Tóm tắt Luận án Sử dụng ngôn ngữ trục trong dịch đa ngữ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
PHAN THỊ LỆ THUYỀN  
SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRỤC TRONG DỊCH ĐA NGỮ  
Chuyên ngành : Khoa học máy tính  
Mã số  
: 62.48.01.01  
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT  
Đà Nẵng 2018  
Công trình được hoàn thành tại  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Võ Trung Hùng  
Phản biện 1: GS.TSKH. Hoàng Văn Kiếm  
Phản biện 2: PGS.TS. Huỳnh Xuân Hiệp  
Phản biện 3: PGS.TS. Lê Mạnh Thạnh  
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ tại Đại học  
Đà Nẵng vào lúc 14h30 ngày 19 tháng 05 năm 2018.  
Có thể tìm hiểu luận án tại  
- Trung tâm Thông tin – Tư liệu, Đại học Đà Nẵng  
- Thư viện Quốc gia Việt Nam  
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Cùng với sự phát triển của công nghệ, con người đã tạo ra một  
lượng thông tin khổng lồ trên mạng Internet được cung cấp từ hàng  
triệu Website trên khắp thế giới. Nhưng chúng ta không thể khai thác  
hết thông tin bởi nhiều lý do và một trong những lý do quan trọng  
nhất là rào cản về ngôn ngữ. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để mọi  
người trên thế giới có thể khai thác hết nguồn thông tin trên Internet  
mà không bị hạn chế bởi ngôn ngữ? Hiện có hai giải pháp chính để  
giải quyết vấn đề này: Thứ nhất là phát triển các hệ thống, các ứng  
dụng, các nguồn dữ liệu đa ngữ để người sử dụng có thể lựa chọn  
ngôn ngữ mà họ muốn khi sử dụng; Thứ hai là ứng dụng các phần  
mềm dịch tự động để dịch các giao diện, nội dung từ ngôn ngữ hiện  
có sang ngôn ngữ mà người sử dụng chọn lựa.  
Hiện có nhiều hệ thống dịch đa ngữ được xây dựng với nhiều  
hướng tiếp cận khác nhau và chất lượng bản dịch ngày càng được cải  
thiện. Tuy nhiên, đầu ra bản dịch của các hệ thống này hầu hết chỉ  
mang tính tham khảo vì chưa thể hiện hết ý nghĩa, văn phong của câu  
nguồn. Hơn nữa trên thế giới hiện đang sử dụng hơn 5.000 ngôn ngữ  
có chữ viết, việc phát triển một hệ thống dịch đa ngữ cho từng cặp  
ngôn ngữ là vô cùng khó khăn và nhất là những ngôn ngữ có số  
lượng người dùng ít . Một trong những hướng tiếp cận mới trong dịch  
đa ngữ đang được quan tâm là sử dụng ngôn ngữ trục để dịch, hướng  
tiếp cận này giảm chi phí xây dựng phần mềm từ (n*(n-1)) xuống còn  
(2*n) và giải quyết các cặp ngôn ngữ thiếu tài nguyên hoặc không  
tương đồng cấu trúc ngữ pháp.  
Văn phạm câu nguồn trong phương pháp dịch qua ngôn ngữ trục  
được phân tích và biểu diễn qua một ngôn ngữ khác gọi là ngôn ngữ  
1
trung gian và sau đó sử dụng văn phạm của ngôn ngữ đích để dịch từ  
ngôn ngữ trung gian này. Ưu điểm của phương pháp này là chỉ cần  
phân tích ngôn ngữ nguồn để chuyển sang ngôn ngữ trung gian và  
ngược lại. Ngoài ra, trong hệ thống dịch đa ngữ, chúng ta dễ dàng bổ  
sung ngôn ngữ mới này vào hệ thống nhưng nhược điểm là làm thế  
nào tìm ra một ngôn ngữ mà có thể biểu diễn tất cả thông tin mọi  
ngôn ngữ tự nhiên và không nhập nhằng về ngữ nghĩa.  
Trong những năm gần đây, nhiều ngôn ngữ tự nhiên có kho ngữ  
liệu song ngữ lớn (như tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp,…)  
được lựa chọn làm ngôn ngữ trung gian trong dịch tự động hoặc xây  
dựng kho ngữ liệu song ngữ. Tuy nhiên với phương pháp dịch hai lần  
thông qua ngôn ngữ thứ ba, chất lượng bản dịch không cao vì không  
khử được tính nhập nhằng của từ loại trong ngôn ngữ tự nhiên. Đến  
nay, hướng tiếp cận này thường sử dụng cho các cặp ngôn ngữ không  
tương đồng về cấu trúc ngữ pháp hoặc khan hiếm nguồn tài nguyên  
dữ liệu.  
