Tóm tắt Luận án Quản lý nhà nước về an ninh năng lượng điện tại Việt Nam

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ  
NGUYỄN ĐỨC LÂM  
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ  
AN NINH NĂNG LƯỢNG ĐIỆN TẠI VIỆT NAM  
Chuyên ngꢀnh: Quản lý kinh tế  
Mꢁ sꢂ: 9340410.01  
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ  
Hà Nội - 2020  
LUẬN ÁN ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
Người hướng dẫn khoa học : 1 PGS.TS. Lê Quꢂc Hội  
2 TS. Lưu Quꢂc Đạt  
Phản biện 1:  
.TS. Nguyễn Hữu Điển  
Phản biện 2:  
Nguyễn Chí Thành  
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án Tiến sĩ họp tại:  
Trường Đại học Kinh tế, Đại Học Quốc Gia Hà Nội  
Vào hồi ... giờ ...., ngày .... tháng .... năm 2020  
Có thể tìm hiểu luận án tại:  
– Thư viên Quꢂc gia  
– Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quꢂc gia Hà Nội  
MỞ ĐẦU  
1. Sự cần thiết của nghiên cứu  
Hiện nay, nhu cầu về đảm bảo an ninh năng lượng điện (ANNLĐ) nhằm mục tiêu tăng  
trưởng nhanh và phát triển bền vững, bên cạnh sự phát triển của cuộc cách mạng công  
nghiệp 4.0 vừa mang đến cơ hội phát triển cho các quốc gia, bên cạnh đó cũng tạo ra nhiều  
thách thức cho nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam chúng ta.  
Trong công tác đảm bảo ANNLĐ tại Việt Nam, Nhà nước đóng vai trò là chủ thể quản  
lý, bao gồm: (1) chiến lược, chính sách và kế hoạch của nhà nước nhằm đảm bảo an ninh  
năng lượng điện, (2) tổ chức thực thi các kế hoạch và chính sách về ANNLĐ và (3) kiểm  
tra, đánh giá hiệu quả công tác quản lý của nhà nước nhằm đảm bảo an ninh năng lượng  
điện.  
Từ thực tế triển khai công tác đảm bảo ANNLĐ tại nước ta trong thời gian vừa qua có  
thể thấy việc Nhà nước đã tạo lập được môi trường cho việc đảm bảo ANNLĐ, tuy nhiên  
vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong thời đại công nghiệp 4.0 của ANNLĐ.  
Công tác QLNN về ANNLĐ hiện nay vẫn cần phải hoàn thiện một số vấn đề như: các định  
hướng đảm bảo ANNLĐ chưa gắn liền với các định hướng phát triển của đất nước; pháp  
luật về ANNLĐ chưa điều chỉnh hết các vấn đề phát sinh trong quá trình đảm bảo ANNLĐ;  
sự phối hợp giữa các đơn vị cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) trong việc đảm bảo  
ANNLĐ chưa thực sự hiệu quả; nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu đảm bảo  
ANNLĐ; công tác kiểm tra giám sát ANNLĐ chưa được thực hiện hiệu quả.  
Bên cạnh đó, tác động của biến đổi khí hậu và cuộc khủng hoảng năng lượng trong khu  
vực và thế giới đã gây ra những thách thức to lớn cho việc thực hiện các chức năng QLNN  
về ANNLĐ tại Việt Nam.  
Căn cứ vào các yêu cầu trên, thời gian tới công tác QLNN về đảm bảo ANNLĐ cần  
được tiếp tục hoàn thiện cả về mặt lý luận và thực tiễn triển khai công tác. Muốn đạt được  
các mục tiêu đó, công tác QLNN về ANNLĐ cần phải được củng cố về mặt lý luận như:  
chức năng, nội dung, bộ máy quản lý cũng như các công cụ mà Nhà nước sử dụng trong  
công tác đảm bảo ANNLĐ. Ngoài ra để đưa ra giải pháp cụ thể và triệt để những hạn chế  
trong công tác đảm bảo ANNLĐ ở Việt Nam hiện nay thì công tác QLNN về ANNLĐ cần  
được đánh giá một cách tổng thể nhằm tìm ra những hạn chế và nguyên nhân.  
1
2.  
Mục đích vꢀ nhiệm vụ nghiên cứu của luận án  
2.1.  
Mục đích nghiên cứu của luận án  
Mục đích nghiên cứu của luận án nhằm làm rõ những lí luận về QLNN đối với  
ANNLĐ, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về ANNLĐ ở Việt Nam.  
2.2.  
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án  
Nam.  
Hệ thống hóa và làm rõ thực trạng quản lý nhà nước (QLNN) về ANNLĐ tại Việt  
Xác định được các tiêu chí đánh giá công tác QLNN về ANNLĐ tại Việt Nam.  
Đề xuất được một số khuyến nghị nhằm góp phần hoàn thiện công tác QLNN về  
ANNLĐ tại Việt Nam.  
2.3.  
Câu hỏi nghiên cứu  
Để đạt được mục tiêu đề ra, luận án đi tới trả lời các câu hỏi nghiên cứu chính sau:  
Quản lý nhà nước về ANNLĐ gồm những nội dung gì?  
Thực trạng hoạt động QLNN về ANNLĐ tại Việt Nam là như thế nào?  
Có những tiêu chí nào đánh giá công tác QLNN về ANNLĐ tại Việt Nam?  
Các giải pháp gì để góp phần hoàn thiện công tác QLNN về ANNLĐ tại Việt Nam?  
Đꢂi tượng và phạm vi nghiên cứu  
3.  
Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề QLNN về ANNLĐ  
Phạm vi nghiên cứu: Cơ quan trung ương quản lý ANNLĐ  
Phạm vi thời gian: luận án giới hạn trong khoảng thời gian 2015-2020  
Phạm vi nội dung: luận án giới hạn nội dung QLNN về ANNLĐ trên các phương  
diện: xây dựng chiến lược quốc gia về ANNLĐ, lập kế hoạch QLNN về ANNLĐ, triển khai  
thực hiện QLNN về ANNLĐ, kiểm tra - giám sát hoạt động QLNN về ANNLĐ.  
