Luận văn Nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của vật liệu chuyển tiếp dị chất khối cấu trúc nano trên cơ sở ống carbon nano (CNTs) và polymer dẫn, ứng dụng chế tạo pin mặt trời hữu cơ

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ  
VŨ DUY LIÊM  
NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO VÀ KHẢO SÁT TÍNH  
CHẤT CỦA VẬT LIỆU CHUYỂN TIẾP DỊ CHẤT  
KHỐI CẤU TRÚC NANO TRÊN CƠ SỞ ỐNG  
CARBON NANO (CNTs) VÀ POLYMER DẪN, ỨNG  
DỤNG CHẾ TẠO PIN MẶT TRỜI HỮU CƠ.  
LUẬN VĂN THẠC SĨ VẬT LIỆU VÀ LINH KIỆN NANO  
HÀ NỘI - 2016  
i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ  
VŨ DUY LIÊM  
NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO VÀ KHẢO SÁT TÍNH  
CHẤT CỦA VẬT LIỆU CHUYỂN TIẾP DỊ CHẤT  
KHỐI CẤU TRÚC NANO TRÊN CƠ SỞ ỐNG  
CARBON NANO (CNTs) VÀ POLYMER DẪN, ỨNG  
DỤNG CHẾ TẠO PIN MẶT TRỜI HỮU CƠ.  
Chuyên ngành: Vật liệu và linh kiện nano  
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm  
LUẬN VĂN THẠC SĨ VẬT LIỆU VÀ LINH KIỆN NANO  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. Nguyễn Phương Hoài Nam  
HÀ NỘI - 2016  
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, em xin được bày tỏ sự kính trọng và  
biết ơn chân thành nhất tới PGS.TS. Nguyễn Phương Hoài Nam, Thầy đã tận tình  
hướng dẫn, giúp đỡ, giảng dạy cho em những kinh nghiệm quý báu trong suốt thời  
gian thực hiện đề tài nghiên cứu.  
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các cán bộ của Trường Đại học  
Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ, khích lệ, chỉ dạy tận tình cho em  
những kiến thức và kinh nghiệm trong suốt thời gian học tập tại Trường.  
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban chủ nhiệm, các thầy cô giáo, các  
cán bộ của Khoa Vật lý kỹ thuật và Công nghệ nano, Phòng thí nghiệm công nghệ  
Nano luôn giúp đỡ nhiệt tình và tạo điện kiện thuận lợi cho em trong học tập và hoàn  
thành luận văn.  
Cuối cùng, em xin được gửi lời cám ơn tới gia đình yêu thương của mình. Em  
cũng xin gửi lời cám ơn anh chị, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, quan tâm và  
đồng hành cùng tôi trong cuộc sống cũng như trong việc hoàn thành luận văn này.  
Luận văn được hoàn thành với sự hỗ trợ kinh phí của Đề tài nghiên cứu cấp  
ĐHQG mang mã số QG.15.26.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2016  
Tác giả  
iii  
 
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận văn tốt nghiệp này là của riêng  
tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Phương Hoài Nam. Các kết quả và số  
liệu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng trong những  
luận văn khác. Đó là kết quả nghiên cứu mà tôi đã thực hiện trong quá trình hoàn  
thiện luận văn tại phòng thí nghiệm của Khoa vật lý kĩ thuật và Công nghệ nano –  
Trường Đại học Công Nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội  
Hà Nội, ngày tháng năm 2016  
Tác giả  
Vũ Duy Liêm  
iv  
 
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
LUMO  
HOMO  
Lowest Unoccupied Molecular Orbital (Mức orbital  
phân tử chưa điền đầy thấp nhất)  
Highest Occupied Molecular Orbital (Mức orbital  
phân tử điền đầy cao nhất)  
FF  
Fillfactor (hệ số điền đầy)  
Iridium – Tin – Oxide  
ITO  
PCE  
Power conversion efficiency (Hiệu suất chuyển đổi năng  
lượng)  
PPV  
Polypara-phenylene vinylene  
PVK  
Poly (N-vinylcarbazole)  
MEH- PPV  
Poly [2-methoxy-5-(2'-ethyl-hexyloxy)-1,4 - phenyle  
vinylene]  
P3HT  
PCBM  
PL  
Poly (3-hexylthiophene)  
Phenyl-C61-Butyric acid methyl ester  
Photoluminescence (Quang huỳnh quang)  
Organic photovoltaic (Tế bào quang điện hữu cơ)  
OPV  
v
 