Hiện nay có một ngôn ngữ được xây dựng cho dịch máy dựa vào  
phương pháp trung gian gọi là UNL, ngôn ngữ này cho phép người  
sử dụng có thể biểu diễn tất cả các tri thức của mọi ngôn ngữ tự nhiên  
trên máy tính mà không bị nhập nhằng về ngữ nghĩa. UNL bao gồm  
các thành phần như một ngôn ngữ tự nhiên: từ vựng (UW), quan hệ  
(relation), thuộc tính (attributes) và cơ sở tri thức ngôn ngữ  
(UNLKB). Trong UNL, liên kết giữa các từ vựng dựa trên quan hệ  
ngữ nghĩa và gắn các thuộc tính để miêu tả khía cạnh của người nói.  
Mục đích ra đời của UNL là cung cấp cho người sử dụng Internet  
khả năng truy cập vào các trang web bằng ngôn ngữ của họ. Hệ thống  
dịch tự động đa ngữ bao gồm nhiều máy chủ ngôn ngữ khác nhau  
được dịch thông qua ngôn ngữ trục là UNL. Mỗi máy chủ ngôn ngữ  
2
sẽ đảm nhận hai chức năng, đó là dịch một văn bản từ ngôn ngữ  
nguồn sang ngôn ngữ UNL gọi là quá trình mã hóa và dịch ngược lại  
sang ngôn ngữ đích gọi là quá trình giải mã. Đến nay, nhiều ngôn  
ngữ trên thế giới đã tích hợp vào nền tảng UNL tạo thành một hệ  
thống dịch đa ngữ như: tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng  
Trung, tiếng Tây Ban Nha,… Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tích  
hợp máy chủ tiếng Việt vào nền tảng UNL trong khi nó chưa được  
triển khai?  
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, tác giả đã chọn “Sử dụng ngôn  
ngữ trục trong dịch đa ngữ” làm đề tài nghiên cứu của luận án tiến  
sỹ kỹ thuật nhằm đóng góp cho sự phát triển dịch tự động. Đặc biệt,  
kết quả nghiên cứu của luận án mở ra một hướng nghiên cứu mới cho  
dịch tự động giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ khác và là cơ hội phát  
triển một hệ thống dịch tự động đa ngữ đối với các ngôn ngữ ở Việt  
Nam như: tiếng Việt, Chăm, Ba-na, Ê-đê, Jrai,…  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
Mục tiêu chung của luận án là nghiên cứu và thử nghiệm hệ thống  
dịch tự động đa ngữ có thể áp dụng cho tiếng Việt và các ngôn ngữ  
của các dân tộc ít người ở Việt Nam.  
Mục tiêu cụ thể của luận án gồm:  
- Đề xuất hướng tiếp cận mới trong dịch tự động đa ngữ cho tiếng  
Việt dựa trên ngôn ngữ trục;  
- Xây dựng và thử nghiệm hệ thống dịch tự động đa ngữ cho tiếng  
Việt dựa trên ngôn ngữ trục UNL và hệ thống UNL sẵn có;  
- Đề xuất hướng mở rộng hệ thống dịch tự động đa ngữ hiện có cho  
các ngôn ngữ của các dân tộc ít người tại Việt Nam;  
- Đề xuất hướng tiếp cận mới trong dịch tự động đa ngữ bao gồm  
cho tiếng Việt dựa vào ngôn ngữ UNL.  
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Dựa trên mục tiêu, đối tượng nghiên cứu của luận án gồm:  
-Các hướng tiếp cận trong dịch tự động;  
-Các vấn đề dịch tự động cho tiếng Việt;  
-Ứng dụng ngôn ngữ UNL trong dịch tự động.  
Phạm vi nghiên cứu trong luận án gồm:  
-Hướng tiếp cận dựa trên ngôn ngữ trục UNL trong dịch tự động;  
-Cấu trúc ngữ pháp câu tiếng Việt và biểu thức UNL;  
-Hệ thống dịch đa ngữ cho tiếng Việt và UNL;  
-Giải pháp dịch tự động giữa tiếng Việt và UNL.  
4. Nội dung nghiên cứu  
Để đạt được mục tiêu, nội dung nghiên cứu của luận án gồm:  
- Nghiên cứu một số phương pháp dịch tự động;  
- Nghiên cứu ứng dụng UNL trong dịch tự động;  
- Nghiên cứu các hướng tiếp cận trong dịch tự động cho tiếng Việt;  
- Đề xuất giải pháp dịch đa ngữ cho tiếng Việt dựa vào UNL;  
- Xây dựng hệ thống thử nghiệm dịch tự động Việt – UNL.  
5. Phương pháp nghiên cứu  
Các phương pháp nghiên cứu trong luận án được sử dụng:  
- Phương pháp lý thuyết.  
- Phương pháp thực nghiệm.  
- Phương pháp chuyên gia.  
