Luận văn Giải pháp phát triển hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam Chi nhánh 7 – Thành phố Hồ Chí Minh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
…………..………….  
LÊ THỊ THANH Ý  
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BẢO  
LÃNH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ  
PHẦN CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM CHI  
NHÁNH 7 –  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính - ngân hàng  
Mã số: 60.31.12  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:  
TS. LÊ THÀNH LÂN  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011  
MỤC LỤC  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan : Luận văn “Giải pháp phát triển hoạt động bảo lãnh ngân  
hàng tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Công thƣơng Việt Nam Chi nhánh 7 Tp.  
Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu riêng của tôi.  
Các số liệu trong luận văn đƣợc sử dụng trung thực. Các số liệu có nguồn  
trích dẫn, kết quả trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố ở các luận  
văn khác.  
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 09 năm 2011  
Lê Thị Thanh Ý  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
NHNN: Ngân hàng Nhà nƣớc  
NHTM: Ngân hàng thƣơng mại  
TCTD: Tổ chức tín dụng  
TMCP: Thƣơng mại cổ phần  
WTO: Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (World Trade Organization)  
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU  
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ  
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ  
LỜI MỞ ĐẦU  
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI  
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển.  
Đặc biệt, sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thƣơng mại thế giới WTO, bên cạnh  
những cơ hội hợp tác quốc tế, các ngân hàng trong nƣớc cũng đứng trƣớc thách thức  
lớn đòi hỏi nhiều nỗ lực để vƣợt qua.  
Đối với ngân hàng, bảo lãnh là hoạt động đƣợc sử dụng nhiều nhất trong các  
giao dịch kinh tế quốc tế và ngày càng đƣợc ứng dụng rộng rãi trên thế giới. Tại  
Việt Nam, những năm gần đây dịch vụ này đƣợc các NHTM quan tâm và đẩy mạnh  
nhằm theo kịp xu hƣớng phát triển của thế giới và hội nhập kinh tế toàn cầu.  
Vietinbank là môt NHTM lớn, có nhiều uy tín, nổi tiếng trong nƣớc và thế  
giới. Tuy nhiên, hoạt động bảo lãnh chƣa thực sự nổi trội và chƣa là thế mạnh so  
với các ngân hàng khác. Vì vậy, để phát triển mạnh hoạt động này xứng tầm với uy  
tín của một ngân hàng lớn, còn rất nhiều vấn đề phải làm.  
Chính vì vậy, căn cứ vào cơ sở các lý luận về bảo lãnh ngân hàng cũng nhƣ  
thực tế về hoạt động bảo lãnh tại Vietinbank Chi nhánh 7 Tp. Hồ Chí Minh, tôi đã  
chọn đề tài “GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI  
NHTMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CN7 TPHCM”. Qua luận văn tôi mong  
muốn góp phần phát triển tốt hoạt động bảo lãnh tại chi nhánh.  
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU  
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về bảo lãnh  
ngân hàng, đề xuất giải pháp phát triển hoạt động bảo lãnh tại Vietinbank CN7.  
Luận văn nghiên cứu tổng quan về bảo lãnh ngân hàng, nghiên cứu cơ sở  
pháp lý liên quan đến hoạt động bảo lãnh ngân hàng, phân tích đánh giá thực trạng  
hoạt động bảo lãnh tại Vietinbank CN7 đồng thời đề xuất các giải pháp phát triển  
hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại Vietinbank.  
PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là hoạt động bảo lãnh tại Vietinbank CN7  
KẾT CẦU CỦA ĐỀ TÀI  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của Luận văn gồm ba chƣơng  
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về bảo lãnh ngân hàng.  
Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP Công  
thƣơng Việt Nam Chi nhánh 7 Tp. HCM  
Chƣơng 3: Một số giải pháp phát triển hoạt động bảo lãnh tại Vietinbank .  
Qua luận văn tôi xin gởi lời chân thành cảm ơn đến Thầy cô Trƣờng Đại học  
Kinh Tế Tp.Hồ Chí Minh đã truyền đạt cho tôi vốn kiến thức quý báu trong suốt  
thời gian học vừa qua. Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS. Lê Thành Lân đã tận  
tình chỉ bảo, hƣớng dẫn tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn này.  