4.  
Đóng góp của nghiên cứu  
Về mặt lý luận:  
Để thực hiện chức năng QLNN về ANNLĐ trong bối cảnh nhu cầu tăng trưởng  
nhanh và phát triển bền vững, cùng sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; luận  
án đề xuất coi khái niệm về ANNLĐ theo nghĩa rộng và liên ngành, với quan điểm này  
ANNLĐ được hiểu là việc hoạt động cung ứng và tiêu dùng năng lượng điện đạt trạng thái  
an toàn và khâu có uy hiếp nào đến toàn bộ quá trình vận hành ngành điện quốc gia.  
Nghiên cứu kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới liên quan tới QLNN về  
ANNLĐ và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; luận án đã nghiên cứu xây dựng bộ  
tiêu chí đánh giá hoạt động QLNN về ANNLĐ trên cơ sở vận dụng phương pháp Delphi.  
2
Các tiêu chí này được sử dụng để đánh giá một cách toàn diện tất cả các nội dung QLNN về  
ANNLĐ theo các nhóm tiêu chí chính: chiến lược, chính sách, thực hiện và quản lý.  
Về mặt thực tiễn:  
Luận án phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động QLNN về ANNLĐ tại Việt  
Nam giai đoạn 2015-2020, phân tích và đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế và  
nguyên nhân trong công tác QLNN về ANNLĐ;  
Xây dựng mô hình và đánh giá các tiêu chí QLNN về ANNLĐ tại Việt Nam;  
Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác QLNN về ANNLĐ tại  
Việt Nam.  
CHƯƠNG 1  
TꢃNG QUAN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ ÁN  
1.1. Các công trình nghiên cứu nước ngoꢀi  
1.1.1. An ninh năng lượng  
Nhận biết được tầm quan trọng của ANNL, đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới xem  
xét các khía cạnh và nội dung khác nhau của ANNL, trong đó phải kể đến các nghiên cứu  
sau: Lucas (2004) đã nghiên cứu về việc đảm bảo ANNL của Canada, tiếp cận dựa trên sự  
điều tiết của thị trường năng; Cheng (2008) đã xem xét cách thức Trung Quốc nhận thức các  
vấn đề ANNL; Hedenus và các cộng sự (2010) nghiên cứu về các chính sách đảm bảo  
ANNL của EU 25 - chi phí dự kiến của sự khủng hoảng nguồn cung cấp dầu; Coq và  
Paltseva (2009) đánh giá mức độ đảm bảo nguồn cung năng lượng như một phần trong việc  
đảm bảo ANNL của các nước khối Châu Âu; Sovacool (2011) đã đánh giá ANNL của các  
nước Châu Á - Thái Bình Dương; Zhao và các cộng sự (2012) đã đưa ra bình luận tổng  
quan về các nhân tố ảnh hưởng đến ngành sản xuất năng lượng gió tại Trung Quốc;  
Mansson (2014) đã tổng quan các phương pháp định lượng để đánh giá ANNL.  
1.1.2. An ninh năng lượng điện  
An ninh điện có thể được đặc trưng chủ yếu thông qua an ninh vận hành, tính linh  
hoạt và tính thỏa đáng, với sự tham khảo đặc biệt đến những thách thức và hạn chế của  
chuỗi giá trị điện bên trong. An ninh điện đề cập đến khả năng của hệ thống năng lượng để  
tránh việc gián đoạn dịch vụ bao gồm giá năng lượng tăng mạnh, cắt giảm chất lượng năng  
lượng và sự gián đoạn nguồn cung (Grubb, Butler, & Twomey, 2006; JRC, 2016). Những  
nguyên nhân hoặc mối đe dọa tiềm tàng của những việc này có thể được phân loại thành 4  
loại (Bompard, Huang, Wu, & Cremenescu, 2013).  
3
An ninh năng lượng điện cũng có thể được mô tả chủ yếu dưới dạng mạnh mẽ và khả  
năng phục hồi trong trường hợp áp lực xuất phát bên ngoài hệ thống điện. Zhao và các cộng  
sự (2012) đã đưa ra bình luận tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến ngành sản xuất năng  
lượng điện gió tại Trung Quốc.  
Sự quan tâm đến an ninh năng lượng dựa trên khái niệm nguồn cung năng lượng  
không bị gián đoạn rất quan trọng đối với hoạt động của một nền kinh tế. Tuy nhiên, định  
nghĩa chính xác về an ninh năng lượng (hoặc đảm bảo nguồn cung đồng nghĩa của nó an  
ninh nguồn cung (ANNC) khó đưa ra vì nó có ý nghĩa khác nhau đối với những người khác  
nhau tại các thời điểm khác nhau (Alhajji, 2007).  
An ninh điện cũng được định nghĩa là những hoạt động liên quan đến khả năng của  
hệ thống điện để tránh sự cố và sự gián đoạn trong việc cung cấp điện, trong đó bao gồm  
tăng giá năng lượng mạnh, giảm chất lượng cung cấp điện năng (ví dụ: giảm hiệu suất cung  
cấp điện) và sự gián đoạn đột ngột của nguồn cung (mất điện) (Grubb, Butler, & Twomey,  
2006; JRC, 2016).  
1.1.3. Quản lý nhà nước về an ninh năng lượng điện  
Chính sách năng lượng tái tạo của chính phủ Đức đặt ra các mục tiêu tham vọng  
trung hạn và dài hạn về giảm mức tiêu thụ năng lượng 20% vào năm 2020 so với mức tiêu  
thụ thiết yếu năm 2008 và ít nhất 50% vào năm 2050; tỷ lệ năng lượng tái tạo chiếm 18%  
mức tiêu thụ năng lượng vào năm 2020 và ít nhất 80% điện năng tiêu thụ trong năm 2050;  
tiết kiệm hơn 20% năng lượng các hoạt động làm ấm, sưởi vào năm 2020, giảm 80% tiêu  
thụ năng lượng sơ cấp đến năm 2050, xây dựng tòa nhà thân thiện với khí hậu và tăng gấp  
đôi tốc độ hiện đại hóa năng lượng lên 2% mỗi năm; tăng sản xuất năng lượng bình quân  
2,1% tới năm 2050 (Martin, 2010).  
