Chuyển biến về thương mại – dịch vụ trong quá trình đô thị hóa Quận 2 (Thành phố Hồ Chí Minh) từ 1997-2015

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
TẠP CHÍ KHOA HỌC  
ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
Số 69 (03/2020)  
SAIGON UNIVERSITY  
SCIENTIFIC JOURNAL  
OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 69 (03/2020)  
CHUYỂN BIẾN VỀ THƯƠNG MẠI – DỊCH VỤ TRONG QUÁ TRÌNH  
ĐÔ THỊ HÓA QUẬN 2 (THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH) TỪ 1997 – 2015  
Transformation in trade – service during urbanization process of District 2  
(Ho Chi Minh City) from 1997 to 2015  
ThS.NCS. Nguyễn Hồng Trang  
Trường Đại học Sài Gòn  
TÓM TẮT  
Sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), tại Thành phố Hồ Chí Minh, đô thị hóa đã diễn ra trên nhiều quận,  
huyện, góp phần thay đổi diện mạo kinh tế, văn hóa, xã hội của một thành phố vốn năng động và nhiều  
tiềm năng phát triển. Cho đến nay, có thể nhận thấy, tốc độ đô thị hóa ở Quận 2 (TP.HCM) đã và đang  
diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt, sự biến đổi cơ sở hạ tầng đô thị của Quận 2 đã góp phần quan trọng vào sự  
phát triển kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung.  
Bài viết này tập trung tìm hiểu về sự chuyển biến thương mại - dịch vụ trong quá trình đô thị hoá ở  
Quận 2 từ 1997 – 2015 nhằm chỉ ra những đặc điểm, hoàn cảnh lịch sử, chính sách đã tác động đến toàn  
bộ quá trình phát triển của quận, đồng thời nêu ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất những bước đi  
tiếp theo để Quận 2 tiếp tục phát triển hơn nữa sau 18 năm thành lập.  
Từ khóa: đô thị, đô thị hoá Quận 2, thương mại - dịch vụ  
ABSTRACT  
After the 6th National Congress of the Communist Party of Vietnam (1986), urbanization has taken  
place in many districts & provinces, which changed the interface of a dynamic and potential City in  
terms of economy, culture and society. So far, it can be seen that the pace of urbanization in District 2  
(HCMC) has been moving stronger, especially the transformation of urban infrastructure, which  
contributed strongly to the economic development of Ho Chi Minh City in particular and Vietnam in  
general.  
The article focuses on studying the transformation in trade - service during District 2’s urbanization  
process from 1997 to 2015, in order to point out the characteristics, the historical circumstances, and  
policy that entirely affect the District’s development process. At the same time, the article shows some  
lessons learned from experiences and proposes next steps to boost District 2 on its continuous  
development after 18 years of establishment.  
Keywords: urban, urbanization in District 2, trade – service  
theo sự mở rộng về quy mô của các đô thị,  
đồng thời cũng tác động đến sự chuyển  
dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội của đô  
thị. Tăng trưởng kinh tế cũng là điều kiện  
1. Đặt vấn đề  
Quá trình đô thị hóa (ĐTH) và tăng  
trưởng kinh tế có mối quan hệ biện chứng  
với nhau, tăng trưởng kinh tế thường kéo  
83  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 69 (03/2020)  
để phát triển đô thị về mọi mặt, cải thiện  
kết cấu hạ tầng, nâng cao đời sống vật chất  
lẫn tinh thần của người dân. Cho đến nay,  
ĐTH thực sự đã trở thành một hiện tượng  
xã hội, một hiện tượng kinh tế có ảnh  
hưởng hết sức quan trọng tới mọi lĩnh vực  
hoạt động của đời sống con người.  
sự phát triển kinh tế của địa phương, cung  
cấp cơ sở khoa học cho các ban ngành  
chức năng rút ra những bài học kinh  
nghiệm trong việc đề ra chủ trương, chính  
sách phù hợp đối với tình hình thực tiễn  
nhằm phát huy các tiềm năng và thế mạnh  
của Quận 2 nói riêng và các quận khác nói  
chung vào sự phát triển của TP.HCM.  
2. Nội dung  
Theo Quyết định số 1570/2006/QĐ-  
TTg ngày 27/11/2006 của Thủ tướng Chính  
phủ về việc phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch  
chung xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh  
(TP.HCM) đến năm 2025, Thành phố được  
quy hoạch là đô thị đặc biệt, là trung tâm  
lớn về kinh tế, văn hoá, khoa học công  
nghệ, có vị trí địa chính trị quan trọng của  
cả nước và sẽ trở thành trung tâm công  
nghiệp, dịch vụ đa lĩnh vực của khu vực  
Đông Nam Á. Nằm trong không gian  
TP.HCM, Quận 2 sẽ là trung tâm tài chính -  
dịch vụ - thương mại - văn hoá - thể dục thể  
thao trong quá trình đô thị hoá các quận  
ngoại thành. Trong quá trình triển khai thực  
hiện các kế hoạch nêu trên, cùng với những  
yếu tố khách quan và chủ quan khác tác  
động, có thể nhận thấy, tốc độ ĐTH ở Quận  
2 đã và đang diễn ra mạnh mẽ, góp phần  
quan trọng trong sự phát triển kinh tế của  
TP.HCM nói riêng và Việt Nam nói chung.  
Trải qua 18 năm thành lập (1997 -  
2015), qua 4 kỳ Đại hội Đảng bộ Quận,  
nền kinh tế Quận 2 tăng trưởng với tốc độ  
cao, các nguồn lực kinh tế đều được phát  
huy, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng  
hướng. Từ một nền kinh tế sản xuất với  
ngành nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp  
là chính, cơ cấu kinh tế Quận đã dần  
chuyển dịch theo hướng dịch vụ - thương  
mại và có xu hướng phát triển nhanh trong  
quá trình đô thị hóa. Tìm hiểu về sự chuyển  
biến thương mại - dịch vụ trong quá trình  
đô thị hoá ở quận 2 từ 1997 - 2015 góp  
phần làm rõ những yếu tố đã tác động đến  
2.1. Khái quát quá trình đô thị hóa  
Quận 2  
Quận 2 nằm ở phía Đông Bắc của  
TP.HCM, trên tả ngạn sông Sài Gòn. Phía  
Bắc giáp Quận Thủ Đức, Bình Thạnh (qua  
sông Sài Gòn và sông Rạch Chiếc). Phía  
Nam giáp Quận 7, huyện Nhơn Trạch của  
tỉnh Đồng Nai (qua sông Sài Gòn và sông  
Đồng Nai). Phía Đông giáp Quận 4, Quận  
1, Quận Bình Thạnh (qua sông Sài Gòn).  