MỤC LỤC  
vi  
 
2.6.4 Pin mặt trời với lớp hoạt quang màng mỏng dị chất khối cấu trúc nano………37  
vii  
DANH MỤC HÌNH ẢNH  
viii  
 
ix  
x
MỞ ĐẦU  
Trong những năm qua, sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật đã góp  
phần thúc đẩy sản xuất, phát triển các ngành công nghiệp, nâng cao đời sống vật  
chất tinh thần của còn người. Song song với những mặt tích cực đó con người phải  
đối mặt với nhiều khó khăn từ mặt trái của sự phát triển đó mang lại, đó là ô nhiễm  
môi trường, nguồn nước, các nguồn năng lượng truyền thống đang dần cạn kiệt….  
Vật liệu bán dẫn hữu cơ đã và đang thu hút được nhiều sự quan tâm và đầu tư  
nghiên cứu trong các trường đại học, viện và các trung tâm nghiên cứu của các nước  
có nền khoa học kĩ thuật phát triển trên thế giới trong vòng vài thập kỉ gần đây.  
Trên thực tế, đã có những kết quả nghiên cứu bước đầu được ứng dụng trong đời  
sống như diode phát quang hữu cơ (OLED) hay pin mặt trời hữu cơ (OSC) nhằm  
đáp ứng nhu cầu về khai thác sử dụng nguồn năng lượng tái tạo và thân thiện môi  
trường. Ở Việt Nam trong khoảng mười năm trở lại đây, nghiên cứu về khoa học và  
công nghệ nano ứng dụng trong các lĩnh vực quang-điện tử, y-sinh và môi trường  
đã có sự phát triển mạnh mẽ. Trong đó, đặc biệt phải kể đến Chương trình phát triển  
năng lượng xanh của chính phủ nhằm thu hút các đầu tư nghiên cứu khai nguồn  
năng lượng dồi dào của mặt trời.  
Từ lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: Nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính  
chất của vật liệu chuyển tiếp dị chất khối cấu trúc nano trên cơ sở ống carbon  
nano (CNTs) và polymer dẫn, ứng dụng chế tạo pin mặt trời hữu cơ.  
Mục tiêu của bản luận văn tập trung vào giải quyết các vấn đề:  
- Nghiên cứu chế tạo các màng vật liệu tổ hợp blend polymer và vật liệu  
chuyển tiếp dị chất khối trên cơ sở polymer dẫn là poly (N-vinylcarbazole) - PVK,  
Poly (N-hexylthiophene) - P3HT, phenyl-C61-Butyric acid methyl ester - PCBM và  
ống carbon nano – CNTs.  
- Khảo sát cấu trúc hình thái học, các tính chất quang - điện của các màng vật  
liệu tổ hợp đã chế tạo. Thực hiện tối ưu hóa vật liệu và điều kiện chế tạo màng.  
- Thử nghiệm ứng dụng vật liệu chế tạo linh kiện pin mặt trời hữu cơ (OSC),  
khảo sát các thông số kỹ thuật của linh kiện.  
Nội dung của luận văn, ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3  
chương:  
- Chương 1: Tổng quan lý thuyết về ống nano carbon, vật liệu polymer dẫn và  
vật liệu tổ hợp chuyển tiếp dị chất cấu trúc nano, các kiến thức cơ bản về pin mặt  
trời như cấu trúc, nguyên lý hoạt động, các đặc tính của pin mặt trời hữu cơ.  
1
 