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN  
HÀNG THƢƠNG MẠI  
1.1 Tổng quan về bảo lãnh ngân hàng:  
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của bảo lãnh ngân hàng:  
Hoạt động bảo lãnh đã có từ thời Hy Lạp cổ đại trong những giao dịch nhỏ  
lẻ, dù rất sơ khai. Từ thập niên 60 của thế kỷ XX, bảo lãnh ngân hàng bắt đầu thông  
dụng tại các nƣớc Tây Âu và Hoa Kỳ. Sang thập niên 70, mậu dịch quốc tế ngày  
càng phát triển, đã gia tăng nhu cầu đa dạng hóa và hợp pháp hóa công cụ tài trợ.  
Và bảo đảm quốc tế, đƣợc tin tƣởng, nhờ tính vừa chắc chắn vừa linh hoạt phù hợp  
với tập quán quốc tế đồng thời không trái với luật pháp quốc gia. Bảo lãnh ngân  
hàng đáp ứng đƣợc các yêu cầu này và đƣợc sử dụng ngày càng phổ biến. Khác với  
tập quán tại các nƣớc Tây Âu, luật pháp Hoa Kỳ lúc bấy giờ dành nghiệp vụ bảo  
lãnh cho các công ty bảo hiểm. Các ngân hàng Mỹ phải sử dụng thƣ tín dụng dự  
phòng (Standby-LC) thay cho thƣ bảo lãnh ngân hàng.  
Ngày nay, bảo lãnh ngân hàng đƣợc sử dụng rộng rãi và đáp ứng đƣợc nhu  
cầu phát triển kinh tế tại các quốc gia, các khu vực và trên toàn thế giới. Doanh số  
phát hành bảo lãnh ngân hàng gia tăng nhanh chóng. Bảo lãnh ngân hàng còn đƣợc  
dùng khá phổ biến trong giao dịch kinh tế và dân sự ở các quốc gia đang phát triển.  
Hơn nữa, hầu hết các giao dịch quốc tế lớn đều có kèm theo bảo lãnh ngân hàng.  
Tại Việt Nam, trƣớc 1975, các ngân hàng ở Sài Gòn đã cung cấp dịch vụ bảo  
lãnh. Sau đó, dịch vụ này đƣợc khôi phục từ cuối thập niên 80, khi chuyển đổi sang  
nền kinh tế thị trƣờng. Khi nền kinh tế mở cửa để hội nhập vào khu vực và thế giới,  
hoạt động ngân hàng trở nên đa dạng và bảo lãnh ngân hàng phát triển theo nhƣ một  
tất yếu khách quan. Nhƣng, do thiếu cơ sở pháp lý thống nhất, dịch vụ bảo lãnh  
ngân hàng thời kỳ này chƣa hiệu quả. Từ năm 1994-1995, dịch vụ bảo lãnh dần  
đƣợc hoàn thiện nhờ việc ban hành một số quy định thống nhất. Sau đó, cùng với xu  
hƣớng mở rộng quan hệ kinh tế trong và ngoài nƣớc, bảo lãnh ngân hàng đã nhanh  
chóng phát triển. Tỷ lệ tăng trƣởng hàng năm về doanh số phát hành và số dƣ bảo  
1
     
lãnh của các ngân hàng thƣơng mại (NHTM) ngày càng cao, hình thức bảo lãnh  
ngày càng đa dạng, cho thấy tiềm năng phát triển của dịch vụ này rất lớn. Từ khi  
Việt Nam gia nhập Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO), cơ hội hợp tác và mở  
rộng thƣơng mại quốc tế ngày càng nhiều, nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính -  
ngân hàng ngày càng tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho dịch vụ bảo lãnh ngân hàng  
phát triển mạnh.  
1.1.2 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng:  
Hiện nay, thuật ngữ bảo lãnh ngân hàng (Bank Guarantee) chƣa đƣợc định  
nghĩa một cách thống nhất trong luật pháp và thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, bảo lãnh  
ngân hàng có thể đƣợc hiểu nhƣ sau:  
Bảo lãnh ngân hàng là một biện pháp bảo đảm mang tính dự phòng, theo đó,  
định chế tài chính phát hành (the Guarantor) cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính  
cho bên nhận bảo lãnh (the Beneficiary) thay cho khách hàng (the Principal) khi  
khách hàng vi phạm nghĩa vụ đã cam kết.  