Từ năm xã thuộc huyện Thủ Đức (An Phú,  
An Khánh, Thủ Thiêm, Bình Trưng và  
Thạnh Mỹ Lợi), Quận 2 được chia thành  
11 phường gồm: An Phú, Thảo Điền, An  
Khánh, Bình An, Thủ Thiêm, An Lợi  
Đông, Bình Trưng Đông, Bình Trưng Tây,  
Thạnh Mỹ Lợi và Cát Lái.  
Tổng diện tích tự nhiên của Quận 2 là  
5.020 ha, trong đó, đất nông nghiệp chiếm  
51,8%, đất ở chiếm 9,8%, đất chuyên  
dùng 9,4%, diện tích còn lại là hệ thống  
sông rạch. Với hiện trạng như trên, Quận  
2 có một quỹ đất lớn, hầu hết là đất trống,  
thuận lợi cho việc đầu tư xây dựng các  
công trình và phát triển hệ thống giao  
thông nối liền giữa khu vực trung tâm nội  
thành và các vùng kinh tế trọng điểm  
Đông Nam Bộ.  
Được bao bọc bởi 2 con sông lớn là  
sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và 2 con  
rạch là rạch Bà Cua, rạch Chiếc, cùng với  
hệ thống kênh rạch chằng chịt, Quận 2 có  
một tiềm năng về cảnh quan thiên nhiên,  
84  
NGUYỄN HỒNG TRANG  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
rất thích hợp với việc phát triển các loại  
hình dịch vụ văn hóa, thể dục thể thao gắn  
với du lịch sinh thái, đặc biệt thuận lợi phát  
triển hệ thống cảng phục vụ sản xuất, phát  
triển giao thông thủy.  
Từ lâu, người dân bản địa đã sống  
cuộc sống của cư dân thuộc vùng ĐTH bán  
nông bán công. Trước 1975, do chiến  
tranh, ĐTH của Quận 2 mang tính cưỡng  
bức: bến cảng, xí nghiệp nhà máy, cầu  
đường… đều chủ yếu phục vụ cho guồng  
máy chiến tranh, trong khi đó, đại bộ phận  
nông dân trình độ văn hóa thấp; cơ sở hạ  
tầng kém, thiếu trường học, nơi chữa bệnh,  
thiếu các công trình văn hóa; môi trường  
xã hội cũng hết sức phức tạp.  
Từ sau 1975, chính quyền Thành phố  
đã có nhiều chính sách nhằm đẩy nhanh  
tiến độ ĐTH, cải thiện cuộc sống cho nhân  
dân về nhiều mặt, giảm cách biệt giàu  
nghèo. Tuy nhiên chỉ sau khi có chính sách  
đổi mới (1986), sự thay đổi diện mạo của  
TP.HCM mới thật sự rõ nét, kinh tế phát  
triển, quy hoạch, cải tạo, xây dựng mới  
nhiều công trình tầm cỡ. Riêng vùng đất  
Quận 2, theo đà phát triển chung của Thành  
phố, cũng có những bước chuyển mình,  
nhưng do không có sự tập trung chỉ đạo cụ  
thể, cũng như chỉ là những phường của  
quận Thủ Đức, nên sự đầu tư còn mang tính  
phân tán. Rõ ràng, cho đến trước khi được  
thành lập, Quận 2 vẫn còn mang đậm tính  
chất một vùng nông nghiệp với đường sá hạ  
tầng yếu kém, nhà ở, điện nước… thiếu  
thốn. Đó là một thực tại, là điểm xuất phát  
của Quận 2 khi bước vào quá trình ĐTH.  
Tuy vậy, với chủ trương phát triển đô  
thị tại Việt Nam và với những điều kiện  
thuận lợi về không gian, cảnh quan và vị trí  
chiến lược (nằm đối diện khu trung tâm cũ  
qua bờ sông Sài Gòn, Quận 2 là đầu mối  
giao thông về đường bộ, đường thủy nối  
liền Thành phố với các tỉnh Đồng Nai,  
Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu), trong  
những năm qua, Quận 2 được sự quan tâm  
chỉ đạo và đầu tư của cả Thành phố và  
Trung ương, hàng loạt các chủ trương,  
chính sách đã tạo điều kiện để Quận 2 phát  
triển; những dự án lớn về hạ tầng kỹ thuật  
đã, đang và sắp thực hiện sẽ kích thích và  
thu hút mạnh mẽ sự đầu tư của các thành  
phần kinh tế trong và ngoài nước.  
Chủ trương, chính sách phát triển đô  
thị Quận 2 của Chính phủ và Ủy ban nhân  
dân (UBND) TP.HCM từ năm 1997 đến  
2015 có những mục tiêu cụ thể, có thể thấy  
rõ sự khác biệt trong chủ trương, chính  
sách phát triển Quận 2 qua 2 giai đoạn:  
1997- 2006, tập trung chuyển đổi cơ cấu  
KT, đầu tư cơ sở hạ tầng (CSHT) để thu  
hút đầu tư và cải thiện đời sống người dân  
ở Quận 2 và 2007-2015, phát triển CSHT  
đồng bộ khu vực phía Đông Tp.HCM, liên  
kết vùng KT giữa các tỉnh của miền Đông  
nam bộ và hình thành khu đô thị kiểu mẫu  
(KĐTM) Thủ Thiêm. Mặc dù, Quận 2 mới  
được thành lập ngày 1/4/1997, nhưng theo  
Quyết định số 123/1998/QĐ-TTg ngày  
10/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê  
duyệt Điều chỉnh quy hoạch chung của  
TP.HCM đến năm 2020, thì Quận 2 đã  
được xếp vào “khu nội thành phát triển”.  
Việc quy định mang tính văn bản hành  
chính nói trên, đã thể hiện rõ định hướng  
cho sự phát triển.  
Do nằm ở vị trí cầu nối giữa trung tâm  
TP.HCM với khu Đông, trong quá trình  
ĐTH, Quận 2 được xem là tâm điểm đầu tư  
của các dự án, hạ tầng kết nối, thu hút được  
nguồn lực đầu tư lớn vào lĩnh vực này.  