- Chương 2: Trình bày các phương pháp thực nghiệm nghiên cứu đã sử dụng  
để chế tạo và nghiên cứu cấu trúc hình thái học của vật liệu: Tạo màng bằng phương  
pháp spin – coating, phương pháp đo phổ hấp thụ UV – Vis; phổ quang - huỳnh  
quang, ảnh hiển vi điện tử quét FE-SEM, đo chiều dày màng mỏng bằng hệ đo  
Alpha-Step IQ Profiler…  
- Chương 3: Trình bày các kết quả đo đạc và phân tích về cấu trúc hình thái  
học bề mặt, các tính chất điện – quang của các màng vật liệu tổ hợp chuyển tiếp dị  
chất, kết quả nghiên cứu chế tạo pin mặt trời hữu cơ (OSC) sử dụng vật liệu tổ hợp  
chuyển tiếp dị chất khối đã chế tạo.  
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:  
- Nghiên cứu chế tạo pin mặt trời hữu cơ sử dụng các lớp hoạt quang là vật  
liệu tổ hợp cấu trúc chuyển tiếp dị chất khối trên cơ sở các polymer dẫn là hướng  
nghiên cứu đã và đang thu hút được sự quan tâm của các trung tâm nghiên cứu khoa  
học trong và ngoài nước. Đây cũng là hướng nghiên cứu còn khá mới mẻ ở nước ta.  
Pin mặt trời hữu cơ sử dụng vật liệu tổ hợp trên cơ sở polymer dẫn là poly (N-  
vinylcarbazole) – PVK; Poly (N-hexylthiophene) - P3HT; phenyl-C61-Butyric acid  
methyl ester - PCBM và ống carbon nano – CNTs bước đầu đã thu được các kết quả  
khả quan về hiệu suất chuyển đổi quang – điện cũng như giá thành hợp lý của linh  
kiện, có tiềm năng ứng dụng tốt trong thực tiễn.  
2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN  
1.1. Ống Nano Carbon (CNTs)  
Ống nano carbon (CNTs – carbon nano tube) là một dạng thù hình của  
Carbon. Ống Nano Carbon được coi là một trong những vật liệu nano đầu tiên con  
người phát hiện ra và cũng mở đầu cho ngành công nghệ nano với những thành tựu  
to lớn, đóng góp quan trọng vào sự phát triển mạnh mẽ của nhiều lĩnh vực thuộc  
công nghệ cao hiện nay.  
1.1.1. Lịch sử hình thành  
Năm 1991, khi nghiên cứu về Fulleren C60, Tiến sĩ IiJima – một nhà khoa học  
Nhật Bản đã phát hiện ra trong đám muội than, sản phẩm phụ trong qua trình phóng  
điện hồ quang có những ống tinh thể cực nhỏ và dài bám vào catot. Hình ảnh từ  
kính hiển vi điện tử truyền qua cho thấy rằng các ống này có nhiều lớp Carbon ống  
này lồng vào ống kia. Các ống sau này được gọi là ống nano carbon đa tường  
(MWCNTs – multi wall carbon nanotubes).  
Năm 1993, Ống nano carbon đơn tường (SWCNTs – Sinlge wall carbon  
Nanotubes) được phát hiện với các ống rỗng đường kính từ 1,5 – 2 nm, dài cỡ  
micromet. Vỏ của ống bao gồm các nguyên tử carbon sắp xếp theo các đỉnh sáu  
cạnh rất đều đặn. Sự phát hiện này đã thúc đẩy nghiên cứu của các nhà khoa học  
trên toàn thế giới. Phương pháp quang phổ Raman là phương pháp đơn giản, rẻ tiền  
so với kính hiển vi điện tử được dùng rộng rãi để nghiên cứu trên CNTs trong thập  
kỉ trước.  
1.1.2. Phân loại ống nano các bon  
Như đã biết ở trên ống nano carbon có 2 loại chính: Ống nano carbon đơn  
tường (SWCNTs) và ống nano carbon đa tường (MWCNTs) ngoài ra còn có một số  
dạng khác như Torus (đế hoa), nanobud (núm hoa).  
a. Ống nano carbon đơn tường (SWCNTs)  
Tất cả ống nano carbon đơn tường đều có đường kính khoảng 1 nm, với độ  
dài đường ống có thể gấp hàng nghìn lần đường kính.  
b. Ống nano carbon đa tường (MWCNTs)  
3
       