Tại Việt Nam, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức  
tín dụng (TCTD) ngày 15/06/2004, bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của  
TCTD (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa  
vụ tài chính thay cho khách hàng (bên đƣợc bảo lãnh) khi khách hàng không thực  
hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD số  
tiền đã đƣợc trả thay.  
Trong thƣơng mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng đƣợc xem nhƣ một loại hình  
tài trợ ngoại thƣơng nhằm chống đỡ những tổn thất của bên nhận bảo lãnh khi đối  
tác vi phạm cam kết.  
Trong thực tế, bất cứ chủ thể nào – thể nhân hay pháp nhân - có đầy đủ năng  
lực pháp lý, năng lực hành vi và năng lực tài chính đều có thể phát hành thƣ bảo  
lãnh đối tƣợng khác.  
Luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu bảo lãnh do NHTM phát hành.  
2
 
NHTM là một loại hình TCTD, đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng  
và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận (mục tiêu  
chính) và góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nƣớc.  
1.1.3 Phân biệt giữa bảo lãnh trong nƣớc và bảo lãnh nƣớc ngoài:  
Đối với các ngân hàng đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam cho phép thực  
hiện thanh toán quốc tế đƣợc thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh  
thanh toán và các hình thức bảo lãnh khác với bên nhận bảo lãnh là các tổ chức, cá  
nhân nƣớc ngoài. Vì vậy, việc thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh nƣớc ngoài phải  
đƣợc phép của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam qua Giấy phép kinh  
doanh ngoại hối, đƣợc thể hiện thành cụm từ “Authorized exchange bank” kèm theo  
tên thƣơng hiệu . So với bảo lãnh trong nƣớc thì bảo lãnh nƣớc ngoài có một số  
những khác biệt sau:  
Đối tƣợng đƣợc bảo lãnh là các doanh nghiệp vay vốn nƣớc ngoài  
theo hình thức tự vay, tự trả và doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài phù hợp với  
Luật đầu tƣ nƣớc ngoài (gọi chung là doanh nghiệp) đƣợc quy định tại Quy chế  
quản lý vay và trả nợ nƣớc ngoài ban hành kèm theo Nghị định 58-CP ngày 30-8-  
1993 của Chính phủ.  
Về điều kiện bảo lãnh: so với bảo lãnh trong nƣớc thì trong bảo lãnh  
nƣớc ngoài doanh nghiệp phải chấp hành quy chế quản lý vay và trả nợ nƣớc ngoài  
của Chính phủ, khoản vay xin bảo lãnh phải nằm trong kế hoạch tổng hạn mức vay  
nƣớc ngoài đƣợc Chính phủ duyệt, đồng thời phải có hợp đồng vay vốn nƣớc ngoài.  
Về cơ sở pháp lý, bảo lãnh trong nƣớc chịu sự điều chỉnh của Luật  
Dân sự cùng các bộ luật khác của nƣớc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.  
Bảo lãnh ra nƣớc ngoài còn phải cân nhắc mối tƣơng quan giữa luật tại các quốc gia  
liên quan và các thông lệ cùng tập quán quốc tế hiện hành.  
Về ngôn từ sử dụng thì bảo lãnh trong nƣớc đƣợc soạn bằng tiếng bản  
xứ trong khi bảo lãnh quốc tế đƣợc soạn bằng ngoại ngữ, thƣờng là tiếng Anh.  
3
 
1.1.4 Một số lƣu ý đối với bảo lãnh nƣớc ngoài  
Trong giao dịch bảo lãnh khi có bên nƣớc ngoài tham gia, phải lƣu ý mấy điểm  
sau:  
Trong các điều ƣớc quốc tế về bảo lãnh mà nƣớc Cộng Hòa Xã Hội  
Chủ Nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia nếu có quy định khác với quy định tại  
Quy chế Bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN  
ngày 26/06/2006 của Thống đốc NHNN, thì áp dụng quy định tại điều ƣớc quốc tế  
đó.  