6. Đóng góp chính của luận án  
Đóng góp chính của luận án bao gồm:  
1) Đề xuất được giải pháp để tích hợp tiếng Việt vào hệ thống  
UNL. Hệ thống UNL đã được nghiên cứu và phát triển trên 20 năm  
(từ 1996) và đã hỗ trợ dịch tự động cho hơn 54 ngôn ngữ. Tuy nhiên,  
việc nghiên cứu để tích hợp tiếng Việt vào hệ thống UNL chưa được  
4
triển khai. Luận án đã nghiên cứu một cách hệ thống về ngôn ngữ và  
UNL; để trên cơ sở đó đề xuất được mô hình tổng thể và các giải  
pháp liên quan để tích hợp tiếng Việt vào UNL. Việc tích hợp này có  
ý nghĩa quan trọng vì chỉ cần tích hợp được tiếng Việt vào hệ thống  
UNL thì chúng ta có thể dịch tự động từ tiếng Việt sang tất cả các  
ngôn ngữ khác đã có trên hệ thống UNL và ngược lại.  
2) Đề xuất giải pháp và xây dựng thành công từ điển tiếng Việt –  
UNL. Từ điển là cơ sở của bất kỳ hệ thống dịch tự động nào và việc  
xây dựng thành công từ điển tiếng Việt – UNL là một đóng góp quan  
trọng để tích hợp tiếng Việt vào hệ thống UNL. Luận án đã nghiên  
cứu đặc điểm của từ điển trong UNL và các từ điển sẵn có của tiếng  
Việt để từ đó xây dựng từ điển Việt – UNL với 235.602 mục từ.  
3) Đề xuất giải pháp và xây dựng tập luật mã hoá (phục vụ dịch  
tiếng Việt sang UNL) và tập luật giải mã (phục vụ dịch từ UNL sang  
tiếng Việt). Trên cơ sở nghiên cứu các luật trong hệ thống UNL và  
một số công cụ liên quan, luận án đã đề xuất giải pháp cải tiến và xây  
dựng các luật phục vụ quá trình dịch tự động giữa tiếng Việt và UNL.  
Đã xây dựng được 40 luật mã hoá cho một số cấu trúc câu tiếng Việt  
để dịch sang biểu thức UNL và 72 luật giải mã cho chiều dịch ngược  
lại.  
4) Đề xuất giải pháp và xây dựng 2 công cụ: EnCoVie là chương  
trình dịch tự động từ tiếng Việt sang UNL và DeCoVie là chương  
trình dịch tự động từ UNL sang tiếng Việt. Đây là 2 chương trình để  
dịch tự động dựa trên từ điển và các tập luật được xây dựng.  
Những đóng góp này có ý nghĩa về mặt khoa học là mở ra một  
hướng nghiên cứu mới về dịch tự động cho tiếng Việt bên cạnh  
những phương pháp đã có. Về mặt thực tiễn là xây dựng bộ từ điển,  
các tập luật và hai chương trình dịch. Đây là tiền đề để tiếp tục hoàn  
5
thiện hệ thống dịch UNL – tiếng Việt và phục vụ cho các nghiên cứu  
sau này trong lĩnh vực dịch tự động.  
7. Bố cục luận án  
Ngoài các nội dung như: mở đầu, kết luận, hướng phát triển, tài  
liệu tham khảo và phụ lục, luận án được tổ chức thành 4 chương:  
Chương 1: Tổng quan về dịch máy và ngôn ngữ UNL. Trình bày  
các kết quả nghiên cứu liên quan đến dịch tự động, các hệ thống dịch  
đa ngữ cho tiếng Việt, đánh giá chất lượng dịch giữa phương pháp  
dịch trung gian và dịch trực tiếp các cặp dịch. Ngoài ra nội dung  
chương cũng trình bày kết quả nghiên cứu về ngôn ngữ UNL, một số  
thành tựu liên quan UNL và ứng dụng UNL làm ngôn ngữ trục trong  
hệ thống dịch đa ngữ.  
Chương 2: Đề xuất mô hình dịch tiếng Việt - UNL. Trình bày kết  
quả thử nghiệm dịch tự động cho tiếng Việt dựa vào UNL trên các  
công cụ có sẵn. Đề xuất mô hình dịch cho tiếng Việt và UNL dựa  
trên lý thuyết hệ thống UNL và các công cụ dịch tự động UNL đã  
được thử nghiệm cho các ngôn ngữ khác và tiếng Việt.  
Chương 3: Xây dựng từ điển và tập luật. Trình bày các giải pháp  
xây dựng bộ từ điển tiếng Việt – UNL, xây dựng tập luật mã hóa và  
giải mã cho hai công cụ EnCoVie và DeCoVie.  
Chương 4: Thử nghiệm và đánh giá. Xây dựng hai công cụ  
chuyển đổi câu tiếng Việt sang UNL và ngược lại. Trình bày các kết  
quả thử nghiệm và đánh giá về các nội dung: xây dựng bộ từ điển  
tiếng Việt – UNL, chuyển đổi của hai công cụ EnCoVie và DeCoVie,  
hệ thống dịch đa ngữ qua ngôn ngữ trục UNL (gồm ba ngôn ngữ tự  
nhiên trong hệ thống: tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Nga).  