Ống nano carbon đa tường bao gồm nhiều lớp graphite cuộn lại tại thành các  
ống hình trụ đồng tâm. Có 2 mô hình có thể dùng để mô tả các cấu trúc cảu  
MWCNTs là mô hình Rusian Doll và mô hình Parchment. Khoảng cách giữa các  
lớp trong ống nano carbon đa tường gần bằng khoảng cách giữa các lớp graphite  
khoảng 3,4Ȧ.  
Trong các ống nano carbon đa tường, ống nano carbon 2 tường được quan tâm  
bởi hình thái học và các tính chất rất giống với ống nano carbon đơn tường nhưng  
điện trở và tính chất của chúng được cài thiện đáng kể. Đây là tầm quan trọng đặc  
biệt khi chúng ta chức năng hóa nó (ghép các nhóm chức hóa học lên bề mặt của  
ống) để có thêm những tính chất mới cho ống nano carbon. Đối với trường hợp  
SWCNTs, chức năng hóa cộng hóa trị sẽ làm gãy một số liên kết đôi C=C, để lại  
các lỗ trống trong cấu trúc của ống nano carbon và thay đổi cả hai tính chất điện và  
cơ của chúng. Trường hợp ống nano carbon 2 tường, chỉ một ống bên ngoài được  
biến tính.  
1.1.3. Tính chất của ống nano carbon  
a. Tính chất cơ  
Ống nano carbon cấu tạo chỉ gồm toàn các nguyên tử carbon dạng ống nên  
chúng rất nhẹ, bên cạnh đó liên kết giữa các nguyên tử carbon đều là liên kết cộng  
hóa trị tạo nên cấu trúc tinh thể hoàn hảo vừa nhẹ vừa bền. Theo một số công bố so  
sánh giữa khối lượng riêng của ống nano carbon và thép thì chúng có khối lượng  
riêng nhỏ hơn khoảng 6 lần nhưng độ bền lại cao hơn gấp trăm lần (trên cùng 1 đơn  
vị thể tích và chiều dài). Theo kết quả công bố của nhóm tác giả người Thụy Sỹ  
công bố trên tạp chí Applied Physics A Materials Science & Processing khi nghiên  
cứu về độ cứng của ống nano carbon thì độ cứng của ống nano carbon là 1,8 TPa  
trong khi của thép là 230 Gpa [17].  
b. Tính chất nhiệt  
Nhiều nghiên cứu đã công bố cho thấy ống nano carbon là vật liệu dẫn nhiệt  
tốt. Độ dẫn nhiệt của vật liệu SWCNTs có giá trị trong khoảng từ 20 – 3000 W/mK  
ở nhiệt độ phòng [13], so với 400 W/mK của đồng (Cu), có tác giả còn công bố độ  
dẫn nhiệt của ống nano carbon có thể đạt tới 6600 W/mK [14]. Vì khả năng dẫn  
4
 