Nghiên cứu của Công ty Tư vấn kinh  
doanh hội nhập Toàn Cầu (GIBC) công bố  
hồi tháng 8/2015 cho thấy, tính đến nửa  
đầu năm 2015, khu Đông (từ cầu Sài Gòn,  
85  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 69 (03/2020)  
đổ ra Thủ Đức đến ngã tư Vũng Tàu) đã  
hút 3 tỷ USD vào các đường vành đai, cao  
tốc. Bắt đầu từ tháng 1/2014 - thời điểm  
đưa vào vận hành 20 km đầu tiên trong  
tổng số 55,7 km cao tốc TP.HCM - Long  
Thành - Dầu Giây, đoạn từ nút giao với  
đường Vành đai 2 (Quận 9) đến Quốc lộ 51  
(tỉnh Đồng Nai), thị trường bất động sản  
khu Đông (Quận 2, Quận 9) có dấu hiệu  
phát triển, mạnh mẽ nhất là thời điểm bước  
sang năm 2015, khi hai công trình giao  
thông đối ngoại quan trọng đi qua địa bàn  
Quận 2 đưa vào vận hành. Đó là đường  
Vành đai Đông (nối từ chân cầu Phú Mỹ -  
ngay nút giao với đường Đồng Văn Cống,  
Quận 2 đến đường D2 – Bình Thạnh nối  
vào Khu công nghệ cao TP.HCM, Quận 9)  
và phần còn lại của cao tốc TP.HCM -  
Long Thành - Dầu Giây (giao với Đại lộ  
Mai Chí Thọ, Quận 2). Xung quanh hai  
trục giao thông quan trọng này, hàng loạt  
dự án nhà ở được triển khai.  
Cùng với tốc độ phát triển nhanh của  
CSHT là sự mở rộng không gian đô thị và  
sự gia tăng dân số. Tính từ thời điểm thành  
lập quận năm 1997, số dân chỉ khoảng  
86.000 người thì đến năm 2015 đã ở mức  
147.168 nhân khẩu. Việc tăng gần gấp đôi  
dân số trong khoảng thời gian 18 năm cho  
thấy quá trình ĐTH nhanh đã thực sự tác  
động đến việc gia tăng dân số. Bên cạnh cư  
dân các vùng miền khác quy tụ về đây, một  
số lượng lớn các công nhân, viên chức, kỹ  
sư, chuyên gia… trong và ngoài nước đã  
đến làm việc và sinh sống tại Quận 2.  
Những yếu tố này chính là tác nhân thúc  
đẩy sự phát triển kinh tế của Quận trong  
quá trình đô thị hóa.  
thương mại - dịch vụ (TM - DV) có một  
vai trò rất quan trọng trong việc lưu thông  
hàng hóa, tạo điều kiện cho sản xuất phát  
triển. Bên cạnh đó, sự phát triển của TM -  
DV còn là chỉ số quan trọng để đánh giá  
mức độ đô thị hóa.  
Giai đoạn 1997 - 2005  
Ở giai đoạn mới thành lập, trên địa bàn  
Quận 2 có 35 doanh nghiệp và 2.130 hộ  
kinh doanh với doanh thu còn thấp. Toàn  
Quận chưa có siêu thị, trung tâm thương  
mại, chỉ có một số chợ truyền thống thành  
lập từ trước năm 1975 (chợ Cát Lái, chợ  
Tân Lập, chợ Bình Trưng) và một vài chợ  
họp một buổi (chợ Chiều, chợ Giồng, chợ  
Cây Xoài, chợ Thủ Thiêm) nằm rải rác trên  
địa bàn Quận. Từ sau năm 2000, với tốc độ  
ĐTH nhanh chóng, kinh tế Quận 2 đã  
chuyển biến theo hướng tăng dần tỷ trọng  
về TM - DV.  
Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất (1997 -  
2001) đã xác định mục tiêu từng bước  
chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quận theo hướng  
dịch vụ, thương mại - công nghiệp - nông  
nghiệp. Sau 3 năm thực hiện, cơ cấu kinh tế  
Quận đã có sự chuyển biến. Theo đó, năm  
1997, công nghiệp (CN) chiếm 93,23%, TM  
- DV chiếm 4,58% và nông nghiệp (NN)  
chiếm 2,19%. Đến năm 2000, CN chiếm  
90,09%, TM - DV 8,49% và nông nghiệp là  
1,42% (niên giám thống kê 2005 - Quận 2,  
Trang 39). Như vậy chỉ sau ba năm thực  
hiện Nghị quyết, nếu như tỉ trọng của sản  
xuất CN giảm, thì TM - DV năm 2000 tăng  
gần gấp đôi so với năm 1997.  
Trong giai đoạn 1997 - 2001, hoạt  
động sản xuất TM - DV trên địa bàn Quận  
2 chủ yếu là buôn bán nhỏ, lẻ phục vụ nhu  
cầu tiêu dùng, phát triển ở một số địa bàn  
dân cư tập trung, mạng lưới thương nghiệp  
còn mỏng và hình thành tự phát theo các  
trục lộ chính. Ngành hàng chủ yếu của hệ  
2.2. Sự phát triển của thương mại -  
dịch vụ trong quá trình đô thị hóa Quận 2  
từ 1997 – 2015  
Trong nền kinh tế, sự phát triển của  
86  
NGUYỄN HỒNG TRANG  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
thống TM - DV trên địa bàn Quận là ăn  
uống, kinh doanh vàng bạc đá quý, dịch vụ  
cầm đồ, mua bán máy móc thiết bị và hàng  
tiêu dùng. Hoạt động du lịch và xuất nhập  
khẩu do Quận quản lý có nhưng không  
đáng kể. Hầu hết các cơ sở TM - DV tận  
dụng mặt bằng nhà ở để kinh doanh, do  
đó bị hạn chế trong việc mở rộng quy mô  
hoạt động.  
Đại hội Đảng bộ Quận lần thứ hai  
(2001 - 2005) tiếp tục xác định phát triển  
kinh tế theo cơ cấu CN - TM - DV. Sau 5  
năm thực hiện Nghị quyết của Đại hội,  
kinh tế Quận 2 tăng trưởng với tốc độ cao,  
các nguồn lực kinh tế được phát huy, giá trị  
sản xuất CN - TTCN tăng bình quân hàng  
năm 23,47% (chỉ tiêu 18 - 20%/năm),  
doanh thu TM - DV tăng bình quân hàng  
năm 71,93% (chỉ tiêu 35 - 40%/năm) và  
sản xuất nông nghiệp (NN) giảm bình quân  
hàng năm 6,1%. Cơ cấu kinh tế Quận  
chuyển biến theo đúng định hướng và phù  
hợp với quá trình ĐTH khi tỷ trọng ngành  
TM - DV tăng mạnh từ 9,46% (năm 2000)  
tăng lên 34,51% (năm 2005) trong khi CN  
- TTCN và NN có xu hướng giảm dần.  