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH MÁY VÀ NGÔN NGỮ UNL  
6
1.1.Một số khái niệm sử dụng trong luận án  
Định nghĩa một số thuật ngữ như: dịch máy, dịch song ngữ, dịch  
đa ngữ, ngôn ngữ trung gian, ngôn ngữ trục, từ điển, từ điển song  
ngữ, luật ngữ pháp, phân tích cú pháp nông, phân tích cú pháp sâu,  
ngôn ngữ UNL, mã hóa, giải mã, máy chủ ngôn ngữ, hệ thống UNL,  
công cụ EnCoVie và DeCoVie.  
1.2.Một số hướng tiếp cận trong dịch tự động  
1.2.1. Dịch máy dựa trên luật  
Là hướng tiếp cận truyền thống dựa trên cơ sở phân tích hình thái  
học, cú pháp và ngữ nghĩa của ngôn ngữ đích và ngôn ngữ nguồn.  
Hướng tiếp cận này có ba phương pháp là dịch trực tiếp, dịch chuyển  
đổi cú pháp và dịch qua ngôn ngữ trung gian.  
1.2.2. Dịch máy dựa trên ngữ liệu  
Là hướng tiếp cận dựa vào các kho ngữ liệu của ngôn ngữ. Hướng  
tiếp cận dịch máy này có hai phương pháp là dịch máy dựa trên ví dụ  
và dịch máy thống kê.  
1.2.3. Phương pháp dịch kết hợp  
Đặc trưng của phương pháp dịch kết hợp là sử dụng các ưu điểm  
của nhiều phương pháp khác nhau trong một hệ thống dịch.  
1.2.4. Đánh giá  
Dịch dựa vào luật: Chất lượng bản dịch cao nhưng tốn nhiều chi  
phí xây dựng một hệ thống quy mô lớn và khó mở rộng hệ thống.  
Dịch máy dựa vào kho ngữ liệu: chất lượng dịch dựa vào kho ngữ  
liệu song ngữ được huấn luyện sẵn nên rất tốn kém quản lý.  
Hướng tiếp cận dịch kết hợp: sử dụng nhiều phương pháp dịch khác  
nhau trong một hệ thống nên chất lượng dịch được cải thiện.  
1.3. Dịch đa ngữ  
7
Trong các hệ thống dịch đa ngữ hiện nay các cặp ngôn ngữ được  
xây dựng độc lập với nhau về định dạng cấu trúc, do đó khi cần thêm  
một ngôn ngữ mới thì phải bổ sung các mô-đun theo số lượng các  
cặp ngôn ngữ trong hệ thống.  
Hiện trên thế giới có khoảng 5.000 ngôn ngữ có chữ viết, chúng ta  
cũng không thể xây dựng hết tất cả các cặp dịch cho số lượng lớn các  
ngôn ngữ này.  
Một giải pháp mà khi xây dựng hệ thống dịch đa ngữ đang hướng  
đến là dịch qua một ngôn ngữ trục. Với hướng tiếp cận này sẽ giảm  
chi phí xây dựng hệ thống từ n*(n-1) xuống 2*n mô-đun dịch và khi  
cần bổ sung ngôn ngữ mới vào hệ thống thì chỉ cần xây dựng một  
mô-đun cho ngôn ngữ này với ngôn ngữ trung gian đại diện.  
1.4.Vấn đề dịch tự động cho tiếng Việt  
Dịch tự động cho tiếng Việt được nhiều nhóm nghiên cứu quan tâm  
nhưng chủ yếu tập trung ở cặp ngôn ngữ Anh – Việt, Pháp – Việt.  
Các hệ thống dịch đa ngữ hiện còn hạn chế số lượng các cặp dịch  
giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ trên thế giới.  
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để xây dựng nhanh một hệ thống dịch  
đa ngữ cho tiếng Việt với các ngôn ngữ trên thế giới mà giảm chi phí  
xây dựng cho mỗi ngôn ngữ tham gia vào hệ thống?  
1.5.Tổng quan về UNL  
1.5.1. Giới thiệu  
UNL là ngôn ngữ nhân tạo có tất cả các thành phần tương ứng với  
ngôn ngữ tự nhiên và được thiết kế để biểu diễn ngôn ngữ tự nhiên  
trong máy tính dưới dạng mạng ngữ nghĩa với cấu trúc đa đồ thị.  
1.5.2. Ngôn ngữ UNL  
8
UNL có tất cả các thành phần tương ứng của một ngôn ngữ tự  
nhiên, tuy nhiên sự biểu diễn của ngôn ngữ UNL là không nhập  
nhằng về ngữ nghĩa.  
Các khái niệm được định nghĩa trong UNL gọi là từ vựng (UW),  
các từ vựng được liên kết với với nhau để tạo thành biểu thức UNL.  