nhiệt tốt nên CNTs đã được sử dụng nhiều cho việc tản nhiệt cho các linh kiện điện  
tử công suất cao [11].  
c. Tính chất điện  
Phụ thuộc vào vecto xuống ống (chiran) của chúng, các ống nano carbon có  
thể hoặc là chất bán dẫn hoặc là kim loại. Sự khác nhau trong tính chất dẫn điện là  
do dự khác nhau trong cấu trúc phân tử đồng nghĩa với cầu trục dải năng lượng  
khác cũng sẽ khác nhau. Ngoài ra độ diện điện của ống nano carbon đơn tường cũng  
phụ thuộc rất nhiều vào lực tác dụng lên ống. Điều này sẽ mở ra hướng mới sử dụng  
vật liệu CNTs làm cảm biến lực trong trương lai.  
Nói chung điện trở suất của ống nano carbon vào cỡ 10-4 Ω/cm ở nhiệt độ  
phòng (điện trở suất của đồng là 1,678-6 Ω/cm). Cường độ dòng tối đa của CNTs từ  
107 – 108 A/cm2 (gấp hàng trăm lần so với cường độ dòng tối đa của kim loại đồng).  
Ngoài ra sự sai hỏng ở ống nano carbon có thể làm thay đổi tính dẫn điện của chúng  
[19].  
d. Tính chất hóa học  
CNTs tuy hoạt động hóa học mạnh hơn so với Graphene nhưng thực tế cho thấy  
chúng vẫn khá trơ về mặt hóa học, do đó để tăng hoạt tính hóa học của CNTs người  
ta thường tạo ra các khuyết tật trên bề mặt của ống và gắn các phân tử hoạt động  
khác để tạo ra các vi đầu dò nhạy hóa chất [10].  
e. Tính chất quang  
Các tính chất quang của CNTs liên quan đến sự hấp thụ, sự phát quang và phổ  
tán xạ Raman của nó. Các tính chất này cho phép xác định đặc điểm “chất lượng  
ống nano carbon” nhanh chóng và chính xác.  
- Hấp thụ quang:  
Hấp thụ quang trong CNTs khác với hấp thụ quang trong vật liệu khối 3D  
thông thường bởi sự hiện diện của các đỉnh nhọn (ống nano carbon có cấu trúc 1D)  
thay vì một ngưỡng hấp thụ bởi sự tăng hấp thụ (trong trạng thái rắn có cấu trúc  
3D). Hấp thụ trong ống nano carbon bắt đầu từ sự chuyển tiếp điện tử từ V2 đến C2  
hay từ V1đến C1. Sự chuyển tiếp này là tương đối nhanh và có thể sử dụng để nhận  
5
ra các loại ống nano carbon. Chú ý rằng, độ sắc của đỉnh càng giảm thì năng lượng  
càng tăng và nhiều ống nano có các mức năng lượng tương tự E22, E11 và vì thế có  
sự chồng chập đáng kể hổ hấp thụ [20].  
Hình 1. 1 Cấu trúc năng lượng hấp thụ quang của CNTs [22].  
Hấp thụ quang thường được sử dụng để đánh giá chất lượng bột ống nano  
carbon.  
Hình 1. 2 Phổ hâp thụ quang từ sự phân tán của ống nano carbon đơn tường [20].  
- Sự phát quang:  
6
   
Hiện tượng phát quang hóa học (PL) là một trong những công cụ quan trọng  
để xác định đặc điểm của ống nano carbon. Cơ chế của hiện tượng phát quang hóa  
thường được mô tả như sau: một điển tử trong ống nano carbon hấp thụ ánh sáng  
kích thích từ chuyển tiếp S22 tạo ra một cặp điện tử - lỗ trống (exciton). Cả điện tử  
và lỗ trống nhanh chóng nhảy từ trạng thái C2 đến C1 và từ V2 đến V1. Sau đó chúng  
tái hợp thông qua một quá trình chuyển đổi ánh sang phát xạ từ C1 đến C2 [20].  
1.1.4. Các phương pháp chế tạo ống nano carbon  
Hiện nay có rất nhiều phương pháp khác nhau tổng hợp vật liệu CNTs. Nhưng  
phổ biến nhất là ba phương pháp: phương pháp phóng điện hồ quang, phương pháp  
sử dụng laser và phương pháp lặng đọng pha hơi hóa học.  
1.1.5. Ứng dụng của ống nano Carbon  
CNTs có ứng dụng rất lớn trong nhiều lĩnh vực như: Năng lượng, sản xuất vật  
liệu composite chất lượng cao sử dụng trong lĩnh vực hàng không vũ trụ, ứng dụng  
trong các lĩnh vực điện tử, thiết bị phát xạ điện từ trường, đầu dò nano và ứng dụng  
sensor và bên cạnh đó nó cũng có ứng dụng lớn trong y sinh. Trên thực tế, CNTs đã  
được nghiên cứu ứng dụng trong y tế và sinh học như:  
- Vận chuyển thuốc.  
- Đánh dấu sinh học.  
- Ứng dụng để chuyển gen.  
- Chế tạo các đầu dò, cảm biến, chip sinh học.  
1.2. Vật liệu bán dẫn hữu cơ – Polymer dẫn  
1.2.1. Giới thiệu chung  
Polymer tên thường gọi là nhựa hay chất dẻo hoặc plastic, là những mạch phân  
tử gồm hàng nghìn, hàng chục và hàng trăm nghìn phân tử đơn vị (gọi là monomer)  
kết hợp lại thành chuỗi giống như những mắt xích, mỗi phân tử giống như một mắt  
xích. Các loại polymer ngày nay đã trở thành vật liệu hữu dụng, đóng vai trò quan  
trọng không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại.  
Một đặc tính chung quan trọng của polymer là tính không dẫn điện, bởi vậy  
đây là vật liệu cách điện rất hữu hiệu nên “polymer dẫn điện” có thể là khái niệm  
mới trong thế kỉ 21. Năm 2000 Viện Hàn Lâm Khoa Học Thụy Điển đã trao giải  
thưởng Nobel Hóa học cho các nhà khoa học Shirakawa, MacDiamind và Heeger  
7
       