Đầu tư kịp thời và phù hợp dựa vào phát triển cơ sở hạ tầng ngành điện là yếu tố  
chính cho lý do tại sao Hoa Kỳ có nguồn cung ứng điện đáng tin cậy trong công tác đảm  
bảo an ninh năng lượng điện quốc gia. Tập đoàn điện Bắc Mỹ (NERC) tuyên bố rằng mức  
dự trữ vượt mức ở mức cao nhất của Hoa Kỳ trong điều kiện bình thường ở mức cao hơn  
khoảng 29% nhu cầu cao điểm, và trong trường hợp xấu nhất vẫn còn khá cao khoảng 15%  
(NERC, 2017). Một yếu tố quan trọng khác là giá điện công nghiệp thấp, đã tăng mạnh kể  
từ năm 2003. Chẳng hạn, trong những năm gần đây, giá điện công nghiệp ở Mỹ nằm trong  
số 10% thấp nhất thế giới (IEA, 2017).  
1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước  
4
1.2.1. An ninh năng lượng  
Trong bối cảnh nhu cầu tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững, cùng sự phát triển  
của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, ANNL cũng như nhiều vấn đề an ninh phi truyền  
thống khác đang nổi lên như những vấn đề toàn cầu hết sức bức thiết. Trước hết, ANNL là  
tiền đề để phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Đó là vì sự đảm bảo về năng lượng sẽ giúp  
cho mọi hoạt động của quốc gia ổn định và phát triển. Nhờ có năng lượng mà cuộc sống con  
người ngày càng được nâng cao với ngày càng nhiều tiện nghi phục vụ cuộc sống như điều  
hoà, tivi, tủ lạnh, xe máy, v.v… Do vậy, an ninh con người sẽ bị đe doạ nghiêm trọng một  
khi năng lượng không còn. (Hoàng Minh Hằng, 2007).  
Bên cạnh đó, ANNL có vai trò quyết định đối với an ninh của mỗi cá nhân con  
người. Nhờ có năng lượng mà cuộc sống con người ngày càng được nâng cao với ngày càng  
nhiều tiện nghi phục vụ cuộc sống như điều hoà, tivi, tủ lạnh, xe máy, v.v… Do vậy, an ninh  
con người sẽ bị đe doạ nghiêm trọng một khi năng lượng không còn. (Hoàng Minh Hằng,  
2007).  
Hoàng Minh Hằng (2007) đã nghiên cứu các vấn đề, thực trạng ANNL ở Đông Á và  
đưa ra giải pháp. Hiện nay, ANNL ở Đông Á đang phải đối mặt với nguy cơ của sự cạn kiệt  
các nguồn năng lượng truyền thống do tốc độ khai thác quá nhanh mà nguồn tài nguyên thì  
có hạn. Bên cạnh đó, mức tiêu thụ năng lượng của các quốc gia trong khu vực ngày càng gia  
tăng rõ rệt.  
Hiện nay, có một số vấn đề đặt ra đối với ANNLĐ ở Đông Á đó là nguồn năng lượng  
truyền thống phục vụ sản xuất điện cạn kiệt; mức độ tiêu thụ năng lượng của các quốc gia  
trong khu vực ngày càng tăng; sự bất ổn ở Trung Đông và vấn đề an toàn vận chuyển trên  
biển. Do vậy, sự cạn kiệt của nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nguyên liệu hóa thạch  
như than đá, dầu mỏ có sự ảnh hưởng quan trọng đến ANNL nói chung và ANNLĐ nói  
riêng tại Việt Nam. Mặt khác, yếu tố chính trị được đề cập đến như những bất ổn trong khu  
vực, cũng như trên toàn thế giới có mối liên hệ tương đối với ANNL, Hoàng Minh Hằng  
(2007).  
Nguyễn Văn Hưởng (2014) đã làm rõ nội hàm của khái niệm ANNL, theo đó ANNL  
được hiểu là “sự bảo đảm đầy đủ năng lượng dưới nhiều dạng khác nhau, sạch và rẻ”.  
1.2.2. An ninh năng lượng điện  
Một trong những mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia là vấn đề an ninh trong cung  
cấp điện, an ninh năng lượng trong hệ thống điện. Việt Nam tuy mới là quốc gia có nền kinh tế  
đang phát triển và mới đạt được mức độ thu nhập trung bình, nhưng với sức rướn của một đất  
5
nước giàu truyền thống và con người thông minh cần cù, dự báo đất nước ta sẽ tiếp tục phát  
triển nhanh trong những thập kỷ tới. Cung cầu năng lượng nói chung và cung cầu điện nói riêng  
ở nước ta đang có những vấn đề bức xúc đặt ra. Xem xét nghiên cứu một cách nghiêm túc và  
sâu sắc về các giải pháp ANNL trong hệ thống điện (HTĐ) là vấn đề không chỉ của Nhà nước,  
Chính phủ mà là trách nhiệm của mỗi người chúng ta. (Nguyễn Anh Tuấn, 2014)  
Cũng theo Nguyễn Anh Tuấn (2017), Tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng điện  
được đánh giá là giải pháp luôn được ưu tiên vì là giải pháp đòi hỏi đầu tư thấp hơn nhiều so  
với các giải pháp khác. Nhiều nội dung vận động mọi người có ý thức tiết kiệm và sử dụng  
hiệu quả năng lượng đang được triển khai mạnh mẽ trong một chương trình mục tiêu quốc  
gia. Các cuộc vận động người dân với khẩu hiệu: “Tắt bớt đèn khi không cần thiết và trước  
khi ra khỏi phòng”; “đặt máy điều hoà ở mức 27 độ -:-28 độ C”; khuyến khích người tiêu  
dùng “Thay bóng đèn sợi đốt bằng đèn huỳnh quang và đèn compact”; chương trình “Tiến  
hành dán nhãn các thiết bị điện tiết kiệm năng lượng và khuyến khích người dân sử dụng  
thiết bị tiết kiệm năng lượng”; thực hiện công tác kiểm toán năng lượng để các hộ công  
nghiệp và thương mại có các biện pháp sử dụng năng lượng hiệu quả nhất… Theo đánh giá,  
thực hiện tốt “Chương trình mục tiêu quốc gia về tiết kiệm và hiệu quả năng lượng” có thể  
giảm được nhu cầu tiêu thụ năng lượng cuối cùng tới trên dưới 10% trong vòng 5 năm tới.  