Các liên kết này được gọi là quan hệ (Relation) nhằm xác định vai trò  
của mỗi từ vựng trong biểu thức. Ý nghĩa chủ quan của người nói  
trong câu nguồn sẽ được thể hiện qua thuộc tính (Attributes) trong  
biểu thức UNL. Ngoài ra một thành phần được dùng để định nghĩa  
ngữ nghĩa của từ vựng gọi là cơ sở tri thức UNL (UNLKB), UNLKB  
đảm bảo chắc chắn nghĩa của từ vựng không nhập nhằng.  
1.5.3. Hệ thống UNL  
Hệ thống UNL xây dựng nhằm mục đích hỗ trợ cho các dịch vụ đa  
ngôn ngữ trên môi trường Internet. Một hệ thống UNL gồm có các  
máy chủ ngôn ngữ (Language server), các trình soạn thảo UNL  
(UNL Editor) và trình xem UNL (UNL Viewer).  
1.5.4. Một số kết quả nghiên cứu liên quan  
Dự án nghiên cứu UNL bắt đầu năm 1996, cho đến nay có nhiều  
kết quả như:  
1) Định nghĩa ngôn ngữ: Năm 1999 giới thiệu cuốn sách đầu tiên  
mô tả ý tưởng của UNL, các đặc tả các đặc điểm của UNL, hệ thống  
UNL và các thành phần của hệ thống. Năm 2005, phiên bản thứ hai  
được xuất bản bổ sung thực tiễn sử dụng và quản lý hệ thống UNL.  
2) Từ điển UNL: Xây dựng bộ từ điển của UNL có khoảng  
220,000 UW được tạo ra từ 95,000 từ tiếng Anh khác biệt  
3) Hệ thống UNL: Năm 2006, cấu trúc tổng thể của hệ thống UNL  
được phát triển hoàn chỉnh với một bộ các phần mềm cơ bản và các  
công cụ cần thiết cho sự phát triển và hoạt động của UNL.  
9
4) Công cụ phát triển: Công cụ chuyển đổi văn bản ngôn ngữ tự  
nhiên sang văn bản UNL (EnCo tool) và ngược lại (DeCo tool), công  
cụ xây dựng từ điển (Word Dictionary Builder tool), hai công cụ IAN  
và EUGENE hỗ trợ cho các ngôn ngữ tự nhiên chuyển đổi sang UNL  
và ngược lại trên môi trường Web.  
5) Triển khai: Dự án UNL bắt đầu với 15 ngôn ngữ trên thế giới  
tham gia: Đức, Ả Rập, Trung Quốc, Tây Ban Nha, Pháp, Hindi,  
Indonesia, Anh, Ý, Latvian, Mông Cổ, Bồ Đào Nha, Nga, Thái Lan.  
Hiện nay có hơn 54 ngôn ngữ đã triển khai nghiên cứu hệ thống UNL  
và nhiều dự án, hội thảo được tổ chức: dự án UNL-EOLSS chuyển  
đổi 25 bài báo khoa học sang UNL và nhiều ngôn ngữ khác, dự án  
CWL sử dụng UNL để mô tả cấu trúc ngữ nghĩa các trang web, …  
Hội thảo về UNL tại Tây Ban Nha năm 2002, Mexico năm 2005, Ai  
Cập năm 2007, Mỹ năm 2009, Ấn Độ năm 2012,…  
1.5.5. Ứng dụng UNL làm ngôn ngữ trục trong hệ thống dịch đa  
ngữ  
tiếng Trung  
EnConverter  
DeConverter  
tiếng Anh  
tiếng Nhật  
UNL  
…
tiếng Pháp  
tiếng Việt  
H nh1.17. Dịch qua ngôn ngữ trục UNL  
10  
Một hệ thống UNL gồm nhiều máy chủ ngôn ngữ khác nhau, các  
máy chủ đăng ký với tổ chức Universal Networking Language  
Foundation để thực hiện dịch văn bản thông qua UNL. Với vai trò  
của mình trong hệ thống, ngôn ngữ UNL được sử dụng như là một  
ngôn ngữ trục trong hệ thống dịch đa ngữ.  
1.6.Tiểu kết chương  
Kết quả nghiên cứu tổng quan này có một công trình công bố trên  
tạp chí nước ngoài. Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan, tác giả đánh giá  
lại nội dung chương như sau:  
1. Nhu cầu xây dựng hệ thống dịch đa ngữ cho tất cả các ngôn ngữ  
trên thế giới và đa ngữ hóa website rất cấp thiết, tuy nhiên khó đáp  
ứng kịp thời đối với hướng tiếp cận xây dựng n*(n-1) mô-đun dịch.  
2. Hiện nay tồn tại nhiều hệ thống dịch được xây dựng theo nhiều  
phương pháp khác nhau, do đó chúng ta không thể tích hợp các hệ  
thống đơn lẻ thành một hệ thống dịch đa ngữ lớn.  
3. Dịch qua ngôn ngữ trung gian là một hướng tiếp cận được quan  
tâm vì nó làm giảm từ n*(n-1) xuống còn 2*n mô-đun dịch.  