(Hình 1.3) với sự khám phá và nghiên cứu về polymer dẫn điện (electrically  
conducting polymers).  
Hình 1. 3 Giáo sư Alan Heeger, Alan Mac Diarmid và Shirakawa (từ trái qua phải).  
Hình 1. 4 Cấu trúcphân tử của polyacetylene.  
Hình 1.4 trình bày cấu trúc của một vài polymer dẫn quan trọng đã được tổng  
hợp và ứng dụng trong vài thập niên gần đây [21].  
Polymer dẫn điện, hay còn gọi là bán dẫn hữu cơ, có nhiều đặc tính nổi bật  
như:  
. Tương đồng với các bán dẫn vô cơ  
. Giá thành thấp  
. Có thể tạo được nhiều diện tích lớn  
. Đáp ứng được các tính chất quang và điện đặc biệt.  
. Một số tính chất ưu việt khác mà các vật liệu khác không dễ gì có được như  
tính dẻo, có thể uốn cong dưới bất kỳ hình dạng nào, màu sắc trung thực, số  
lượng màu lớn…  
Tuy nhiên chúng cũng còn một số những đặc điểm cần nghiên cứu khắc phục  
như:  
. Độ ổn định.  
. Dễ bị già hóa bởi tia UV.  
. Độ linh động của các hạt tải điện.  
8
   
Hiện nay polymer dẫn đã được ứng dụng nhiều vào các lĩnh vực như: Công  
nghệ chế tạo diode phát quang hữu cơ (OLED), màn hình phẳng dẻo kích thước lớn,  
laser, pin mặt trời (solar cell), photodetector, các loại transistor, các loại sensor, bộ  
nhớ (memory cell)…  
Hình 1. 5 Cấu trúc phân tử và độ rộng vùng cấm một số polymer dẫn [21].  
1.2.2. Polymer cấu trúc nối đôi liên hợp  
Các polymer có cấu trúc nối đôi liên hợp (… - C = C – C = C - …) bao gồm  
polyacethylene (PA), polypyrrole (PPy), polythiophene (PT), poly phenylene  
vinylene (PPV), v.v… và các polymer dẫn xuất. Trong các polymer này, liên kết  
giữa các nguyên tử cacbon tạo thành khung cacbon có các liên kết đôi và liên kết  
đơn xen kẽ, hình thành các liên kết π chạy dọc theo khung cacbon (hình 1.6a). Các  
điện tử π không định xứ đó lấp đầy toàn dải nên các polymer liên hợp có tính chất  
như là các chất dẫn bán dẫn. Dải liên kết π bị lấp đầy được gọi là orbital phân tử  
điền đầy cao nhất (HOMO) và các dải π* trống được gọi là orbital phân tử không  
điền đầy thấp nhất (LUMO). Hệ thống liên kết π* này khi bị kích thích thì một điện  
tử sẽ nhảy từ mức HOMO lên mức LUMO [21].  
9
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 66 trang yennguyen 26100 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của vật liệu chuyển tiếp dị chất khối cấu trúc nano trên cơ sở ống carbon nano (CNTs) và polymer dẫn, ứng dụng chế tạo pin mặt trời hữu cơ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nghien_cuu_che_tao_va_khao_sat_tinh_chat_cua_vat_li.pdf