1.2.3. Quản lý nhà nước về an ninh năng lượng điện  
Nguyễn Anh Tuấn (2017), trong thời gian qua, chính phủ đã thực hiện một số chính  
sách về điện nhằm mục đích phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, hỗ trợ người nghèo,  
người thu nhập thấp, nhà nước đã cố gắng giữ giá điện ở mức khá thấp so với các nước  
trong khu vực.  
Theo Bùi Xuân Hồi (2018) cho rằng, để đáp ứng lượng cầu về điện tăng nhanh từ sau  
giai đoạn “Đổi mới”, Quy hoạch điện VII cho giai đoạn 2011-2020 tầm nhìn 2030 đã đặt ra  
những tham vọng lớn về các nguồn năng lượng tái tạo và đặc biệt là năng lượng nguyên tử.  
1.3. Nhận xét từ tổng quan các công trình nghiên cứu  
Như chúng ta đã biết, ANNLĐ đóng một vai trò quan trọng trong xã hội hiện đại do  
điện đóng một vai trò kép trong nền kinh tế hiện đại, nó vừa là đầu vào vừa là đầu ra của  
quá trình sản xuất của nền kinh tế, liên quan đến mọi ngóc ngách của đời sống tinh thần của  
con người. Do đó, việc đảm bảo ANNLĐ là một chính sách rất quan trọng đối với các nền  
kinh tế, mục tiêu của công tác đảm bảo nguồn cung điện sẽ đảm bảo được mục tiêu phát  
triển kinh tế xã hội của quốc gia.  
6
Cho đến nay, chưa có nhiều nghiên cứu được xây dựng để đánh giá an ninh năng lượng điện  
có thể được áp dụng cho tất cả các quốc gia. Do đó, mục tiêu của luận án này là phát triển  
một bộ chỉ số có thể đánh giá hoạt động QLNN về ANNLĐ của một quốc gia mà không bị  
giới hạn bởi nguồn lực tài nguyên, phát triển kinh tế, khu vực địa lý, văn hóa xã hội hoặc  
mật độ dân cư. Nghiên cứu sẽ xác định một số các tiêu chí và chỉ số nhất định nhằm đại  
diện cho công tác QLNN về an ninh năng lượng điện. Sau đó, một chỉ số tổng hợp sẽ được  
phát triển bằng cách tổng hợp các chỉ số và tham khảo các nghiên cứu của các quốc gia khác  
cho phép xếp hạng chúng dựa trên tầm quan trọng của các chỉ số. Để kiểm chứng bộ chỉ số,  
luận án đã sử dụng dữ liệu của một số quốc gia trên thế giới. Tính hợp lệ của chỉ số được  
đánh giá bằng các kết quả, theo thứ tự các quốc gia một cách hợp lý và cũng nắm bắt các  
biến cố trong quá khứ đã ảnh hưởng đến các ngành điện tương ứng của họ. Lý do cho sự  
hoạt động yếu kém của ngành điện và các chính sách khắc phục những vấn đề đó cho ngành  
điện bền vững cũng được xác định.  
CHƯƠNG 2  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG QUẢN LÝ  
NHÀ NƯỚC VỀ AN NINH NĂNG LƯỢNG ĐIỆN  
2.1. Khái niệm an ninh năng lượng điện  
Khái niệm an ninh năng lượng điện theo quan điểm ứng phó  
An ninh điện có thể được định nghĩa là khả năng của hệ thống điện có thể ứng phó  
với các tình huống xấu - tức là các tình huống hoặc sự cố tạo ra các ảnh hưởng trực tiếp tới  
hệ thống cung cấp điện - hoặc các sự cố - tức là sự cố hỏng hóc hoặc mất điện của hệ thống  
cung ứng điện - với sự gián đoạn dịch vụ tối thiểu có thể chấp nhận được.  
Khái niệm an ninh năng lượng điện theo quan điểm quản lý  
An ninh năng lượng điện là yếu tố quan trọng đối với các xã hội và nền kinh tế hiện  
đại. Các công nghệ kỹ thuật số, cơ sở hạ tầng truyền thông và hoạt động công nghiệp đều  
phụ thuộc vào một nguồn cung điện đáng tin cậy và hiệu quả. Khi các quốc gia chuyển sang  
các nguồn điện ít carbon hơn, các nhà sản xuất phải đối mặt với một số thách thức đang diễn  
ra, vì năng lượng tái tạo thường đòi hỏi mức độ linh hoạt cao hơn từ mạng lưới để bù đắp  
cho sự gián đoạn của họ. Do đó, các chính phủ ngày càng lo ngại về khả năng đáp ứng của  
thị trường điện hiện tại và khung pháp lý để tiếp tục quản lý một nguồn điện đáng tin cậy,  
giá cả phải chăng và hiệu quả.  
7
2.2. Quản lý nhꢀ nước về an ninh năng lượng điện  
2.2.1. Khái niệm quản lý nhꢀ nước về an ninh năng lượng điện  
Quản lý nhà nước về an ninh năng lượng điện là quá trình nhà nước sử dụng các công  
cụ quản lý của mình để tác động lên quá trình sản xuất và cung ứng năng lượng điện nhằm  
đáp ứng nhu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế. Nhà nước sử dụng các  
biện pháp kinh tế và pháp lý với việc ban hành các đạo luật liên quan đến ANNLĐ, các quy  
phạm pháp luật thuế, giá điện, chế tài dân sự, hành chính cũng như tăng cường áp dụng các  
biện pháp hình sự đối với các vi phạm pháp luật về ANNLĐ.  
Công cụ kinh tế sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan QLNN về ANNLĐ chủ động lập kế  
hoạch phát triển ngành điện, khuyến khích việc đổi mới hoạt động sản xuất kinh doanh điện.  