4. Với phương pháp dịch qua ngôn ngữ trung gian, dễ dàng tích hợp  
các hệ thống đơn lẻ (cùng chung ngôn ngữ trung gian) thành hệ thống  
dịch đa ngữ và sử dụng ngôn ngữ trung gian làm ngôn ngữ trục.  
5. Dịch tự động cho tiếng Việt được nghiên cứu năm 1960, tuy  
nhiên đến nay các nghiên cứu chủ yếu trên một số cặp ngôn ngữ:  
Việt – Pháp, Việt – Anh,...  
6. Tiếng Việt đã được dịch sang rất nhiều ngôn ngữ khác nhau (theo  
trên Google translator có khoảng 103/ 5.000 ngôn ngữ trên thế giới),  
tuy nhiên chất lượng đầu ra chỉ mang tính tham khảo hàm ý và chưa  
thể diễn tả về mặt văn phong và ngữ cảnh của câu nguồn.  
11  
7. Việt Nam có 54 dân tộc, bên cạnh chữ Quốc ngữ của người Kinh  
thì có khoảng 30 dân tộc có chữ viết chính thức hoặc không chính  
thức , nhu cầu xây dựng một hệ thống dịch đa ngữ để trao đổi thông  
tin ở Việt Nam là cần thiết.  
8. UNL ra đời là sự kết hợp của giải pháp đa ngữ hóa và giảm chi  
phí xây dựng hệ thống dịch đa ngữ. Ý tưởng của UNL là định nghĩa  
ra một ngôn ngữ trục có khả năng biểu diễn cho tất cả các ngôn ngữ  
tự nhiên.  
9. Đến nay, dự án UNL đã có thể hỗ trợ phát triển hơn 54 ngôn ngữ  
khác nhau và có các dự án, hội thảo được triển khai.  
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có thể ứng dụng UNL trong hệ  
thống dịch đa ngữ cho tiếng Việt? Những đóng góp của luận án trong  
chương này là cơ sở quan trọng để triển khai ở chương kế tiếp.  
Chương 2. ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH DỊCH TIẾNG VIỆT - UNL  
2.1. Đặt vấn đề  
Ở Việt Nam nghiên cứu về UNL còn hạn chế và chưa có hệ thống  
dịch tiếng Việt dựa vào UNL. Các công cụ hỗ trợ về UNL phù hợp  
cho các ngôn ngữ thử nghiệm hơn là phát triển hoàn chỉnh một máy  
chủ ngôn ngữ. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tích hợp máy chủ tiếng  
Việt vào nền tảng UNL trong khi nó chưa được triển khai?  
2.2. Ngữ pháp tiếng Việt  
Tiếng Việt được xếp vào loại hình đơn lập (Isolate) hay còn gọi là  
loại hình phi hình thái, không biến hình, đơn tiết. Các phương thức  
ngữ pháp tiếng Việt chủ yếu dựa vào trật tự từ, hư từ và ngữ điệu.  
2.3. Đề xuất mô h nh dịch  
12  
Máy chủ tiếng Việt  
Tập luật  
mã hóa  
Từ điển  
tiếng Việt - UNL  
Công cụ EnCoVie  
Câu  
Tiếng Việt  
Biểu thức  
UNL  
Công cụ DeCoVie  
Từ điển  
UNL – tiếng Việt  
Tập luật  
giải mã  
H nh 2.1. Mô hình hệ thống máy chủ tiếng Việt  
2.3.1. Công cụ EnCoVie  
Quá trình chuyển đổi được thực hiện như sau: việc tách các từ, gán  
nhãn từ loại và phân tích cú pháp câu đầu vào được thực hiện bởi một  
mô-đun. Sau đó EnCoVie dựa vào bộ từ điển và tập luật mã hóa để  
chuyển đổi câu tiếng Việt sang biểu thức UNL tương ứng.  
2.3.2. Công cụ DeCoVie  
Quá trình giải mã công cụ DeCoVie được mô tả như sau: biểu  
thức UNL đầu vào được tách các mối quan hệ nhị phân và các UW  
bởi một mô-đun. Công cụ DeCoVie dựa vào bộ từ điển và tập luật  
giải mã để chuyển đổi biểu thức UNL sang câu tiếng Việt tương ứng.  
2.3.3. Từ điển trong UNL  
Một mục từ trong từ điển chứa ba thành phần cơ bản: HW - từ đầu  
mục từ ngôn ngữ cần định nghĩa, UW - định nghĩa khái niệm trong  
13  
UNL tương ứng và tập các thuộc tính ngữ pháp. Mỗi headword được  
định nghĩa duy nhất một UW và các thuộc tính tương ứng.  
[HW]“UW”(ATTR,ATTR,…)<FLG,FRE, PRI>;  
Trong từ điển UNL, HeadWord trong mục từ tiếng Việt được định  
nghĩa duy nhất một UW tương ứng. Trong giai đoạn mã hóa, mục từ  
tiếng Việt được sử dụng để tìm UW thích hợp nhằm tạo thành biểu  
thức UNL. Trong quá trình giải mã, các UW trong biểu thức UNL  
được sử dụng để tìm kiếm mục từ tạo thành câu đầu ra tiếng Việt.  