(UBND TP.HCM, 2005, Báo cáo hình hình  
thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội 5 năm  
2001 - 2005 và phương hướng nhiệm vụ 5  
năm 2005 - 2010, tr.80).  
Bảng 1. Doanh thu ngành thương mại - dịch vụ giai đoạn 2000 – 2005  
DOANH THU CÁC NĂM (tỷ đồng)  
Hình thức kinh tế  
Cá thể  
2000  
173,52  
94,88  
79,15  
2001  
2002  
2003  
2004  
2005  
189,97  
195,83  
117,76  
278,41  
269,89  
124,98  
380,35  
597,99  
211,97  
561,51  
715,68  
Công ty TNHH  
DNTN  
1.040,50 1.496,60  
252,43 353,34  
Nguồn: Niên giám thống kê 2005 - Quận 2, Trang 38  
Doanh thu TM - DV Quận 2 năm 2000  
là 347,55 tỷ đồng, đến năm 2005 tăng vọt  
lên 2.565,41 tỷ đồng. Tốc độ phát triển  
bình quân/năm là 79,4%. Tuy doanh thu có  
mức tăng nhanh nhưng giá trị còn thấp so  
với các quận nội thành khác, chỉ chiếm tỷ  
lệ 0.2% trong tổng mức bán chung ở khu  
vực nội thành của thành phố.  
Có thể thấy sau ngày thành lập Quận  
2, chính quyền Quận 2 đã khuyến khích  
mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư  
vào quận bằng những chính sách thông  
thoáng, tạo nhiều thuận lợi cho ngành TM  
- DV có điều kiện phát triển. Bên cạnh  
đó, với đà phát triển của ĐTH, việc thu  
hẹp dần đất nông nghiệp đã tạo ra một lớp  
người không nghề nghiệp nhưng có vốn  
tương đối do được đền bù giải tỏa, chuyển  
sang làm thương mại, dịch vụ… tạo ra sự  
bùng phát kinh doanh. Các doanh nghiệp  
tư nhân, công ty TNHH lần lượt ra đời,  
dọc theo các con đường chính, góp phần  
hình thành những khu phố thương mại  
dịch vụ đa dạng hơn trước rất nhiều. Một  
số công ty nước ngoài, với bề dày kinh  
nghiệm và tầm cỡ thế giới, cũng đã nhanh  
chóng nhận ra những thuận lợi về con  
người, về địa thế đất đai và nhất là những  
chính sách mang tính khuyến khích, hỗ  
trợ của chính quyền. Họ đã mạnh dạn đầu  
87  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 69 (03/2020)  
tư và có những thành công nhất định.  
Có thể kể đến Park Land, River side với  
dịch vụ cho thuê căn hộ cao cấp. Metro,  
APSC kinh doanh đủ các loại hàng tiêu  
dùng.v.v.  
Ngoài những đơn vị có quy mô lớn,  
hoạt động hiệu quả thì vẫn còn đó những  
dãy phố mà hình thái kinh doanh còn rất  
manh mún, đậm nét nông thôn, tạo ra sự  
chênh lệch rõ nét về sự phát triển của một  
quận đang trong quá trình ĐTH.  
Giai đoạn 2006 - 2015  
Trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ  
Quận lần thứ ba (2006 - 2010), lần đầu tiên  
đã xác định chuyển dịch cơ cấu kinh tế  
theo hướng dịch vụ - thương mại, phấn đấu  
đến năm 2010, tỷ trọng ngành TM - DV  
đạt trên 50% cơ cấu kinh tế.  
Bảng 2. Tỷ trọng ngành CN-TTCN và TM-DV trên địa bàn Quận 2 (2010 - 2015)  
(Đơn vị: %/cơ cấu ngành kinh tế)  
Năm  
CN-TTCN 46,65  
TM-DV 53,31  
2010  
2011  
45,20  
54,79  
2012  
40,78  
59,21  
2013  
37,57  
62,47  
2014  
33,78  
66,21  
2015  
33,31  
66,69  
Nguồn: Báo cáo của UBND Quận 2 về tình hình kinh tế - xã hội 5 năm, 2011 - 2015 trên địa bàn.  
Theo thống kê ở bảng 2, có thể thấy tỷ  
trọng của ngành TM - DV từ 2010 - 2015  
đã tăng đáng kể, từ 53,31% (năm 2010) lên  
66,69% (vào cuối năm 2015). Ngược lại,  
cũng trong giai đoạn này, CN - TTCN giảm  
từ 46,65% xuống còn 33,31%. Nếu so với  
thời điểm mới thành lập Quận, sự thay đổi  
về tỷ trọng giữa các ngành kinh tế trên địa  
bàn Quận 2 càng thể hiện rõ nét. Nếu năm  
1997, CN - TTCN chiếm 93,23%, chủ yếu  
ở quy mô nhỏ, công nghệ sản xuất lạc hậu,  
TM - DV khi đó chỉ chiếm 4,58%, NN ở  
mức 1,42%; thì đến cuối năm 2015, tỷ  
trọng ngành TM - DV chiếm gần 70%  
trong cơ cấu kinh tế Quận, CN dưới 30% và  
NN chỉ chiếm khoảng 0,003%. Điều này  
cho thấy, lĩnh vực TM - DV có đóng góp  
ngày càng lớn vào kinh tế của Quận.  
Bảng 3. Giá trị thương mại dịch vụ trên địa bàn Quận 2 (2011 - 2015)  
(Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và kế hoạch phát triển kinh tế  
- xã hội năm 2016 - 2020 của UBND Quận 2)  
88  
NGUYỄN HỒNG TRANG  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
Trong giai đoạn 2011 - 2015, TM -  
DV có sự tăng trưởng mạnh từ 26.689 tỷ  
đồng lên 62.379 tỷ đồng, có được kết quả  
này là do chủ trương của lãnh đạo  
TP.HCM về mặt dài hạn là tiếp tục đẩy  
mạnh phát triển tỷ trọng TM - DV.  