Các giải pháp kinh tế có vai trò điều chỉnh kinh tế vĩ mô theo hướng tích cực, có tác dụng  
buộc đối tượng tham gia công tác đảm bảo ANNLĐ phải thực hiện các mục tiêu về phát  
triển bền vững bằng các phương tiện, chi phí hiệu quả nhất; kích thích sự phát triển công  
nghệ mới và tăng cường sử dụng nguồn năng lượng tái tạo, khuyến khích công tác nghiên  
cứu và phát triển các công nghệ sản xuất điện mới.  
2.2.2. Chức năng quản lý nhà nước về an ninh năng lượng điện  
Chức năng định hướng cho sự phát triển của ANNLĐ: chức năng, nhiệm vụ của nhà  
nước là xác định tầm nhìn chiến lược (xây dựng và thực hiện được chiến lược, tạo dựng môi  
trường và điều kiện cho phát triển ngành điện, ở đây chính là việc đảm bảo điều kiện cho  
ngành điện phát triển một cách bền vững), dự báo, chia sẻ và hướng dẫn trong phát triển, tiết  
kiệm và mang tinh thần kinh doanh trong quản lý phát triển, v.v.).  
Chức năng tạo lập môi trường cho sự phát triển của ANNLĐ: nhà nước xây dựng và  
vận hành các thể chế chính sách định hướng, hỗ trợ phát triển, phát huy mọi cơ hội, sáng  
kiến và nguồn lực, nuôi dưỡng mọi động lực phát triển xã hội, nhất là kinh tế vì lợi ích  
chung của quốc gia, dân tộc và cuộc sống của mọi người dân; nhà nước dự báo, chia sẻ và  
hướng dẫn để đảm bảo an ninh điện.  
Chức năng điều tiết các hoạt động ANNLĐ: Nhà nước thực hiện chức năng quản lý  
ANNLĐ theo nguyên tắc chỉ làm những công việc xã hội, thị trường không làm; tập trung  
làm tốt công việc quản lý nhà nước về ANNLĐ, giải quyết những vấn đề an ninh nguồn  
điện then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với việc đảm bảo ANNLĐ của nền kinh tế đất  
nước.  
Chức năng kiểm soát hoạt động ANNLĐ: nhà nước theo dõi việc thực hiện kế  
8
hoạch và dự án đầu tư phát triển nguồn điện, lưới điện truyền tải, lưới điện phân phối để bảo  
đảm phát triển phù hợp với quy hoạch phát triển điện lực đã được duyệt; xác định tỷ lệ công  
suất và tỷ lệ điện năng giữa hình thức mua bán thông qua hợp đồng có thời hạn và mua bán  
giao ngay phù hợp với các cấp độ của thị trường điện lực; kiểm tra việc thực hiện biểu giá  
điện đã được phê duyệt; giải quyết khiếu nại và tranh chấp trên thị trường điện lực.  
2.2.3. Nội dung của quản lý nhà nước về an ninh năng lượng điện  
- Xây dựng chiến lược, kế hoạch đảm bảo an ninh năng lượng điện, gồm: chiến lược đảm  
bảo an ninh năng lượng điện, kế hoạch đảm bảo an ninh năng lượng điện  
- Xây dựng chính sách an ninh năng lượng điện: chính sách ANNLĐ là một hệ thống các  
quy định, công cụ và biện pháp thích hợp mà Nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt  
động sản xuất và kinh doanh điện ở những thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đã  
đề ra trong chiến lược đảm bảo an ninh năng lượng điện.  
- Tổ chức thực hiện kế hoạch và chính sách đảm bảo an ninh năng lượng điện: sau khi có  
các pháp luật và chính sách về an ninh năng lượng điện, đây là giai đoạn triển khai các kế  
hoạch và chính sách nhằm đảm bảo an ninh năng lượng điện. Giai đoạn này bao gồm các  
công việc: sản xuất, kinh doanh, tái đầu tư, vận hành hệ thống cung cấp điện cho cả nước.  
- Kiểm tra, giám sát an ninh năng lượng điện: kiểm soát hoạt động đảm bảo ANNLĐ là tổng  
thể những hoạt động của cơ quan QLNN nhằm kịp thời phát hiện và xử lý những sai sót, ách  
tắc, đổ vỡ, những khó khăn, vướng mắc cũng như những cơ hội phát triển ngành điện nhằm  
đảm bảo cho hoạt động của ngành điện tuân theo đúng các định hướng, mục tiêu phát triển  
năng lượng điện đã đề ra.  
2.2.4. Bộ máy quản lý nhꢀ nước về an ninh năng lượng điện  
Là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, được tổ chức theo  
nguyên tắc thống nhất tạo thành một chỉnh thể đồng bộ để thực hiện chức năng nhiệm vụ  
nhằm đảm bảo ANNLĐ cho quốc gia.  
QLNN về ANNLĐ được quản lý và triển khai chủ yếu ở 2 cấp độ là cấp trung ương  
và cấp địa phương:  
Ở cấp trung ương, cơ quan quản lý nhà nước về an ninh năng lượng điện chính là quốc hội,  
chính phủ, bộ công thương.  
Ở cấp địa phương: UBND các cấp sẽ thực hiện công tác QLNN về ANNLĐ trong phạm vị  
địa lý của mình theo sự phân cấp của chính phủ  
2.3. Kinh nghiệm quản lý nhꢀ nước đꢂi về an ninh năng lượng điện trên thế giới  
2.3.1. Xây dựng chiến lược đảm bảo an ninh năng lượng điện  
9
Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Đức: Hiện nước Đức đang có nhiều nỗ  
lực để trở thành cường quốc công nghiệp đầu tiên trên thế giới sử dụng 100% “năng lượng  
xanh” tái tạo và hướng tới “mục tiêu xanh” vào năm 2050. Bộ Môi trường Đức mới đây đã  
công bố Bản lộ trình phác thảo tiến trình thực hiện các kế hoạch hướng tới một nền kinh tế  
sử dụng hoàn toàn năng lượng tái tạo.  
