
Thứ tư, duy trì công tác tuyên truyền, vận động sự tham của người dân, nâng  
cao trình độ của cán bộ chuyên trách NTM. Công tác thông tin tuyên truyền xây dựng  
NTM ở một số địa phương vùng ĐNB đã được thực hiện nhưng cần thường xuyên và  
sâu sắc hơn. Xây dựng NTM là không có điểm kết thúc, các địa phương cần vận động  
người dân phấn đấu, đạt được NTM nâng cao và xã NTM kiểu mẫu. Nâng cao hơn nữa  
nhận thức của người dân, giúp họ thấy được lợi ích chung của cộng đồng trong đó có  
lợi ích của cá nhân. Ngoài ra, cần quan tâm đến việc nâng cao trình độ cán bộ phụ trách  
NTM, nhất là công tác lập kế hoạch, thực hiện xây dựng NTM, nghiệp vụ thống kê và  
có chế độ phụ cấp xứng đáng với công việc.  
Thứ năm, giữ vững các tiêu chí đã đạt được và nâng cấp các tiêu chí để tiếp tục  
phấn đấu. Các tiêu chí về cơ sở hạ tầng khi đã thực hiện xong thì cần chú trọng việc  
quản lý, duy tu, bảo dưỡng thường xuyên, tránh xuống cấp và hư hỏng. Còn đối với  
những tiêu chí như thu nhập, tỷ lệ hộ nghèo, an ninh trật tự, môi trường thì rất dễ thay  
đổi, phụ thuộc nhiều vào yếu tố khách quan cũng như   thức của người dân. Vấn đề  
này, mặc dù các tỉnh thành vùng ĐNB đều nhận diện nhưng cũng là thách thức lớn.  
Bên cạnh đó, việc nâng cấp các tiêu chí là cần thiết, để các xã NTM tiếp tục phát huy,  
có cột mốc mới để phấn đấu, tránh tâm lý tự bằng lòng với thành quả hiện tại.  
Bên cạnh những giải pháp trên, các địa phương khu vực ven đô cần rà soát lại  
chất lượng quy hoạch, tương thích với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tổng thể  
phát triển sản xuất ngành nông nghiệp; nông thôn mới và các quy hoạch theo hướng đô  
thị hiện đại khác. Khi thực hiện NTM sẽ cần lượng vốn lớn nên chú trọng việc huy  
động vốn từ các nguồn khác nhau, đặc biệt là huy động sự đóng góp tự nguyện của  
người dân và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Có chính sách ưu đãi  
về đất đai, hỗ trợ vốn cho các dự án khởi nghiệp nông nghiệp.  
Cuối cùng, việc xây dựng NTM ở các xã ven đô nên chăng cần được định hướng  
rõ ngay từ ban đầu. Chẳng hạn, một khi địa phương đã có dự kiến xã thuần nông nào sẽ  
trở thành xã ven đô, xã ven đô nào sẽ trở thành phường đô thị thì cần chuẩn bị kế hoạch  
thực hiện (tham khảo cách làm của tỉnh Đồng Nai). Việc quy hoạch khu dân cư, xây  
dựng cơ sở hạ tầng nông thôn thích hợp với xu hướng phát triển của đô thị, hiện đại  
hóa nông thôn và tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng đô thị. Nâng cao điều kiện  
sống người dân nông thôn gần với đời sống dân đô thị. Chuyển dịch dần cơ cấu lao  
động nông nghiệp sang phi nông nghiệp, xây dựng nông thôn cần hướng tới đô thị  
xanh, có nền sản xuất nông nghiệp hiện đại, chứ không thể hiểu đơn thuần là chỉ là xí  
nghiệp, nhà cửa và khu phố thương mại. Nguyên tắc thực hiện là theo thị trường, phát  
huy tính chủ động sáng tạo của địa phương và cũng có thể cần giữ lại nét riêng của  
nông thôn (tham khảo chủ trương của tỉnh Bình Dương, giữ lại ba xã thuần nông mà  
không quy hoạch thành phường đô thị). Xây dựng NTM cần chú trọng đến đối tượng  
thụ hưởng là người dân, lấy thước đo hài lòng và hạnh phúc để làm mục tiêu phấn đấu,  
gắn kết các lĩnh vực kinh tế, xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa, xây dựng hình ảnh nông  
thôn đa dạng chứ không chỉ dựa trên một khuôn mẫu NTM duy nhất.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Cục thống kê các tỉnh Đông Nam Bộ, 2018. Niên giám thống kê năm 2017.  