Theo Quyết định số 1999/QĐ-UBND  
ngày 24/4/2014 của UBND TP.HCM về  
phương hướng, nhiệm vụ phát triển  
TP.HCM đến năm 2020 gắn với Quy hoạch  
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành  
phố đến năm 2020, tầm nhìn đến năm  
2025, UBND Quận 2 đã xây dựng kế  
hoạch phát triển kinh tế - xã hội cho giai  
đoạn 2015 - 2020 với doanh thu ngành dịch  
vụ - thương mại tăng bình quân mỗi năm từ  
20 - 25%. Đến năm 2020, tỷ trọng ngành  
dịch vụ - thương mại sẽ chiếm trên 80%  
trong cơ cấu kinh tế quận.  
Trong cơ cấu ngành kinh tế TM - DV  
trên địa bàn Quận 2 có 3 lĩnh vực đóng góp  
đáng kể vào nguồn thu ngân sách và làm  
thay đổi diện mạo của quận trong quá trình  
ĐTH; đó là hoạt động kinh doanh - dịch vụ  
bất dộng sản, bán lẻ (siêu thị, trung tâm  
thương mại - TTTM) và dịch vụ cảng  
chiếm ưu thế, nổi trội hơn hết.  
duyệt quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển  
khu vực TP.HCM - Đồng Nai - Bà Rịa -  
Vũng Tàu (nhóm cảng số 5) đến năm 2010  
và định hướng đến năm 2020, có đề cập  
đến việc di dời các cảng trên sông Sài Gòn  
(Tân Cảng Sài Gòn, cảng Nhà Rồng,  
Khánh Hội) và Nhà máy đóng tàu Ba Son.  
Trong đó, cùng với cảng Hiệp Phước  
(huyện Nhà Bè), cảng Cát Lái (Quận 2,  
trên sông Đồng Nai) là cảng container tổng  
hợp phục vụ công tác di dời các cảng trên  
sông Sài Gòn, cũng như hỗ trợ cho cụm  
cảng cửa ngõ quốc tế Tân Cảng - Cái Mép  
(Bà Rịa - Vũng Tàu) trong việc vận chuyển  
hàng hóa. Hiện nay Tân Cảng Sài Gòn đã  
được sát nhập vào cảng Cát Lái. Với quy  
hoạch này, tốc độ đô thị hóa xung quanh  
cảng Cát Lái của Quận 2 phát triển mạnh,  
các dịch vụ cảng cũng trở nên nhộn nhịp.  
Báo cáo năm 2010 của Công ty Cổ  
phần tư vấn thiết kế cảng - kỹ thuật biển  
đánh giá Tân Cảng - Cát Lái là cảng  
container tổng hợp khai thác hiệu quả nhất  
trong nhóm cảng số 5. Điều này được  
chứng minh qua lượng hàng hóa và thị  
phần container qua cảng hàng năm. Chẳng  
hạn, năm 2012, lượng hàng hóa thông qua  
cảng đạt 2,87 triệu TEUs, sang năm 2015  
sản lượng hàng qua Cảng đạt 3,8 triệu  
TEUs.  
Dịch vụ cảng - logistics  
Theo Quyết định 791/QĐ-CP của Thủ  
tướng Chính phủ năm 2005 về việc phê  
Bảng 4. Lượng hàng hóa thông qua cảng tân cảng - Cát Lái (2012 – 2016)  
(Nguồn: Báo cáo thường niên của Công ty Cổ phần Cảng Cát Lái, Báo cáo phân tích của  
Công ty Cổ phần Chứng khoán Vietcombank)  
89  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 69 (03/2020)  
Như vậy, cùng với mạng lưới liên kết  
rộng khắp cả nước, cảng Cát Lái tại Quận 2  
– TP.HCM hiện là cảng container quốc tế  
lớn và hiện đại nhất Việt Nam, lọt Top 25  
cảng hàng đầu thế giới với thị phần  
container xuất nhập khẩu chiếm trên 90%  
khu vực phía Nam và gần 50% thị phần cả  
nước, đóng vai trò quan trọng trong sự phát  
triển kinh tế của TP.HCM nói riêng và của  
cả nước nói chung trong xu thế hội nhập  
(Truy xuất từ  
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài  
(FDI) và 45,17% tổng doanh thu doanh  
nghiệp không thuộc quản lý của quận trong  
lĩnh vực TM - DV.  
Từ cuối năm 2013, dịch vụ bán lẻ hiện  
đại bắt đầu phát triển mạnh. Trước tiên,  
phải kể đến hơn 17.000m2 diện tích sàn  
thương mại thuộc Trung tâm mua sắm  
Parkson Cantavil Premier, một hạng mục  
của khu phức hợp Trung tâm thương mại -  
văn phòng - căn hộ Cantavil Premier, do  
Công ty Cổ phần Phát triển Nhà Thủ Đức  
và đối tác Hàn Quốc, Tập đoàn Daewon  
hợp tác đầu tư với tổng vốn hơn 60 triệu  
USD (theo thông cáo báo chí ngày  
20/12/2013 của liên doanh này công bố) đi  
vào hoạt động. Đây là trung tâm mua sắm  
hiện đại đầu tiên trên địa bàn Quận 2, với  
đầy đủ các tiện ích như: siêu thị Big C, các  
cửa hàng thời trang cao cấp, F&B, rạp  
chiếu phim Lotte Cinema.v.v.  
Sau giai đoạn trầm lắng từ giữa năm  
2008 - 2013, từ đầu năm 2014, thị trường  
bất động sản TP.HCM bắt đầu phục hồi.  
Thêm vào đó, tuyến Metro số 1 Bến Thành  
- Suối Tiên cùng nhiều công trình hạ tầng  
giao thông khác triển khai mạnh mẽ, hàng  
loạt các dự án về nhà ở, TM - DV ở Quận 2  
cũng bắt đầu hình thành. Cụ thể, khu phức  
hợp Thảo Điền Masteri (do Công ty CP  
Đầu tư Thảo Điền đầu tư) đã hợp tác cùng  
Tập đoàn Vingroup phát triển Trung tâm  
thương mại có quy mô lớn nhất khu vực  
cửa ngõ phía Đông TP.HCM (tính đến thời  
điểm cuối năm 2016) là Vincom Mega  
Mall với 90.000m2 diện tích sàn.  
industry/global-trade/top-50-world-  
container-ports)  
Dịch vụ bán lẻ  
Giai đoạn 2011 - 2015, UBND Quận 2  
chỉ đạo tiếp tục thực hiện kế hoạch phát  
triển ngành TM - DV, lấy ngành này làm  
động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh  
tế của Quận bằng việc phát triển hệ thống  
chợ - siêu thị - trung tâm thương mại trên  
địa bàn quận theo Quyết định số  
17/2009/QĐ-UBND ngày 12 tháng 02 năm  
2009 của Ủy ban nhân dân thành phố.  