Chiến lược đầu tư ngành điện của Hoa Kỳ: đầu tư kịp thời và phù hợp đưa vào phát  
triển cơ sở hạ tầng điện là yếu tố chính cho lý do tại sao Hoa Kỳ có nguồn cung cấp điện  
đáng tin cậy trong công tác đảm bảo an ninh năng lượng điện quốc gia.  
Chiến lược tái cấu trúc ngành điện của Hàn Quốc: Sau cuộc khủng hoảng tài chính  
năm 1997, chính phủ Hàn Quốc đã bắt đầu lên kế hoạch tư nhân hóa lĩnh vực điện, và việc  
đầu tiên là tách Tập đoàn điện lực Hàn Quốc thành 6 công ty con vào năm 2000. Đây là  
bước đầu tiên của quá trình tái cơ cấu ngành điện, ngoài ra cũng trong năm này, sàn giao  
dịch điện Hàn Quốc - Korea Power Exchange (KPX) cũng được đưa vào hoạt động.  
2.3.2. Xây dựng chính sách pháp luật về việc đảm bảo an ninh năng lượng điện  
Chính sách thuế năng lượng của Đức: thâm hụt ngân sách của Đức ngày càng tăng  
cũng tác động đáng kể tới sự thay đổi quan điểm của các nhà hoạt động chính trị ở Đức, đặc  
biệt là những người đã từng phản bác thuế môi trường. Do vậy, việc tăng nguồn thu từ chính  
sách thuế năng lượng vô hình trung đã có những bước thuận lợi đáng kể từ những lý do và  
lợi ích của cải cách thuế mang lại, đặc biệt là sự gia tăng chi phí năng lượng.  
Chính sách điện quốc gia của Ấn độ: chính sách điện quốc gia Ấn độ (2005) và chính  
sách đầu tư nhằm tăng công suất của ngành điện trên quy mô lớn là nguyên nhân chính góp  
phần đảm bảo an ninh năng lượng điện ở Ấn Độ.  
Chính sách phát triển năng lượng tái tạo của Trung Quốc: nhằm mục tiêu dẫn đầu về  
lĩnh vực phát triển năng lượng tái tạo, Trung Quốc đã chi rất nhiều tài chính cho việc tài trợ  
các dự án phát triển ngành năng lượng tái tạo quốc gia, sản xuất tuabin gió, tấm pin năng  
lượng mặt trời, xe chạy điện,… và hiệu quả của chính sách này vẫn còn là một dấu hỏi lớn.  
2.3.3. Kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện công tác đảm bảo an ninh năng lượng  
Quốc hội Đức đã thông qua đạo luật đóng cửa dần các nhà máy điện hạt nhân, ban  
hành các chính sách phát triển năng lượng sạch, xây dựng lại hệ thống cung cấp năng lượng  
để đảm bảo nguồn cung mà không phụ thuộc vào điện sản xuất từ than đá. Hiện tại, Đức  
cũng đã đóng cửa một số cơ sở trong tổng số 17 nhà máy điện hạt nhân trên toàn liên bang.  
Chính sách năng lượng tái tạo của chính phủ Đức đặt ra các mục tiêu tham vọng  
10  
trung hạn và dài hạn về giảm mức tiêu thụ năng lượng 20% vào năm 2020 so với mức tiêu  
thụ thiết yếu năm 2008 và ít nhất 50% vào năm 2050; tỷ lệ năng lượng tái tạo chiếm 18%  
mức tiêu thụ năng lượng vào năm 2020 và ít nhất 80% điện năng tiêu thụ trong năm 2050;  
tiết kiệm hơn 20% năng lượng các hoạt động làm ấm, sưởi vào năm 2020, giảm 80% tiêu  
thụ năng lượng sơ cấp đến năm 2050, xây dựng tòa nhà thân thiện với khí hậu và tăng gấp  
đôi tốc độ hiện đại hóa năng lượng lên 2% mỗi năm; tăng sản xuất năng lượng bình quân  
2,1% tới năm 2050 (Martin, 2010).  
2.3.4. Các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam  
Thứ nhất, đối với vấn đề xây dựng chiến lược đảm bảo an ninh năng lượng điện. Ở  
những quốc gia có ngành công nghiệp sản xuất và tiêu thụ điện phát triển như Đức, Úc, Hoa  
Kỳ, để đảm bảo ANNLĐ quốc gia, Chính phủ các nước trên luôn xác định mục tiêu xây  
dựng một chiến lược đảm bảo ANNLĐ với các mục tiêu cụ thể, phù hợp với điều kiện trong  
nước, có tính định hướng lâu dài. Chiến lược đảm bảo ANNLĐ quốc gia được xậy dựng  
đồng bộ với các chiến lược phát triển kinh tế xã hội khác của đất nước.  
CHƯƠNG 3  
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
3.1. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp  
Phương này được sử dụng nhằm thu thập các tài liệu và dữ liệu thứ cấp liên quan tới  
ANNL; ANNLĐ; quản lý nhà nước về ANNL nói chung và ANNLĐ nói riêng. Việc tổng  
quan các tài liệu thứ cấp giúp nghiên cứu làm rõ nội hàm ANNL, ANNLĐ, cũng như các  
yếu tố có thể gây ảnh hưởng ANNLĐ. Các tài liệu được thu thập từ các nghiên cứu được  
công bố trên các tạp chí uy tín trong nước và quốc tế, nghiên cứu và báo cáo của các cơ  
quan, tổ chức trong nước và quốc tế, và các sách tham khảo về ANNL và ANNLĐ.  
3.2. Phương pháp chuyên gia  
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia có thể được định nghĩa là một kỹ thuật nghiên  
cứu định tính, bao gồm việc thực hiện các cuộc phỏng vấn cá nhân chuyên sâu với một số ít  
người được hỏi để xác định cụ thể tiêu chí đánh giá công tác QLNN về ANNLĐ của Việt  
Nam.  