NHBL có thể thỏa thuận với khách hàng, bên nhận bảo lãnh áp dụng  
các quy tắc, tập quán và thông lệ quốc tế về bảo lãnh ngân hàng nếu các quy tắc, tập  
quán và thông lệ đó không trái với quy định của pháp luật Việt Nam (URCG 325,  
URDG 458 đối với bảo lãnh; UCP, ISP 98 đối với thƣ tín dụng dự phòng).  
NHBL và các bên liên quan có thể thỏa thuận Luật áp dụng, tòa án  
hoặc trọng tài nƣớc ngoài sẽ giải quyết tranh chấp phát sinh đối với giao dịch bảo  
lãnh, nếu việc thỏa thuận đó không trái với quy định của pháp luật Việt Nam.  
Trong trƣờng hợp khách hàng, bên nhận bảo lãnh và các bên liên quan  
(nếu có) không yêu cầu cụ thể về Luật áp dụng, tòa án hoặc trọng tài nƣớc ngoài để  
giải quyết tranh chấp phát sinh, NHBL tham chiếu áp dụng Luật Việt Nam, chỉ định  
giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam trong  
HĐCBL, cam kết bảo lãnh.  
1.1.5 Các hình thức bảo lãnh nƣớc ngoài  
Dịch vụ bảo lãnh nƣớc ngoài của ngân hàng Việt Nam đƣợc cung cấp cho  
các doanh nghiệp dƣới các hình thức:  
-Mở thƣ tín dụng mua hàng trả chậm;  
-Ký bảo lãnh trên các hối phiếu nhận nợ với nƣớc ngoài ( trừ trƣờng hợp  
Ngân hàng Nhà nƣớc nhận bảo lãnh)  
-Phát hành thƣ bảo lãnh hay thƣ tín dụng dự phòng.  
4
   
-Lập giấy chứng nhận kỳ hạn nợ với nƣớc ngoài (hoặc xác nhận vào giấy do  
khách hàng lập, đối với trƣờng hợp Ngân hàng Nhà nƣớc nhận bảo lãnh)  
Ngoài lợi ích tăng thêm mức độ tin cậy của đối tác trong việc thực hiện hợp  
đồng cùng các giao dịch mua bán, cung cấp sản phẩm…, doanh nghiệp còn đƣợc  
gia tăng cơ hội vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, đặc biệt là vay vốn của các tổ  
chức nƣớc ngoài với lãi suất thấp, thời gian dài, còn đƣợc ân hạn (ngoại trừ rủi ro  
hối đoái) khi có một ngân hàng đứng ra bảo lãnh.  
Đối với Ngân hàng Công thƣơng Việt Nam, khi bảo lãnh cho khách hàng là  
tổ chức, cá nhân có quốc tịch nƣớc ngoài hoặc phát hành bảo lãnh ra nƣớc ngoài  
(Bên nhận bảo lãnh cƣ trú ở nƣớc ngoài), trừ trƣờng hợp khách hàng ký quỹ hoặc có  
TSĐB là sổ tiết kiệm, các giấy tờ có giá do NHCT, các TCTD, tài chính khác phát  
hành đảm bảo cho 100% giá trị bảo lãnh thì ở mỗi chi nhánh nếu xét thấy dự án,  
phƣơng án hiệu quả, khách hàng có đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ đƣợc bảo lãnh,  
Hội đồng tín dụng cở sở trình Tổng Giám đốc NHCT xem xét, và Chi nhánh chỉ  
đƣợc phát hành bảo lãnh sau khi nhận đƣợc chấp thuận bằng văn bản của Tổng  
Giám đốc.  
1.1.6 Bảo lãnh ngân hàng vừa là nghiệp vụ tín dụng vừa là dịch vụ:  
Cuộc tranh luận về phân nhóm thống kê của nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng  
đang tiếp diễn.  
Về mặt quy trình, khi tiếp nhận yêu cầu đƣợc bảo lãnh của khách hàng, ngân  
hàng phải xem xét kỹ bối cảnh phát sinh nhu cầu bảo lãnh (hợp đồng, dự án…).  