Nếu đối chiếu với Quyết định 17, có  
thể thấy, dịch vụ bán lẻ ở Quận 2 hội tụ đủ  
hai yếu tố: truyền thống và hiện đại. Sự  
phát triển của dịch vụ bán lẻ trên địa bàn  
Quận 2 được nhìn nhận ở hai giai đoạn  
trước và sau năm 2013. Theo báo cáo của  
UBND Quận 2, năm 2013, Quận có 9 chợ  
hiện hữu, 9 siêu thị (bao gồm cả các siêu  
thị chuyên doanh như Thế giới Di  
động.v.v.), 11 cửa hàng bình ổn và chưa có  
trung tâm thương mại nào. Một trong  
những siêu thị có mặt đầu tiên ở Quận 2 là  
trung tâm sỉ Metro Cash & Carry của Đức,  
đưa vào hoạt động từ năm 2002 (nay đã  
được Tập đoàn Berli Jucker mua lại). Theo  
báo cáo Kinh tế - xã hội của Quận 2, tính  
đến năm 2013, Metro Cash & Carry đóng  
góp đến 79,26% doanh thu của khối doanh  
Liền kề Vincom Mega Mall, dọc theo  
Xa lộ Hà Nội, ngay khu phức hợp Thảo  
Điền Pearl (do Tập đoàn SSG đầu tư) cũng  
tích hợp Trung tâm thương mại hơn  
20.000m2. Ngoài ra, đối diện với Vincom  
Mega Mall, Khu đô thị City Horse (88 ha)  
90  
NGUYỄN HỒNG TRANG  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
thuộc Phường An Phú cũng là nơi tập trung  
nhiều trung tâm mua sắm hiện đại. Cùng  
với Parkson Cantavil Premier, theo quy  
hoạch đã được phê duyệt, Khu đô thị City  
Horse còn hai trung tâm mua sắm lớn khác,  
dự kiến vận hành trước năm 2020: một của  
Saigon Co.op và một của liên doanh  
Keppel Land - Tiến Phước (Estella Height).  
Bảng 5. Trung tâm bán lẻ hiện đại nằm dọc theo xa lộ Hà Nội - địa bàn Quận 2  
(Nguồn: Thống kê từ Trung tâm Quy hoạch TP.HCM, Thông cáo báo chí của Tập đoàn  
Vingroup; Báo cáo thường niên của Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Saigon Co.op-SCID; Công  
ty CP Phát triển Nhà Thủ Đức)  
Bên cạnh các Trung tâm bán lẻ hiện  
đại hình thành dọc theo tuyến đường chính  
Xa lộ Hà Nội theo quy hoạch, trong tương  
lai, sẽ có những trung tâm khác nằm ở  
KĐTM Thủ Thiêm, được phân bổ chủ yếu  
ở khu chức năng số 1, 2, 3, 5 trong tổng số  
8 khu chức năng của Khu đô thị này.  
Sự phát triển mạnh các dịch vụ bán lẻ  
ở Quận 2 minh chứng cho thấy tốc độ ĐTH  
đang ở giai đoạn phát triển cao, không chỉ  
đáp ứng nhu cầu của người dân hiện tại mà  
còn có khả năng thu hút thêm lượng lớn  
người dân từ các khu vực khác về đây sinh  
sống và kinh doanh. Đây là xu thế phổ biến  
tại các đô thị phát triển trên Thế giới.  
hầu như chịu tác động từ các chính sách  
của chính quyền thành phố, từ các thay đổi  
về mặt vĩ mô của nền kinh tế đất nước đến  
những chuyển biến về mặt hạ tầng cơ sở.  
Nếu căn cứ trên yếu tố chính sách, thị  
trường nhà ở tại khu vực Quận 2 phát triển  
qua 3 giai đoạn rõ rệt: giai đoạn 1993 –  
2003 (thời điểm Luật Đất đai 2003 ra đời),  
giai đoạn 2003 - 2006, và giai đoạn từ  
2007 đến nay.  
Trong mỗi giai đoạn, thị trường bất  
động sản nhiều lúc sôi động và không ít lần  
đóng băng. Đáng chú ý, theo phân tích  
đánh giá của Sở Tài nguyên - Môi trường  
về những tác động của thị trường bất động  
sản TP.HCM khi Việt Nam là thành viên  
của Tổ chức thương mại thế giới (WTO),  
cũng như thời điểm thành lập Quận, thị  
trường nhà ở TP.HCM nói chung và Quận  
2 nói riêng đã trải qua hai cơn sốt: 2001 -  
2002 và 2007 - nửa đầu năm 2008. Ngoài  
ra, trong đợt hồi phục sau cơn khủng hoảng  
Dịch vụ nhà ở  
Dù là quận mới (thành lập năm 1997)  
so với nhiều quận nội thành khác nhưng  
với ưu thế là cửa ngõ giao thương đối  
ngoại của TP.HCM với các tỉnh miền  
Đông Nam Bộ và liền kề trung tâm Quận  
1, nên thị trường bất động sản ở Quận 2  
91  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 69 (03/2020)  
kéo dài từ nửa cuối năm 2008 – 2013,  
Quận 2 đã vượt qua Quận 7 để dẫn đầu về  
nguồn cung căn hộ. Nếu xét ở khía cạnh sự  
kiện, thị trường bất động sản Quận 2 kể từ  
khi thành lập quận, lên - xuống theo chính  
sách của chính quyền thành phố, sự kiện  
“bong bóng” bất động sản và sự trỗi dậy  
của hạ tầng giao thông.  
Nam thực hiện, từ 2014, lần đầu tiên, Quận  
2 vượt qua Quận 7 về nguồn cung căn hộ.  