3.3. Phương pháp Delphi  
Kỹ thuật Delphi là quá trình khảo sát lặp đi lặp lại, là phương pháp định tính, gồm  
các bước: Bước 1: Xây dựng cơ sở lý luận và xác định các nhóm đối tượng có liên quan đến  
11  
việc xác định các tiêu chí phục vụ việc nghiên cứu QLNN về ANNLĐ tại Việt Nam; Bước  
2: Lựa chọn các chuyên gia tham gia vào cuộc điều tra Delphi. Số lượng các chuyên gia 25  
người; Bước 3: Xây dựng bảng câu hỏi mở, kiểm tra và chỉnh sửa lại hoàn chỉnh; Bước 4:  
Bảng câu hỏi mở chính thức cho vòng 1 được gửi đến các chuyên gia; Bước 5: Vòng 1 phân  
tích, tổng hợp lại thành một báo cáo tóm tắt, xây dựng bảng câu hỏi cho vòng 2; Bước 6:  
Câu hỏi vòng 2 cùng báo cáo tóm tắt kết quả vòng 1 được gửi trở lại đến các chuyên gia;  
Bước 7: Vòng 2 phân tích dữ liệu, tính điểm số trung bình, độ lệch chuẩn, thực hiện phân  
tích thống kê để đánh giá mức độ đồng thuận của các chuyên gia (hệ số Kendall); Bước 8:  
Tóm tắt kết quả từ cuộc điều tra Delphi.  
CHƯƠNG 4 THꢄC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN NINH  
NĂNG LƯỢNG ĐIỆN TẠI VIỆT NAM  
4.1. Thực trạng phát triển năng lượng điện tại Việt Nam  
4.1.1. Bối cảnh trong nước ảnh hưởng đến an ninh năng lượng điện ở Việt Nam  
Tiếp cận điện ở Việt Nam đã được cải thiện rất nhiều trong những thập kỷ gần đây,  
đạt đến 98,8% dân số vào năm 2016. Việt Nam gần đây đã chuyển từ một nước xuất khẩu  
năng lượng sang một nước nhập khẩu năng lượng vì nhu cầu về năng lượng ngày càng tăng,  
nguồn cung điện trong nước không đáp ứng đủ. Nhu cầu này sẽ tiếp tục tăng khi năng lực  
công nghiệp của đất nước tăng trưởng và phát triển hơn nữa.  
Phân tích nguồn sản xuất điện của Việt Nam đến cuối năm 2019 cho thấy hơn 41%  
nguồn điện là từ nhiệt điện, 37,1% là từ thủy điện, 13% từ nhiệt điện khí. Tỷ lệ nhập khẩu  
điện chiếm rất ít, khoảng 1%.  
Hình 4.1: Phân bổ nguồn cung điện quốc gia 2019  
Nguồn: Tập đoàn điện lực Việt Nam EVN  
12  
4.1.2. Thực trạng phát triển năng lượng điện tại Việt Nam  
Ngày nay, năng lượng thế giới đã chuyển từ việc tập trung khai thác và sử dụng  
nhiên liệu hóa thạch sang năng lượng tái tạo tuy nhiên Việt Nam đang có những bước đi trái  
chiều, thể hiện ở việc Quy hoạch Điện VII đặt mục tiêu gia tăng tỷ trọng của nhiệt điện than  
lên hơn 50% vào năm 2030 (Tập đoàn Điện lực Việt Nam, 2016). Theo đó, Việt Nam sẽ  
phải nhập khẩu 46,7 triệu tấn than mỗi năm từ năm 2020 và 157 triệu tấn mỗi năm từ năm  
2030 do than nội địa không đủ. Tuy nhiên, việc nhập khẩu than với số lượng lớn theo hợp  
đồng dài hạn là vấn đề không hề đơn giản hiện nay, chưa kể tới sự phụ thuộc vào biến động  
giá trên thị trường quốc tế.  
Theo báo cáo của World Bank 2018, do nhu cầu sử dụng điện cho phát triển kinh tế  
tăng lên nhanh chóng. Tính từ năm 2000 trở lại đây, tốc độ tăng trưởng hàng năm đều trên  
hai con số và theo khảo sát của WB thì cứ sau chu kỳ mỗi sáu năm thì nhu cầu tiêu thụ điện  
lại tăng gấp đôi. Mặc dù có một số dự báo đưa ra nhu cầu tiêu thụ đến năm 2030 có sự sụt  
giảm đáng kể, tuy nhiên vẫn sẽ duy trì gần 10% mỗi năm, và chu kỳ tăng gấp đôi trong vòng  
9 năm.  
4.2. Bộ máy quản lý nhꢀ nước về an ninh năng lượng điện tại Việt Nam  
4.2.1. Bộ máy quản lý nhà nước về an ninh năng lượng điện cấp trung ương  
4.2.1.1. Cơ quan quản lý trực tiếp  
Hiện nay, do sự phân công về công tác quản lý của chính phủ, Bộ công thương được  
chính phủ giao cho nhiệm vụ quản lý nhà nước về ngành điện nói chung và quản lý về  
ANNLĐ tại trung ương nói riêng. Tại Bộ công thương, đơn vị trực tiếp quản lý nhà nước về  
an ninh năng lượng điện là Cục Điện lực và năng lượng tái tạo.  
Chính phủ  
Các bộ ngành  
Bộ công thương  
Các cơ quan  
ngang bộ  
liên quan  
Cơ quan cấp bộ quản lý trực tiếp:  
13  
Bộ công thương  
Đơn vị quản lý nhà  
nước  
Thương vụ  
Đơn vị sự nghiệp  
Cục Điện lực và  
năng lượng tái tạo  
Hình 4.4: Bộ máy quản lý nhà nước về an ninh năng lượng điện cấp trung ương  
Nguồn: tác giả tổng hợp  
4.2.1.2. Các cơ quan quản lý gián tiếp  
Bộ kế hoạch và  
đầu tư  
An ninh năng  
lượng điện  
Bộ tài nguyên  
và môi trường  
Bộ xây dựng  
Hình 4.5: Bộ máy quản lý nhà nước gián tiếp về an ninh năng lượng điện cấp trung ương  
Nguồn: tác giả tổng hợp  
4.3. Thực trạng quản lý nhꢀ nước về an ninh năng lượng điện tại Việt Nam  
4.3.1. Xây dựng chiến lược đảm bảo an ninh năng lượng điện  
4.3.1.1. Chiến lược đảm bảo an ninh năng lượng điện quốc gia  
Quy hoạch phát triển điện lực Việt Nam VII, điều chỉnh lập một danh sách các nguồn  
điện dự kiến phát triển trong giai đoạn đến năm 2030, được Thủ tướng phê duyệt vào tháng  
3/2016. Tuy nhiên, đến đầu năm 2019, đã có nhiều thay đổi trong bối cảnh năng lượng và  
quan điểm của Chính phủ Việt Nam về phát triển hệ thống điện trong giai đoạn tới. Cũng  
theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh, ước tính hết năm 2020 sản lượng nguồn cung điện đạt  
khoảng 235-245 tỷ kWh, đến năm 2025 dự kiến khoảng 352-379 và đạt mức rất cao vào  
14  
năm 2030 với sản lượng khoảng 506-559 tỷ kWh. Tốc độ tiêu dùng điện ước tính cho giai  
đoạn 2020-2025 rơi vào khoảng 8.42%, giai đoạn 2025-2030 là 7.53%.  