Tiếp theo, ngân hàng thẩm định bên đƣợc bảo lãnh cùng bên nhận bảo lãnh (năng  
lực pháp lý, năng lực hành vi, năng lực tài chính…) rồi cân nhắc các điều khoản  
phải cam kết thực hiện đã phù hợp với luật pháp chƣa. Ngân hàng phải đối chiếu  
với các hệ số đảm bảo nội bộ nhƣ tỷ trọng giá trị bảo lãnh so với vốn điều lệ ngân  
hàng, tỷ trọng tổng dƣ nợ và bảo lãnh cho một khách hàng so với tổng dƣ nợ hay  
vốn điều lệ ngân hàng…Cuối cùng, ngân hàng quyết định về mức ký quỹ hay mức  
5
 
tài sản thế chấp, cầm cố đƣợc áp dụng. Chứng thƣ bảo lãnh phải có hạn mức tối đa,  
thời gian hiệu lực, điều kiện để đƣợc thanh toán.  
Các bƣớc vừa nêu hoàn toàn giống nhƣ cách xử lý một món cho vay. Nhƣng  
khi đã phát hành chứng thƣ bảo lãnh, ngân hàng chƣa giải ngân để tính lãi cho vay,  
mà chỉ hạch toán ngoại bảng để theo dõi và thu phí dịch vụ. Giao dịch diễn ra suôn  
sẻ giữa bên đƣợc và bên nhận bảo lãnh, chứng thƣ bảo lãnh đƣợc lƣu hồ sơ và tự vô  
hiệu khi hết hiệu lực, lúc đó ngân hàng hoàn ký quỹ và giải tỏa tài sản thế chấp, cầm  
cố cho khách hàng. Nếu bên đƣợc bảo lãnh vi phạm cam kết mà không thu xếp  
đƣợc, chiếu theo thƣ bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh khiếu nại đòi tiền ngân hàng.  
Ngân hàng phải thanh toán ngay, sau đó thu hồi từ tiền ký quỹ. Phần còn thiếu đƣợc  
xem là cho vay bắt buộc đối với bên đƣợc bảo lãnh và thu lãi theo lãi suất nợ quá  
hạn tính từ thời điểm ngân hàng trả thay. Lúc này, khoản bảo lãnh trở thành món  
cho vay có thu lãi cho đến khi khách hàng trả dứt nợ.  
Theo quan điểm của ngành Thuế, các khoản thu phí dịch vụ phải chịu thuế VAT,  
còn thu lãi cho vay chỉ chịu thuế lợi tức. Nhƣng gần đây, Bộ Tài chính nƣớc ta chấp  
nhận không thu thuế VAT trên phí bảo lãnh cùng các khoản phí liên quan đến thƣ  
tín dụng quốc tế.  
Do phạm vi giới hạn, luận văn không đi sâu vào tranh luận, tạm xem bảo  
lãnh ngân hàng thuộc nhóm dịch vụ phi tín dụng vì mục đích của khách hàng khi  
xin ngân hàng cấp bảo lãnh, chỉ muốn kinh doanh thuận lợi, không cố tình vi phạm  
các nghĩa vụ để vừa phải xử lý hậu quả về mặt tài chính, vừa mất uy tín trên thƣơng  
trƣờng khó hoạt động về sau.  
1.2 Chức năng và vai trò của bảo lãnh ngân hàng:  
1.2.1 Chức năng của bảo lãnh ngân hàng:  
1.2.1.1 Chức năng hạn chế rủi ro do khách hàng thiếu thông tin cần thiết  
Trong kinh doanh, việc nắm thông tin về đối tác là rất quan trọng. Tuy nhiên,  
vì nhiều lý do khác nhau nhƣ: khoảng cách địa lý, sự khác biệt về tập quán kinh  
doanh, khó thu thập thông tin, chi phí thu thập cao, nên luôn tồn tại rủi ro do thiếu  
6
     
thông tin cần thiết. Bảo lãnh ngân hàng góp phần khắc phục nhƣợc điểm này. Giao  
dịch chỉ đƣợc thực hiện khi hai đối tác biết và tin nhau. Khi thiếu thông tin, hai bên  
thƣờng nghi ngại lẫn nhau. Với danh tiếng và uy tín của mình, việc ngân hàng bảo  
lãnh cho một bên, làm cầu nối hai bên xa lạ giao dịch đƣợc với nhau.  