Dựa vào nguyên lý hoạt động này, thay vì xây dựng hai bộ từ điển  
tiếng Việt – UNL cho quá trình mã hóa và từ điển UNL – tiếng Việt  
cho quá trình giải mã thì tác giả đề xuất chỉ xây dựng một bộ từ điển  
dùng chung cho hai quá trình chuyển đổi. Đây cũng là điểm khác biệt  
giữa hệ thống dịch qua UNL với các hệ thống dịch khác.  
2.3.4. Luật ngữ pháp trong UNL  
Trong luận án, tác giả định nghĩa 5 loại luật mã hóa và 4 loại luật  
giải mã.  
2.4. Một số vấn đề cần xử lý cho tiếng Việt  
Trong các hệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên đều phải giải quyết một số  
bài toán (tách từ, gán nhãn từ loại,...) để đạt được mục đích là hiểu  
được ý nghĩa của ngôn ngữ.  
2.5. Tiểu kết chương  
Nội dung chương trình đã bày các nghiên cứu về tiếng Việt, đề xuất  
mô hình dịch tiếng Việt – UNL và các thành phần của nó. Kết quả  
nghiên cứu chương 2 có một công trình công bố trên tạp chí nước  
ngoài. Nội dung chương 2 trình bày một số vấn đề sau:  
1. Cùng một cách thức dịch thông qua ngôn ngữ trung gian, dịch  
qua UNL có kết quả tốt hơn so với dịch qua ngôn ngữ tự nhiên (ví dụ  
tiếng Anh).  
14  
2. Hiện có nhiều công cụ hỗ trợ phát triển ứng dụng UNL cho ngôn  
ngữ tự nhiên, nhưng chúng phù hợp với thử nghiệm hơn là một công  
cụ hoàn chỉnh phát triển máy chủ ngôn ngữ.  
3. Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập. Các phương thức  
ngữ pháp tiếng Việt chủ yếu dựa vào trật tự từ, hư từ và ngữ điệu.  
4. Hiện có nhiều nghiên cứu về các bài toán xử lý câu đầu vào  
tiếng Việt và kết quả đầu ra rất tốt (từ 78% - 98%).  
5. Đề xuất mô hình dịch giữa tiếng Việt và UNL: gồm hai công cụ  
chính là EnCoVie và DeCoVie.  
6. EnCoVie và DeCoVie hoạt động dựa vào hai bộ từ điển và hai  
tập luật chuyển đổi.  
Những nội dung đề xuất chương 2 sẽ đặt ra các bài toán cần giải  
quyết cho hệ thống dịch song ngữ Việt - UNL ở chương tiếp theo.  
Chương 3. GIẢI PHÁP XÂY DỰNG TỪ ĐIỂN VÀ LUẬT  
3.1. Giải pháp xây dựng từ điển Tiếng Việt - UNL  
Đề xuất hai giải pháp:  
- Sử dụng UNL Explorer mở rộng từ điển tiếng Việt – UNL.  
- Rút trích tự động các từ vựng từ biểu thức UNL.  
3.2. Giải pháp xây dựng luật ngữ pháp  
3.2.1. Xây dựng luật mã hóa  
3.2.1.1. Xây dựng luật mã hóa cho câu đơn tiếng Việt  
* Trường hợp cấu trúc câu đơn thứ nhất: Xây dựng luật mã hóa  
cho mô hình thứ 4 (trong 12 nhóm mô hình câu đơn)  
Chủ ngữ - Vị ngữ (vị ngữ là “là”+ danh, tính và động từ.  
Có biến thể không là)  
Xét trường hợp với chủ ngữ là đại từ, vị ngữ là danh từ.  
Đại từ nhân xưng+ “là” + danh từ đơn thể  
15  
Hệ từ “là” dùng để biểu thị ý nhấn mạnh sắc thái khẳng định, thuộc  
tính “@affirmative” mô tả sự khẳng định của người nói.  
-{“là”:null:null}{n,nt:+@affirmative:null};  
Đại từ là những từ dùng để thay thế một đối tượng, một điều đã  
được nói đến, tồn tại.  
>{p,pp:null:aoj}{n,nt,@affirmative:null:null};  
* Trường hợp cấu trúc câu đơn thứ hai: Đây là loại câu hai  
thành phần với vị ngữ là động từ.  
- Xét trường hợp vị ngữ là động từ nội động với một cấu trúc Đại  
từ nhân xưng + động nội động .  
Động từ nội động là loại động từ chỉ trạng thái hay hoạt động  
không nhằm vào một đối tượng nào mà nó khép kín trong phạm vi  
chủ thể. Mối quan hệ ngữ pháp này được định nghĩa tương đương bởi  
quan hệ ngữ nghĩa “agt” có luật:  
>{p,pp:null:agt}{v,vs:+.@present:null};  
- Xét trường hợp vị ngữ có động từ là ngoại động với một cấu trúc  
cụ thể hơn như đại từ nhân xưng + ngoại động từ + bổ ngữ  
[danh từ trừu tượng+ giới từ + danh từ đơn thể]).  