4.3.1.2. Xây dựng và ban hành pháp luật về an ninh năng lượng điện  
Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, là cơ quan chịu trách nhiệm xây  
dựng và ban hành pháp luật về an ninh năng lượng điện, Luật Điện lực số 28/2004/QH11  
ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2005,  
được sửa đổi, bổ sung bởi: (1). Luật số 24/2012/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2012 của  
Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7  
năm 2013; (2). Luật số 28/2018/QH14 ngày 15 tháng 6 năm 2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ  
sung một số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01  
năm 2019.  
4.3.1.3. Kế hoạch đảm bảo an ninh năng lượng điện tại các địa phương  
Dựa trên kế hoạch bảo đảm an ninh điện quốc gia, các địa phương sẽ căn cứ tình hình  
cụ thể của từng vùng và mục tiêu phát triển của mình để xây dựng kế hoạch đảm bảo an  
ninh điện cho địa bàn tỉnh mình. Các địa phương sẽ rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản  
pháp luật của địa phương về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả nhằm đảm bảo  
ANNLĐ tại địa phương mình; nghiên cứu xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật về sử dụng  
năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trên địa bàn tỉnh.  
4.3.2. Xây dựng chính sách an ninh năng lượng điện  
Nhằm đảm bảo an ninh năng lượng điện, Đảng và nhà nước đã ban hành một số  
chính sách nhằm bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng điện quốc gia; cung cấp điện đầy  
đủ và ổn định, có chất lượng cao với giá cả hợp lý cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và  
bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống của nhân dân, góp phần bảo vệ  
môi trường sinh thái. Ngành năng lượng điện phải phát triển hài hòa giữa các phân ngành  
với hạ tầng đồng bộ và thông minh, đạt trình độ tiên tiến của khu vực ASEAN. Xây dựng  
thị trường điện cạnh tranh, minh bạch, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định  
hướng xã hội chủ nghĩa. Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng tái  
tạo trong quá trình sản xuất điện; triệt để sử dụng điện một cách tiết kiệm và hiệu quả. Chủ  
động sản xuất được một số thiết bị chính trong các phân ngành năng lượng; nâng cấp, xây  
dựng lưới điện truyền tải, phân phối điện tiên tiến, hiện đại.  
4.3.3. Tổ chức thực hiện kế hoạch đảm bảo an ninh năng lượng điện  
4.3.3.1. Thực hiện kế hoạch đảm bảo an ninh năng lượng điện cấp quốc gia  
15  
Trong giai đoạn từ 2013 đến nay, tổng sản lượng điện hàng năm của Việt Nam đều  
tăng trưởng, với mức tăng trung bình của giai đoạn 2013-2019 là 10.8%. Lực đẩy cho tăng  
trưởng của ngành điện phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ tăng trưởng của thị trường bất động  
sản với việc rất nhiều dự án nhà ở và thương mại được triển khai trong giai đoạn này. Tốc  
độ tăng trưởng sản lượng điện giai đoạn vừa qua phản ánh chính sách thức đẩy phát triển  
các dự án xây dựng và vận hành các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ tại các địa phương.  
Hình 4.8: Sản lượng điện sản xuất và sản lượng điện tiêu thụ  
Nguồn EVN, PSI  
4.3.3.2. Thực hiện kế hoạch đảm bảo an ninh năng lượng điện tại địa phương  
Căn cứ theo chiến lược phát triển điện nhằm đảm bảo an ninh năng lượng điện tại  
các địa phương, các tỉnh sẽ triển khai hoạt động thu hút đầu tư vào các dự án điện phù hợp  
với nhu cầu và điều kiện thực tiễn tại địa phương mình. Tuy nhiên, các dự án này phải nằm  
trong khuôn khổ các dự án đã được phê duyệt của chính phủ, do đặc thù ngành điện là một  
trong những ngành vẫn chịu sự điều tiết của chính phủ trung ương.  
4.3.4. Kiểm tra, giám sát đảm bảo an ninh năng lượng điện  
4.3.4.1. Hoạt động kiểm tra nhằm đảm bảo an ninh điện  
Hoạt động thanh kiểm tra đối với ngành điện được triển khai thường xuyên và sẽ do  
Thủ tướng Chính phủ giao Thanh tra Chính phủ chủ trì phối hợp với các bộ ban ngành liên  
quan. Gần đây nhất, Quyết định số 390/QĐ-TTCP của Thanh tra Chính phủ được ban hành  
căn cứ vào Văn bản số 3636/VPCP-V.I ngày 3/5/2019 của Văn phòng Chính phủ thông báo  
ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ giao Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ  
Tài chính, Bộ Công thương và các cơ quan liên quan kiểm tra việc điều chỉnh mức giá bán  
điện, phương pháp tính giá và việc thu tiền thời gian qua.  
4.3.4.2. Hoạt động giám sát quá trình đảm bảo an ninh điện  
16  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 29 trang yennguyen 22300 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Quản lý nhà nước về an ninh năng lượng điện tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_quan_ly_nha_nuoc_ve_an_ninh_nang_luong_dien.pdf