98  
2. McGranaham D., McGregor D. and Thompson D. (2004). Urban-rural change, boundary  
problems and environmental burdens. International Institute for Environment and  
Development.  
3. Nguyễn Duy Thắng, 2009. Tác động của đô thị hóa đến các mặt kinh tế xã hội của vùng  
ven đô và những vấn đề cần quan tâm. Tạp chí xã hội học, số 1 – 2009.  
4. Sở LĐ-TB và XH, 2018. Kết quả 3 năm (2016-2018) thực hiện chương trình mục tiêu  
quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và phương hướng,  
nhiệm vụ năm 2019-2020, 17 trang.  
5. Sở LĐ-TB&XH tỉnh Đồng Nai, 2018. Báo cáo sơ kết 3 năm (2016-2018) thực hiện  
chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn  
tỉnh Đồng Nai, 15 trang.  
6. Sở NN&PTNT tỉnh Bình Dương, 2019. Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện chương trình mục  
tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới- phương hướng nhiệm vụ và giải pháp thực hiện  
giai đoạn 2019-2020, 14 trang.  
7. Sở NN&PTNT tỉnh Bình Phước, 2018. Báo cáo sơ kết 3 năm (2016-2018) thực hiện  
chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới- phương hướng nhiệm vụ và giải  
pháp thực hiện giai đoạn 2019-2020, 28 trang.  
8. UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, 2018. Báo cáo sơ kết 3 năm (2016-2018) giai đoạn 2016-  
2020 trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, 16 trang.  
9. UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, 2018. Báo cáo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia  
xây dựng nông thôn mới từ năm 2011-2017 và Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu  
quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2018-2020 tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, 39 trang.  
10. UBND tỉnh Đồng Nai, 2018. Báo cáo sơ kết 3 năm (2016-2018) thực hiện chương trình  
mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; phương hướng- nhiệm vụ và giải pháp thực  
hiện giai đoạn 2018-2020,31 trang.  
11. UBND tỉnh Tây Ninh, 2018. Báo cáo sơ kết 3 năm (2016-2018) thực hiện Chương trình  
MTQG xây dựng nông thôn mới- Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện giai đoạn  
2018 - 2020, định hướng đến năm 2025, 28 trang.  
12. UBND TP.HCM (Ban chỉ đạo của Thành Ủy về Chương trình xây dựng NTM Thành  
Phố), 2019. Báo cáo sơ kết 3 năm (2016-2018) thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia  
xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và phương hướng, nhiệm vụ  
năm 2019-2020, 86 trang.  
13. UBND TP.HCM, 2018. Báo cáo về tình hình kinh tế văn hóa xã hội TP năm 2018; Nhiệm  
vụ giải pháp trọng tâm năm 2019, 54 trang.  
14. Văn phòng điều phối nông thôn mới TW, 2019. Báo cáo tổng quan kết quả thực hiện  
chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới năm 2018 và định hướng nhiệm vụ.  
99  
pdf 13 trang yennguyen 9600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xây dựng nông thôn mới khu vực ven đô vùng Đông Nam Bộ: Thực trạng, định hướng và giải pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxay_dung_nong_thon_moi_khu_vuc_ven_do_vung_dong_nam_bo_thuc.pdf