Cả hai quận này chiếm gần 40% thị phần  
căn hộ cung ứng ra thị trường, với gần  
7.000 trong tổng số 15.000 căn được chào  
bán, từ 11 dự án. Thị trường bất động sản ở  
Quận 2 trong tiến trình ĐTH cũng luôn đa  
dạng nguồn cung, mức giá và tích hợp đầy  
đủ các hạng mục bất động sản nhà ở, từ đất  
nền, nhà phố, biệt thự cho đến căn hộ  
thương mại, căn hộ dịch vụ, office-tel.  
Với vai trò cửa ngõ giao thương của  
TP.HCM với các tỉnh miền Đông Nam Bộ,  
Quận 2 là tâm điểm của các tuyến giao  
thông quan trọng. Cùng với sự hình thành  
của KĐTM Thủ Thiêm – một trong ba khu  
vực dẫn đầu về thu hút nguồn vốn đầu tư  
nước ngoài (FDI) của TP.HCM. (UBND  
TP.HCM, 2015, Báo cáo hình hình thực  
hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội 5 năm 2010 -  
2015 và phương hướng nhiệm vụ 5 năm  
2015 – 2020, trang 04).  
Theo quy hoạch 1/2000 KĐTM Thủ  
Thiêm đã được phê duyệt, tổng dân số cư  
trú thường xuyên tại đây vào khoảng  
145.369 người, số người làm việc thường  
xuyên là 217.470 người, trong đó khách  
vãng lai là 1 triệu người (tối đa trong dịp lễ  
hội), văn phòng cho thuê dạng căn hộ là  
1.719 người. Mục tiêu của TP.HCM là biến  
KĐTM Thủ Thiêm trở thành trung tâm  
kinh tế - tài chính mới của TP.HCM lẫn  
khu vực, nên từ cuối năm 2013, nhiều nhà  
đầu tư đã đặt nền móng tại Khu đô thị này,  
nhất là sau khi 4 tuyến đường chính của  
khu (Đại lộ Vòng Cung, Đường ven hồ  
trung tâm, Đường trên cao qua Khu Lâm  
viên sinh thái phía Nam, Đường ven sông  
Sài Gòn) khởi công vào ngày 15/2/2014  
(Công ty CP Đại Quang Minh, chủ đầu tư  
dự án Khu đô thị Sala đầu tư theo hình  
thức BT). Tính đến cuối năm 2016 (Thông  
Trong suốt thập niên 1993 – 2003,  
theo Sở Tài nguyên - Môi trường, thị  
trường bất động sản TP.HCM phát triển  
không ổn định. Sau một thời gian dài trầm  
lắng do cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á  
năm 1997, đến thời điểm năm 2000 thị  
trường bất động sản bắt đầu hoạt động sôi  
động trở lại nhờ vào một số chính sách  
kích cầu của thành phố như đầu tư mới và  
nâng cấp mở rộng nhiều tuyến đường giao  
thông ở khu vực quận ven và huyện ngoại  
thành, áp dụng thí điểm chính sách giao  
đất (thay vì thuê đất theo quy định của  
Luật Đất đai) để sử dụng vào mục đích  
sản xuất kinh doanh. Trong khoảng thời  
gian này, thị trường không chính quy phát  
triển mạnh hơn thị trường chính quy.  
Chính sách phân lô hộ lẻ đã góp phần làm  
cho thị trường đất nông nghiệp hoạt động  
sôi nổi nhưng cũng đã bộc lộ nhiều hạn  
chế, dẫn đến hậu quả rất lớn là cơ sở hạ  
tầng kỹ thuật đầu tư kém chất lượng,  
không dành đất để đầu tư cơ sở hạ tầng xã  
hội. Hầu hết các dự án trong giai đoạn này  
đều chỉ dừng lại ở mức đầu tư hạ tầng rồi  
chuyển nhượng nền nhà để người mua tự  
xây dựng.  
Sau cơn sốt bất động sản trên, thị  
trường bất động sản bước vào giai đoạn  
trầm lắng (từ giữa năm 2008 đến 2013).  
Năm 2014, thị trường nhà ở bắt đầu phục  
hồi, đặc biệt ở phân khúc căn hộ trung -  
cao cấp. Theo báo cáo thị trường căn hộ để  
bán tại TP.HCM năm 2015 do Savills Việt  
92  
NGUYỄN HỒNG TRANG  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
báo số 852/TB-VP của Văn phòng UBND  
TP.HCM ngày 6/12/2016), KĐTM Thủ  
Thiêm đã có sự hiện diện của các nhà đầu  
tư lớn như: Tập đoàn Vingroup (31,49 ha,  
xây dựng Khu phức hợp thể thao - giải trí  
tại Khu 2C, thuộc một phần của Khu chức  
năng số 2), Công ty CP Đại Quang Minh  
(Khu đô thị Sala), Tập đoàn Lotte, Hàn  
Quốc liên doanh với hai đối tác Nhật Bản  
là Mitsubishi và Toshiba (10ha, triển khai  
dự án Eco Smart City với điểm nhấn là tòa  
cao ốc 50 tầng tại Khu 2A, thuộc Khu chức  
năng số 2), Công ty TNHH Liên doanh  
Thành phố Đế Vương (14,5ha, xây dựng  
khu Tháp quan sát 86 tầng Empire City,  
khu 2B, thuộc Khu chức năng số 2).  
vùng). Trong vòng 10 năm trở lại đây,  
Quận 2 có hơn 10 dự án hạ tầng lớn nhỏ đã  
và đang hình thành với tổng chi phí lên tới  
250.000 tỉ đồng, chiếm 70% số tiền đổ vào  
các tuyến giao thông toàn thành phố. Đây  
là động lực chính làm thay đổi diện mạo  
của trục phía Đông Thành phố, khiến khu  
vực này trở thành điểm nóng hấp dẫn  
nhiều nhà đầu tư. Nhờ có lợi thế về vị trí  
với hàng loạt dự án hạ tầng đã và đang  
triển khai như trên đề cập, cho thấy tiềm  
năng phát triển của Quận 2 là rất lớn, góp  
phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của  
Quận 2 nói riêng và Thành phố Hồ Chí  
Minh nói chung.  