1.2.1.2 Chức năng bảo đảm  
Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh ngân hàng. Chức năng này  
đƣợc thể hiện trƣớc hết ở việc đảm bảo sự công bằng về nghĩa vụ và quyền lợi của  
bên đƣợc bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh trong việc thực hiện các cam kết. Bên cạnh  
đó, bằng việc cam kết chi trả thay khi bên đƣợc bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ, ngân  
hàng phát hành bảo lãnh đã tạo ra sự đảm bảo cho bên nhận bảo lãnh. Đây là mục  
đích ra đời của bảo lãnh ngân hàng. Chính sự tin tƣởng này tạo điều kiện cho các  
giao dịch đƣợc thực hiện thuận lợi. Ngoài ra, bảo lãnh ngân hàng còn cam kết bù  
đắp cho bên nhận bảo lãnh về những tổn thất xảy ra do phía đối tác không thực hiện  
nghĩa vụ. Điều này làm yên lòng ngƣời cung cấp vốn, ngƣời cho vay, chủ công  
trình, ngƣời mua hoặc bất kỳ ai với tƣ cách là bên nhận bảo lãnh trong giao dịch với  
đối tác. Trên thực tế, do việc thanh toán dựa trên vi phạm nghĩa vụ đã cam kết của  
bên đƣợc bảo lãnh, mà các nghĩa vụ này lại có thêm sự giám sát gián tiếp từ phía  
ngân hàng, nên con số các bảo lãnh ngân hàng đƣợc yêu cầu thanh toán thƣờng  
không cao. Rõ ràng, bảo lãnh ngân hàng bôi trơn cỗ máy kinh tế, góp phần giải tỏa  
ách tắc trong các giao dịch.  
1.2.1.3 Chức năng tài trợ  
Bảo lãnh ngân hàng còn tài trợ cho bên đƣợc bảo lãnh. Trong nhiều trƣờng  
hợp, thông qua bảo lãnh ngân hàng, bên đƣợc bảo lãnh không phải xuất tiền, đƣợc  
thu hồi vốn nhanh chóng, đƣợc vay nợ hoặc đƣợc kéo dài thời gian thanh toán tiền  
hàng hóa, dịch vụ, nộp thuế,…Vì vậy, dù không trực tiếp cấp vốn, nhƣng ngân hàng  
bảo lãnh giúp khách hàng đƣợc thuận lợi trong kinh doanh. Với ý nghĩa này, bảo  
lãnh ngân hàng đƣợc coi là một trong những dịch vụ ngân hàng có ý nghĩa quan  
trọng, đáp ứng kịp thời các yêu cầu phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh, giảm  
bớt căng thẳng về nguồn vốn họat động của doanh nghiệp. Bảo lãnh ngân hàng còn  
7
   
đƣợc gọi nôm na là vay mƣợn uy tín hay cho vay bằng chữ ký. Về nguyên tắc, khi  
phát hành thƣ bảo lãnh, ngân hàng có quyền bắt bên đƣợc bảo lãnh phải ký quỹ  
tƣơng xứng, nhƣng thƣờng ngân hàng có thể xét cho miễn ký quỹ. Lúc này, ngân  
hàng chỉ mới cam kết chứ chƣa thực sự xuất tiền cho vay. Khi bên đƣợc bảo lãnh  
không hoàn thành nghĩa vụ, bắt buộc ngân hàng phải thực hiện thay bằng cách bỏ  
tiền ra thì đây mới là lúc cho vay thực sự. Cho nên, đòi hỏi phải thẩm định một món  
bảo lãnh nhƣ một món cho vay.  