Cũng giống như động từ nội động, giữa “đại từ nhân xưng” và  
“ngoại động từ” thiết lập mối quan hệ nhị phân “agt” tương đương  
trong UNL được định nghĩa bằng luật sửa đổi phải như sau:  
>{p,pp:null:agt}{v,vt:+.@present.@entry:null};  
“danh từ trừu tượng” bị ảnh hưởng bởi trạng thái “động từ ngoại  
động” và được định nghĩa bởi luật sau:  
>{v,vt:null:obj}{n,na:null:null};  
Giới từ là một loại từ có tác dụng nối liền từ phụ với từ chính,  
biểu thị quan hệ ngữ pháp như sau:  
16  
-{E:null:null}{n,ng:+E,+plc:null};  
<{n,na:null:plc}{n,ng,plc:null: null};  
- Xét trường hợp vị ngữ có động từ là sai khiến với một cấu trúc cụ  
thể hơn như đại từ nhân xưng + động từ sai khiến + đại từ  
nhân xưng + động từ ngoại động.  
Động từ sai khiến tác động lên một đối tượng để đối tượng thực  
hiện một hành động nào đó. Giữa “đại từ nhân xưng” và “động từ sai  
khiến” thiết lập một mối quan hệ “agt”:  
>{p,pp:null:agt}{v,vt,order:+.@present.@entry:null};  
Động từ sai khiến tác động là đại từ nhân xưng bởi “obj”:  
<{v,vt,order:null:obj}{p,pp:null:null};  
Quan hệ “gol” định nghĩa trạng thái cuối cùng đạt được.  
<{v,vt,order:null:gol}{v,vt:null: null};  
3.2.1.2. Xây dựng luật mã hóa cho câu ghép tiếng Việt  
* Trường hợp cấu trúc câu ghép thứ nhất: Sử dụng dấu phẩy  
“,” để nối.  
Chủ ngữ 1 – vị ngữ 1, Chủ ngữ 2 – vị ngữ 2  
Ta xét một trường hợp của cấu trúc tổng quát trên như sau: đại  
từ nhân xưng + “vừa”+ động từ trạng thái+ danh từ đơn  
thể, đại từ nhân xưng + “sẽ” + động từ ngoại động + tính  
từ chỉ tính chất.  
Thời thể từ là từ loại trong tiếng Việt, vì nó gắn với động từ tạo  
thành ngữ pháp về thời gian ở quá khứ - hiện tại – tương lai. Phụ từ  
“vừa” đi trước động từ nhằm diễn đạt ý nghĩa thời gian hành động  
xảy ra trước thời điểm nói không lâu. Phụ từ “sẽ” cũng đặt trước  
động từ để diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp chỉ thời tương lai của hành  
động.  
17  
null};  
-{“sẽ”:null:null}{v,vt:+.future,+.@entry: null};  
Giữa động từ trạng thái và đại từ nhân xưng được thiết lập quan hệ  
“obj” bởi luật sau:  
>{p,pp,@pl:null:obj}{v,vs:null:null};  
Giữa động từ trạng thái và danh từ đơn thể có mối quan hệ “cob”:  
<{v,vs:null:nul}{n,nt:null:cob};  
Giữa đại từ nhân xưng và động từ ngoại động có mối quan hệ “agt”:  
>{p,pp,scope01:null:agt :01}{v,vt:+scope01:null};  
Tính từ chỉ tính chất chỉ trạng thái thời gian bởi quan hệ „tim”  
<{v,vt,scope01:null:nul}{a,ap:null:tim:01};  
Dấu phẩy được sử dụng trong cấu trúc để nối hai mệnh đề của câu.  
:{“,”:null:null}{“,”:+comma:null};  
>{v,vs,@entry:null:nul}{comma:null:cnt};  
-{“:01”:null:null}{P,PP,@pl:+scope01:null};  
* Trường hợp cấu trúc câu ghép thứ hai: Nối bằng từ ngữ có tác  
dụng nối: và, hoặc, bởi vì, mặc dù ….  
Chủ ngữ 1 – Vị ngữ 1 và Chủ ngữ 2 – Vị ngữ 2  
Ta xét một trường hợp của cấu trúc tổng quát trên như sau: đại từ  
nhân xưng + động từ ngoại động + “và” + đại từ nhân xưng  
+động từ ngoại động.  
Mối quan hệ “agt” được biểu diển bởi các luật:  
>{p,pp:null:agt}{v,vt,CogAct:+@present,+@entry:null};  
>{p,pp,scope01:null:agt:01}{v,vt,PhyAct:+@present,  
+@entry:null};  
18  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 21360 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Sử dụng ngôn ngữ trục trong dịch đa ngữ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_su_dung_ngon_ngu_truc_trong_dich_da_ngu.pdf