Mặc dù chịu tác động do yếu tố thị  
trường, song quy hoạch đô thị ở Quận 2  
vẫn nằm trong hệ thống quản lý tập trung  
từ trên xuống. Quy hoạch vẫn chủ yếu dựa  
vào việc chuyển hóa những mục tiêu kinh  
tế xã hội trong các kế hoạch 5 năm. Quá  
trình đô thị hóa hiện nay ở Quận 2 phụ  
thuộc nhiều vào các quyết định mang tính  
hành chính về việc chỉ định những khu vực  
dành cho đô thị hay cho phát triển CN và  
dịch vụ. Hệ thống CSHT đã được chính  
quyền phát triển như một dạng nam châm  
thu hút đầu tư không chỉ nhiều thành phần  
kinh tế trong nước mà còn thu hút vốn đầu  
tư từ nước ngoài. Với chính sách đầu tư  
mạnh mẽ này, Quận 2 đã tạo ra cơ sở hạ  
tầng cần thiết để có thể phát triển không  
chỉ là những khu đô thị mới mà còn có thể  
phát triển những khu thương mại và dịch  
vụ quy mô lớn. Có thể quan sát thấy ở  
nhiều nơi tại Quận 2 đang vào một guồng  
đầu tư rất lớn, nhanh và đầy ấn tượng. Hải  
cảng, đường cao tốc và những hạ tầng khác  
như trường học, bệnh viện, trung tâm  
thương mại, khu vui chơi, giải trí… đã và  
đang được quy hoạch, xây dựng với một  
tốc độ đáng kinh ngạc.  
Như vậy, sự ra đời của KĐTM Thủ  
Thiêm trong quá trình ĐTH được xem là  
động lực cho khu Đông nói chung và khu  
vực bất đông sản ở Quận 2 nói riêng.  
3. Kết luận  
Theo quy luật của quá trình ĐTH,  
Quận 2 cũng trải qua giai đoạn chuyển đổi  
từ một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp  
sang một nền kinh tế phi nông nghiệp mà  
trọng tâm là tài chính, thương mại và dịch  
vụ. Theo các số liệu thống kê ở trên, ngành  
TM - DV của Quận 2 trong 18 năm (1997 -  
2015) không ngừng phát triển, kinh tế  
Quận 2 tăng trưởng với tốc độ cao, các  
nguồn lực kinh tế được phát huy, giá trị sản  
xuất TM - DV tăng bình quân hàng năm  
hơn 20% và có giá trị lên đến trăm nghìn tỷ  
đồng. Điều này chứng tỏ Quận 2 đã có  
bước phát triển kinh tế mạnh mẽ, góp phần  
thay đổi cơ cấu kinh tế của Quận 2 theo  
hướng hiện đại hóa.  
Không chỉ phát triển nhanh trong  
ngành TM - DV, Quận 2 đã thể hiện vị trí  
và sự ảnh hưởng của mình trong tiến trình  
ĐTH khu Đông của TP.HCM với CSHT  
được đầu tư mạnh mẽ (yếu tố liên kết  
93  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 69 (03/2020)  
Tuy vậy, để có thể trở thành “Trung  
tâm dịch vụ - thương mại - văn hóa - thể  
dục thể thao” của TP.HCM trong tương lai,  
ngoài việc phát triển CSHT để thu hút đầu  
tư, Quận cần tạo điều kiện thuận lợi hơn  
nữa để các doanh nghiệp thuộc mọi thành  
phần kinh tế hoạt động và phát triển theo  
cơ chế thị trường. Các cuộc gặp gỡ, đối  
thoại giữa lãnh đạo Ủy ban nhân dân quận  
với các doanh nghiệp cần được thường  
xuyên diễn ra nhằm tìm hiểu, hỗ trợ tháo  
gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá  
trình đầu tư kinh doanh trên địa bàn. Quận  
cũng cần những chính sách hỗ trợ các chủ  
đầu tư đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự  
án thương mại dịch vụ kết hợp căn hộ vốn  
đang là thế mạnh kinh tế của quận. Việc  
đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu đề án chuyển  
đổi công năng khu công nghiệp Cát Lái,  
Cụm Công nghiệp thành khu dịch vụ Cảng,  
dịch vụ truyền thông film trường, dịch vụ  
vui chơi giải trí... là những việc cần phải  
tiến hành. Cần triển khai nhanh những khu  
vực đã được quy hoạch để xác lập tuyến  
điểm du lịch mới của TP.HCM. Bên cạnh  
đó, cần công khai, minh bạch các chủ  
trương - chính sách, tiếp tục cải tiến thủ tục  
hành chính, tăng cường ứng dụng công  
nghệ thông tin trong quản lý… nhằm tạo  
thuận lợi cho cá nhân, doanh nghiệp hoạt  
động sản xuất kinh doanh. Đây sẽ là những  
điều kiện thuận lợi to lớn để Quận 2 phát  
triển mọi mặt, có thể đạt được mục tiêu trở  
thành trung tâm hành chính của TP.HCM  
và là đô thị kiểu mới xứng tầm trong khu  
vực Asean.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Cục thống kê TP.HCM. Niên giám thống kê Quận 2 từ 2005 - 2015.  
Đảng bộ Quận 2. Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ quận qua các thời kỳ từ 1997 đến  
2015. Tài liệu lưu trữ tại Phòng Lưu trữ Quận ủy Quận 2.  
UBND Quận 2, TP.HCM. Báo cáo hình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội từ năm  
1997- 2015. Tài liệu lưu trữ tại Phòng lưu trữ UBND Quận 2.  
UBND Quận 2 (Tháng 4/2015). Kỷ yếu 18 năm ngày thành lập Quận 2, 1/4/1997 -  
1/4/2015, Phòng lưu trữ UBND Quận 2.  
UBND TP.HCM (2005). Báo cáo hình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội 5 năm  
2001 - 2005 và phương hướng nhiệm vụ 5 năm 2005 - 2010, Phòng lưu trữ UBND  
TP.HCM.  
UBND TP.HCM (2010). Báo cáo hình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội 5 năm  
2005 - 2010 và phương hướng nhiệm vụ 5 năm 2010 - 2015, Phòng lưu trữ UBND  
TP.HCM.  
UBND TP.HCM (2015). Báo cáo hình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội 5 năm  
2010 - 2015 và phương hướng nhiệm vụ 5 năm 2015 - 2020, Phòng lưu trữ UBND  
TP.HCM.  
Ngày nhận bài: 19/02/2020  
Biên tập xong: 15/3/2020  
Duyệt đăng: 20/3/2020  
94  
pdf 12 trang yennguyen 16180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chuyển biến về thương mại – dịch vụ trong quá trình đô thị hóa Quận 2 (Thành phố Hồ Chí Minh) từ 1997-2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchuyen_bien_ve_thuong_mai_dich_vu_trong_qua_trinh_do_thi_hoa.pdf