1.2.1.4 Chức năng đôn đốc việc thực hiện nghĩa vụ  
Chức năng này thể hiện thông qua việc tạo áp lực đối với bên đƣợc bảo lãnh  
trong nỗ lực thực thi các cam kết. Giữ thƣ bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh yên tâm;  
ngƣợc lại, bên đƣợc bảo lãnh luôn chịu áp lực dƣới trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ,  
bởi nếu vi phạm, bên đƣợc bảo lãnh không chỉ bị mất quyền lợi từ các cam kết, mà  
còn phải chịu nghĩa vụ tài chính phát sinh từ bảo lãnh đƣợc phát hành theo yêu cầu  
của họ. Trong suốt thời hạn bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh luôn có quyền yêu cầu  
ngân hàng bồi thƣờng khi bên đƣợc bảo lãnh vi phạm cam kết, theo mức độ vi phạm  
và thiệt hại. Bên đƣợc bảo lãnh luôn chịu áp lực của việc phải bồi hoàn theo bảo  
lãnh. Nhƣ vậy, bảo lãnh ngân hàng đốc thúc bên đƣợc bảo lãnh thực hiện đầy đủ các  
cam kết họ đã đƣa ra. Tuy nhiên, trên thực tế, khi ký hợp đồng và nhận cam kết bảo  
lãnh, bên nhận bảo lãnh vẫn mong muốn bên đƣợc bảo lãnh thực hiện tốt các cam  
kết hơn là khoản bồi hoàn tài chính từ bảo lãnh ngân hàng, bởi khó tìm đối tác khác  
nối tiếp công việc dở dang. Rõ ràng, bảo lãnh ngân hàng mang ý nghĩa đốc thúc  
thực hiện các cam kết hơn là bồi hoàn. Ngoài ra, do có trách nhiệm thực hiện bồi  
hoàn theo cam kết bảo lãnh, ngân hàng phát hành bảo lãnh cũng gián tiếp tạo áp lực  
đối với bên đƣợc bảo lãnh trong việc giảm thiểu các vi phạm vì họ cũng không  
muốn bị ngân hàng đánh giá thấp và mất hậu thuận tài chính này.  
8
 
1.2.2 Vai trò của bảo lãnh ngân hàng:  
1.2.2.1 Đối với nền kinh tế  
Bảo lãnh ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.  
Công cụ này góp phần thúc đẩy sự hợp tác trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội,  
trong phạm vi quốc gia và trên toàn thế giới. Bảo lãnh ngân hàng còn góp phần tích  
cực đẩy mạnh tín dụng thƣơng mại giữa các đối tác và có tác dụng giải quyết đáng  
kể nhu cầu về vốn trong hầu hết các ngành, các lĩnh vực kinh tế. Bảo lãnh ngân  
hàng thực sự trở thành công cụ thông dụng đảm bảo thực thi nghĩa vụ, đặc biệt là  
nghĩa vụ tài chính, trong các giao dịch tài chính lẫn phi tài chính, giao dịch thƣơng  
mại lẫn phi thƣơng mại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.  
1.2.2.2 Đối với NHTM  
Bảo lãnh vừa là hoạt động cấp tín dụng, vừa là dịch vụ có thu phí, góp phần  
gia tăng nguồn thu dịch vụ ngoài lãi vay, đƣợc các NHTM quan tâm và luôn hƣớng  
đến trong kinh doanh. Bên cạnh đó, bảo lãnh còn góp phần đa dạng hóa sản phẩm  
tài chính của NHTM, đặc biệt là sản phẩm tín dụng bên cạnh các dịch vụ truyền  
thống nhƣ cho vay, chiết khấu, đồng thời, giúp NHTM bán thêm và bán chéo sản  
phẩm. Đó cũng là biện pháp hữu hiệu thu hút và giữ chân khách hàng - yếu tố cốt  
lõi quyết định sự thành công. Ngoài ra, nghiệp vụ bảo lãnh góp phần khẳng định uy  
tín, vị thế và khả năng tài chính của NHTM, nên rất đƣợc chú trọng; đây là hoạt  
động tiềm ẩn rủi ro nhƣng hiệu quả khi đƣợc xử lý tốt.  
1.2.2.3 Đối với khách hàng sử dụng dịch vụ bảo lãnh  
Đối với khách hàng đƣợc bảo lãnh, bảo lãnh ngân hàng hậu thuẫn họ trong  
các giao dịch mà họ tham gia. Nhờ đƣợc bảo lãnh, họ đƣợc đối tác tin tƣởng hơn,  
đƣợc thuận lợi nhƣ: đƣợc chiếm dụng vốn hợp lý từ ngƣời bán, đƣợc vay vốn, đƣợc  
ứng trƣớc tiền,…Bảo lãnh ngân hàng còn góp phần nâng cao trách nhiệm của bên  
đƣợc bảo lãnh về nghĩa vụ họ phải thực hiện.  
9
       
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 90 trang yennguyen 17480 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Giải pháp phát triển hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam Chi nhánh 7 – Thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_giai_phap_phat_trien_hoat_dong_bao_lanh_tai_ngan_ha.pdf